Họ trở lại Granada vào một ngày tháng Tư trời trong tuy có lúc nhiều mây. Thời tiết thật dễ chịu, 21,5 độ trong ánh nắng. Nàng mặc cái áo pun vàng mua ở Singapore (nàng thích nó và một khi nàng đã thích cái gì thì không bận tâm nó sản xuất ở đâu), quần jean xanh tẩy lam nham, giày thể thao trắng, áo khoác mỏng đỏ chói quấn ngang hông. Chàng mặc sơ mi màu cam chóe có in hình những con chim màu trắng thuộc một loài vô phương xác định dường như đang tiến hành một thứ nghi lễ kỳ bí chỉ mình chúng biết, quần kaki màu xám khói có túi hộp to đùng, giày thể thao đen. Nàng đeo tai nghe iPod, chàng thì không. Nàng đến theo đã hẹn từ trước với các bạn trong nhóm nàng, những người bạn “rất đặc biệt” mà chàng đã hứa với nàng là sẽ không tìm gặp hoặc không âm thầm tìm hiểu chừng nào nàng chưa có quyết định khác. Chàng đến là bởi, từ khi được hưởng một khoản thừa kế tàm tạm từ một người họ hàng trực hệ mà chàng chưa từng biết và nói chung gần như không biết là có tồn tại, chàng quyết định rằng cũng chẳng phải là tệ nếu một sáng kia chàng thấy mình đang ỉa ở Seattle hoặc là tè ở Roma. Nơi họ ngồi là ban công tầng thượng một quán cà phê ở khu Albaicín hay Albayzín, nhìn thẳng ra “Alhambra tắm trong nắng vàng”. Đẹp như mơ, chàng nói. Nàng khẽ cười, nghe trong bụng nhộn nhạo. Cái nhộn nhạo thuần túy thể xác, mạnh hơn mọi thứ. Chàng đọc được điều đó qua việc miệng nàng cười còn mắt thì không. Nàng biết là chàng biết đang có một sự giằng xé ở trong nàng, chỉ có điều cụ thể là giằng xé giữa gì với gì thì hẳn chàng không thật rõ. Nàng tự nhủ không hiểu do mình ăn cái gì, mình cứ đinh ninh là bên Tây này không như ở bên nhà. Nàng cảm thấy tiếc hùi hụi cái cảnh chiều vàng trên Alhambra này, chỉ cần mình đi xa khỏi nó trong vài phút là phép màu của nó - trò chơi đẹp đẽ này của màu sắc, ánh sáng và bóng tối - sẽ không còn nguyên vẹn nữa đối với mình, một phần của nó sẽ qua đi mà không có mình ở đó và không bao giờ còn nắm lại được nữa, nó đi qua khi vắng mặt nàng và tiến vào một cảnh giới ngoài khả năng lĩnh hội của nàng. Đến một lúc nàng nhận ra, cứ thế này thì có thể sẽ đến lúc mình tự giận mình, nàng đứng dậy. Chàng nhìn nàng, khẽ cười, không hỏi nàng đi đâu. Nàng thấy muốn thoi cho chàng một quả, vào chỗ mềm. Đường vào toa lét khá tiện, dễ tìm, không xa, gần như ngay cạnh quầy bar. Tường ốp gạch men, la va bô bằng một thứ gỗ có màu và kết cấu thớ thoạt nhìn có vẻ giống như bần, cũng mềm và nhẹ như thế, song gõ ngón tay vào thì mới thấy cực rắn. Trong góc là một bình sứ cao, mảnh, cắm thứ hoa có cọng lá dài, cao, thẳng, xanh mướt, hoa màu trắng, hình dáng và mùi hương nhẹ gần giống hoa lay ơn song nàng không cảm thấy tự tin hoặc thoải mái gọi luôn là hoa lay ơn, có thể là một trong hàng trăm giống lay ơn hoặc một loài tương cận, một giống lai ghép, nàng là ai để có thể biết tất cả. Một cánh cửa chớp để cho nắng lọt vào góc đặt bình hoa. Nơi hành lang ra vào khu toa lét nàng chạm mặt một tay người Âu đi ngược chiều, hắn đi vào đó, nàng ra khỏi đó. Thằng cha cao lêu đêu đến độ lố bịch, đến mức phi lý, nghe nói hình như chỉ có người Serbia, người Croatia, người Hà Lan mới thường hay cao đến cỡ đó, nàng cũng không rõ, nàng không cho là mình đã đi đã thấy đủ nhiều mà cũng không quan tâm. Nàng cảm thấy, từ trên tầm cao của đầu hắn - chả khác nào từ trên trời, một nơi nàng không thể thấy nếu không cố gắng nhìn, không ngẩng đầu lên - một tia nhìn chiếu xuống nàng. Cụ thể nó chiếu vào đâu nàng không rõ lắm, thường thì, bao nhiêu gã đàn ông đều thế cả, họ chiếu tia nhìn đầu tiên vào hai cái bầu hay hai cái quả núng na núng nính của nàng, song nếu là vậy thì nàng cảm thấy nó ngay nơi chỗ bị chiếu bị nhìn, trên ngực, ran ran như kiến bò, kiểu vậy. Với gã này thì không. Không nghe kiến bò trên ngực, vậy hắn nhìn đâu? Chỉ khi về gần tới bàn nàng mới nghĩ ra. Có khi hắn nhìn hai bàn chân của nàng, thon, rất trắng. Ngồi nơi bàn nàng đã tháo giày cởi tất để co duỗi ngó ngoáy ngón chân cho thỏa thích, và nàng đã vào toa lét như thế, chân trần.
Liền đó chàng có cảm giác mình thấy qua khóe mắt một vật gì bay vút qua không trung. Nghe vài giọng nữ đồng thanh thốt lên một tiếng nửa như thích thú nửa như đau đớn gần giống tiếng kêu trong lúc làm tình, tuy nhiên đó chỉ là một phần. Còn nghe rõ hơn thế, và bằng những bộ phận sâu hơn trong cơ thể, là sự sững lặng giống như của đám đông trong khoảnh khắc đầu tiên sau khi chứng kiến và nhận ra rằng, ngay trước mắt mình, ai đó vừa ném một dị vật không rõ là gì về phía nghệ sĩ con cưng của họ đang trình diễn trên sân khấu. Một phần cái sững lặng đó nghe giống như cái tiếng mà phụ nữ thốt ra bằng động tác đột ngột hớp mạnh không khí, tỉ như khi bất ngờ bị vật gì giống như bàn tay chạm vào lưng khi chỉ có một mình ở một chỗ đáng ngờ. Vật đó đập vào mặt đá của bệ tượng ngay sát cạnh Minotaur làm bật lên tiếng cộp chát chúa, liền sau đó là loảng xoảng đặc trưng của thủy tinh bị vỡ: một cái chai, hẳn chai rượu, không đầy song không cạn hẳn, có thể thấy một số giọt chất lỏng bắt đầu chảy thành dòng dọc theo mặt đá, nom đen nhánh dưới ánh sáng vàng của các ngọn đèn quanh sân nhà thờ. Lập tức một số cảnh sát liền vung dùi cui, rút súng ngắn chĩa lên trời len vào đám đông, về phía họ cho là có kẻ quấy rối đang trà trộn. Một vật khác nữa lao vút trong không trung, từ một hướng khác, vẽ thành một vòng cung đáng được thiên tài của Leonardo khắc họa và biến thành vĩnh cửu. Lần này là tiếng kịch khô khốc và không loảng xoảng: một hòn đá hay hòn gạch khá to hay thứ gì tương tự, với điểm tiếp xúc ngay trên đầu Minotaur, giữa cặp sừng. Một vài mẩu của thứ gì đó - rêu trên mặt đá và vữa nơi kẽ đá hoặc là vụn gạch hoặc là tất cả những thứ này - rơi lả tả xuống đầu Minotaur, giống như khi ai đó ở dưới đường bị một kẻ từ trên ban công trút ki hốt rác xuống ngay đầu.
Và trong khi im lặng âm vang này, dường như lớn hơn lịch sử loài người và già hơn (tuy đúng ra là không có tuổi), mải miết trôi qua quanh chàng, chỉ đôi lần hơi gợn bởi tiếng cười nói oang oang, chửi thề, đóng cửa sầm sầm của mấy tay khách trọ buồng bên đi chơi về, trong khi chàng thận trọng cựa mình đổi thế nằm, cố sao không gây tiếng động, chàng có thể nghe thấy nàng đang thức, nghe được cái im lặng căng hơn tuy cũng có khi chùng xuống của nàng, nghe hơi thở nhè nhẹ và kiềm chế của nàng, một thứ hơi thở mà nếu mạnh hơn một chút thì có lẽ khiến nàng bị thương. Chàng biết rằng nàng biết là chàng biết nàng đang thức. Chàng vuốt tóc nàng, choàng tay ôm nàng. Chàng nghe thấy nàng thở dài, khóc lặng lẽ trong khi dúi đầu vào ngực chàng. Chàng quờ tay tìm một mảnh khăn giấy để lau nước mắt cho nàng, và trong khi lau chàng hiểu hoặc nghĩ rằng hay cảm thấy rằng trong im lặng này - trong sự khóc không thành tiếng này, trong những ngón tay nàng bấu vào lưng chàng, ban đầu không thật mạnh, càng về sau càng mạnh, móng bấm sâu vào thịt gây đau, càng lúc càng đau -, chắc hẳn là, ít nhất là tạm thời, nàng sẽ không hỏi lại câu hỏi nàng đã hơn một lần nêu với chàng từ đầu đến giờ: tất cả những cái này là để làm gì, chuyến đi này vào chốn này là để làm gì, có nghĩa lý gì khi, ở một nơi khác, vào một lúc khác, nàng thức dậy và sẽ chỉ nhớ được một phần cỏn con của nó, một mẩu vụn, một lát cắt duy nhất - dù có thể là sắc lẹm - của nó.
Nàng ngồi xuống ghế, tủm tỉm cười, nghĩ đến chuyện cái bản mặt thằng cha cao kều kia trông sẽ ra sao nếu hắn khám phá ra nàng có hai cái chân có thể đổi màu. Nàng đã không thể nhìn thấy cái mặt của chính mình khi phát hiện ra điều đó - năm mười tuổi, nàng không biết chắc cái chuyện ày đã tồn tại rồi mà nàng không biết hay là nó chỉ bắt đầu xuất hiện đại để vào khoảng thời gian đó thôi. Nó đổi màu rất ít khi, nhưng mà có, và chẳng theo quy luật nào, thường là một cách bất ngờ, không thể đợi hay lường trước, mặc dù với thời gian nàng có thể lờ mờ nhận ra việc nó xuất hiện hay không có liên quan tới thời tiết, những biến chuyển đột ngột của nắng mưa, hướng gió, độ ẩm không khí, liên quan tới tâm trạng nàng, nàng có đang thèm khát muốn chết một cái gì đó không hoặc có đang muốn giết ai không, tới chuyện sắp có gì xảy ra cho nàng. Chàng thẳng người lên, nhìn nụ cười tủm tỉm của nàng, và cũng cười tủm. Chàng giơ một ngón cái lên, ký hiệu riêng giữa hai người để nói, Lại đàn ông chớ gì. Tay kia chàng bốc lấy một quả dâu trong đĩa giơ lên, nói, Nãy giờ chờ em trái dâu chín nẫu rồi đây nè. Nàng đập vào mu bàn tay cầm trái dâu của chàng, không quá mạnh và không quá nhẹ, đó là cách của nàng để nói, Thôi đi cha nội, lại ăn cắp của Phạm Duy chớ gì. Bằng cách nào đó nàng cảm thấy màu đỏ của quả dâu chín hắt ánh sáng về phía nàng, gần giống như ánh sáng của máu ứa ra từ đầu ngón tay phản chiếu trong gương trong cảnh nhập nhòa lúc sáng tinh mơ. Biển kìa, chàng nói nhỏ. Nàng ngẩng lên và nhìn thấy biển. Biển à. Xưa nay Granada đâu có gần biển, nàng thoáng nghĩ. Nhưng rồi nàng thấy điều ấy chả quan trọng mấy, xét cho cùng. Điều quan trọng là, biển đó, ngay ở Granada, cách Alhambra một rặng đồi đá lởm chởm - nàng chỉ thấy một vạt biển hé lộ qua khe trũng giữa hai sườn đồi, xanh thẫm và sáng ngời đến không thể tin được nếu xét rằng buổi tối đang tới gần, mọi thứ xung quanh - trừ biển - đã bắt đầu nhuốm một chút đen, một chút sắc tố sẫm vào trong bảng màu của nó. Như thể máu trong nàng cũng đã bắt đầu ám đen và, chỉ phần nào còn thuần sắc của nàng thì mới thấy được biển trong dạng thức thật của nó. Hoặc nếu nàng có theo một tín ngưỡng nào đấy, chẳng hạn Ki tô giáo, thì kiểu như là Thượng đế gửi quang cảnh này xuống để cho riêng nàng thấy, nàng và gã đàn ông của nàng, kẻ đang ở cạnh nàng lúc này. Quả thật nàng không thể tin đây là cảnh bày ra trước con mắt một kẻ thô lậu tầm thường, nghĩ kỹ nàng sẽ thấy vậy. Màu vàng phản chiếu trong vạt biển trông tươi nhuần, gần với màu của thứ kim loại cùng tên hơn là so với màu vàng của Alhambra . Màu vàng của Alhambra không còn là màu vàng gợi nhớ nhiều hơn tới không khí hay gió, giờ đây nó là màu vàng gần hơn với đất, “màu của lớp thếp vàng lâu năm, màu của lá vàng”. Nàng ngồi nhìn cảnh đó, chú tâm lắng mình lại để chấp nhận thực tế rằng nàng vừa mới mất đi vài khoảnh khắc vô giá của đời nàng. Một cái gì đó đang từ từ đọng lại trong nàng, mang sức nặng của cái nostalgia hay hoài niệm về sức nặng của đêm.
Khi mặt trời đã khuất hẳn, chỉ còn sót lại chút ánh đỏ phía trên Sacromonte và màu vàng của Alhambra hoàn toàn chỉ là màu của ánh điện, họ rời quán, thả bộ dọc những con phố Albaicín khúc khuỷu xuống rồi lên lên rồi lại xuống. Những quãng phố tương đối nhộn nhịp xen kẽ với những ngõ ngách hoàn toàn cô tịch, những góc khuất mà dường như hậu cảnh sâu xa nhất từ nhiều thế kỷ qua là tĩnh lặng vĩnh cửu, ôm chứa và bảo bọc những tĩnh lặng nhỏ hơn và hữu hạn của mỗi ngày. Chuyển vô đây ở đi, nàng nói ngay khi nhìn thấy bảng hiệu bằng gỗ một khách sạn mà cửa vào ở dưới tầng hầm, mấy bậc thang đá dẫn xuống được soi đèn màu tím nhạt còn bảng hiệu thì sáng dịu màu cam. Hy vọng còn phòng, chàng nói, sau khi liếc nhanh qua nàng, đoạn bước nhanh tới, thoăn thoắt xuống mấy bậc thang, đến nơi cánh cửa trước nàng. Còn phòng. Thích thế, nàng nói, và lập tức đặt luôn, không buồn lên xem phòng trước theo gợi ý của chàng và của lễ tân. Mai mình chuyển đồ qua đây, giờ cứ đi chơi đã, nàng nói. Và họ tiếp tục cuộc đi chơi đầy mê hoặc của mình, mê hoặc bởi từng mét đường họ bước qua song mê hoặc chủ yếu là mê hoặc bởi cái gì đó không tên nó dẫn dắt nàng tự bên trong. Nàng luôn luôn vừa nhìn thấy cái hiện hữu trước mắt vừa nhìn thấy những gì nàng muốn tạo ra, không ngừng lấy cái này bổ sung cho cái kia, cảm nghiệm của nàng là một cõi động không ngừng chuyển hóa qua lại giữa đang trở thành và đã trở thành. Mặc dù nàng bước đi khoan thai, chậm rãi, đủng đa đủng đỉnh, như đang uể oải tận hưởng sự vô tận của thời gian mà số phận hào phóng ban cho nàng, không bận tâm đến một ai hay một cái gì cụ thể quanh mình mặc dù không bỏ sót một cái gì, song nhiều người đàn ông ngồi nơi các quán hoặc đứng tụm năm tụm ba nơi góc phố vỉa hè ngẩng lên hay ngoảnh lại nhìn nàng, nhận ra ngay ở trong nàng cái ngọn lửa ẩn giấu, ngửi được ở nàng cái mùi của một lời hứa hẹn vừa quyến rũ vừa mơ hồ, như nhìn thấy chính mình đang đi trên dây, vừa không ngờ vừa thích và vừa sợ. Nàng không nhìn lại họ, miệng thoáng cười, nàng biết cả. Đi với em nguy hiểm quá, chàng nói. Vậy thì anh muốn gì? Chàng cười và im. Hai người lượn lờ rất lâu trên quảng trường San Epifanio và các con phố từ các nơi khác đổ về hay từ đó tỏa đi, nói cách nào cũng được, nơi vào giờ này đầu buổi tối đã bắt đầu khá đông người. Càng tiến sâu hơn vào buổi tối và càng tiến gần đến đêm hơn, bước chân nàng càng trở nên hăm hở, vẫn nhẹ nhõm và điềm nhiên song hăm hở, như thể nàng biết chỉ thêm vài chục hay vài trăm bước nữa thôi là một cuộc đời khác hay ít nhất một chặng khác của đời nàng (mà nàng thầm mong muốn) sẽ bắt đầu. Mỗi đất nước mỗi thành phố cũng giống như một người đàn ông, chàng nhớ có lần nàng nói. Có người mình không ưa nổi, có người mình thấy hay hay, có người mình yêu say đắm. Dĩ nhiên với đàn ông thì ngược lại, giống như một người đàn bà, chàng nghĩ. Ở một góc quảng trường, cạnh đài phun nước lớn (nơi có mấy con ngựa to bằng đá trắng mà nàng lưu ý chàng là có gì đó trông khang khác hôm qua, khác gì thì nàng không nói được còn chàng thì chả thấy gì) có một nhóm flamenco đang chơi đàn, múa. Lập tức nàng tiến về phía đó, như thể đây là chuyện không cần bàn cãi. Từ lúc nào không biết chàng vẫn mang một mối hoài nghi đối với thứ flamenco người ta trưng ra trong các nhà hàng quán rượu - chàng thấy ở đó sự méo mó của thế giới hoặc ít nhất là cái bóng của nó, sự trêu ngươi đối với bất kỳ hoài niệm nào về “một cái gì hoàn hảo chưa hề có hoặc đã mất”, không khác là bao so với những thứ quan họ hay ca Huế diễn trước đám khách du lịch béo tốt hồng hào đang ăn uống ngon lành ở quê nhà chàng. Tuy nhiên ở nhóm flamenco này có chút gì đó của Nó, của Cái Ấy, khiến tim chàng nhanh chóng - gần như lập tức - thắt lại, đau, theo nghĩa đen. Nhìn qua nàng, chàng hiểu ngay rằng ở nàng đang xảy ra điều y như thế, có lẽ mạnh hơn chàng, gần như chắc chắn mạnh hơn chàng. Nó khiến nàng như thay đổi hoàn toàn, không phải ở bên ngoài mà từ bên trong. Như thể, giống người ta nói, nàng vừa nhìn thấy một thế giới khác mở ra trước mắt mình, một cái gì đó ở nàng khiến nàng nhận ra rằng cái vũ trụ mình vừa mới thấy này có từ xưa hơn vũ trụ nàng vẫn biết và vẫn sống rất nhiều. Khám phá này dường như nhắc cho nàng nhớ mình không gì hơn là “một đứa trẻ không nhà lạc lõng ở thế giới này”, một đứa trẻ u sầu và đói khát khôn nguôi đồng thời có phần bất hạnh hơn những trẻ khác cùng cảnh ngộ bởi nó chưa bao giờ thất vọng về thế giới đủ để căm thù nó. Chàng biết, những ai đã trải qua sự chuyển hóa này dù chỉ một lần thì sẽ không bao giờ là một với đám đông được nữa. Người ta đang chơi một điệu Alegrías, điều này chàng nhận ra ngay, song từng chốc từng chốc dòng chảy của nó riết lên tâm khảm chàng với một sức mạnh và theo một cung cách điển hình cho Siguiriya hơn. Chàng hầu như có thể thấy ánh lấp lánh của nước trong mắt một ông luống tuổi đang đứng nhìn mặc dù chỗ ông ta là ở vùng tương đối tối hơn, nơi trung gian giữa quầng sáng của hai ngọn đèn cao áp khá xa nhau. Thứ lửa bên trong những người đang múa và đàn này thật đáng sợ, diễm tuyệt. Bị cuốn vào trong nó, người ta có thể hân hoan đón nhận cái chết. Đó là thứ nhạc mà, như người ta nói, ta cảm nhận bằng máu và bằng tủy xương. Một nhóm du khách nước ngoài (qua cách ăn mặc và một số nét ngoại hình thì điều này không thể lầm) đứng nhìn, chỉ trỏ, ghé tai nhau nói, cười hinh hích, chụp ảnh, mút cà phê hay nước ngọt đựng trong ly giấy, bốc khoai tây chiên cho vào mồm, quệt tay vào áo nhau, thọc lét, phát lưng, đét đít bóp cu nhau. Một anh giai hộ pháp làm mặt quỷ với một thằng nhóc sợ hết hồn đang mếu máo níu váy mẹ hoặc có khi không phải mẹ mà là chị hoặc cô dì hoặc cô trông trẻ đi cùng. Chàng nhìn sang một nhóm người đang đứng im nhìn, chàng nghe và nhận thấy điều mà trên thực tế chàng chẳng mấy khi nhận thấy, rằng một khi đã để tâm trí mình mở ra hoàn toàn cho một thứ gì giống như flamenco này thì ngay cả người có ngoại diện tầm thường nhất trông cũng thực sự đẹp, để lộ ra rằng họ vốn dĩ đẹp, cũng có thể đẹp. Chàng nhận ra mình hít thở sâu hơn, không khí quanh chàng dường như đã trở nên có một chất lượng khác, mỗi phân tử của nó như đã đột ngột trở nên gần hơn nhiều với chỗ tận cùng và điểm hồi sinh của thế giới. Trong khoảnh khắc chàng cảm thấy mình không dám nhìn qua nàng. Người múa là một phụ nữ trạc từ bốn đến năm mươi, đẫy đà, khuôn mặt bầu phì phị phảng phất hình bóng của một nhan sắc khiến đàn ông nghe tim đập loạn và nghẹt thở, mặc bộ áo váy may bằng thứ hàng nhẹ suôn mềm màu xanh da trời rất nhạt, hai bên hông xẻ gần đến tận eo theo kiểu xường xám. Hai bàn chân bà ta, múp míp (có lẽ là dấu hiệu của tuổi tác), cực trắng, mang đôi giày đen nhánh điển hình có phần gót cao, dày, đang giậm xuống đất với một tiết điệu và sức mạnh dường như thật khó tin là có điểm gì chung với đời thực. Dường như những bước nhảy này, cùng với thứ âm nhạc - bằng ghi ta, bằng nhạc cụ gõ, dồn dập và khuấy động máu trong huyết quản - đi cùng với nó, chỉ là biểu lộ cuối cùng của một thứ quyển tràn ngập năng lượng nào đấy nằm ngoài trí năng, thứ quyển mà từ trong đó bất cứ lúc nào cũng đang sinh thành và đang triển nở một dòng sức mạnh hữu hình với sức bứt phá giống như khi một cá heo lao từ dưới sâu lên đâm thẳng vào bầy cá mòi đang tụ lại thành một quả cầu đen nghịt khổng lồ, hay cú quẫy của một con cá hổ kình bị thương vùng vẫy tuyệt vọng hòng chống lại sự kết thúc. Đó chừng như là cách duy nhất để những người này nhớ lại trong đôi phút một sự thanh tân cao nhã và một nỗi buồn mà họ đã quên mất. Chàng nhìn qua nàng và lập tức nhận thấy nàng cũng đang cảm thụ được sự hiện diện của trường năng lượng này trong thể xác mình. Như thể mãi đến giờ nàng mới nhận ra rằng xét đến kỳ cùng nàng cần phải sống nhờ thứ dưỡng chất gì, thứ dưỡng chất duy nhất giúp nàng thực sự sống theo một nghĩa khác. Ánh sáng đang tỏa ra từ mắt và người nàng lúc này - hầu như bất cứ giây nào cũng có vẻ sắp sửa vượt ngoài khả năng chịu đựng của chàng - là minh chứng cho điều đó. Và trong chàng bỗng nhói lên cảm xúc giống như là tình yêu thương, yêu thương một cách xót xa khi nhận thấy cả nàng lẫn chàng và có lẽ tất cả những ai giống như họ được tiếp xúc và thụ hưởng thứ dưỡng chất đó mới ít oi làm sao, thứ dưỡng chất đó ngày càng xa họ và càng tồn tại một cách nhọc nhằn đến đâu.
Thế rồi chàng nghe thấy tiếng huyên náo gì đó bắt đầu vang lên từ phía bên kia quảng trường, ban đầu không rõ rệt lắm, nhưng rồi nhanh chóng dậy lên đến độ khó mà lờ đi coi như không có. Ấy là thứ huyên náo của một đám đông đang vô cùng phấn khích, kiểu đang cùng hò hét cổ vũ hoặc la ó phản đối một ai hay một chuyện gì. Thứ tiếng ồn có khả năng cắt ngang cái dòng chảy flamenco này hay bất cứ dòng chảy nào đang lưu chuyển ở đây, cũng giống như vài tên say rượu gào thét chửi bới vung dao đuổi theo nhau xộc vào sân trước một ngôi nhà thanh lịch thì có thể cắt ngang cuộc đàm đạo bình văn giữa gia chủ và nhóm tao nhân mặc khách. Chàng cứ nghĩ mình là người bị dứt khỏi dòng chảy flamenco trước, nhưng liếc sang thì chàng nhận thấy hình như nàng đã bị dứt khỏi đó còn sớm hơn chàng. Một phần lớn - có thể không phải là tất cả, mặc dù chàng có cảm tưởng mạnh mẽ rằng đúng như vậy - những người đang chú mục chú tâm vào nhóm flamenco đều đã ngoảnh sang phía đó nhìn. Lập tức một cái gì đó xẹp đi rất nhanh nơi kẻ múa người đàn, tuy có thể không dễ nhận ra lắm, không dễ nhận ra với bất cứ ai. Nhạc và múa vẫn tiếp tục, song bây giờ ở đó có một cái gì gây ra cảm giác từa tựa như khi nhìn dòng suối gần cạn trơ cả đáy, vẫn miệt mài chảy song dẫu vậy vẫn là gần trơ cả đáy. Trong nháy mắt họ chợt mang cái vẻ như của một con chó cứ vẫy đuôi ríu rít và kêu ư ử về phía ông chủ đang bỏ đi sau khi bán nó cho những người sẽ mang nó đi ra chợ mèo chó hoặc đi làm thịt. Nhiều người từ các nơi khác của quảng trường bắt đầu ngưng việc đang làm dở dù đó là gì mà kéo nhau về phía đó, nơi tiếng huyên náo vẫn tiếp diễn, chốc chốc lại hạ xuống nâng lên như đang cưỡi trên ngọn sóng hay là, dĩ nhiên, chính nó là một thứ sóng. Nàng cũng nằm trong số những người nhấp nha nhấp nhổm muốn rời bỏ vị trí mình đang ở để tiến về phía đó, không, nói thế không thật, nàng gần như lập tức trở nên muốn tiến về phía đó, với một nỗi háo hức muốn biết điều chưa biết, vừa đột ngột vừa mạnh mẽ. Chàng hầu như ngẩn người trước sự chuyển hóa quá nhanh này ở nàng, nhưng có lẽ hoặc rõ ràng là chàng hãy còn chưa biết nhiều về nàng. Nàng bắt đầu chạy đi, như nhiều người khác, với vẻ như đó là việc tự nhiên nhất nàng làm, tự nhiên như đứa bé níu váy vòi vĩnh mẹ và sướng rơn khi được cho đi tàu lượn. Trước khi co cẳng chạy ù đi nàng liếc chàng một cái rất nhanh, không hẳn như để nói, Mình tới đó xem có gì đi, mà đúng hơn là để kiểm tra xem chàng sẽ làm theo nàng như thế nào, liệu chàng có sẽ cứng nhắc và ngờ nghệch đến nỗi phải tự hỏi có nên phản ứng giống nàng chăng. Trong khi đầu chàng đang bận rộn với ý nghĩ đó thì chân chàng đã bắt đầu chuyển động theo nàng. Chàng cũng chạy về phía đang phát ra huyên náo, bỏ lại flamenco (lúc này chỉ còn là cái bóng mờ của nó, tuy cũng có thể không hẳn vậy, tâm trí chàng không còn chỗ để quan tâm đến điều này), một phần là bị cuốn theo nụ cười hăm hở của nàng, sự sẵn sàng của nàng hướng đến cái chưa biết. Trong khi chàng chạy sóng đôi bên nàng và giữa những người khác băng qua quảng trường, điều duy nhất thu hút phần nào chú ý của chàng là một hình thù đồ sộ án ngữ một phần chân trời, cái gì đó hao hao như Đại Giáo đường ở Córdoba nơi chàng đã lang thang, hoàn toàn quên mất mình, hầu như suốt hai ngày liên tục - theo chàng nhớ thì suốt thời gian qua ở Granada chàng không nhận ra có một giáo đường nào mà chàng có thể thấy rõ đến thế từ vị trí này của quảng trường này; chàng hơi lấy làm lạ, tuy nhiên chàng lập tức yên tâm, cảm thấy rằng hoặc mình nhớ lầm hoặc mọi chuyện đều có thể. Một bầy trẻ con không người lớn đi cùng vượt trước hai người, chạy nhanh như gió, nhanh hầu như phi tự nhiên, gần như tức cười, giống phim hoạt hình hơn đời thực, làm như có ai đó vừa bảo chúng, Có ông già Noel với nàng Bạch Tuyết vừa đánh xe tới đằng đó, với nguyên cả bầy tuần lộc toàn thân phủ tuyết giữa tiết tháng Sáu, đang phát quà cho trẻ con, nhanh lên kẻo tụi khác nó giành hết cả, và bọn trẻ tin ngay, hoặc gần như thế, một điều tuyệt vời đến vậy thì chẳng thể nào không là thật được. Góc ấy của quảng trường thật đông, gần như đông nghẹt, chỉ có điều sau một thoáng chàng nhận ra rằng chuyện gì đấy đang lôi cuốn nhiều người đến thế hóa ra không phải đang diễn ra xảy ra trên quảng trường San Epifanio này mà là cách đó non trăm mét nữa, dọc theo Calle de las Casas Blancas, nơi khoảnh sân rộng đằng trước nhà thờ Santa Carmelita, đó mới đúng là cái tâm hút mà những dòng người này đang nườm nượp đổ về.
Người người chen chúc không chỉ trên quảng trường mà cả đoạn đầu các phố dẫn đến quảng trường, xúm đông xúm đỏ các vỉa hè, bu nghẹt trên tất tật các cửa sổ và ban công hai bên phố, trèo lên cây, lên nóc ô tô, lên cột đèn, nóc buồng điện thoại, mái trạm xe buýt, thượng lên vai nhau hoặc chốc chốc lại nhảy lên như choi choi để nhìn rõ hơn đôi chút dù chỉ trong nháy mắt. Thật khó cho hai người có được một tầm nhìn tốt trong hoàn cảnh đó, cả hai không phải là thấp bé song chẳng lấy gì làm cao so với phần lớn người Âu, thế nhưng, cứ như có phép lạ, nàng nhác thấy một cột đèn cách không xa lắm hãy còn chưa bị ai chiếm dụng, như hai ghế trống cuối cùng được Thượng đế dành sẵn cho riêng họ trên chiếc xuồng cứu sinh cuối cùng còn lại của con tàu sắp sửa chìm xuống biển. Trèo cột đèn hay một thứ gì tương tự cột đèn không phải là việc mà họ - hay ít nhất là chàng - hay làm, ít nhất là từ khi họ biết mình không còn con nít con nôi gì nữa, song, bao giờ chả vậy, tình huống đặc biệt đòi hỏi đồng thời kích thích sinh ra kỹ năng đặc biệt hoặc là sự tăng cường hay mở rộng đặc biệt một số kỹ năng, cho nên gần như trong nháy mắt cả nàng lẫn chàng đều đã vắt vẻo ở lưng chừng hay thậm chí gần đỉnh cột đèn, cả hai - đúng hơn là chỉ riêng chàng - hơi ngỡ ngàng thấy mình làm được kỳ tích đó dễ dàng đến thế, nhưng rồi chuyện đó qua trong nháy mắt, tâm trí chàng lập tức bị thu hút bởi quang cảnh mà chàng và nàng thấy rõ hơn từ vị trí này, xét cho cùng họ đi rốt con đường tới tận đây là để nhìn thấy nó.
Nơi khoảnh sân trước nhà thờ được quây kín lại, ngăn cách với đám đông bằng một hàng rào bảo vệ gồm lưới thép và cảnh sát, như một mảnh đất cuối cùng còn giữ được cho khỏi ngập nhờ những đê bao kiên cố nhất dù được dựng vội vàng, có một quần thể tượng khổng lồ ngự trên bệ đá tương xứng về kích cỡ, và, ở một chỗ trên thành bệ đá này, có một cái vòng kim loại hẳn phải to cỡ bắp tay người lớn, đàn ông. Buộc chắc vào vòng kim loại đó lúc này là một sợi xích to không dễ gì thấy được trong đời thường, dài dễ tới dăm chục mét quấn nhiều vòng xiên xẹo nằm trên nền đá lát có tuổi hàng trăm năm. Đầu cuối xích là một vòng cùm cũng có tiết diện to không kém vòng sắt ở đằng đầu xích, vòng này siết vào chân một sinh vật mà thoạt trông hai người nhận ra lập tức cho dù chưa thấy trong thực tế bao giờ, một con Minotaur khổng lồ cao dễ đến gấp đôi một người lớn trung bình. Nhìn kỹ thêm một chút thì thấy đây không hẳn là Minotaur thường được nhắc tới và khắc họa trong sách hay trong phim, bởi vì cái đầu nó không hẳn đầu bò mà giống đầu trâu hơn, đặc biệt cặp sừng thì chắc chắn sừng trâu, không thể nhầm được, ít nhất là không thể nhầm với những ai sinh trưởng ở Nam Á hay Đông Nam Á vốn từ bé đã biết tới con trâu nước, ít nhất là qua sách báo tranh ảnh, như nàng hay như chàng; hẳn đây là một loài tương cận với Minotaur. Không rõ liệu phần lớn đám đông này có biết thế không, riêng nàng thì phát kiến này rõ ràng khiến nàng sửng sốt và hứng chí đến nỗi nàng thốt lên một tiếng khó ký âm, không hẳn “Ô” không hẳn “Ối” mà cũng có phần nghe như “Ha” hay “Hả”, và tay nàng suýt nữa đã đưa lên bụm miệng nếu nàng không kịp thời nhớ ra mình đang trong tư thế hiểm nghèo đến thế nào và có một việc hệ trọng hơn cần đến bàn tay, cả hai tay. Chàng thì, gần như lập tức, chàng nhớ tới một truyện ngắn từng đọc trên Internet về một con Minotaur bất ngờ xuất hiện trên quảng trường thành phố, chợt cảm thấy mình như là một trong hàng ngàn người của đám đông trên quảng trường trong truyện ngắn ấy hay là một truyện ngắn có môtíp tình cờ mà trùng hợp hoặc vay mượn hay ăn cắp ý tưởng của truyện ngắn ấy, cảm giác này “lướt qua chàng như một tia chớp”, khiến chàng cảm thấy như mình vừa đột ngột biến mất vào hư không trong một khoảnh khắc rồi lại vật chất hóa ngay tức thì và hiện ra như cũ, ở đây, trên lưng chừng cột đèn này, tại một nơi của thành phố Granada, nước Tây Ban Nha, ở Tây Nam châu Âu, Bắc bán cầu, Trái đất. Cái đầu của sinh vật này cũng giống đầu trâu hơn đầu bò (mặc dù rất có thể ấn tượng này chủ yếu do cặp sừng gây nên), thân mình thì hoàn toàn là thân người, đàn ông, một đàn ông trưởng thành trẻ tuổi, lông lá, lưng dài, vai rộng, ngực gồ cuồn cuộn bắp tuy rằng bụng khí hơi to, giống như một lực sĩ cử tạ đã bắt đầu xuống phong độ và không còn giữ gìn làm chi cho mệt. Thân hình đó trần trùi trụi, chỉ trừ một manh khố quấn quanh vùng hạ bộ làm bằng thứ vải nom như vải rèm dày, thật khó hình dung hoặc luận ra đấy là do hắn tự mặc hay người ta mặc cho hắn và mặc cách nào. Đây đó trên người hắn có những vết trông như trầy xước, đốm bẩn, vết dập vết bầm, người ta phải lập hàng rào ngăn cách hắn với đám đông hẳn là để bảo vệ hắn khỏi đám đông hoặc là bảo vệ đám đông khỏi hắn hoặc cả hai. Giờ thì những người ở gần hắn nhất trong đám đông - ngay sát hàng rào lưới dày và cảnh sát và dường như cả binh lính - cũng đang cách hắn một quãng tầm mươi mét, và thoạt nhìn có vẻ họ không hề có ý gì là muốn làm hại, muốn gây tổn thương cho con vật-người. Đúng hơn, họ nhìn nó với một vẻ khó tả pha lẫn giữa tò mò, thích thú, khiếp sợ, hơi ghê tởm (ghê tởm là phải, bởi sinh vật kia bốc ra một mùi kỳ quái chưa có từ để gọi, bao hàm quá nhiều sắc thái gợi lên quá nhiều hình ảnh và ký ức khác nhau đến nỗi khó lòng gói gọn trong chỉ một vài từ), háo hức, kiểu háo hức của đám trẻ con hay trẻ choai choai đang rất muốn làm cái gì đó - do cảm thấy ngứa ngáy, ran ran, sôi sục trong người - mà vẫn chưa hình dung được hay quyết được hay nảy ra được ý tưỏng sẽ làm gì. Về phần mình, con vật-người nhìn lại đám đông với một vẻ cũng khó tả ở mức tương đương nếu không phải hơn. Hẳn một phần sự khó khăn này là bởi đó là khuôn mặt một con vật, dù trâu hay bò, chứ không phải mặt người, cặp mắt cũng vậy, mặc dù nếu nói thật thì chắc ít ai trong những người có mặt sẽ không thừa nhận họ thấy nơi cặp mắt đó một thứ gì đấy giống của con người, thứ gì giông giống như là cái ánh sáng đặc biệt của trí năng, linh hồn, thần thái mà người ta thường cảm thấy hoặc cho là chỉ có ở con người, hay ít nhất là khiến họ cảm thấy nỗi bồn chồn bất an điển hình khi buộc phải đối diện với một thứ ngang bằng hoặc lớn hơn con người song không phải con người và bản chất của nó họ chưa hiểu được. Cứ thế cái nhìn của hai bên “xoắn chặt vào nhau” trong cái im lặng kéo dài nặng đến nỗi chàng có thể cảm thấy nó đè lên da mặt và ngực mình. Thế nhưng mới cách đây ít phút còn huyên náo đến thế cơ mà, chàng nghĩ. Và trước đó nữa hẳn cũng là im lặng, cái im lặng mà trong đó, cách đây không xa mấy, mình đã lắng nghe flamenco. Và trước đó nữa thì ở đây có gì? Từ bao giờ và bằng cách nào toàn bộ sự tình này bắt đầu? Đệm theo im lặng này là tiếng thở của đám đông, và tiếng thở của con vật-người, mặc dù cái sau thì có thể cảm thấy hơn là nghe thấy.
Đột ngột chàng nghe tiếng người vang lên khiến chàng giật cả mình, “tim chàng như trong nháy mắt rơi tọt xuống giữa hai chân rồi lại trồi lên về chỗ cũ”. Liền sau đó im lặng lại tràn vào thế chỗ, giống như đại dương ùa trở lại lấp kín ngay tức khắc một đường rạch như lưỡi cày vừa xuất hiện trên bề mặt nó. Song điều này kéo dài không lâu. Một thứ âm thanh khác thốt lên gần như ngay liền đó. Mất vài giây chàng mới nhận thức được rằng chắc chắn âm thanh đó là do sinh vật kia phát ra. Một trong những thứ tiếng kêu hắn có thể phát ra, hay là một mảnh rời rạc của giọng hắn, nếu hắn có một thứ có thể gọi là giọng theo cách hiểu của con người. Khó mô tả được cái tiếng đó. Phần nào nó gợi liên tưởng về một loài chim, mặc dù ai cũng biết cách nói này khác thế nào với nói “Tiếng kêu này giống tiếng chim”. Dù thế nào đi nữa, tiếng kêu này, hoặc sự kiện một sinh vật như thế này phát ra tiếng kêu như thế, liền khơi ra từ đám đông một cơn hào hứng đặc biệt. Có thể cảm thấy được nó ngay lập tức dâng lên, hoặc có lẽ đúng hơn là lại dâng lên như một làn thủy triều cực đại, siêu tốc, vô hình. Một người nào đó trong đám đông, sau một quãng lặng, liền nhại lại tiếng kêu ấy. Khó lòng phân định người này làm thế xuất phát từ một sự tinh nghịch vốn chủ yếu là hồn nhiên hay đó là dấu hiệu của sự khinh miệt hay thù địch và ác ý không che giấu, mặc dù cảm giác do nó gây ra thì có thể thế này hoặc thế khác. Một khoảng lặng ngắn căng thẳng - nín thở - rồi thì Minotaur hay loài tương cận Minotaur, sau khi đã tiêu hóa xong lời đáp lại này và lắng nghe xong cái gì đó ở bên trong mình dẫu đó là gì, liền trả lời bằng một âm thanh khác, to hơn, trong hơn, lảnh lót hơn, dày hơn, rền hơn, giống tiếng chim hơn. Liền sau đó chàng nghe một tiếng thở ra vĩ đại phát xuất từ lồng ngực cả đám đông, và chàng cảm thấy hoặc trông thấy hay nghe thấy nàng cũng thở ra như thế, gần như cùng nhịp với đám đông, có thể cả chàng nữa. Đám đông lập tức sôi động lên. Bảo là “phát cuồng lên” thì khí phóng đại song chẳng xa sự thực là mấy. Có tiếng huýt sáo, tiếng vỗ tay, tiếng ồ à cộng hưởng của hàng trăm, có thể hàng ngàn người. Liền đó Minotaur hoặc loài tương cận Minotaur bèn rướn cổ vươn đầu và làm một cử động của quai hàm khiến cho miệng hắn mở ra từ phía dưới nom giông giống như cười, chàng thì thấy không chắc đó là cười, cùng lắm chỉ gần như vậy, song với phần lớn đám đông thì có thể khác, chàng không thể chắc. Chàng nhìn qua nàng, và lập tức thấy sự khác nhau giữa nàng với chàng: miệng nàng cười, một trong những nụ cười sáng nhất chàng từng thấy ở nàng. Nàng đang cười khi thấy nụ cười hoặc cái mà nàng cảm nhận là nụ cười của Minotaur. Chàng cúi xuống, đảo mắt nhìn quanh đám đông, thấy nhiều khuôn mặt khác đang cười, song, ít nhất là xét trên số lượng hạn chế những khuôn mặt đủ gần để chàng thấy được rõ, hầu như không một nụ cười nào trong đó giống như của nàng. Nếu về sau bị hỏi đến về chuyện này chắc chắn chàng sẽ phủ nhận, ít nhất là ban đầu phủ nhận, rằng khi chàng nhận ra điều đó thì trong ngực chàng liền xuất hiện ngay một cái gì giống như đau, hay ít nhất là một cảm giác mà “đau” là từ ít nhiều khả dĩ thích hợp để gọi. Cái ập đến trong chàng lúc đó - một ý nghĩ, một ấn tượng, một cảm tưởng, một cảm xúc, tất cả - đại khái là, chàng sẽ rất hạnh phúc nếu có lúc nào đó nàng cười như vậy khi nhìn chàng từ xa, mà chàng không biết. Hơn nữa, cùng lúc, chàng nhận rõ có một sự thật là chàng đang không có khả năng nhìn một sinh vật nào với nụ cười giống như thế, có lẽ ngoại trừ nhìn nàng.
![]() |
| Minotaure dans une barque sauvant une femme (1937), Pablo Picasso |
Minotaur tỏ một vẻ giống như là ngỡ ngàng trước diễn biến này, nhưng điều đó qua rất nhanh, đến độ chắc hẳn trong đám đông có nhiều người không kịp nhận ra. Thế rồi, đáp lại, hắn cất lên một tiếng kêu phần như rên rỉ phần như hoan hỉ, không còn giống mấy với tiếng chim mà giống hơn với riếng một loài ngỗng lạ cực lớn. Rồi ngay sau đó, chừng như giật mình hiểu ra mình vừa mới làm gì, hắn liền chuyển ngay sang một thứ tiếng hoàn toàn giống như chim hót, tuy cụ thể loài chim nào thì hơi khó xác định, ít nhất là với chàng. Dường như rừng người nãy giờ có chờ đợi chăng là chờ đợi điều này. Chàng cảm nhận ra điều đó qua một tiếng thở ra nghe có vẻ vĩ đại, bởi nó là tiếng thở ra cùng một lúc của ngần ấy con người, biểu lộ một niềm khoan khoái và mãn nguyện sâu xa. Đồng thời chàng cảm thấy cái trạng thái kiểu như là hốt nhiên ngộ được tại sao ngần ấy con người lại chờ đợi điều này với lòng nhẫn nại và niềm háo hức lớn lao như thế. Trong tiếng chim hót hoặc tương đương tiếng chim hót đó có một phẩm chất hoàn toàn khác thường, chưa biết, lạ lẫm, kỳ đặc, cái gì như là một sự trong vắt hầu như phi lý, đến nỗi tựa hồ cứa vào tủy xương của chàng. Đau, có thể nói vậy, nhưng là thứ đau khiến người ta muốn nhiều hơn nữa, giống như cái đau gây nên bởi người yêu trong lúc làm tình. Không phải ai trong đám đông cũng cảm nhận như chàng. Chàng biết điều đó lập tức, một phần là qua chiều sâu không đủ của sự im lặng mà rừng người trong phút chốc tạo ra, một phần là bởi, thật hiển nhiên, gần như ngay sau phút chốc im lặng không đủ sâu này, từ đây đó giữa rừng người bắt đầu rộ lên những tiếng huýt sáo, tiếng vỗ tay bôm bốp, tiếng đập xoang xoảng vào một vật rắn dẹt và to bản bằng kim loại chắc là tấm biển tên đường, những giọng nhại lại cái tiếng độc nhất vô nhị kia một cách rõ là mang dụng ý không cần sao cho giống (chẳng ai đần đến mức nghĩ mình có thể bắt chước giống như thế) mà quan trọng là làm sao cho nó bị bóp méo đi theo hướng nghịch dị, tức cười. Một số người cười. Một số cười rinh rích, số khác cười ha hả, cười he hé, cười hô hố, cười sằng sặc, cười khùng khục, một dàn hợp xướng tự phát, đầy ngẫu hứng và vĩ đại gồm rất nhiều thể loại, cung bậc, tố chất, sắc điệu và trữ năng âm lượng khác nhau của giọng người cười. Tiếng cười lan nhanh như đám cháy giữa rừng người, chẳng mấy chốc trở thành lời đáp chính thức hoặc mặc nhiên là chính thức của loài người hay ít nhất là số người có mặt tại đây-lúc này đối với tiếng nói như chim (một loài chim chưa từng có) của Minotaur hay loài tương cận Minotaur. Chàng nhìn lên nàng (chàng ở thấp hơn nàng trên cột đèn) và cảm thấy mình vừa kêu lên một tiếng thảng thốt. Mắt nàng mở to, có lẽ hơi quá to, song trong nháy mắt chàng có cảm giác nàng không còn sống nữa, ít nhất là nàng không phải đang tồn tại ở thế giới này. Và bằng cách nào đó chàng lại cảm thấy, trong trạng thái đó của nàng - nếu đó quả thật là trạng thái của nàng - có một phần nào đấy giống như hạnh phúc, gần với hạnh phúc, dù điều này chỉ thoáng qua trong nháy mắt, rồi thì chàng lại thấy nàng nhìn chàng, nàng lại đang tồn tại kia, trong ánh mắt ấy, chàng liền mỉm cười với nàng, khẽ lắc đầu. Nàng cũng khẽ lắc đầu mỉm cười, và chàng cảm thấy cả một cuộc trò chuyện dài, mật thiết vừa diễn ra giữa hai người. Cả hai lại nhìn về phía Minotaur hay loài tương cận Minotaur. Hắn vẫn đang tiếp tục há mồm, nhưng, dưới dòng lũ những tiếng cười của con người, thật khó hoặc hoàn toàn không thể nhận ra liệu hắn có đang tiếp tục hót không, có phải hắn có phần giống như ca sĩ opera đang hát nửa chừng một khúc aria trong một đoạn phim câm. Song một hồi sau, khi tràng cười đã có mòi hơi lắng xuống (bởi không một cơn lũ hay con triều dâng nào có thể duy trì ở độ cao cực đại mãi mãi, và cũng bởi sự tạm lắng đi này có thể là để tạo quãng nghỉ cần thiết và chuẩn bị thế năng cho đợt bùng phát mới mạnh hơn), chàng cảm thấy mình nghe hoặc thực sự nghe (và có thể không phải chỉ mình chàng nghe) dường như Minotaur khóc, đã chuyển từ hót như chim sang khóc hoặc ít nhất là một dạng phát âm có thể so sánh một cách tương đối nhất - về cả bên ngoài lẫn chiều sâu của nó - với tiếng khóc. Không thật sự tin ở tri giác của mình, chàng lại nhìn lên nàng. Mắt nàng đầy nước. Sự thay đổi thật nhanh làm sao. Chàng nhận rõ điều đó và cảm thấy mình hiểu hết. Giờ thì, gần như đồng loạt, nhiều vật thể được đám đông từ tứ phía ném thẳng cánh vào Minotaur. Chàng như cảm thấy mình bị ai đó đấm mạnh vào người trước cả khi các vật kia đến đích. Dĩ nhiên không phải vật nào cũng đến đích. Nhiều cái, cũng như chai rượu và hòn đá hay viên gạch đi trước chúng, đập vào thành bệ tượng hoặc lên nền đá. Sự đa dạng về chủng loại của các vật này được phản ánh tương đối trung thành qua sự đa dạng của các âm thanh mà những va chạm đó tạo ra. Phần lớn đó vẫn là gạch đá chai lọ, như trong bất kỳ cuộc biểu tình chuyển thành bạo động nào ở bất cứ nơi đâu trên trái đất. Kích cỡ, kiểu dáng và chất liệu có thể khác nhau song bản chất là một. Tuy nhiên ngoài ra còn có một số vật hoàn toàn khó nhận diện và định danh, phần vì khoảng cách xa, phần vì trời lúc này đã tối hẳn nên không phải vật nào cũng hiện rõ ràng trong cảnh đan xen chuyển tiếp không ngừng giữa những vùng sáng với những vùng tối và những vùng nhá nhem tối sáng, phần vì một số vật nhất định gây nên những tiếng động khá mơ hồ khi chạm vào đá cứng, khiến bật ra nhiều câu hỏi hơn câu trả lời. Mặt khác, các vật này, kể cả có thể xác định hoặc không thể xác định, trong trường hợp đến đích - đập trúng vào chỗ nào đó của Minotaur - thì đều phát ra những âm thanh khác với khi đập vào nền đá. Trong số đó, gây ấn tượng đặc biệt mạnh - đối với đám đông hay ít nhất với riêng chàng - là âm thanh khi một số vật này gặp phải cặp sừng của Minotaur trên đường bay của chúng. Tiếng vật rắn - gạch hay chai lọ - đập mạnh vào chất sừng rõ ràng là một âm thanh có phẩm chất khác, nếu không nói (hơi đại ngôn một chút, có thể) là thuộc một đẳng cấp khác, ở một chiều kích khác, gần hơn với tiếng mảnh sành va vào thân tre đã khiến một nhà sư đốn ngộ. Cung cách các vật đó bị cặp sừng làm cho đổi hướng bay chệch về phía khác hoặc bật trở ra cũng ngoạn mục hơn cho cặp mắt nhìn. Tuy nhiên vật cuối trong số các vật đập trúng vào hoặc nhắm vào cặp sừng - cũng khó xác định như nhiều vật đồng hành với nó, song xét theo cái bóng của nó khi nó bay, vẽ thành vòng cung trong không trung, thì có vẻ nó là một vật dài và mảnh, ít có khả năng là hòn đá hay viên gạch, thậm chí cũng không phải chai lọ, mà là một thanh sắt, một cái kìm, hay một thứ tương tự về hình dạng khí động học - thì đủ nặng và tạo ra lực đủ lớn để chính cặp sừng bị đẩy bật khỏi vị trí ban đầu của chúng trong không gian. Nói bằng ngôn ngữ thông thường hơn thì vật thể sau cùng này, bằng sức nặng và độ chính xác trong chuyển động của nó, đã khiến cho cặp sừng Minotaur cùng với cái đầu đồ sộ mang chúng hầu như ngật hẳn ra sau, kèm với một âm thanh sắc, rõ, khô khốc, nặng trịch. Cái sức nặng đó khiến tim chàng như muốn thót ra khỏi ngực, và, ngay sau đó, trong vòng một nháy mắt khác, chàng như thể kinh ngạc không hiểu làm thế nào mà cặp sừng vẫn y nguyên đó chứ không phải là bị bật hẳn ra khỏi đầu Minotaur hay ít nhất là gãy đôi hoặc mẻ hẳn một mảnh lớn đủ nhìn thấy được từ vị trí của chàng. Chất liệu cấu tạo nên cặp sừng - và có lẽ cả toàn bộ cơ thể Minotaur - nhất định là cực chắc, cực bền vững, ý nghĩ đó xẹt qua đầu chàng như tia chớp, nhanh đến nỗi chàng không kịp nhận ra và chỉ có thể lĩnh hội nó như một cảm giác hay ấn tượng. Về phần mình, Minotaur không biểu lộ ngay lập tức phản ứng trước những va chạm của thế giới bên ngoài với cơ thể hắn. Có chăng là mặt hắn như đờ ra, cái đờ đẫn của một sinh vật đã mất khả năng nhận biết chuyện gì đang xảy ra với mình, hẳn có thể khiến một số người liên tưởng tới chẳng hạn như một con lừa bị quất roi quá nhiều đến độ thần kinh của nó đã chết trước linh hồn nó.
Chỉ sau khoảng vài giây vẻ đờ đẫn đó mới bắt đầu chuyển thành một cái gì giống như là một tri giác và một cảm xúc ít nhiều định hình. Tuy nhiên chàng không chắc trong cái trạng thái tổng thể đó có một thành tố gọi là đau. Trên thực tế có một khoảnh khắc chàng gần như đã nghĩ đến chuyện không rõ liệu cặp sừng của một số loài thú lớn nói chung và của Minotaur nói riêng có nhạy cảm như các phần mềm hơn của cơ thể chúng hay không, đó hẳn là một chỗ khuyết trong kiến thức chung của chàng mà đúng thời khắc này mới xuất đầu lộ diện và tỏ ra là có chút quan trọng nào đấy. Tuy nhiên cái cú đập vào sừng có không đau hoặc không đau lắm thì một cú đập khác, của một vật hầu như rõ ràng là viên gạch vào ngay giữa ngực chắc chắn là phải khiến hắn đau. Chàng cũng không nhìn thấy điều đó ở hắn. Nói chính xác hơn, ở hắn không có một cái vẻ gì để khiến chàng nhìn vào mà cảm thấy chính chàng đau. Có chăng, nhìn hắn chàng chỉ cảm thấy khó chịu, dù ban đầu chỉ là một cách mơ hồ. Mãi một lát chàng mới bắt đầu nhận ra tại sao. Có một vẻ gì như là tinh quái ở hắn. Tuồng như hắn vừa chợt nghĩ ra rằng, trong tình huống hiện tại này, phải phơi mình ra cho ngần ấy dị vật và ai biết sẽ còn bao nhiêu dị vật nữa ném vào, có một yếu tố nào đó mà hắn có thể khai thác sao cho có lợi cho hắn. Chàng thấy mình không đủ khả năng tự tin vào cảm nhận đó. Chàng lại nhìn lên nàng. Chàng cảm thấy khó thở trong tư thế ngửa cổ lên này. Nàng không cùng cảm nhận với chàng, ít nhất là không hoàn toàn. Chàng nhận ngay ra điều đó. Tiếng huyên náo - huýt sáo, vỗ tay, hú hét biểu lộ niềm khoái chá vô bờ - như một thứ biển động bao quanh tứ phía khiến cả hai người chìm nghỉm. Nàng chợt há miệng, như muốn tìm không khí để hớp, như muốn hét lên, muốn ngoi lên. Phải mất chừng một hai giây chàng mới hiểu ra rằng nàng đang thực sự hét. Nàng hét gì chàng không thể nghe thấy - dưới đại dương huyên náo này, dưới sức nặng của đám đông tràn đầy năng lượng hừng hực đòi được giải tỏa này, đó chẳng khác gì tiếng hét của một con sâu con kiến -, mặc dù hoàn toàn có thể đó thuần chỉ là một tiếng hét không thể chuyển thành lời, vô ngôn, thuần túy sinh vật. Bởi vậy nên chàng không thể biết tiếng hét đó có hướng đến ai không, nếu có thì hướng đến đám đông hay đến Minotaur hay một đối thể nào khác nữa, còn nếu không thì tổn thương nào đó ở trong nàng sâu đến cỡ nào, bởi đó là thứ tiếng hét của thịt người thuần túy bị xé rách. Chàng nhìn thấy điều đó chứ không nghe thấy, song chàng cảm nhận được một phần xa xôi của cái đau ấy ở trong mình. Minotaur mất thăng bằng, loạng choạng, suýt nữa thì ngã do tác động tổng hợp của ngần ấy cú va chạm, song hoặc vì hắn sẵn có một cơ thể và một hệ thần kinh thép hoặc vì hắn từng trải qua chuyện này không chỉ một lần cho nên hắn lấy lại thăng bằng và lại đứng vững sau một khoảng thời gian ngắn hơn nhiều so với chàng và có thể cả đám đông chờ đợi. Trong sự huyên náo chung càng lúc càng có thể nghe ra âm sắc của những tiếng la ó phản đối. Tuồng như họ không thể tha thứ, không thể chịu nổi chuyện Minotaur vẫn tiếp tục đứng. Có những người la hét theo kiểu hoàn toàn khác, nhìn thì có thể thấy như vậy, đó là các cảnh sát. Miệng nàng vẫn há tuy không còn to như trước dù tiếng hét hình như đã qua. Chàng nắm chặt lấy chân nàng, chỗ phía sau đầu gối, bóp mạnh. Sau khoảng hai ba giây nàng nhìn xuống chàng. Song chàng chưa kịp nhận ra liệu trong cái nhìn của nàng có tín hiệu gì dành cho chàng không - và nếu có thì tín hiệu gì - thì nàng đã lập tức chuyển cái nhìn ra phía trước. Có thứ thu hút nàng mạnh hơn. Những hàng người phía trước đang dồn lên một cách hung hãn kiến hàng rào cảnh sát đâm ra xộc xệch và chừng như có thể bục tung bất cứ lúc nào. Đường biên giữa công chúng và cảnh sát giống như con rắn oằn mình khúc trườn tới khúc oặt lui, cho đến khi có mấy tiếng nổ đoành chát chúa vang lên, đấy là người ta bắn chỉ thiên, tiếng động đó cùng với mùi thuốc súng nồng sặc trong không khí như một làn roi quất khiến toàn bộ khối người vô phép tắc kia lùi hẳn lại, như đồng cỏ bị bạt hẳn ra sau bởi một dàn cánh quạt khổng lồ thế gian chưa từng thấy. Ngay lúc đó Minotaur cất tiếng hát. Dù đã được chuẩn bị ít nhiều về mặt tâm thế từ nãy đến giờ, nếu có thể nói vậy, chuẩn bị để chờ đợi, đón nhận hầu như bất cứ cái gì từ Minotaur, chàng vẫn lập tức nẩy người ra sau, gần giống như bị điện giật. Minotaur đang hát những câu đầu của “Нiч яка мiсячна, зоряна, ясная”, bản tình ca dân gian Ukraina “đã được giọng ca phi phàm của Evgenii Belyaev và Hợp xướng Hồng quân Liên Xô của Boris Alexandrov trên sân khấu Albert Hall, Luân Đôn năm 1963 làm cho trở thành bất tử”, một trong “số ít những bài hát mà chàng sẽ muốn nghe lần cuối cùng trước khi chết”. Và Minotaur hát bằng đúng y chang giọng đó, giọng Evgenii Belyaev, và dường như có cả âm thanh dàn hợp xướng hòa theo. Chàng nghe rõ adrenalin tăng lên ở trong chàng, nghe rõ “máu chảy rần rần trong mạch máu chàng”. Ví như nghe thứ âm thanh này phát ra từ một nấm mồ chắc phản ứng của chàng cũng không mạnh hơn thế. Trước khi nhận ra mình làm gì, chàng thấy chàng hét. Chàng hét như tên điên. Có trời biết chàng vừa hét cái gì. Chàng nghe rõ máu trào lên mặt mình, khiến cho da mặt nghe tưng tức từ bên trong, như có hàng ngàn mũi kim nhỏ xíu vô hình cùng một lúc châm lên đó. Rồi chàng cảm thấy tia nhìn của nàng đang hướng vào mình, cảm thấy điều ấy bằng một phần da đầu chàng. Chàng ngẩng lên nhìn nàng. Trong mắt nàng, chàng nhận thấy có lẽ trông mình khác lắm, mặt mình biến sắc lạ lùng hay sao đó. Chàng biết thế là bởi chính mặt nàng biến sắc, biến sắc do nhìn chàng. Như thể ở chàng lúc này có cái gì đáng ngại, thậm chí đáng sợ. Chàng thì, càng nghe bài hát đó tuôn ra từ Minotaur, chàng chỉ càng cảm thấy mình bị xúc phạm nặng nề dù nếu có hỏi tại sao thì vị tất chàng đã trả lời được. Và hẳn cũng khó nói được tâm trạng của chàng là phẫn nộ hay bẽ bàng hay chán chường hay khổ sở hay đau đớn hay tức cười một cách lạnh tanh và nếu như nói rằng tâm trạng chàng lúc này là tổng hòa của tất cả các thứ ấy thì thành tố nào trong số đó trội hơn. Cứ như thể chàng sẽ thấy dễ chịu hơn đôi chút giá như Minotaur hát “Нiч яка мiсячна, зоряна, ясная” cùng một kiểu như vẹt nói tiếng người. Tiếng cười rộ lên tứ phía quanh chàng. Hình như hầu hết những người khác lĩnh hội tiếng hát này khác với chàng. Hình như họ nhìn thấy sự chết cười chính ở chỗ tiếng hát này của Minotaur gần giống với tiếng hát nguyên tuyền hay phiên bản xịn của Evgenii Belyaev hay nói cách khác là của con người như thế, cũng như họ cười trước cảnh Mr. Bean hát “Habanera” in hệt Maria Callas đến thế nào hay một con khỉ đột cất lên “O sole mio” bằng giọng không thể nào nhầm lẫn của Pavarotti hay Mario Lanza ra sao. Tiếng hát càng dâng cao, da diết, càng thuần khiết và thoát khỏi đời thường thì tiếng cười càng dữ dội. Chàng ngẩng lên nàng, tìm ở nàng một mối liên minh trong cảnh cô đơn của chàng, và chừng như ngưng thở trong một thoáng, không tin được mắt mình. Nàng, nàng cũng đang cười, như thể nàng đang nhiễm cái cười lớn và mạnh hơn nàng vô số lần ở xung quanh như nhiễm một thứ mầm bệnh, mặc dù chỉ mới nhiễm một phần bởi cái cười của nàng nom có vẻ nửa vời, nàng cười đồng thời dường như ý thức rõ là kỳ thực mình không định cười, miệng nàng cười trong khi mắt nàng nghiêm trang, mềm mại, có vẻ xúc động mạnh, trông như có nước. Chàng há miệng toan nói với nàng gì đó - mặc dù thật ra phải nói là hét với nàng mới đúng nếu không thì nàng chẳng thể nào nghe thấy được - song lại ngừng khi thấy cả một trận mưa mới, gồm các vật thể xác định và không xác định, từ mọi hướng lại tuôn ào ạt về phía Minotaur. Cảnh sát một lần nữa lại chồm lên, chẳng khác gì bản thân họ bị người ta cố tình chọc tức; những dùi cui roi điện lại vung lên đập xuống loạn xị và lia lịa với tốc độ thật khó tin chả khác gì trong phim hoạt hình hay phim quay nhanh, súng ngắn lại chĩa lên trời lại hai ba phát nổ đoành, song lần này tiếng nổ nghe chẳng khác gì tiếng mấy viên pháo lép trong ngày Tết (dĩ nhiên đây là ký ức về cái thời tục đốt pháp còn chưa bị cấm ở xứ chàng). Và ngay sau đó đám đông dường như bắt đầu toát ra một sự thăng tiến vượt bậc về chất, cái khí lực hay thần khí đáng sợ của đám đông quần chúng không sợ súng. Những tiếng huýt sáo lảnh lót vang lên kéo dài hơi quá độ, rõ là để nhại lại một cách càn rỡ dăm ba tiếng súng tẹt kia. Đồng thời những dị vật mới - hầu hết là chàng chỉ nhìn thấy hình bóng mờ nhòe của chúng - tiếp tục lao như mưa về phía vật-người. Chàng nhìn theo chúng, cảm thấy óc mình căng ra như dây đàn, vừa nửa thầm nghĩ chúng sẽ lại không trúng đích, nửa như khắc khoải chờ thấy chúng trúng đích. Còn hơn thế, chàng hầu như có phần cầu cho nó trúng đích, mặc dù nếu bị hỏi thì chắc chàng sẽ không thú nhận. Và quả thật, có lẽ nhờ rút được kinh nghiệm ở lần ném trước, hoặc do được tăng cường nhờ một sự hưng phấn cao hơn hay một nỗi tức khí nhất định do lần trước đã ném trượt, hoặc cả hai, nên lần này hầu như tất cả hay ít nhất là đại đa số những người ném đều đạt được mục đích.
Hiệu quả tổng hợp của tất cả những cú ném chuẩn xác đó thật đáng kinh ngạc, có lẽ là vượt quá mong đợi. Gần như tất cả các vật đều chạm đích - chỗ nào đó trên thân thể Minotaur - vào cùng một thời điểm, khiến cho âm thanh của sự tiếp xúc mà chúng tạo ra hòa quyện với nhau thành một âm thanh duy nhất, lớn, khó tả và khó quên: có thể là hao hao như khi người ta nện vào ngực Minotaur bằng một cái chày vồ, mặc dù ngay cả cái âm thanh này hầu như bất cứ ai cũng chỉ có thể tưởng tượng ra thay vì thực sự nghe thấy. Chàng nghe như có một tiếng hộc hay tiếng thở hắt ra phía trên đầu mình. Không nhìn lên chàng cũng hình dung được cú đánh tổng hợp đó gây nên tác động gần với đau như thế nào ở nàng. Rồi chợt chàng ngoảnh về một hướng nhất định, như thể bắt được một tín hiệu bí mật bảo chàng làm thế. Và chàng thấy, lẫn trong đám đông bên dưới chàng và tứ phía xung quanh chàng, rõ mồn một như thể chàng vừa dùng tính năng Zoom của một màn hình vô hình để khu biệt nó ra, khuôn mặt một cô gái người Âu tròn trĩnh trắng hồng viền trong mái tóc màu vàng, một cô gái Đức hay Bắc Âu điển hình hay ít nhất là dễ khiến người ta liên tưởng vậy, cũng đang chú mục vào Minotaur như bao người khác, và rõ ràng - dù khoảng cách không thật gần - chàng thấy được hoặc tin mình thấy được mắt cô rân rấn nước giống như mắt nàng. Chàng lia mắt khắp đám đông và thấy được một đàn ông trung niên, cao dong dỏng, gầy, ria mép, đang cầm một bên đầu ria mà dứt tưởng như bằng toàn bộ sức lực, tuồng như bằng một ý chí nộ cuồng muốn dứt kỳ đứt hẳn mới thôi. Trong chàng chợt lóe lên một cảm nhận, quá mơ hồ và quá nhanh để chàng có thể ý thức ra, rằng những người đó, cũng như nàng và như chàng, dù đang lọt thỏm giữa đám đông ken đặc, vẫn cô đơn như một phu mỏ Việt nằm trong nấm mồ um tùm cỏ mọc ở một vùng heo hút hiếm dấu chân người của xứ Tân Calédonie. Thay vì vậy ý thức chàng nhanh chóng bị lôi cuốn bởi những diễn biến mới từ phía Minotaur. Tiếng hát của hắn - mà chàng không còn khả năng phân biệt với của Evgenii Belyaev - giống như sợi dây cung thẳng căng vươn cao thấu trời bị dao chặt đứt phăng, và nếu không quan sát từ đầu tới giờ thì ai đó cũng có thể cho rằng ấy là bởi những cú ném mới, chuẩn xác và mạnh đó, đã khiến cho nhiều chỗ trên mình hắn trầy trụa, bầm tím và đổ máu. Song chàng thì một lần nữa lại cảm thấy, bằng cách nào đó, rằng chả phải vì đau hay vì choáng mà sinh vật này ngừng hát đột ngột. Chàng đợi, và trong khoảng vài giây toàn bộ đám đông cũng đợi, lặng phắc, giống như một thành phố nép mình dưới hầm trú ẩn, nín thở, đợi nghe thấy trận ném bom. Và không ai phải đợi lâu. Minotaur bắt đầu cất tiếng, và ngay cả trước khi nhận ra điều này chàng đã biết trước rằng đấy là một bài hát khác. Chàng bỗng nghe một cảm giác ớn lạnh chạy dọc sống lưng. Đó là một phản ứng quen thuộc liên quan đến cái gì đó như là linh cảm hay trực giác của chàng, cái trực giác hay linh cảm gắn liền với một thứ lực mạnh hơn bất cứ lực nào khác mà chàng từng biết, thứ lực chàng chỉ trải nghiệm đôi ba lần trong đời cho đến lúc này, trong những khoảnh khắc bất ngờ nhất, mà sau đó chàng biết rằng kho ngôn từ của chàng hay của loài người là quá nhỏ nhoi và nghèo nàn không đủ sức gọi tên. Đó là một bài hát kỳ lạ - mặc dù nếu xét rằng đó là một bài hát của một chủ thể như Minotaur thì nó không thể không kỳ lạ hoặc cũng có thể chẳng kỳ lạ cho lắm -, bằng một thứ ngôn ngữ có lẽ của loài người mặc dù chàng không thể nhận ra đó là tiếng gì, và với một giai điệu vô cùng khó tả, vừa ma quái lại vừa khốn nạn, lúc thì ai oán bi thương như bài lâm khốc của bà mẹ khóc đứa con mới chết, khi thì thô bỉ và cà lơ như bài hát của hạng côn đồ đá cá lăn dưa say khật khưỡng kể về chuyện chúng muốn chơi cô gái con nhà nọ thơm như múi mít mịn như hoa đến cỡ nào và đã lên kế hoạch về việc đó ra sao. Và tiếng cười từ trong lòng đám đông bùng lên như súng nổ đối với cả những khúc cà lơ thô bỉ lẫn những đoạn đầy ai oán bi thương. Tiếng cười lần này mới thực sự như phát rồ, nhiều người đúng thật là quằn quại vì cười, quằn quại vì cơ thể họ sắp bục ra đúng nghĩa đen từ hai bên hông bởi cường độ của sự cười, một trong số ít những cái cười thực sự khiến người ta phải nghĩ đến việc cần gọi xe cấp cứu hoặc lẽ ra cần cho xe cấp cứu túc trực sẵn ngay từ đầu mới phải. Tuy nhiên rõ ràng hoặc có vẻ là người ta rất cần cái cười này, mặc cho mối nguy mà rõ ràng nó có thể gây ra cho toàn vẹn thể chất hay lành mạnh tinh thần của họ hay gì khác. Và chắc hẳn chính điều này, nếu như để tâm suy nghĩ một chút thì ắt chàng cũng sẽ nhận ra, là nguyên nhân đầu tiên và sâu xa của cái linh cảm hay trực giác về một thứ điềm gở có khả năng linh ứng quái đản mà chính ta tạo ra cho số phận ta. Máu chảy ròng ròng từ mấy vết thương mới của Minotaur - nơi trán hắn gần gốc sừng bên phải, đuôi mắt trái hắn, ngay chót mũi hắn, be sườn phải hắn - trong khi hắn hát. Hắn không đau, không biết đau hoặc cái đau là quá nhẹ, như không hề có đối với hắn. Chàng gần như sửng sốt thấy máu hắn đỏ và không quá loãng không quá đặc, như máu người. Chàng lại ngẩng lên nhìn nàng. Là bởi chàng cảm thấy có tiếng hét từ phía nàng. Nàng đang nhìn chằm chằm vào Minotaur như bị bỏ bùa, như bị thôi miên, miệng há, to, như đang hét, chàng biết không phải nàng hét, song, giống như Kazantzakis, toàn tâm hồn nàng đang là một tiếng hét. Có một tiếng hét cũng đang hình thành và đang tích lũy dần năng lượng ở trong chàng, song lần này chàng thấy khả năng nó bùng ra là khá xa xôi, nó bị đè dưới một thứ lực khác mạnh hơn, có thể là một sự căm ghét lạnh lùng mà lúc này chàng không có tâm trí để nhận ra có phải là từ lâu chàng vẫn luôn mang nó hay không, đơn giản là lúc này chàng thấy đó là thứ độc nhất chàng sở hữu và có thể dựa vào để tiếp tục tồn tại, nói gọn là một thứ trạng thái tinh thần để trải nghiệm chứ không phải để nói ra. Chàng ngoảnh mắt khỏi nàng để hướng về phía cô gái mặt bầu bĩnh trắng hồng tóc vàng mắt rân rấn nước ban nãy và nhận ra là cô không còn ở đó. Phát hiện này như một đòn không mạnh - song vẫn gây choáng nhẹ vì bất ngờ - đánh vào chàng. Và trong cảm giác hẫng hụt xâm chiếm chàng, giống như ở một người bước chân lên một bậc thang ngỡ là quen thuộc và luôn có đó song thực tế là không tồn tại ở trong bóng tối, chàng lại ngẩng đầu nhìn lên một vị trí nhất định ở trên cao, nơi ban công một trong các tầng lầu của một khối nhà phía bên kia quảng trường, như thể do bắt được một thứ tín hiệu bí ẩn truyền trực tiếp vào tâm trí bảo chàng làm vậy. Ở đó, khá xa chỗ chàng, có một hình dáng phụ nữ, chắc là hơi béo, chàng chỉ thấy được có thế, độ tuổi bao nhiêu thì khó hay không thể luận ra. Điều thu hút chàng nhất là người đó đang cầm một tấm gì rất to, trăng trắng - mặc dù màu sắc thật có thể khác, ở xa thế này và lúc đang nhập nhoạng thế này thì hiệu ứng quang học không thể nào như khi ở gần và sáng rõ được -, nom như một tấm khăn bàn hay ga trải giường, căng rộng hết mức có thể, vẫy về phía quảng trường với những động tác gần như điên cuồng, chính xác hơn là với một sức mạnh và nhịp độ phản ánh một sự khẩn thiết vô biên nó khiến con người đánh mất cảm quan về thực tại và trở nên gần với sự điên cuồng. Sự khẩn thiết như thể bà ta (hoặc cô ta) đang ở trên một tòa nhà đang cháy lớn (đám cháy mà chỉ mình bà ta thấy hoặc mình bà ta biết) và bà ta đang kêu cứu những người trên quảng trường song để được cứu thì trước hết bà ta phải làm cho họ nhìn thấy và nhận ra sự thực về đám cháy này cái đã. Chàng rứt mắt ra khỏi đó, chừng như vì không chịu nổi sự tuyệt vọng hay khờ dại hay phi lý và do đó tức cười trong hành động này, nhìn trở lại quảng trường. Giữa đám đông, một toán gồm nhiều cô gái choai choai, tầm mười ba đến mười lăm, có thể cả mười sáu hay mười bảy, tụ vào nhau, vừa giơ thẳng tay đưa cao lên trời bất cứ cái gì họ có vừa gào thét không thôi, nước mắt đầm đìa. Vài đứa con nít nhảy như choi choi vì thích quá. Đây đó trong đám đông, có những người chợt tỏ ra nháo nhác, bất an, bắt đầu cựa quậy theo những hướng khác biệt với xung quanh, chẳng hạn như ngoái lại sau lưng, rõ ràng bị kích động bởi một thứ gì khác hẳn chứ không phải là tiếng hát của Minotaur: hóa ra là, một số vật thể được ném ra nhắm vào Minotaur, do khoảng cách quá xa, do lực ném yếu và do canh chỉnh thiếu chuẩn xác nên không đến được đích cần đến mà rơi xuống những đầu người. Đột nhiên chàng thấy như cả thế giới đổ ụp xuống đầu mình, khiến mắt chàng như nổ đom đóm và ngay sau đó như thể chàng bị người ta túm đầu giúi xuống một cái giếng nước trong bóng tối dày đặc như mực. Mọi thứ kể cả không khí đều biến mất khỏi chàng. Rồi một chốc sau, khi cơn choáng lắng xuống và các vật xung quanh bắt đầu lần lượt về lại chỗ, chàng nhìn lên trên đầu và dường như hiểu ra sự tình. Nàng vừa đạp lên đầu chàng. Chàng không thể biết nàng cố tình hay không, nàng làm hành động đó trong trạng thái có kiểm soát hay không, song chàng thấy mắt nàng đầy lệ. Môi nàng mấp máy. Tai chàng không nghe nàng nói gì - không có tiếng huyên náo kinh hồn kia ở xung quanh vị tất chàng cũng đã nghe thấy được -, song tâm trí chàng nghe được điều muốn được nói ra trong tâm trí nàng. Phải, mình đi khỏi đây thôi, chàng lẩm bẩm. Mình đang làm gì ở đây, chàng nghĩ. Hóa ra là mình đang sống những khoảnh khắc như thế này đây, chàng nghĩ. Tụt xuống khỏi cột đèn hóa ra khó hơn chàng tưởng, khó hơn đáng kể so với khi leo lên. Cái cột đèn như thể đột nhiên dài ra gấp đôi và phủ đầy sương giá, khiến chàng có thể tuột tay bất cứ lúc nào. Và rồi, khi đã xuống được đất rồi, hóa ra việc đầu tiên nàng muốn làm không phải là rời khỏi quảng trường. Sự thực là trong một thoáng chàng không thể đoán nàng muốn làm gì hoặc sắp làm gì. Và chàng không thể nghĩ gì, chàng còn bận ngẩn ra trước bộ điệu và dáng vẻ khó tả của nàng. Mặt nàng đỏ bừng bừng như thể có một thứ lực ghê gớm dồn ứ ở bên trong bất cứ lúc nào cũng có khả năng làm cho nó vỡ ra, tuy nhiên sẽ khá nông nổi nếu nghĩ rằng lực đó chỉ là hoặc chủ yếu là một cơn phẫn nộ; trên mặt nàng lúc này có cái gì rất giống như khi nàng nghe chương cuối Alegro con fuoco của Từ thế giới mới ở nhà chàng, cũng hồng rực, bừng bừng, căng tràn và muốn vỡ ra như thế, mặc dù lúc này chàng chả tâm trí đâu để nhận ra điều đó, có chăng thì phải về sau. Nàng nắm chặt hai tay, đung đưa phần thân trên từ trước ra sau rồi từ sau ra trước, nhìn đám đông trước mặt, miệng hé, cằm run. Xuất kỳ bất ý nàng bắt đầu hét to gì đó. Lần này không phải một tiếng hét không thành lời, chắc chắn vậy, mà là một câu, nhiều câu. Nàng hét bằng hết sức bình sinh, nửa trên người từng chặp gập hẳn về phía trước, tuồng như tiếng hét đang được vắt ra từ toàn bộ tạng phủ nàng như nước vắt từ quần áo ra trong máy giặt. Chàng nhìn nàng hét mà nghe ruột thắt lại, có cảm giác phổi nàng sắp rách ra mất. Dường như không ai trong đám đông tỏ vẻ nghe thấy nàng hoặc nhận ra sự có mặt của nàng hay sự hiện hữu của một cái gì khác biệt ở nàng. Có người hướng mắt vào nàng tuồng như vô tình rồi lại lập tức ngoảnh về phía Minotaur. Có người xoay hẳn mặt lại nhìn và cười, giơ tay vẫy nàng, hoặc đưa hai ngón tay xòe thành hình chữ V lên. Chàng cũng không nghe thấy nàng hét gì, mặt khác chàng cảm thấy mình biết những lời đó. Một cách ráo riết đồng thời tĩnh, lạnh và không hy vọng - tĩnh lạnh bởi vì không hy vọng -, chàng đảo mắt nhìn quanh, cố tìm một nét chau mày ở một ai đó, chau mày bởi nghe được nàng, bởi nhìn thấy và hiểu rằng nàng đang hét gì đó dù không nghe được nàng, dẫu là chau mày thì chàng vẫn lấy làm dễ chịu hơn là không có một cái gì, song không có. Mặt khác chàng nhận ra rằng quả đúng là dần dần có nhiều người hơn quan tâm đến nàng, trong đó có mấy đứa con nít đang thè lưỡi và làm điệu bộ nhại nàng, và một cô gái cao to béo tốt tóc tai xõa xượi nhìn nàng mà cười toe toét và thoắt cái đã lột phăng cái áo pun đang mặc phơi ra cặp vú vĩ đại không kể đâu cho xiết (không mang xú chiêng) với làn da trắng đến kinh hoàng, một thằng cha cao nhồng bộ dạng khó coi ý chừng đĩ đực, tóc đuôi ngựa dài chấm lưng, xú chiêng đeo ra ngoài áo pun, quần lót nữ diện ngoài quần soóc, dây chuyền bông tai cà rá hột xoàn, mắt kẻ đen huyền môi đỏ như son, xoay lưng lại nàng song hơi chếch để nàng vẫn thấy được nét profile của đầu và mặt hắn, tuột quần, khom lưng chĩa cặp mông trắng hếu quắt queo ra sau, mắt lim dim giống kẻ vừa đang phê thuốc vừa đang cơn cực sướng trên cái bụng nõn mềm của một ma xơ. Ngay khi đó chàng nhận ra có gì đó vừa thay đổi ở nàng. Có gì đó dừng lại ở trong nàng. Nàng không gập người tới nữa, không đu đưa thân trên từ trước ra sau rồi từ sau ra trước nữa, không hét nữa (há miệng ra lần cuối, nhưng rồi cái đáng lẽ sắp bật ra thôi không còn năng lượng để bật ra, như khẩu súng được giương lên hùng hổ nhưng rồi ngưng lại trong chần chừ bất quyết và hạ xuống, và chuyển hóa - một cách chàng thấy nửa bất ngờ nửa không - thành một cái cười). Miệng nàng dần dần chuyển hóa thành cái khẩu hình thường được gán cho sự cười, mặc dù bản chất sự cười là gì thì la chuyện khác không bàn tới ở đây. Đơn giản là chàng nhận ra, sau vài giây, rằng cái hình dáng miệng giống như cười của nàng cũng đúng là một dạng của cười. Cái cười này, nếu chàng có khả năng mô tả nó bằng lời ngay khoảnh khắc ấy, hẳn chàng sẽ nói đó là nụ cười của kẻ vừa hoát nhiên đại ngộ rằng việc tốt nhất mình nên và có thể làm là tự sát. Thực tế, nụ cười có gì đấy khiến chàng nghe lạnh sống lưng và không biết tại sao.
Và ngay khi đó chàng gào lên hay hét lên hay gầm lên về phía thằng cha hay về tất cả đám đông, gào hay hét hay gầm cái gì chàng cũng không biết, ấy là cái khí lực kinh hồn nào đó ở trong chàng mà chàng hết còn kiểm soát được tự nó gào hay hét hay gầm, cũng như sau đó chàng không thực sự biết mình làm gì, những quả đấm chàng vung hay là thể xác chàng vung về phía thằng đĩ đực, cứ mỗi quả chàng lại có cảm giác như có quả lựu đạn trong chính mình nổ tung và thằng cha kia cùng với chàng ắt tan xác. Nhưng chẳng ai tan xác, chỉ nhiều phần trên thể xác thằng cha và thể xác chàng (phần nhiều là thể xác chàng) rách toạc mở đường cho máu chảy, thằng cha bự con hơn chàng nhưng trong cơn nộ khí hết còn ghìm nổi của mình có những lúc chàng thấy như mình bự gấp đôi hắn và đám đông hình như cũng thấy thế, một vòng tròn lập tức hình thành quanh hai đấu sĩ với những tiếng hò reo tiếng huýt sáo tiếng giậm chân và tiếng vỗ tay, hoan hô hai đấu sĩ hoàn toàn tự phát và bất ngờ này, những kẻ, cùng với Minotaur, đang làm cho sự hiện tồn của họ trên thế giới này đỡ chán chết dù chỉ trong giây lát. Tuy nhiên nếu sau này có ai yêu cầu chàng mô tả lại cái trạng thái hoàn toàn mất kiểm soát, mất tự chủ của chàng lúc đó, đầu tiên chàng sẽ cười ruồi, sau đó thì chàng sẽ nhún vai nói, rất hiếm khi trong đời chàng tỉnh giác cao độ và ý thức toàn vẹn về mỗi phần nhỏ của giây trong từng hành động của mình khi đó. Tỉ như, chàng có thể hồi tưởng lại, sống lại trong tâm trí và mô tả lại cho bạn rằng chàng đã nhắm vào sống mũi Đĩ Đực như thế nào, và, khi tung quả đấm ra, chàng đã khẽ xoay cổ tay ra sao để, khi nắm tay chàng chạm đích thì thật ra cái đích đã dịch đi một tí và lực dồn tụ trong quả đấm đã biến thiên đi một tí so với thời điểm ban đầu, tất cả đều trong dự liệu của chàng, và đều phục vụ - hữu hiệu - cho mục tiêu tối hậu của chàng là làm sao cho mũi gã kia vừa bị chấn động đến mức bật máu được vừa hơi bị lệch đi trong cơ cấu xương. Song mặt khác chàng sẽ thừa nhận mình nhớ rất ít về những gì diễn ra sau đó, sau khi một quả đấm như trời giáng của Đĩ Đực trúng vào mắt phải chàng khiến chàng tối tăm mặt mũi và sau khi hình như có tới hàng trăm cánh tay cùng một lúc vô cùng mạnh mẽ dứt phăng chàng ra khỏi cơn lốc những cú đòn loạn xạ từ hướng này đến hướng kia và ngược lại dường như kéo dài tới tận thế kia (sự chấm dứt của nó ập vào chàng như một thứ tận thế loại khác, đen ngòm và nghẹt thở đối với riêng chàng), chàng chỉ nhớ lơ mơ (như trong một giấc mơ mà thậm chí chàng không dám chắc mình đã thực sự mơ hay tưởng tượng mình đã mơ), rằng giữa khi hàng trăm cánh tay kia đang lôi tuột chàng đi như thế thì nàng - chính nàng - bám riết theo chàng, nước mắt đầm đìa (khuôn mặt tối đi vì thế), vận hết sức bình sinh để bạt tai chàng (cảm giác về cái đau thì chàng không nhớ và cũng không chắc là đã có).
Và ngay khi đó chàng gào lên hay hét lên hay gầm lên về phía thằng cha hay về tất cả đám đông, gào hay hét hay gầm cái gì chàng cũng không biết, ấy là cái khí lực kinh hồn nào đó ở trong chàng mà chàng hết còn kiểm soát được tự nó gào hay hét hay gầm, cũng như sau đó chàng không thực sự biết mình làm gì, những quả đấm chàng vung hay là thể xác chàng vung về phía thằng đĩ đực, cứ mỗi quả chàng lại có cảm giác như có quả lựu đạn trong chính mình nổ tung và thằng cha kia cùng với chàng ắt tan xác. Nhưng chẳng ai tan xác, chỉ nhiều phần trên thể xác thằng cha và thể xác chàng (phần nhiều là thể xác chàng) rách toạc mở đường cho máu chảy, thằng cha bự con hơn chàng nhưng trong cơn nộ khí hết còn ghìm nổi của mình có những lúc chàng thấy như mình bự gấp đôi hắn và đám đông hình như cũng thấy thế, một vòng tròn lập tức hình thành quanh hai đấu sĩ với những tiếng hò reo tiếng huýt sáo tiếng giậm chân và tiếng vỗ tay, hoan hô hai đấu sĩ hoàn toàn tự phát và bất ngờ này, những kẻ, cùng với Minotaur, đang làm cho sự hiện tồn của họ trên thế giới này đỡ chán chết dù chỉ trong giây lát. Tuy nhiên nếu sau này có ai yêu cầu chàng mô tả lại cái trạng thái hoàn toàn mất kiểm soát, mất tự chủ của chàng lúc đó, đầu tiên chàng sẽ cười ruồi, sau đó thì chàng sẽ nhún vai nói, rất hiếm khi trong đời chàng tỉnh giác cao độ và ý thức toàn vẹn về mỗi phần nhỏ của giây trong từng hành động của mình khi đó. Tỉ như, chàng có thể hồi tưởng lại, sống lại trong tâm trí và mô tả lại cho bạn rằng chàng đã nhắm vào sống mũi Đĩ Đực như thế nào, và, khi tung quả đấm ra, chàng đã khẽ xoay cổ tay ra sao để, khi nắm tay chàng chạm đích thì thật ra cái đích đã dịch đi một tí và lực dồn tụ trong quả đấm đã biến thiên đi một tí so với thời điểm ban đầu, tất cả đều trong dự liệu của chàng, và đều phục vụ - hữu hiệu - cho mục tiêu tối hậu của chàng là làm sao cho mũi gã kia vừa bị chấn động đến mức bật máu được vừa hơi bị lệch đi trong cơ cấu xương. Song mặt khác chàng sẽ thừa nhận mình nhớ rất ít về những gì diễn ra sau đó, sau khi một quả đấm như trời giáng của Đĩ Đực trúng vào mắt phải chàng khiến chàng tối tăm mặt mũi và sau khi hình như có tới hàng trăm cánh tay cùng một lúc vô cùng mạnh mẽ dứt phăng chàng ra khỏi cơn lốc những cú đòn loạn xạ từ hướng này đến hướng kia và ngược lại dường như kéo dài tới tận thế kia (sự chấm dứt của nó ập vào chàng như một thứ tận thế loại khác, đen ngòm và nghẹt thở đối với riêng chàng), chàng chỉ nhớ lơ mơ (như trong một giấc mơ mà thậm chí chàng không dám chắc mình đã thực sự mơ hay tưởng tượng mình đã mơ), rằng giữa khi hàng trăm cánh tay kia đang lôi tuột chàng đi như thế thì nàng - chính nàng - bám riết theo chàng, nước mắt đầm đìa (khuôn mặt tối đi vì thế), vận hết sức bình sinh để bạt tai chàng (cảm giác về cái đau thì chàng không nhớ và cũng không chắc là đã có).
Những gì xảy ra sau đó nữa thì lại càng đứt đoạn, lờ mờ và ít có vẻ thực hơn trong ý thức chàng, đến độ mà, tới khi chàng lại có thể thong dong ngồi cùng nàng ở một bàn trong quán cà phê lộ thiên trên con đường tuyệt đẹp của thành phố Cádiz chạy men bờ Địa Trung Hải (không phải Đại Tây Dương như chàng vẫn biết), chàng uống ca cao nóng còn nàng cam vắt, tắm trong nắng vàng đồng thời đón gió lạnh (thứ gió hơi khó hình dung là lại có vào lúc này, giữa tháng Sáu, song mọi sự đều có thể), chàng, dù muốn, cũng chỉ có thể moi lại từ đâu đó trong đầu vài hình ảnh thoáng qua về nó thôi. Quả đấm của một tên hộ pháp (không rõ thật ra hắn bự tới cỡ nào, song trong trí chàng hắn sừng sững như một trái núi), miệng cười toe toét khoe hàm răng cải mả vàng khé, nện vào mặt chàng làm vẹo mũi chàng (cái đau do cú đấm này - và tiếng động mà nó hẳn đã gây ra - khi đó thì chàng không cảm thấy, giờ thì gần như không). Cái trần trắng đến lạnh xương của phòng bệnh viện. Cặp giò nây rắn màu sô cô la của cô y tá. Cái mùi xoi xói đặc trưng của thuốc khử trùng. Tiếng lanh canh của dụng cụ bằng kim loại cứng. Bộ mặt nhăn như khỉ nhai nhằm ớt của tay đại diện sứ quán. Tiếng hứ của nàng, hùng hồn hơn mười Zarathustra đã nói như thế, khi chàng thông báo cho nàng tổng số tiền mà chàng (tức là cả nàng) phải nộp phạt, những hình ảnh thoáng qua nhanh và cạn cợt trên bề mặt đến mức chàng tự hỏi có thật là chàng đã sống qua những thời khắc đó hay là chàng chỉ nghĩ như vậy thôi. Giờ họ ở đây, hít thở và sống những giờ phút cuối cùng của mình (ít nhất là cuối cùng của chàng) ở Tây Ban Nha, những giờ phút cuối cùng của chàng ở thế giới này trước khi chàng tiếp tục cuộc hiện tồn của mình ở một thế giới khác. Chàng nhìn cảnh nàng nheo mắt nhìn ra đâu đó hẳn rất xa, đường phân cách giữa trời và biển hoặc có thể là gì đó xa hơn thế vô số lần, và chợt cảm thấy mình đang nhìn một lát cắt, một khoảnh khắc của một thế giới khác. Nắng vàng bao bọc nàng và chàng nhớ lại thứ ánh sáng không màu từ nàng tỏa ra vào những lúc khác chàng nhìn nàng. Nước ở ngoài khơi lấp lánh trong mắt nàng. Miệng nàng bất động, song chàng hầu như thấy được những làn sóng cuộn lên ở mặt trong hai môi và hai khóe miệng nàng, những làn sóng mang cái mặn của nước biển và của máu, máu trên mình Minotaur và trên mình Đĩ Đực, máu hộc ra từ mõm một con chó con có hai con mắt rất to đi lạc bị một gã khổng lồ đá như quả bóng dọc vỉa hè một con phố Granada, gã khổng lồ mà nàng không thể chắc liệu có phải chính là gã nàng đã gặp nơi hành lang dẫn xuống khu vệ sinh của quán cà phê nơi nàng và chàng ăn uống trưa hôm đó, song luôn luôn có cảm giác chính là gã, gã khổng lồ mà nàng (chỉ mình nàng, bởi lúc ấy chàng đang bận nằm nhà thương để bác sĩ người ta chữa cho cái mũi vẹo như nặn bằng bột nếp của chàng) đã tấn công một cách hung bạo, điên dại, tuyệt vọng hòng cứu con chó, con chó mà nàng đã không thể cứu (đã quá muộn) còn một số người qua đường lấy làm tiếc rẻ đã không kịp chụp ảnh khi nó còn chưa chết hẳn, gã khổng lồ đã nhấc bổng nàng lên như nhấc con mèo và cười hềnh hệch vào mặt nàng, nhổ nước bọt vào miệng nàng, lột trần nàng và vứt nàng đánh phịch xuống vỉa hè sau đó thì bỏ đi, thậm chí không thèm cả chơi nàng có lẽ vì với gã nàng quá nhỏ bé hoặc có thể vì lý do khác hoặc chẳng vì lý do gì, sau đó là yên lặng, tĩnh lặng của đêm, đêm Granada, cái tĩnh lặng trong đó dường như có thể nghe được tiếng của từng nhành cây im gió và từng viên gạch lát đường, nói bằng thứ ngôn ngữ không ai hiểu và vị tất cần phải hiểu, tĩnh lặng hoàn toàn nếu không kể đến tiếng thút thít cứ chốc chốc lại quay lại thông qua khoang mũi nàng như muốn nhắc rằng việc thút thít đang là bổn phận của nàng, nếu không kể tiếng hát thi thoảng từ đâu đưa tới theo một làn gió hoặc như chính nó là một làn gió, rõ ràng là từ một đĩa 45 vòng tuy cũng có thể là đĩa 45 vòng đã được số hóa, thời nay có gì là không thể, thứ tiếng hát mang theo mình một cái bóng mờ hơi đùng đục hơi nghèn nghẹt, hơi khào khào hơi rin rít của nhiều thập niên đã qua, một bài Dalida hát mà nàng biết rõ, C’est une flamme qui enflamme sans brûler, C’est un rêve que l’on rêve sans dormir, bằng cách nào đó tiếng hát khiến cho tĩnh lặng quanh nàng dường như lớn hơn, hay đúng hơn không phải sự tĩnh lặng mà là sự cô đơn của nàng, sự tĩnh lặng mà đối với nàng là sự cô đơn của nàng, đó là lúc nàng nhớ lại những tiếng thút thít của mình mà lúc này không quay lại nữa, tiếng thút thít mà chàng có thể hiểu là do nỗi nhục bị kẻ khác lột trần giữa phố, do ý thức được sâu sắc hơn bao giờ hết sự bất lực tuyệt đối của một linh hồn giống như linh hồn của nàng trong thế giới này, tuy nhiên trong tiếng thút thít này còn một cái gì đó mà bản thân nàng không muốn thừa nhận và chàng không muốn thấy dù có khả năng nhìn thấy, đó là cảm giác ô nhục vì nỗi nàng không được hay bị gã khổng lồ kia đụng tới, khi mà toàn bộ những gì đã xảy ra dường như chỉ có thể dẫn tới một và chỉ một kết cục, một khả năng đó thôi: hắn đã tha nàng hay đã chê nàng. Thế rồi sau một lát chàng nhận ra mình đang không hiểu và có lẽ không có khả năng hiểu được bóng tối trong mắt nàng lúc này, cái bóng tối ấy. Chàng thực tình không muốn nhìn nó (mặc dù vẫn nhìn), cũng như chàng thực tình không muốn nghe (dù vẫn nghe) một số trong những bài hát dân gian và bài hát ru của đất Huế quê chàng, với cái nỗi buồn buốt nhói không thôi nhắc nhở chàng về hạnh phúc (cái hạnh phúc hình như khôn cùng) mà chàng sẽ biết tới - sẽ chỉ biết tới - sau khi chàng đã quay trở về nơi đầu tiên chàng đã sinh ra (dẫu đó là chốn nào) rồi đón cái chết của mình ở đó. Bóng tối hay màu đen trong mắt nàng lúc này cũng giống như thế, khiến chàng cảm thấy và vừa sợ vừa khát khao cái chết, một sự chấm dứt đồng thời là một khởi đầu khác, thật kỳ lạ một sức mạnh đến cỡ đó trong cặp mắt một người sống, mặc dù có một khoảnh khắc chàng cảm thấy mình nhận ra được rằng chỉ trong một phút nữa thôi nàng sẽ đứng lên bước thẳng ra chỗ đầu mỏm đá đằng kia và từ đó nhảy chúi đầu xuống biển. Ý nghĩ đó làm tim chàng như ngừng đập mất vài nhịp, bởi vì trên thực tế đó là cặp mắt của một người mà một phần đã thuộc về sự chết dù chỉ trong ý nghĩ, thuộc về một cái gì chàng không thể hiểu, dường như nàng thấy một cái gì mà chính nàng bây giờ mới nhận ra nơi chỗ giao thoa giữa đường cong tạo nên bởi thân mình con chó con lúc nó bắn tung lên với đường cong khi một con sóng biển dềnh lên, lĩnh hội được điều đó bằng trực giác chứ không bằng ý thức, cũng như nàng đang cảm thấy trên da, trong các mô cơ và trong xương tủy mình cái cô đơn tuyệt đối của một thể xác đang chìm dưới biển kia lúc này, chẳng phải là không giống cái cô đơn tê rát dưới da nàng khi nàng nằm đó, mình trần, trên vỉa hè lát đá một con phố Albaicín lúc đêm khuya trước khi một trong những người đàn bà đi qua cởi áo khoác trùm lên nàng (áo của nàng đã bị gã kia xé tan tành bằng một động tác duy nhất). Thế rồi khi chàng nhìn lại nàng lần nữa, không phải nhìn bằng mắt mà nhìn toàn bộ thân thể nàng, vẫn tắm trong làn ánh sáng óng vàng đó, đẹp đến nỗi chàng gần như lập tức quên mất trước đó mình vừa nghĩ và cảm gì, một thứ vẻ đẹp có sức mạnh áp đảo và trường tồn đến độ chẳng quan trọng chút nào chuyện nó chỉ là hư ảo và tồn tại chỉ trong nháy mắt: chàng sẵn sàng cho đi tất thảy những gì chàng có để đổi lấy một nháy mắt ấy.
Và đột nhiên chàng nhận ra rằng trong cái đẹp ấy - khi bản thân chàng, thân thể chàng là một phần của nó - thì chàng có quyền muốn sống cũng chẳng kém gì có quyền muốn chết, điều đó càng khiến chàng cảm thấy không hiểu nổi cái chàng đang thấy trong mắt nàng, độ lớn của nó khiến chàng thấy mình đang trống hẳn một phần nào đó trong chính mình. Rốt cuộc, sau một hồi chừng như lâu đến hàng giờ, nhiều năm, nàng xoay đôi mắt không thể dò không thể hiểu, vừa tối vừa sáng đó về phía chàng. Chàng gần như giật mình về phía sau theo bản năng nhưng rồi bỗng nhận ra rằng trong cặp mắt kia đang nhìn chàng không có hoặc không còn cái sức mạnh mà chàng chờ đợi. Sự biến mất hoặc vắng mặt của sức mạnh đó lúc này là cái đánh vào chàng mạnh hơn cả. Đó cũng không phải cái nhìn/cặp mắt trống rỗng, chắc chắn vậy. Đúng hơn, đó là nỗi khao khát lấp đầy sự trống rỗng, một khao khát mà dù lớn lao và mãnh liệt đến đâu vẫn không thể nào đảm nhận chính vai trò lấp đầy sự trống rỗng đó, ngược lại chỉ làm cho sự trống rỗng lớn hơn, đã trống rỗng càng trống rỗng hơn. Nàng mở miệng, hồi lâu không nói, cử động môi theo nhiều cách khác nhau như đang tập trung sức lực để cười, hoặc để chứng minh cho chàng hay cho chính nàng rằng nàng vẫn đang là một phần của thế giới này. Chàng cảm thấy một sức căng lớn lao trong mắt nàng, toàn bộ khuôn mặt nàng, dáng người nàng, một dòng nước lúc nào cũng sắp sửa bật ra song không thể bật ra, một lời nói lúc nào cũng sắp sửa được thốt song không thể thốt. Rộng quá, cuối cùng nàng nói hoặc hình như nói, môi run run. Chàng hiểu cái Rộng quá này, biết rằng nó đang xâm chiếm nàng không phải như một ý tưởng mà như một cảm giác của toàn bộ thân thể, từng lỗ chân lông nàng. Chàng tôn trọng sự im lặng gần như hoàn toàn tiếp theo sau đó của nàng, gần như, bởi chàng tựa hồ nghe thấy được cái đau mà nàng đang cảm nhận, cái đau hầu như thuần túy thể xác gây ra bởi những gì đến trong tâm khảm nàng lúc đó, trên đầu một mỏm đá ở ven thành Cádiz nhô cao trên Địa Trung Hải buổi chiều hè ấy, cái im lặng kéo dài cho đến đêm khuya trong bóng tối căn buồng khách sạn một giường, hoà điệu song khác nhịp với cái im lặng vừa im lặng vừa âm vang rất đặc trưng (ít nhất là với riêng chàng) của đêm miền nam Tây Ban Nha, im lặng âm vang của sự tìm kiếm âm thầm và khôn thỏa một cái gì đó không tên, vô trụ xứ, phi thời gian, cái im lặng của nàng khác nhịp bởi đó là im lặng của một linh hồn hình như đã tìm thấy được cái mình tìm kiếm dù vẫn chưa nhận rõ được đó là gì.
Và đột nhiên chàng nhận ra rằng trong cái đẹp ấy - khi bản thân chàng, thân thể chàng là một phần của nó - thì chàng có quyền muốn sống cũng chẳng kém gì có quyền muốn chết, điều đó càng khiến chàng cảm thấy không hiểu nổi cái chàng đang thấy trong mắt nàng, độ lớn của nó khiến chàng thấy mình đang trống hẳn một phần nào đó trong chính mình. Rốt cuộc, sau một hồi chừng như lâu đến hàng giờ, nhiều năm, nàng xoay đôi mắt không thể dò không thể hiểu, vừa tối vừa sáng đó về phía chàng. Chàng gần như giật mình về phía sau theo bản năng nhưng rồi bỗng nhận ra rằng trong cặp mắt kia đang nhìn chàng không có hoặc không còn cái sức mạnh mà chàng chờ đợi. Sự biến mất hoặc vắng mặt của sức mạnh đó lúc này là cái đánh vào chàng mạnh hơn cả. Đó cũng không phải cái nhìn/cặp mắt trống rỗng, chắc chắn vậy. Đúng hơn, đó là nỗi khao khát lấp đầy sự trống rỗng, một khao khát mà dù lớn lao và mãnh liệt đến đâu vẫn không thể nào đảm nhận chính vai trò lấp đầy sự trống rỗng đó, ngược lại chỉ làm cho sự trống rỗng lớn hơn, đã trống rỗng càng trống rỗng hơn. Nàng mở miệng, hồi lâu không nói, cử động môi theo nhiều cách khác nhau như đang tập trung sức lực để cười, hoặc để chứng minh cho chàng hay cho chính nàng rằng nàng vẫn đang là một phần của thế giới này. Chàng cảm thấy một sức căng lớn lao trong mắt nàng, toàn bộ khuôn mặt nàng, dáng người nàng, một dòng nước lúc nào cũng sắp sửa bật ra song không thể bật ra, một lời nói lúc nào cũng sắp sửa được thốt song không thể thốt. Rộng quá, cuối cùng nàng nói hoặc hình như nói, môi run run. Chàng hiểu cái Rộng quá này, biết rằng nó đang xâm chiếm nàng không phải như một ý tưởng mà như một cảm giác của toàn bộ thân thể, từng lỗ chân lông nàng. Chàng tôn trọng sự im lặng gần như hoàn toàn tiếp theo sau đó của nàng, gần như, bởi chàng tựa hồ nghe thấy được cái đau mà nàng đang cảm nhận, cái đau hầu như thuần túy thể xác gây ra bởi những gì đến trong tâm khảm nàng lúc đó, trên đầu một mỏm đá ở ven thành Cádiz nhô cao trên Địa Trung Hải buổi chiều hè ấy, cái im lặng kéo dài cho đến đêm khuya trong bóng tối căn buồng khách sạn một giường, hoà điệu song khác nhịp với cái im lặng vừa im lặng vừa âm vang rất đặc trưng (ít nhất là với riêng chàng) của đêm miền nam Tây Ban Nha, im lặng âm vang của sự tìm kiếm âm thầm và khôn thỏa một cái gì đó không tên, vô trụ xứ, phi thời gian, cái im lặng của nàng khác nhịp bởi đó là im lặng của một linh hồn hình như đã tìm thấy được cái mình tìm kiếm dù vẫn chưa nhận rõ được đó là gì.
