Thứ Năm, 27 tháng 12, 2018

Cospolist Nổi Loạn

(trích tiểu thuyết đang hoàn tất của tôi) 

... Hắn trèo lên hàng lan can. Việc này với hắn không khó vì hắn cao, có cặp chân dài, rắn chắc dẻo dai nhờ nhiều năm chạy bộ và chơi tennis. Hắn ngồi xổm trên đó trong một thoáng rồi đứng hẳn lên, gần như thẳng người dù thật ra có hơi chúi về phía trước do lực hút của khoảng không dưới kia. T., tôi kêu to hoặc nghĩ là đã kêu to, nghe một cú thót nhanh và gắt ở tim. Xuân Phong vừa chạy tới và khựng lại cạnh tôi. Có vài tiếng thốt không thành âm tiết, những cú hớp hơi đột ngột do bất ngờ, sửng sốt và khiếp đảm của phái nữ. Trong khi hắn tiếp tục đứng đó, lưng gần như thẳng, trên hàng lan can, trong khoảng thời gian tưởng như bất tận, tôi tiến thêm vài bước lại gần, dợm túm chân hắn lôi xuống, một phần thoáng sợ lỡ đâu chẳng những không thể lôi hắn xuống mà còn, do hắn giãy giụa phản kháng, làm hắn ngã xuống dưới kia sớm hơn, một phần khác thì ngạc nhiên, không thể hiểu bằng thứ năng lực nào hắn đứng được như thế, chẳng khác một diễn viên xiếc nổi cơn chơi ngông, một anh chàng chuyên làm những trò tối hiểm nghèo để được lưu danh Guinness.

 Tôi không kịp làm việc đó. Miệng tôi vừa kêu lên gì đấy đại loại như “Làm gì vậy?” hay “Đừng làm vậy, T.”, đồng thời tay tôi vươn ra, song, cũng gần như tôi ngỡ đã vồ được một con chim thì trong phần mười giây cuối nó kịp bay vụt đi ngay dưới tay tôi, cổ chân và bắp chân T., cùng với toàn bộ thân hắn, rời khỏi ban công trong nháy mắt trước khi tôi tưởng chừng đã với tới tóm được nó, khi mà trong tâm trí tôi đã thấy trước cảnh mình tóm được nó.

Kèm theo sự biến mất này là một tiếng thét thất thanh - một lần nữa lại giọng nữ - từ phía đám người nơi sảnh đợi thang. Đó là thứ tiếng thét đánh dấu sự xé rách chỗ nào đó trên tấm màng mỏng ngăn giữa sống và chết. Không còn việc nào khác cho tôi làm ngoài khom mình qua lan can kia, nhìn theo cảnh T. rơi xuống, gặp sàn dưới đó hoặc có thể là gì đó. Thế nên tôi lao về phía lan can, khom mình qua hết cỡ, nhìn.

Tôi không thể ngờ mình đang ở chỗ cao đến như vậy, phía dưới mình có thể mở ra một khoảng rỗng mênh mông sâu hút đến vậy. Những người đang đi lại ở mặt nền tít dưới kia nom không khác lũ bọ. Ở khoảng cách thế này thì chỉ hoặc tôi hoặc lũ bọ kia là có thật. Tôi không có thật thì hẳn đúng hơn, bởi vì dưới kia rõ ràng đang lôi cuốn tôi về phía nó, ngược lại thì không. Tuy nhiên ấn tượng này chỉ choán trọn tôi trong khoảng một nháy mắt. Gần như lập tức sau đó tôi đã bị hình ảnh của T. thu hút.

Fall of Icarus (1978), Rudy Schnee Weiss

Tôi thấy hắn rất rõ. Hắn đang lao xuống nhanh như một khối đá, một pho tượng bằng đá hình người và to bằng người, một viên đá được tự nhiên đẽo gọt tình cờ mà có dạng người. Cú rơi của một vật vô tri, một kẻ đã chết từ trước khi chạm đất. Một cái gì đó trong tôi phủ nhận điều này, muốn khẳng định với chính tôi rằng điều thực sự đáng thấy còn chưa diễn ra. Và quả nhiên, đến một lúc, khi thân hình T. đã thu nhỏ lại hầu như chỉ bằng con chim lợn mà đôi khi tôi thấy vụt bay từ mái nhà nào đó ngang qua không trung, nó bắt đầu cử động dưới mắt tôi. Tôi thấy hai tay hắn bắt đầu khuỳnh khuỳnh ra, nom hao hao giống con chim sè hai cánh, chuẩn bị có những biến chuyển về chất trong hành trạng của mình. Tuồng như hắn vừa bất ngờ nhận ra rằng, cả hắn nữa, có lẽ hắn cũng làm được như thế, điều mà hắn không bao giờ nghĩ mình có thể làm: tự làm chủ hành trạng của mình khi đang ở giữa không trung chứ không chỉ biết có rơi. Dường như hắn, giữa khi đang rơi, đột ngột nghĩ ra rằng điều đó không nhất thiết là bất khả; nó là một khả năng có thật, cứ cho là rất hiếm xảy ra. Hắn nhận ra là mình có thể bay, bay để kịp làm việc gì đó vô cùng quan trọng mà hắn phải làm, chỉ mình hắn có thể làm, bởi hắn đã có lời nhắn hay tiếng gọi khẩn thiết nào đó, của M. chăng, hay một người khác, người đó đang trong lúc nguy nan chăng, một cơn cùng nguy cực biến - mà dường như hắn đã có thể linh cảm từ trước - khiến người ấy cần hắn đến như vậy và khiến hắn cần bay, sự bay mà hắn có được không phải bởi hắn là siêu nhân hay nhân vật trong một tiểu thuyết hiện thực huyền ảo mà bởi hắn, với nỗi đau thiêu đốt và khát khao hành động của mình, hắn xứng đáng với sự bay ấy. Quả thực, trong vài khoảnh khắc tôi hình như thấy hắn không còn rơi nữa mà đang bốc ngược trở lên, dường như không khí đã bất ngờ quyết định không để hắn xuyên qua nó nữa mà chuyển sang nâng hắn lên, hoặc cuối cùng hắn đã thành công trong việc buộc không khí chuyển sang nâng hắn lên. Như thể đệm theo hoặc hòa điệu theo, vài tiếng ồ dài và sâu cất lên đâu đó quanh tôi, rất khó phân định được bao nhiêu phần trong đó là trầm trồ ngưỡng phục còn bao nhiêu là bất ngờ kinh ngạc. Có lẽ trong một phần giây cuối trước khi nhảy xuống hắn đã biết trước hoặc mong đợi chuyện này chăng. Nhưng chỉ một thoáng sau hình dáng T. tiếp tục thu nhỏ lại với tốc độ đáng sợ thuần túy cơ học. Hai tay hắn vẫn tiếp tục khuỳnh ra hai bên song bất động, vô sinh khí, bộ phận chìa ra ngẫu nhiên của một khối vật chất trơ. Chuyện gì vậy T., tôi nghe mình hét lên. Bay đi, T. Vỗ cánh đi, tôi hét. Tôi không chắc có phải là nỗi khiếp đảm hay sửng sốt đã làm hắn tê liệt.

(còn tiếp)

Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2018

Performance Art, A Summer Morning, Granada

Một phần bản dịch của tôi từ truyện "Nghệ thuật trình diễn, một sáng mùa hè, Granada" đã in trong tập "Những gặp gỡ không thể có" của tôi.

Đây mới là bản dịch thô. Sau khi được chỉnh lý, hiệu đính bởi một người bản ngữ có chuyên môn giỏi, nó có thể, theo nghĩa nào đó, "hay hơn bản gốc".

-------

They agreed they would meet in Granada and she did not arrive until after three days. In these three days he seemed to be carrying a bunch of cindering straw tinder in his stomach. When she did appear on the fourth day, a glance at her face was enough for him to decide the better way is not to ask her anything. He restricted himself to show her how glad he was to see her and how ready he was to share with her anything.

They were having breakfast at a restaurant on the slope of the hill, with a view to Sacromonte with its coutours clear-cut like a laser etched photo. His eating became more interesting because he had a chance to eat and at the same time watch how her face seemed to catch the light from the pink ceramic disk, making her facial skin gleam with a pinky hue both organic and mineral. She did not seem to be aware of this pristine trait of herself, and if she was, she did not care. To the left, on the slope of the adjacent hill (La Golondrina, wasn’t it?), at a slightly lower level, unfolded a gorgeous picture: the patio of a hotel. All the walls of the tall buildings surrounding that patio were of a eye-piercing green: a carpet of creepers so thick that none of the adobe brick was able to break through. One could easily think of incredible walls made entirely of branches and leaves. This green backround was criss-crossed with the canopies of the windows all the way from left to right, from top to bottom, following zigzag lines that seemed at the first glance to be chaotic and, if you looked at it more closely, turned out to stick to a common regular and sophisticated pattern. The canopies, of soft fabric, were scarlet and delicate like rose petals.

He knew she was watching the scene as he was. More than once he was on the verge of speaking out the queer, ambivalent doubt that was slightly disturbing him. As far as his memory did not betray him, this hotel had not been existed at this position until several days before; as far as he remembered, there had been, until several days before, a series of breathtaking houses at disparate levels, he wanted to tell that to her and he kept silent. At this very moment, out of blue, she said, “Last night I had a dream where I am a girl from a fishing village…” He felt a shiver down his back. She looked as if she wanted to add something. Instead, she made a brusque, slightly offbeat, incomprehensible laugh. She gazed directly into his eyes, as if to gauge the effect of what she had recently said, then squinted her eyes, gently shaking her head, as if to drive out of her mind what she had just perceived in him. A fishing village in which region, which country, I have no idea, she continued, so gently, so calmly or at least it seemed so to him. Not that I can remember what happened to me there, but when I woke up I wanted to cry. Funny, isn’t it, she said. He continued to look at her smile and then he himself began to smile. She looked at him for about two seconds more and then, the smile intact, again she switched her gaze to the patio down below with its foliary walls and scarlet, delicate canopies.

And an idea occurred to him: what, if even this moment, where they were sitting here having breakfast at a restaurant on a slope of Albaycin, Granada, were also a dream? If this were true, then she had just in fact told about a dream within a dream and, if this was the case, then nobody could ever know there still existed how many layers of dreams, how many dreams overlapping, enveloping each other, whether they were innumerable, and whether the path leading back to their point of departure, their origin was an endless one?

Look, she said, cutting short this flow of thought. He looked at her eyes, then noticed the direction to which she turned, so slightly, her head. He, too, looked at that direction and, for a second or two, wondered whether this was the right one she wanted him to heed. There existed nothing unusual there, at least as compared to one minute earlier. Or it seemed at least. There was the sea, the same sea like yesterday but not necessarily like it had been all the time, with the well-known Mediterranean azure, the all too pure azure, like the dream of an impossible sea, a dream that persisted in daylight. Be that as it may, the fact was that he was failed to see what she wanted him to.

Or was he wrong? Along the coast of this impossible azure sea run a long stretch of toy-like houses of all possible designs and colours – colours disparate yet similar: they all were soft, subdued ones. Light yellow, like beginning-to-ripe apricots. Light green, like young banana leaves. Half-ripe oranges. Sakura blossoms. Colours and houses he had never imagined to be that beautiful, capable of such a perfect harmony with the unreal azure of the sea. It might also be likely this was what she wanted him to see, what he had seen yesterday and had not seen until now. Still, he felt uneasy, wondering whether she was expecting him to see something she alone could see. What was she seeing? Something concrete, special? Something undistinguished, mundane? He stretched his eyes, pouring into them the intensity in the gaze of an eagle up high in the sky pursuing a chicken on the ground.

And then it came to a point when he felt he had grasped the infinitesimal motion of a tiny object in the background of that scene, tiny because of the distance, not because of its size, perhaps a human hand drawing a curtain. Or was it a slight budging, maybe a sudden respiration of one of or all of those houses, or of the slope onto which they were clinging like children onto the body of a giant mother? His heart seemed to shrink back at the feeling. He drew in a long breath, calming himself by dismissing it as a mere illusion.

And then he realized an infinitesimal motion on the background of that seemingly serene landscape (serene partly because of the absence of winds, partly owing to the fact that the sunshine, though abundant, still had yet to be able to make faraway objects seem to be vaguely vibrant). He blinked once, twice, three times, in order to ensure that was not a hallucination. He continued to sense he was able to discern something moving, albeit in the same way you can sense the movements of a big fish under the surface of a not so transparent body of water. It seemed he would be able to truly take hold of it, that motion, its subject or cause only if he had possessed the eyes capable of seeing through the particle structure of things. Yet he was really able to pin it down! He was aware of this because he was feeling as if an iron ball was slowly rolling on the walls of his heart in rhythm with that motion, which he was sensing more than seeing.

It was something moving in the air, amid the houses. It was flying not very fast and not very slowly, at least to his perception and at least if you take into account the fact that at such a large distance any feeling about the speed of the observed may not be very accurate. His first thought: it was a bird. Simply a bird. If the truth were that simple, however, he would have not been continuing to feel so discomfortingly, incomprehensibly uneasy. Unknowingly he glanced to her, as if to look for an affirmation of this intuition of his. She was looking at that direction like him, and, as if by accident, she squinted her eyes, in an almost inperceptible manner. And a question occurred to him: how could she perceive this movement long before him, and, more importantly, how she did not show any unexpectedness or surprise or uneasiness or excitement: she appeared to be aware of its arrival, waiting for it with considerable patience, an apparent self-restraint, and something like a readiness to accept what is destined to come, what will be, will be.

Juan Miro - "Painting"

He took a closer look and now he was sure it was not a bird. It was simply too big in relation to those houses. Perhaps it was an unusually big bird, a bird the size of a normakl human, flying slowly (either in a dignified and majestic or a lethargic, exhausted manner), at a height perhaps similar to the attics of the houses. No, not exactly. Because those houses were situated at different heights according to the terrain of the slope, at times that creature was flying higher than the roofs, almost grazing the top of the antennas planted on the rooftops, while at other times it seemed you can stand on a balcony at the second floor (amid blossoming flowerpots) and extend you hand to grasp one of the parts of this creature, or perhaps, sitting on the last step of the stone stairway leading to your house, look down this creature like you do a winged horse serenely flying upward from the bottom of the valley. A huge, abnormally large bird, now he decided that was the most probable scenario. The reality, however, might not be that simple. With a world like this, a sunlight like this, a ground landscape like this and a crisp and humid air like this, everything could happen.

Now the object had detached itself from the houses along the slope. It had changed its direction and now was heading toward this side of the valley where they were sitting. Abruptly he felt fear, however unreasonable it might be. He looked at her. No doubt she had also perceived the change in the object’s behavior like him, only that she looked and waited for it with an undescribable expression, with calm and love, with melancholy and maybe a bit of nostalgia, as if she was expecting an ex-lover whom she wanted and did not want to meet again. When the thing had considerably shortened the distance and now was moving in the open space between the two slopes of the valley, he begun to discern something with relatively clear form and outlines. It was a creature the size of a normal adult human, a human, not a bird. The distance was still large, he could not make out whether it was a man or a woman, whether he or she was old or young, ugly or beautiful, fat or thin, well-dressed or nude. Nevertheless, the first thing he could record about the human being was: a) yes, it was a human, exactly a human like himself, it could not be any misunderstanding on his part; b) this human had no wings, nor was he/she spreading his/her arms as if they were actual wings, and he/she was not using a parasail, which was the reason why he had been suspecting this was not a bird.

He felt a sudden acute thirst that make his throat dry like dust, despite the water he had drunk a few minutes before. Apart of this, however, he no longer had feelings about his own body, so completely had the object occupied him. It was approaching, growing larger, very fast. Now, at the distance of fifty or sixty meters, he could see clearly it was a man. That was all what he could discern at this point based on the shape of the skull and the bone structure. More exactly, he was able to tell the gender of the flying being thank to something deep inside him that he would hesitate to call sixth sense. Were he a woman, he would have been ready to say he could sense it with something inside his pelvic cavity rather than with his eyes.

A short while later he was able to pick out more details about the object and the newly received knowledge made knots in his heart. When the object came to be no more than fifteen or twenty meters away from him and not too high above him, he knew he no longer needed to dout his senses. And it was not until then, with the odd silence that his senses had failed to record so far, that he realized everybody around the two of them were also looking at that creature with the same way like him, namely, like hypnotized.

It was a very young man, a boy. One of the handsomest boys he had ever seen. The very moment you see such a creature, you understand why humans always crave for and believe in the existence of that which cannot exist. His face, with its infallible perfectness, worked like a knitting needle jabbing into your heart. A masterpiece the Creator had produced only once out of sheer negligence before He came to understand what mistake He had made. And the pain in your heart at seeing such a creature is a reminder that it was the worst mistake of the Creator, much worse than the one He made when He was producing the ugliest or evilest being.

His body went in perfect harmony with his face, an oblong figure, on the lean side rather than the muscular one, taut, exuding vigor, seemingly bursting from inside the close-fitting pale blue shirt and cream-colored khaki trousers. His legs stretching straight, his arms holding tighly to the sides, he glided through the air much like synchronized swimmers do through water, when the kinetic energy accumulated before could give him enough momentum to move for a considerable amount of time without having to do anything, like a leaf drifting along a stream or a feather floating in a breeze, or, what was more, the space itself acted as the default transmission medium for him: it was as if he were able to move in this fashion and also to stop and stay motionless in the space for many hours in a row or else to drop right downward like a stone and then, at the distance of ten centimeters or so from the ground, abruptly dart upward like an arrow, the space being his home, where he can do anything he wants. It was the absolute calm and dignity in the manner and behavior of the young man that struck him most.

Now the hot boy had come closer, hovering nearly right over his head, at the height of perhaps four meters, and he realized, with a bit disappointment, that this flying man/creature/human would not land where he was standing. He turned his head, following the creature as it/he came flying past (and, after a blink of the eye, reached a position at around thirty meters away from him) and, all the time, he had the gut feeling that this head-turning of his was part of a general motion, much larger, consisting of hundreds of similarly insignificant, simultaneous, perfectly synchronized head-turnings of all the people around him. He felt an unconscious impulse to turn back, look to both sides so as to see those people, but a sudden move of the flying-man captured his eyes.

The flying-man, all of a sudden, stopped, changed direction: both of these actions, stopping and changing direction, taking place in a single moment, a single phase in the same uninterrupted fluid. In this one motion, his oblong, lean, taut curled into a curve as tender and elastic as the winding of a sea snake, and he heard all too clearly that from everywhere around him rose a prevailing, low-pitched, thick sound, unevenly undulating like the sea in strong winds, which was the almost simultaneous breathing out from hundreds of human throats. They were witnessing a motion far beyond any known law of the universe.

And then immediately he held his breath, realizing that the flying man was now heading straight toward him. Without knowing it, he stepped back. Right then a hand, a very strong one, grasped his shirt, holding him tight at the spot. Without turning his head he knew whose hand it was. Still holding him, she fixed her eyes at the approaching flying man, and her face exuded a special intensity that struck him as if it were being ablaze. It was as if the appearance of the flying man, not his touch, was enough to set her to fire and the closer he came, the more fuel got added to the fire which was herself. He could almost feel the heat on his face.

(to be continued)

@Tran Tien Cao Dang

Thứ Ba, 30 tháng 10, 2018

Asrimkhan và Mattai (trích từ “Cospolist Nổi Loạn”)

Một trong những tuyến truyện chính của “Cospolist Nổi Loạn”, tiểu thuyết đang gần hoàn tất của tôi, diễn ra trên hành tinh Gurun, một hành tinh vừa rất khác vừa giống một cách lạ lùng với hành tinh Trái đất. Một trong những phần mà tôi viết với nhiều cảm hứng hơn hết. 

... Ngọn gió mang vị mặn của muối từ vịnh Sgîrmyt thổi tới lấp đầy mũi và lưỡi tôi, tuy không quyện với mùi hăng hăng cay cay của rừng thông giống như ngọn gió từ biển Thangali trên bãi biển thời thơ ấu của tôi, song vẫn mang lại cho tôi hoài niệm mơ hồ và khẽ nhói về một chốn quê nhà tôi không biết rõ và không bao giờ đến được. Hoài niệm đó dường như chỉ càng sắc nhọn hơn bởi cái lạnh của biển phương Bắc vẫn chưa thể ấm lên dù đã sang tới tháng thứ hai của mùa hè. Tiếng kêu của lũ mòng biển chao liệng trên những ngọn sóng dồi nghe như cũng lảnh lói hơn so với tiếng mòng biển mà tôi để lại ở quê nhà Bongora; đối với tôi, dường như một chút âm sắc cao hơn đó là kết quả một hành động của Thượng đế, Người đã điểm thêm nó vào tiếng mòng biển Bongora vốn quen thuộc với tôi, như người thợ-nghệ sĩ bồi thêm một nhát dao cuối cùng, cực nhẹ, lên đường cong vốn đã hoàn hảo của một gợn sóng trên bức phù điêu. Bằng cách đó Người thông báo với tôi rằng Người có mặt bên tôi, như Người vẫn hằng có mặt ở mọi nơi, dù con đường tôi chọn không hợp ý Người đi chăng nữa. Cho dù tôi có làm những việc mà trong mắt người đời là vô đạo, Người biết rằng tôi luôn luôn hướng đến Người, đi trên con đường Người đã định sẵn cho riêng tôi, tiến tới cái hạn kỳ để vượt qua Người, cái hạn kỳ mà chính Người không rõ. Chỉ cần cái biết đó của Người là đủ với tôi.

Kẻ nào đó giẫm lạo xạo lên mặt cát sau lưng tôi. Duy chỉ một kẻ vừa luôn luôn e dè vừa luôn luôn khao khát như Mattai thì mới có bước chân vừa âm thầm vừa dằn mạnh như thế. Tôi đợi một hồi, lắng nghe sự im lặng xuất hiện sau khi những tiếng chân đã ngừng, sự im lặng như một dải khói chừng như đã bị gió ù ù thổi nuốt gọn và làm tiêu biến tức thì song kỳ thực vẫn lẩn quất, còn nguyên đó, như một sợi chỉ vô hình căng thẳng giữa hai chúng tôi. Chầm chậm, tôi ngoái lại nhìn hắn, mái tóc dài của hắn rối bời, bay loạn lên trong làn gió đột ngột trở mạnh. Và tôi nhớ lại một câu của Imshawi, đại ý rằng một mái tóc bay trong gió ẩn chứa sự định tĩnh và chiếm ngự của riêng nó.

Asrimkhan nhìn tôi với cái nhìn mà như có kẻ nói “khiến người ta run rẩy” tuy đứng trước nó tôi không run rẩy. Thì vâng, cứ cho là tôi luôn luôn trong thế sẵn sàng rơi vào trạng thái run rẩy thích hợp bất cứ khi nào cảm thấy cái nhìn của Asrimkhan sắp hướng vào tôi. Trạng thái run rẩy đó hợp với tôi và đúng là tôi đến nỗi tôi không tự nhận ra nó, cũng như người ta không bao giờ có thể nhìn thấy mắt của chính mình trừ phi soi xuống nước hay nhìn vào một cái gương. Phải, tôi là hiện thân của trạng thái run rẩy mà thế giới này cảm thấy mỗi khi nó là đối tượng nhìn của Asrimkhan; nếu điều đó là sự thật thì tôi hạnh phúc vì nó.

Thêm chú thích
Asrimkhalan, anh có lạnh không? tôi nói.

Mi, kẻ sinh ra ở xứ Üganlar nơi người ta nghe nói tới tuyết cũng như gã mù bẩm sinh nghe nói tới màu xanh của biển trong mắt người con gái đẹp. Cái lạnh này chưa làm cái củ của mi teo quắt lại như bộ ngực mụ phù thủy già khú đế đó chớ?

Đó là tất cả những gì Asrimkhan nói với tôi trước khi ngoảnh đi, tiếp tục nhìn ra biển, quay lưng lại tôi, như thể tôi không hề có mặt. 

Tôi nói:

Asrimkhan tôn quý! Có nhiều cái ở tôi không bao giờ có thể teo đi được chừng nào tôi còn ở bên anh.

Tôi cảm thấy không cần phải nói thêm rằng mọi cái của tôi là của Asrimkhan bất cứ khi nào chàng cần tới.

Ngừng một chút, tôi nói:

Bữa sáng đã dọn. Ta cần lên đường sớm, Asrimkhan.

Tốt lắm, sau một lát chàng nói, không ngoái lại nhìn tôi. Tôi đã quá quen với việc không thể nhìn thẳng vào mắt Asrimkhan khi nói chuyện với chàng đến nỗi mỗi khi muốn nói điều gì mới là tôi lại tìm gáy của Asrimkhan và hướng lời của tôi vào đó, như thể chàng có một cái tai vô hình ở đấy dành riêng cho tôi. Tôi chưa bao giờ cảm thấy cái gọi là “phẩm giá bị hạ thấp” khi chỉ có thể nói chuyện với tấm lưng của Asrimkhan, mặc dù tôi cũng chưa bao giờ coi đó là dấu hiệu của một thứ đặc ân mà Asrimkhan dành riêng cho tôi. Đơn giản đó là cách duy nhất để tạo thành và duy trì mối tương giao liên kết giữa chúng tôi, cách duy nhất, không giống bất cứ cách nào khác, nó khiến cho hai chúng tôi, khi ở bên nhau, khác biệt với toàn thế giới, tách ra ngoài thế giới.

Tôi càng yên tâm hơn về điều đó bởi biết rằng ở đâu đó trên kia, trong cõi tiên thiên có một cặp sinh thể đang hiện hữu, giống hệt chúng tôi nhưng hoàn hảo hơn chúng tôi, và, bằng cách sống trọn vẹn mỗi ngày trên thế giới này, Asrimkhan và tôi đang nhích dần từng tí một về phía hai sinh thể toàn hảo đó. Con đường hướng thượng với mục tiêu duy nhất này là số phận của chúng tôi.

Do vậy mà, chẳng hạn những khi hai chúng tôi đi trên đường, tôi thường hát những bài hát từ trong đáy lòng tôi, dù Asrimkhan không bao giờ tỏ ra là có để tâm lắng nghe, nhưng tôi biết, một phần cái nghiệp của tôi là làm đầy không gian quanh Asrimkhan bằng những gì được tạo nên từ cảm xúc và tâm hồn tôi; với Asrimkhan, tôi có thể làm được bất cứ điều gì còn hơn thế.

Mẹ ơi, đừng khóc
Con sẽ về đừng khóc mẹ ơi
Dù đi xa bao nhiêu chăng nữa
Con sẽ về
Đùi mẹ đâu, cho con gối, mẹ ơi.

Tôi hát như thế mà nghĩ đến chuyện Asrimkhan không bao giờ biết mẹ chàng là ai.

(còn tiếp)

@Trần Tiễn Cao Đăng

Thứ Ba, 9 tháng 10, 2018

Chuyện Gaucho Bi Bự Khoái Mắm Tôm (một đoạn trích khác)

("Chuyện Gaucho Bi Bự Khoái Mắm Tôm": một truyện lẽ ra được in trong tập "Những gặp gỡ không thể có" của tôi nhưng đã không được in.)

... Những người hỏi cung đám nghi phạm thảy đều mặc thường phục: họ chính là nhân viên tòa soạn - phóng viên, biên tập viên, nhiếp ảnh gia, thợ dàn trang, bảo vệ, kế toán, lái xe, lao công. Khi Lãnh Tụ cần đến họ (họ thì nói là khi Tổ quốc và nhân dân cần đến họ), họ sẵn sàng và ngay lập tức trở thành thẩm vấn viên, mẫn cán và hữu hiệu đến mức vượt ngoài mọi mong đợi của Lãnh Tụ - chẳng phải là Lãnh Tụ từng có lúc nói trực tiếp, cụ thể với họ về những gì Ngài mong đợi ở họ song trên thực tế Ngài chưa hề làm vậy, Ngài không có thì giờ, chỉ là tự họ hình dung ra những mong đợi ấy và tự mình vượt qua nó. Tôi khoái nhất là một tay nhỏ thó điển trai, bê đê, họa sĩ thiết kế, sau khi dùng búa cỡ bự đóng trọn một cây bút chì hai mươi phân vào lỗ tai một ông già để ông già phải trả lời “Có” cho một câu hỏi của cậu ta, liền đi ra ban công, rửa tay cho sạch máu, lau tay thật khô, xong thì ngồi thụp xuống vuốt ve ba con mèo con đang bò lổm ngổm trong cái thùng các tông đặt nơi góc ban công, ba con mèo con bị ai đó vứt nơi bãi rác mà cậu ta lượm đem về. Tôi cũng khoái, ở mức độ gần như thế, tay tổng biên tập, một lão sáu mươi, béo tốt xởi lởi khiến tôi hình dung ra một ông chủ hội chợ lưu động chuyên vòng vòng các tỉnh lẻ, ông này cấm tiệt tất cả nhân viên của mình không được chửi thề trong khi làm phận sự cho dù những người bị thẩm vấn có chửi họ bằng những lời tục tằn đến đâu đi nữa, vì đau hoặc vì phẫn uất hoặc vì điên hoặc vì cả ba. Nhưng thường thì những người bị thẩm vấn - nghi can phản loạn vân vân - không thể chửi thề hay có những cách phát ngôn tương tự được bao lâu; rất nhanh sau đó họ câm tịt, đó là khi ngay cả một tiếng “Có” hoặc “Không” họ cũng gần như không nói nổi, thở cũng thiếu điều không thở nổi. Và không cần phải nói, cùng lúc với những đợt bắt bớ và thẩm vấn đại quy mô này diễn ra, biên chế nữ giới thuộc các Trung tâm Cải huấn dưới quyền điều hành trực tiếp của Lãnh Tụ tăng lên theo cấp số nhân. Cơ hội ngàn năm có một của hàng chục vạn đàn ông tham gia công tác chính quyền! Những người còn lại, những ai không được đưa thẳng từ tòa soạn Nhân dân Tự do hay các địa điểm tương tự đến các trung tâm cải huấn thì sẽ từ đó được chở tới sở cảnh sát trong tư cách là “những phần tử chống đối/phản loạn/lật đổ/khủng bố đã được thẩm vấn sơ bộ và về cơ bản đã thành khẩn cung khai và nhận tội.” Ban đầu cảnh sát còn nhận những người này, song về sau, khi số lượng họ tăng lên chóng mặt thì cảnh sát trả lời: “Chúng tôi nhận bọn này làm gì kia chớ.” “Vậy chúng tôi phải làm gì với tụi nó?” người của tòa soạn hỏi. “Làm sao bọn tôi biết được,” cảnh sát nói. “Tùy mấy anh. Đem vất xuống sông đi.” Tưởng cần nói thêm: tất cả nhân viên tòa soạn, khi tiến hành các cuộc vây ráp bắt giữ, cũng mặc thường phục như khi tiến hành thẩm vấn - họ không tìm đặng khoác lên mình bất cứ thứ sắc phục nào, cũng không mang bất cứ một thứ dấu hiệu nào trên người để phân biệt mình với những kẻ bị tình nghi và với thường dân, và họ lấy đó làm kiêu hãnh: “Chúng tôi là những công dân khiêm tốn đang làm hết sức mình để góp phần duy trì ổn định và trật tự xã hội, tức là lợi ích chung.”

"The seven deadly sins", tranh của Otto Dix (1933)

Tôi đã chứng kiến không dưới một chuyến trút người xuống sông như thế. Một cảnh chả đẹp đẽ gì, đúng vậy, thế nhưng xin hỏi: chỉ thích nhìn thấy những gì đẹp đẽ thì có phải là tính cách của Ricardito không? Và có chi lạ không nếu Ricardito kể tiếp, kể rõ ra rằng nó đã có giúp các nhân viên tòa soạn mẫn cán nọ một tay, khênh mấy cái xác lên (gọi là xác thì không hẳn đúng vì khi chúng tôi sờ vào thì nhiều cái trong số đó còn thở, còn cục cựa, còn rên, thậm chí còn chửi rủa và/hoặc van xin được, tuy nhiên chỉ chút xíu nữa thôi là sẽ thực sự trở thành xác, thành ra ngay lúc này mà gọi là xác thì xét cho cùng chả có chi khác cả), một hai ba đòng đưa thảy lên xe, rồi lát sau khênh xuống một hai ba đòng đưa thảy xuống sông, và khi đã xong xuôi hết cả thì đứng nhìn mặt nước hãy còn chưa hết xao động mà suy tư (thực sự thâm trầm!) về sự nhỏ nhoi vô nghĩa và về sự thảm hại đến cười bể bụng của kiếp người. Đêm đó không trăng. Khúc sông đó không đèn, song tôi có thể hình dung rõ mồn một mấy chục cái xác ấy như mấy chục cái bao ni lông chứa rác lùm lùm đen thủi đen thui lục tục nối nhau theo làn nước đen thủi đen thui tiến về phía hạ lưu, chốc chốc lại châu vào nhau, đụng nhau, miết qua nhau, tách nhau ra rồi lại châu vào nhau lại đụng nhau lại miết qua nhau, quấn quít khó lìa.

(...)

Bản quyền của Trần Tiễn Cao Đăng

Thứ Năm, 13 tháng 9, 2018

Chuyện Gaucho Bi Bự khoái mắm tôm

Truyện này lẽ ra đã được in trong tập "Những gặp gỡ không thể có" của tôi, nhưng đã bị loại ra, "vì một số lý do".

Tôi kể chuyện này bằng tiếng Việt chớ không phải bằng tiếng Tây Ban Nha cho dù vai tôi đóng trong đó là một thằng con trai người Chilê, đó là vì... Chậc, tôi chỉ e chuyện này khó mà nói ra một cách rành mạch sáng sủa sao cho ai cũng hiểu. Bởi vì trước cái vai đó tôi đã đóng một vai khác, một thằng cha người Việt, và vai trước tràn lên vai sau, tôi chỉ có thể nói thế. Nói vậy không có nghĩa là thật ra tôi không phải thằng lỏi Chilê đó, cũng như tôi không bao giờ hoàn toàn thôi là gã người Việt kia.
Tôi đang ở La Campa, thủ đô nước Bumbila, theo lệnh của Don Pepito. Lần đầu tiên tôi đi xa thế này. Lần đầu tiên tôi được Don Pepito giao nhiệm vụ thế này. Và cũng như bất cứ thằng lỏi mặt búng ra sữa nào, tôi vừa sợ vừa khoái. Mặc dù chính tôi là người gợi ý chuyện này cho Don Pepito. Tự bản thân Don Pepito không thể nảy ra một ý như thế. Nói vậy, tôi hoàn toàn không có ý đánh giá thấp Don Pepito. Đầu ông có khả năng nảy ra những ý phù hợp vào những lúc phù hợp. Nảy ra một ý có vẻ không phù hợp vào một lúc có vẻ không phù hợp không phải là cách vận hành tiêu biểu của trí não ông. Và Don Pepito yêu chó. Xét từ quan điểm của chúng tôi, nội một điều này ở Don Pepito là đủ làm đối trọng với tất cả những điều còn lại ở ông. Chuyện ấy tôi sẽ nói sau. Lúc này tôi không nghĩ đến chó.
Tôi đang ở La Campa, thủ đô nước Bumbila, theo lệnh của Don Pepito. Lệnh của Don Pepito theo ý tôi. Tôi đang nghĩ: Đời mình sao mà khốn khổ khốn nạn. Tôi đang nghĩ: Mình chỉ muốn bụp cái đồ ngựa này ngay bây giờ. Nhưng mà đéo bụp được. Cái thế nó không cho phép. Thế mới chó. Thế mới bảo là khốn khổ khốn nạn. Thế mới bảo là khốn nạn cái đời tôi. Khốn nạn cái đời tôi, khi thằng nhỏ của tôi giống như khẩu đại bác ngỏng thẳng lên trời còn thằng lớn là tôi thì phải ngồi đây trên cái ghế này, trong cái quần côtông pha lụa ủi thẳng tắp với những đường xếp li con ruồi đậu vô cũng đứt làm đôi, giày da bóng đến độ con ruồi bay qua có thể soi vào xem râu của mình sợi nào còn sợi nào mất, ngồi vắt tréo chân này lên trên chân kia như một trong những gentleman có giáo dục và phong thái đường hoàng ưu nhã nhất trần đời, chân vắt tréo phần lớn là để cố giấu được chừng nào hay chừng nấy khẩu đại bác nhưng mà khổ, nó vẫn cứ lù lù tòi ra đó, oai phong lẫm liệt và thô bỉ hơn bao giờ hết, to gấp đôi tôi. Và đương nhiên không thể có chuyện mấy con cái kia không nhìn thấy nó, cái thằng nhỏ hư đốn bất trị dễ thương ấy của tôi. Đặc biệt là hai con cái vú to, thủ phạm chính khơi dậy sự nổi loạn này của con heo trong tôi. Hai ả không ngừng đi tới đi lui trước mũi tôi, ưỡn ngực, đánh mông, ngoáy đít, gãi đùi, đồ ngựa. Một ả mặc quần soóc ả kia chơi váy mini. Cái cơ quan gì mà lạ rứa, chắc có vị sẽ hỏi. Trời Phật à, hỏi ai chớ đừng hỏi tôi. Hỏi nhân vật Tối Quan Trọng, kẻ mà tôi ngồi đây chờ được diện kiến ấy. Đương nhiên đây không phải đồn cảnh sát nơi người ta đi bắt gái điếm hay mấy đứa con gái đi bụi thâu đêm rồi lùa về. Đây là chốn đế vương, sàn lát đá cẩm thạch (cẩm thạch trắng, thật!), tường khảm ngà voi (ngà thật!), tay vịn cầu thang, cột trụ, bàn ghế bằng vàng (vàng thật!), rèm cửa dệt bằng sợi vàng, cha mẹ ơi. Có ai nhìn thấy một chỗ như vầy mà còn không thể hình dung ra chủ nhân của nó là hạng người nào? Cho nên không nhất thiết phải nói, được chớ?
Thôi được, tôi sẽ đưa ra vài gợi ý về chuyện chủ nhân cái chỗ này có thể là thằng ông nội nào. Chẳng hạn tôi có thể nói, kiểu như thằng cha nhà văn Anh nào đó đã viết (thằng cha tên gì tôi quên rồi nhưng tên hắn có liên quan gì ở đây), rằng cái gian đại sảnh của tòa nhà này rộng đến nỗi có thể tiến hành một trận bóng đá, ba buổi diễn nhạc rock và một cuộc đua ngựa ở trên đó cùng một lúc. Tôi ngồi ở đầu này sảnh, thấy có người xuất hiện ở đầu kia sảnh, nhỏ như hột bắp, sau đó chừng mười phút thì cỡ bằng lóng tay út tôi, sau đó chừng ba tiếng thì mới tới đủ gần để tôi có thể nhận ra đó là ả cái chớ không phải là thằng đực và nửa giờ sau tôi mới nhận ra đó là một nường có cặp ngực hùng vĩ nhảy tưng tưng theo từng bước một khiến cho thằng nhỏ của tôi đang thiêm thiếp ngủ yên liền vụt một cái dựng lên thành chú khổng lồ bự gấp đôi tôi. Và gian đại sảnh này chỉ là một phần của cái tòa nhà này. Và tòa nhà này thuộc về chỉ một người thôi. Và người này, chà. Ông ta có cái kiểu bất ngờ kề súng vào màng tang một người mà ông ta vừa mới cụng ly xong và đòm một cái rồi thì cười hiền lành như thể súng ông ta vừa bắn là súng nước (loại người ta hay dùng bắn nhau trong ngày Tết té nước gì đó bên Thái Lan), còn cái đầu kia là đầu của một em manơcanh. Kiểu vậy. Ông ta rất hay lên truyền hình ở xứ này và lâu lâu lại nổi hứng gọi nhiều người khác tới bảo rằng ông vừa nghĩ ra một luật mới và muốn nó được bắt đầu thực thi lập tức. Tôi rất thích nghe ông ta diễn thuyết, nhất là diễn thuyết về sự liêm khiết và tiết độ.
Tôi vẫn thường tự hỏi, phải mất bao nhiêu đời khổ luyện mình mới nói hay được bằng một góc ông ta. Nói vậy chứ, nếu tôi muốn thì tôi hoàn toàn có thể đọc thuộc lòng Ilyade và Odyssée rồi thì Mahabharata và Ramayana và ngay sau đó là Kinh Thánh (Tân Ước và Cựu Ước) và ngay sau đó là kinh Q’ran và ngay sau đó là kinh Bát Nhã Ba La Mật rồi thì Shahnameh và Gilgamesh và Leila và Majnun và Hiệp sĩ mặc áo da báo và Genji monogatari và Những bức thư trên gối và Tam quốc chí và Tây du ký và Thủy hử và Hồng lâu mộng và Nghìn lẻ một đêm và Truyện Kiều và Trường ca Đam San và Kalevala và Beowulf và Popol Vuh và Tử thư Tây Tạng và Bí sử Mông Cổ và Don Quijote và Chiến tranh và hòa bình và Tìm lại thời gian đã mất và Anh em nhà Karamazov và Ulysses và 2666 và Núi thần và 1Q84, đọc thuộc lòng tất tật các thứ đó một hơi không nghỉ, một hơi không nghỉ, tôi nhấn mạnh. Mà đâu phải chỉ thế, đương nhiên rồi, nếu tôi có dịp phát biểu trên vài kênh truyền hình chủ chốt của Hoa Kỳ, có cơ hội khua môi múa mép tại cuộc họp toàn thể của cả đảng con lừa lẫn đảng con voi thì chắc chắn là trong cuộc trưng cầu dân ý diễn ra một tuần sau đó chín mươi lăm phần trăm dân Mỹ sẽ bỏ phiếu thuận để từ nay nước họ có tên là Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Hoa Kỳ, chắc chắn thế, ai mà không tin thì chẳng qua vì họ không biết tôi có thể làm gì thôi. Chẳng qua vì họ không biết nếu tôi làm cái trò đó thì hậu quả sẽ như thế nào, tạm thời tôi không muốn cái hậu quả ấy (sau này thế nào chưa biết). Mặt khác tôi biết rằng với cái vai tôi đang đóng đây thì tự giấu mình là điều tiên quyết để tôi có thể tiến xa, làm những việc mà tôi có mặt ở đây để làm nếu như quả thật tôi có định làm gì đó. Hiện thời thì thay vì tự mình nói tôi thích nghe các cơ quan truyền thông trong tay ông ta hơn. Ở xứ này tất tật phương tiện truyền thông đều trong tay ông ta, còn cái nào không phải trong tay ông ta thì đơn giản là không tồn tại. Tuy nhiên điều hay nhất là có vài tờ, vài đài trong số đó được ông ta buông cho muốn nói gì thì nói. Chừng nào ông ta còn chưa muốn chúng nó im hoặc chừng nào chúng nó còn đủ khôn để biết mình nên dừng lại ở đâu. Ông ta hành xử với bọn đó giống như đang đùa với bọn trẻ ranh, còn hứng còn đùa, hết hứng thì có thể móc súng bắn bể đầu tụi nó. Chuyện này thật hay vô cùng, nhưng để khi khác tiện thể tôi sẽ nói nhiều hơn. Giờ phải nói tiếp về tôi chứ. Đề tài về tôi là đề tài hay hơn nhiều, đương nhiên rồi. Chẳng hạn, làm sao có thể hiểu được bằng cách nào một thằng oắt con moi từ dưới cống lên như tôi rốt cuộc lại được đón tiếp, à không, được cung nghinh trong cái biệt điện mà mỗi xăngtimét vuông trị giá hàng triệu đô này như một ông hoàng, à không, như một sứ giả của Chúa Trời? Bằng cách nào mà tôi, mới cách đây một tuần còn phải ăn hết cả một đĩa cứt không thì người ta đánh tôi chết hoặc không thì thụt vào lỗ đít tôi cho tới khi nào đút lọt được nắm tay vô đó mới thôi nhưng hôm nay tôi ngồi đây, mặc sơ mi (lụa nhé, Versace nhé!), mang giày tây (Ferragamo nhé!), là thượng khách cấp quốc gia, đến đây với một sứ mạng (nghiêm túc, không đùa!) là chuyển giao công nghệ, một thứ công nghệ có tầm quan trọng to lớn đối với an nguy của quốc gia này? Và về thứ công nghệ này chuyên gia kiệt xuất nhất và độc nhất trên thế giới là tôi. Tôi, không phải Don Pepito. Mặc dù tôi làm cho Don Pepito. Tôi làm cho Don Pepito và Don Pepito bảo tôi làm gì tôi làm nấy, dạy tôi làm gì tôi làm nấy, giống như con chó. Giá mà Don Pepito biết được ông đã làm gì khi quyết định cho tôi tới đây.
Sai lầm là bản chất của con người, thì đã đành. Nhưng sai lầm đến như Don Pepito thì triệu người có một. Mấy ai ở vào cái vị trí sao cho chỉ một cái gật đầu hay lắc đầu của mình là đủ làm thay đổi vận mệnh thế giới? Không quá mười người trên tổng số bảy tỉ người, đúng không? Cứ cho là hai mươi người đi. Nghĩ mà thương cho Don Pepito. Ông không biết vai trò của mình trong lịch sử là như thế nào. Không như Napoleon, Hitler, Stalin, George Bush (con), Bill Gates, vài tay khác tương tự. Dĩ nhiên đó là trong trường hợp tôi quyết định làm những gì tôi có khả năng làm và có thể đâm ra thích làm vào một lúc nào đó. Bằng không thì tôi vẫn cứ là con số không tròn trĩnh vô hại hiền lành tồn tại cũng bằng không, một giọt nước trong vạn ức tỷ giọt nước của sông Amazôn và do vậy cả Don Pepito cũng thế. Giá mà được vậy cũng tốt. Tình thật là tôi cũng muốn vậy. Chỉ có điều. Khổ. Đời tôi đâu phải của tôi. Chỉ một phần cuộc đời tôi là của tôi. Một phần nhỏ như cái mắt muỗi. Tôi không thể hứa gì, không thể cam đoan gì, không thể đoán gì. Chuyện nó thế. Tôi chỉ có thể cứ để mình trôi theo dòng chảy và tùy tình hình trong từng phút mà quyết định sẽ bơi hay nhảy hay bay ra khỏi dòng hay cứ trôi tiếp đến đâu thì đến, nắn dòng cho nó chảy sang hướng khác, khơi cho nó chảy nhanh hơn, ghìm cho nó chảy yếu đi, hay là biến toàn bộ nó thành dầu hỏa rồi đốt cho nó cháy và chuyển hóa hoàn toàn thành khí cácboníc. Nói vậy để ai kiên gan theo dõi tôi cho đến giờ thì biết hay ít nhất có một hình dung đại khái về chuyện sức mạnh thật của tôi là như thế nào và tôi có thái độ ra sao về chuyện đó, tôi có thể hiền minh ra sao về chuyện đó. Nhưng lúc này, ngay lúc này thằng nhỏ tôi đang cứng hơn phần cơ bắp cứng nhất của tôi và bự gấp đôi tôi do hai em vú bự một em quần soóc một em diện mini juýp cứ không ngừng yểu điệu và nghễu nghện diễu tới diễu lui trước mũi tôi. Chúng nó biết thừa tình cảnh của tôi lúc này nó nhiều kịch tính và thảm sầu ra làm sao, cái lũ ngựa đó. Chúng nó khích cho tôi cuồng lên để cho tôi chóng đi tù, lũ ngựa. Chúng nó đùa với lửa mà không ưa bị bỏng, cái ngu của chúng là ở đó. Mặc dù xét cho cùng đó là cái ngu của hàng tỷ cá thể khác thuộc giống này, của toàn bộ giống người. Cái giống người này giống như một thằng oắt rắn mắt, hư đốn, ngồi trên chiếc xe đời mới nhất, công nghệ cao nhất, mạnh nhất, sướng tê cà người vì tốc độ của cái xe ấy, không quan tâm đến chuyện mình có sở hữu khả năng làm chủ cái tốc độ đó hay không. Nếu không được thỏa ý, nó sẽ gào thét, chửi bới, đập bàn đập máy tính đập piano đập bình sứ đời Minh, làm cho tất cả mọi người khốn khổ khốn nạn còn nếu vì sự thiếu khả năng kiểm soát tốc độ của nó mà chết vài ba hay vài chục mạng người thì nó sẽ nói, Tôi đâu có muốn thế, với vẻ hồn nhiên và rất mực chân thành.
Nhưng hãy nói tiếp về hai em gái vú to. Lý do duy nhất để tôi vẫn còn nghĩ và nhắc tới hai em một cách độ lượng vào lúc này là: các em “không biết việc mình làm” (mượn lời anh bạn người Do Thái chết thảm lúc băm ba tuổi), không biết tương lai của mình. Vậy thôi. Thật ra, sự thực là tôi biết tôi nói điều này ra sẽ không ai tin, nhưng đâu thể vì vậy mà tôi không nói, vì nó là sự thực tuyệt đối: trong khi thằng nhỏ của tôi đang cứng sững như trụ đá Acropolis và bự gấp ba tôi như thế vì cặp bưởi siêu quần của hai em thì lòng tôi lại dâng lên đối với hai em một niềm thương cảm dịu dàng, thứ niềm thương cảm khó mà biểu đạt thành lời... Thương, là vì tôi biết tương lai của hai em. Chả phải vì đối với tôi tương lai là một thứ đã xảy ra rồi giống như quá khứ - tức là chả phải trong chuyện này tôi có khả năng tiên tri thấu thị hay gì - mà là bởi đối với hai em này, riêng với hai em, tương lai hai em là trong tay tôi, tôi muốn nó ra sao tùy thích, giống như cục bột mà tôi muốn nặn thành cô tiên hay nàng quỷ hay con ếch ộp hay cái lờ bị phá tanh bành là tùy tôi. A, giờ thì một trong hai em đang lại gần tôi. Giờ thì trước khi kể tiếp tôi cần phải lạc đề một tí, nhưng quý vị sẽ thấy rốt cuộc mọi thứ trên thế gian đều xoắn chặt khôn rời: tôi muốn nói đến cái lợi, phải nói là cái lợi vô song của việc đọc nhiều, không, tôi không nói là đọc nhiều kiểu các vị giáo sư học giả thiên kinh vạn quyển, mà là đọc nhiều theo kiểu cái thằng tôi, không bao giờ bỏ sót bất cứ một mẩu giấy có chữ nào lọt vô mắt vô tay mình mà không đọc cho dù đó chỉ là mảnh biên lai giặt ủi mà tôi bắt gặp trên vỉa hè gần đống rác. Tức là cái đọc nhiều của một thằng như tôi, một thứ nhà thông thái chốn vỉa hè hay gầm cầu hay cống ngầm. Nhờ đọc nhiều như vậy mà tôi biết rằng ở những nước khác con người ta sống trong những môi trường thiên nhiên rất khác, có những cuộc sống rất khác, có những ấn tượng và cảm nghĩ hằng ngày rất khác so với tôi và do đó ngay cả với những thứ họ và tôi đều có thì họ cũng mô tả chúng bằng những từ mà nếu để tự tôi thì cả đời tôi không nghĩ ra được. Tỉ như cặp vú đàn bà. Một người dân vùng thảo nguyên Trung Á sẽ bảo nó “to như hai cái đầu cừu” còn một tay Ấn Độ thì nói là nó “nây rắn như u trán con voi”. Từ đâu tôi đọc được mấy thứ ấy, xin đừng hỏi tôi. Tôi đọc được, vậy thôi. Tôi nói vậy để xin đừng ai trong quý vị bình phẩm bằng cái giọng mỉa mai mà tôi không ưa - nói đích xác là cực ghét - rằng tôi nói cứ như nhà văn khi tôi mô tả cặp hàng của cô em đang lại gần tôi rằng nó đúng y như tôi vẫn hình dung và nằm mơ thấy từ mấy chữ mà tôi đọc được đó: bự như hai cái đầu cừu và rắn như u trán con voi. Bé mặc cái áo pun vàng chóe và cứ như là có hai con cừu (cừu trưởng thành, cừu đực, cừu siêu hạng) đang rục rịch nhấp nhổm muốn từ bên trong người em nhảy xồ ra ập thẳng vào mặt tôi. Bé mặc quần soóc “cũn cỡn vừa đủ che quần xịp” và cặp giò trần của bé là trò chơi khăm lớn nhất mà Chúa lòng lành có thể nghĩ ra để trêu tức và cũng để thử thách một thằng người có trái tim trong trắng và chính trực (tôi có thể hình dung như một đoạn phim cảnh Ngài vừa nặn cặp giò này vừa cười sặc sụa đến nỗi ghế Ngài ngồi đổ kềnh ra khiến Ngài lăn xuống sàn nhà và cặp giò Ngài đang nặn dở lăn xuống sàn cùng một lượt với Ngài). Mắt tôi nhìn bé trừng trừng, mũi với họng với phổi tôi cứ như thoắt cái bị liệt không thở nổi, còn tai tôi thì căng ra chờ nghe tiếng rách toẹt của cái quần tây tôi mặc bởi sức căng do thằng nhỏ của tôi gây ra là thực sự khôn kham đối với mọi thứ quần. Đó là tiếng kêu, không, tiếng thét bi thống của vải, là trung gian hay đại diện hay biểu hiện hay hóa thân cho tiếng thét bi thống của thịt, của cơn nứng tình của thịt có nguồn gốc tận sâu năm trăm ki lô mét trong lòng đất, xêm xêm động đất. Và, nói thiệt, tôi thấp thỏm sợ nghe nhưng mà lại cũng khấp khởi muốn nghe cái tiếng hùng hồn hoành tráng ấy của quần tôi bị rách, một phần cũng bởi nhờ đó mà thằng nhỏ tôi sẽ có thể ngỏng đầu trỗi dậy với toàn bộ sự uy nghi vô biên của một sinh linh tuyệt đối tự do.
Nhưng mà, khốn nạn, cái tiếng-rẹt-làm-nên-lịch-sử đó không bao giờ tới bởi vì miệng bé nói câu gì đó mà tuy tôi không nghe rõ lắm nên không hiểu hết - tai tôi nào có để vào đó đâu, lạy Thánh Mẫu Đồng trinh - nhưng trong đó có một chữ làm tim tôi khựng mất một nhịp, không, hai nhịp. Đó nào có phải là một từ tôi mới nghe lần đầu! Trời biết vì sao mãi tới bây giờ, mãi tới lúc này tôi mới ngộ ra là nó có thể làm tôi đứng tim ra sao. Xém tí nữa tôi đã gào tướng lên để chửi chính tôi. Tôi chửi cái thằng tôi tại sao lại làm cho tôi bị bất ngờ một cách khốn nạn đến vậy. Tôi há miệng ra để hớp hơi, không làm vậy thì chắc tôi đến nghẹt thở đứng tim mà chết tuy nhiên bởi vì bé đang đứng trước mặt tôi thành ra tôi há mồm hớp một hơi không khí thì đồng thời mồm tôi cũng chành ra thành cái cười toe tự nhiên và ngời chói nhất của tôi từ cha sinh mẹ đẻ tới giờ. Dĩ nhiên bé không biết nụ cười này có giá trị như thế nào đối với tôi: bé không phải kẻ tồn tại trên đời để biết chuyện đó. Lý do tồn tại hay cái pháp của bé ở trên thế gian này là để làm chỗ thụt ra thụt vào cho thằng nhỏ của tôi nhưng tạm thời ta khoan nói tới chuyện đó, giờ là lúc nói tới Lãnh tụ, cái người mà chỉ cần đôi môi bé nhắc tới một lần là đủ làm đứng hay làm cứng tim tôi. “Lãnh tụ gọi anh,” bé nói, và, trong thời gian ngắn ngủi câu đó được thốt ra, hồn tôi rơi tõm vào trung tâm Trái đất (vì cái từ Lãnh tụ) rồi lại vút lên quỹ đạo Mặt trăng (do cái từ “anh” đầu tiên bé thốt để gọi tôi, không ai khác mà chính cái thằng tôi).
Tôi đã dợm đứng dậy (đồng thời không rời mắt khỏi khuôn mặt bé, để bảo đảm rằng trong mắt bé cái cười toe của tôi không giống cái cười toe của một thằng đần) thì bỗng bé ngoái đầu lại đằng sau dù rõ là không có ai gọi bé, cứ như bé có mắt đằng sau lưng. Hoặc là bé có một cái tai đặc biệt ở cách xa thân mình, cả trăm mét phía sau lưng. Tôi nói vậy là bởi do tôi đang đứng đối diện bé nên tôi có thể thấy có động tĩnh gì, cái gì đang diễn ra sau lưng bé trước cả khi bé ngoái lại đằng sau. Và thề có Chúa Trời (mọi thứ Chúa Trời ở trên đời), cái động tĩnh gì đó đang diễn ra mà tuyệt không có một âm thanh, như một bóng ma mặc dù ấn tượng nó gây nên ở tôi thì có lẽ tựa như ấn tượng khi thấy một con bò tót (đang cơn điên!) lao sầm sầm thẳng tới phía mình, và lập tức khiến mình khó thở, thấy thiếu không khí, một ấn tượng hoàn toàn vật chất. Đó là Ngài. Lãnh tụ. Ngài đang tới đây! Tới để gặp tôi! Không ai nói với tôi đó là Ngài song Ngài đã như thế thì còn ai có thể nhầm được khi Ngài tới. Còn cách tôi tới cả trăm mét, vậy mà Ngài đã có thể khiến tôi thấy rõ, làm tôi biết chắc rằng Ngài bự hơn ít nhất gấp rưỡi thằng cha bự nhất tôi từng thấy trong đời. Ngài vừa mới xuất hiện ở tuốt đằng xa mà tôi đã lập tức cảm thấy cứ như Ngài chỉ cần rướn tới vươn tay ra tí nữa thôi là đủ tóm được tôi nhấc lên trời bằng một tay. Trong nháy mắt tôi cảm thấy mình giống như một trong mấy chú thủy thủ tội nghiệp của Ulysses bỗng dưng thấy mình đang ở cuối cái hang sâu và chắn trước cửa hang là thằng Polyphemus khổng lồ một mắt. Dĩ nhiên Ngài thì không một mắt, Ngài đầy đủ và hoàn hảo hơn hay nói cách khác là ngon lành hơn Polyphemus một mắt nhiều. Phải, Ngài ngon lành hơn, đó chính là chữ tôi muốn dùng, không chỉ ngon lành hơn Polyphemus một mắt mà còn ngon lành hơn hầu như bất cứ thằng cha nào tôi từng gặp trong đời mà số thằng tôi từng gặp trong đời không ít, tin tôi đi. Ngài bự ít nhất gấp rưỡi Shaq O’Neill, cao hơn Shaq ít nhất nửa đầu và nặng hơn Shaq ít nhất nửa tạ, tin tôi đi. Và khi Ngài tới cách tôi chừng dưới trăm mét thì tôi có thể thấy rõ như thấy mặt trời chính ngọ điều mà trước đó, khi Ngài còn ở xa hơn thế nhiều tôi đã thấy: đó là Ngài đẹp như Denzel Washington, một trang nam nhi da đen trên cả tuyệt vời, đồng thời phảng phất nét phong lưu ngạo đời của Clark Gable, cái phóng đãng của Elvis Priesley, điệu buồn mênh mang khôn tả của James Dean, nói tóm lại là một sinh vật mà chỉ cần thoáng thấy là tôi lập tức thấy hoàn toàn thông cảm với tất cả các ả đàn bà nào không bao giờ thấy quanh mình dù chỉ một mống đàn ông đáng mặt đàn ông: đó là bởi các ả đã có sẵn hình bóng Ngài trong tim dù các ả chưa bao giờ gặp Ngài hay thậm chí chưa biết là Ngài có thật trên đời.
Nhưng, đợi đã. Chừng đó chưa là cái gì so với khi Ngài tiến tới đủ gần để Ngài và tôi có thể nói chuyện với nhau một cách bình thường, mặc dù thật ra làm sao một con gián đất như tôi lại có thể nói chuyện bình thường với một thiên thần như Ngài. Khi Ngài đã tới đủ gần để tôi có thể nói với Ngài mà không phải hét tướng lên, tôi mới cảm nhận được trọn vẹn cái tác động kinh khiếp mà một người như ngài có thể gây nên ở một kẻ như tôi: tôi bỗng thấy mình chả lớn hơn con gián và nếu tôi có hét tướng lên bây giờ thì tiếng hét của tôi chẳng to hơn tiếng hét của một con gián. Dĩ nhiên trong thâm tâm tôi biết mình là một con gián như thế nào nếu quả thật so với Ngài tôi chỉ là một con gián nhưng chuyện đó tôi sẽ nói sau. Và tình hình chỉ càng tệ hơn khi mà té ra người cất tiếng trước là Ngài chứ không phải tôi. Và cái giọng của Ngài! Chao ơi cái giọng của Ngài! Trời sinh ra người có giọng đó là để người đó thống lĩnh thế giới! Đó là điều chắc chắn. Chắc chắn giống như nắng trời có đó là để làm cho nước bốc hơi vậy (ha, tôi đếch biết so sánh vậy có đúng không nữa). Cái giọng gì mà rền vang làm cho đến cả từng giọt máu trong người mình rung lên như chuông chùa bị nện dùi! Nghe cái giọng ấy anh cảm thấy được từ trong máu mình rằng cùng lúc với anh có những người ở bên kia trái đất cũng nghe thấy nó, có những người ngồi trên máy bay bay qua trên đầu tôi ở độ cao 10 dặm vào đúng lúc đó cũng nghe thấy, con chuột chũi đang đào hang hai chục mét dưới mặt đất cũng nghe thấy và rung lên như con rắn đuôi chuông. Cái âm lượng của giọng Ngài nó mạnh đến cỡ đó.
“Ra là Ricardito Lừng Danh đây sao,” Ngài nói bằng cái giọng bất hủ của Ngài, cái giọng mà tự mình nó là quá đủ để nuốt chửng cùng một lúc không chỉ một mà hai chục thằng Ricardito tôi, và khi còn cách tôi chừng dăm mét Ngài liền đổi dáng đi, mỗi bước của Ngài đâm ra nhún nhảy, chân bước tới thì hơi rùn xuống còn chân kia hơi choãi sang bên, đồng thời eo Ngài uốn, mông Ngài hẩy, tay Ngài đánh sang trái sang phải thuận theo chân nào đang tiến trước, ngực Ngài ưỡn, vai Ngài thẳng, đầu Ngài cao, Ngài như sắp sửa xoay ba vòng điệu nghệ khôn cùng trước mặt tôi và rồi bắt ngay vào một điệu be-bop ngọt và tình đến nỗi có khả năng làm tan ra nước cùng một lúc trái tim của năm mươi triệu đàn bà trong đó có mười lăm triệu bà hay cô lãnh cảm và một triệu ma xơ. Ngài tiến tới thêm hai bước và - có tưởng tượng nổi không! - tôi đứng dậy, giơ một tay ra phía trước đồng thời đánh một hông sang bên cứ như tôi đang sẵn sàng nhảy với Ngài, cứ như nãy giờ tôi ngồi đây chờ là chờ được nhảy với Ngài. Và khi tôi đã đứng ngay trước mặt Ngài hay Ngài đã tới sát tôi đủ để bắt tay nhau, tôi mới nhận thức được trọn vẹn cái sự khác biệt hay chênh lệch giữa Ngài và tôi, lớn đến nỗi tôi chỉ còn nước khóc thét lên: tôi giống như con gà con đang cố hết sức giang cánh ra sao cho đầu mút cánh mình chạm vào được phía dưới ức con gà tây bự nhất trong tất cả các chuồng gà tây trên thế giới. Nói thì nói vậy chớ thật ra thì rốt cuộc Ngài với tôi cũng bắt được tay nhau do Ngài biết rõ cái tình thế cam go đầy thử thách của tôi nên đã chủ động khom người, thò tay xuống rõ thấp làm như đang sắp lượm một thứ gì rơi dưới gầm cái ghế tôi ngồi nãy giờ, để tôi không phải vói tay lên cứ như muốn tóm một cái bong bóng đang bay trên đầu một cách cực trêu ngươi thì mới thộp được tay Ngài, cái tay to đến nỗi tuồng như có thể túm gọn cái đầu tôi như túm quả cam.

Tranh của Francis Bacon
Và tất tật những kẻ có mặt, lũ cận vệ lố nhố bao quanh tứ phía, bé vú bự vẫn đang ở đó gần tôi, cả lũ đều há mồm trố mắt nhìn cảnh đó, tại vì đơn giản đây là một trong những cảnh mà cả đời tụi nó chưa thấy bao giờ: Lãnh tụ của chúng, Lãnh tụ siêu quần bạt chúng và ghê gớm của chúng, bắt tay một thằng vô danh tiểu tốt mặt búng ra sữa từ cái xứ Mỹ Latinh vô danh tiểu tốt nào đó tới như bắt tay thằng bạn thiết từ hồi cả hai còn cởi truồng tắm mưa. Và hai thằng chúng tôi vừa nắm chặt tay nhau vừa đòng đưa hai cái tay nắm chặt nhau ấy từ trái sang phải rồi từ phải sang trái càng lúc càng mạnh càng nhanh, đồng thời hai cặp mông của hai thằng tôi cũng đòng đưa theo hoàn toàn ăn nhịp với hai cái tay, cứ như hai thằng tôi sẵn sàng hay đúng hơn là đã được chuẩn bị sẵn sàng từ hàng trăm năm trước đặng mà tại đây lúc này sẽ làm chính cái trò này mãi mãi không ngừng nghỉ, để coi nếu cứ như vầy không ngừng nghỉ cho tới khi cả hai thằng tôi đứt không thể nào làm tiếp nữa thì phải mất bao lâu. Nhưng nếu có ai trong quý vị lo rằng cái trò này sẽ đi hơi quá đà, kéo hơi quá dài và do đó làm loãng làm chùng làm nhạt đi mọi thứ khác thì xin chớ lo: chính hai thằng tôi là kẻ nhận thức điều đó sớm và rõ và sâu hơn ai hết, thành ra hai thằng tôi thôi cái trò đó đúng một giây trước khi có bất cứ kẻ nào kịp cảm thấy trò này của chúng tôi đã tiến qua khỏi đoạn cao trào của nó và đã bắt đầu trở nên không còn là trò hay nhất trên đời. Hai thằng tôi ngưng trò đó rồi nhìn thẳng nhìn lâu nhìn sâu vô mắt nhau có tới mười giây hay mười một giây và rồi ngửa cổ cả cười. Tự là vì hai thằng tôi đã nhận ra nhau. Nhìn nhau trông mặt cả cười, mấy ai trên đời có thể cùng ta như vậy, mấy khi trên đời ta có cơ duyên gặp người như vậy, thử nghĩ mà coi. Lời rằng tri kỷ trước sau mấy người, một nhà thơ Việt lừng danh viết thế, gần như bất cứ ai là người Việt đều sẽ nhận ra ngay, còn tôi có là người Việt hay không hoàn toàn chả quan trọng tẹo nào, miễn là câu đó tôi biết. Tôi là một thằng oắt con Nam Mỹ chưa học hết lớp năm và theo lẽ thường thì tôi không đời nào có thể biết nhà thơ Việt kia, cũng không thể có khái niệm về chuyện hiếu để hoặc mono no aware có nghĩa là gì nhưng chuyện đó quan trọng tí nào đâu. Tôi nhắc qua như vậy để đừng ai nhầm rằng có lúc nào đó tôi quên mất mình là ai trong khi đang ở trong một thể xác bằng xương thịt nhất định nào đó. Tôi luôn luôn là tôi (cái thằng tôi thật nhất của tôi) ngay cả khi tôi là tôi (tức cái thằng Ricardito) này hơn bao giờ hết, ấy là một sự vi diệu mà chỉ ai đồng đẳng với tôi mới thấu cảm được. Ngài là một người như thế. Ngài sẽ thấu cảm được nếu tôi bộc bạch với Ngài sự thật sâu xa nhất về tôi. Trong mấy giây đầu tiên nhìn thấy tôi, Ngài đã thấu hiểu rằng tôi, cũng như Ngài, có khả năng làm và sẵn sàng làm những gì với các sinh thể quanh tôi. Trong mấy giây đó, Ngài đã kịp tri nhận trọn vẹn cái thực tế rằng, dẫu cho bề ngoài - kích thước, độ sáng láng, mọi thứ - khác nhau một trời một vực song tôi với Ngài giống nhau hơn hai nguyên tử hyđrô giống nhau. Trong mấy giây đó máu tôi chảy trong huyết quản Ngài và máu Ngài chảy trong huyết quản tôi: Ngài biết rằng, dẫu về thực chất tôi là ai đi nữa, song nếu tôi ở vào địa vị Ngài thì tôi sẽ hành động chả khác Ngài, về chi tiết thì có thể khác song về mức độ và về bản chất là một.
Sau đó là màn chào hỏi rất chi là thân hữu, rất chi là chịu chơi giữa chúng tôi.
“Mày ngon đó, nhóc,” Ngài nói.
“Ông cũng ngon đó,” tôi nói.
Ngài nhìn sâu vào mắt tôi, trong lúc tay Ngài siết chặt tay tôi, thật chả khác nào càng của con cua bể tám cân siết chặt con tép. Lẽ ra tôi đã hét lên đến độ mồ ma ba má tôi (tôi nào có biết họ bao giờ đâu) cũng phải đội mồ sống dậy, nhưng tôi không hét vì tôi biết có cách hay hơn thế nhiều, đó là nhếch nửa miệng giống như cười tuy rằng làm vậy thì cũng có thể trông như mếu nhưng cái chính là cách đó khó hơn nhiều lần so với hét lên mà tôi đây thì cái gì khó hơn tôi mới thích làm, càng khó càng thích làm, đó là bản tính của tôi.
“Tao thấy rõ là Don Pepito không có ngu,” Ngài nói, cười toe toét, vẫn siết chặt tay tôi làm như tay tôi toàn bằng kim loại và Ngài muốn thử xem liệu tay mình có đủ mạnh để làm cho cái bàn tay kim loại này nát ra thành vụn kim loại hay không.
“Ông cũng không ngu, nếu không thì tôi đã không ở đây,” tôi nói.
Ngài nới lỏng cú siết một chút, song không buông cổ tay tôi.
“Kể tao nghe, nhóc, mày sẽ làm ba việc gì nếu mày là tao chỉ trong một ngày?”
“Một việc thôi, cần gì ba.”
“Việc gì?”
“Làm sao để bảo đảm chắc chắn rằng đó là ngày cuối cùng của ông.”
Ngài chậm rãi toét miệng cười.
“Mày tin chắc mày làm được.”
“Don Pepito và ông đều không ngu, chuyện đó chắc cũng phải có ích gì chớ.”
“Hình như tao không chỉ không ngu,” vẫn nắm tay tôi, vẫn cười toét, Ngài nói.
“Tôi khoái ông là vì thế,” tôi nói.
Nụ cười của Ngài đã trở nên mỏng hơn một chút bởi Ngài đang bận đào sâu hơn vào trong mắt tôi. Sau khoảng hai giây như thế, Ngài nói:
“Nhưng mày không muốn giống tao.”
“Không,” tôi nói.
“Mày không muốn là tao,” Ngài nói.
“Không muốn và không có khả năng là hai chuyện khác nhau,” tôi nói.
“Mày có nghĩ mày có những khả năng mà tao không bao giờ có thể biết không?”
“Ông có tin rằng Thượng đế biết tất tật mọi điều về cái thế giới do ông ta tạo ra không?”
“Rốt cuộc mày là ai hả nhóc?” Khi Ngài hỏi thế, cú siết của Ngài lại mạnh lên như cũ (làm tôi đột ngột muốn dùng tay kia của mình tống cho một quả mà Ngài sẽ nhớ suốt đời vào một trong hai quả trứng của Ngài. Ngài quá bự quá cao nên hai cái quả đó, bự chảng như hai trái cam sành, nằm vừa gọn trong tầm vươn của nắm đấm tôi).
Ngài hay ở cái chỗ này: Ngài thừa khả năng để cho, chỉ sau bảy giây đầu tiên gặp Ngài, ta đã thấy vừa sợ Ngài vừa khoái Ngài. Trong vòng một ngày Ngài cho tôi thấy tất tật những gì tôi cần biết về lũ dân “trời đánh thánh vật” và “tội nghiệp” của Ngài, những gì Ngài có thể và đang làm với họ và những gì mà trên lý thuyết họ có thể làm với Ngài. “Cưỡi dân là cưỡi cọp, Ngài nói. Vấn đề là phải tìm được con cọp khỏe nhất đồng thời tham nhất, ngu nhất, hèn nhất. Nếu không có sẵn một con cọp như thế, anh phải tạo ra nó.” Nói đoạn Ngài cười tủm và nháy tôi, giống như thằng oắt con đang tiết lộ với thằng bạn nối khố điều bí mật tuyệt cú mèo của nó là có thể nấp ở đâu để xem chị hàng xóm vú to mông nẩy tắm truồng.
Buổi sáng Ngài dẫn tôi đến một trong hơn một trăm trại trẻ mồ côi do đích thân Ngài bỏ tiền túi (chứ không lấy từ công quỹ) ra tài trợ, phát quà cho chúng, chụp ảnh với chúng, bón đồ ăn cho vài đứa, rửa đít cho vài đứa, cầm tay chỉ vài đứa vẽ, nghe một đứa chơi đàn, ru vài đứa ngủ, dỗ một đứa nín (tất cả đều được quay phim chụp hình). Chập tối Ngài đưa tôi đến một trong nhiều dinh cơ của Ngài (rất xa thủ đô, đi bằng chuyên cơ của Ngài, mất gần ba tiếng mới tới), ở đó, với tư cách quan sát viên, tôi xem Ngài chơi một ả (một trong những ả đờn bà ngon nhất tôi từng thấy), ả là mẹ của một đứa nhóc mà rồi sẽ mồ côi mẹ nếu như ả không biết chỗ của mình, nếu ả ngu mà không hiểu nổi rằng ả sẽ không có cách nào khác ngoài phục tùng Ngài, và, cái này thì không phải Ngài nói trực tiếp với tôi mà là thư ký của Ngài bảo nhỏ cho tôi, trong số đám trẻ mồ côi ở gần trăm cái trại trẻ mồ côi kia có những đứa lẽ ra không bị mồ côi, bao nhiêu đứa như thế và cụ thể những đứa nào, không ai biết, Ngài thì đương nhiên không biết.

Trại trẻ mồ côi, theo lời Ngài nói, là nơi Ngài đến khi Ngài cảm thấy cần một sự thanh lọc tâm hồn, bằng an trong tâm hồn. Tôi biết rằng tôi hiểu điều đó sâu hơn hầu hết những người vẫn cho mình hiểu nó. Tôi nhìn Ngài và qua nụ cười của tôi Ngài thấy rõ là tôi hiểu Ngài. Tôi quan sát Ngài chơi một ả đàn bà như thế rồi sau đó tôi quan sát Ngài xem hai mươi cận vệ của Ngài chơi cũng ả đàn bà ấy thì tôi được dịp chiêm ngưỡng cái con giống, cái cây hàng, cái khẩu thần công lừng danh thiên hạ vô tiền khoáng hậu của Ngài, cái cảnh mà rồi sẽ khắc sâu vĩnh viễn vào các giấc mơ của tôi như một dấu triện bằng sắt nung làm cho hồn tôi cháy sém mỡ của thần kinh tôi xèo xèo sôi réo, cái cảnh bàn tay khổng lồ của Ngài nắm chặt quanh cái thằng con vĩ đại của Ngài mà xọc khốc liệt hàng giờ không ngơi nghỉ, hàng chục tiếng đồng hồ không ngơi nghỉ.  Và, sau một đêm dài đến nỗi tưởng chừng như sáng ra tôi sẽ không còn gặp bất cứ ai quen biết bởi vì trong cái đêm ấy họ đã có thừa thời gian để già khọm đi và chết hết rồi, Ngài tới đỉnh, và cái thứ trắng và đặc như sữa chua của Ngài bắn lên cao không dưới bốn mét, tôi biết chắc như vậy là vì tôi đã cẩn thận hỏi Ngài về chiều cao của trần căn phòng nơi Ngài và tôi ngồi, tôi ngồi ngước mắt nhìn theo những giọt bắn ra đầu tiên, đi tiên phong và do đó tiến xa hơn hết và oai hùng hơn hết của Ngài bén tới những điểm dưới cùng của ngọn đèn chùm kếch sù lủng lẳng giữa trần nhà, nom như vài bợt tuyết đầu mùa chỉ có điều là một thứ tuyết hơi bị nhão và không phải từ trên rơi xuống mà từ dưới phi lên. Và nếu có ai cảm thấy tôi mô tả như thế này là xạo quá thì vâng, tôi thừa nhận là trong những lời kể trên đây của tôi có một phần nhất định là do tôi phịa, nhưng chả phải là trong rất nhiều trường hợp một câu chuyện phịa là cách tốt nhất cho người ta nhìn rõ được sự thật hay buộc phải nhìn thẳng vào sự thật hay sao. Ai nghĩ khác thì tùy, tôi, tôi cho rằng Ngài bắn sữa của Ngài lên cao hơn bốn mét hay cao mét rưỡi thì cũng chả khác gì nhau, điều duy nhất quan trọng là cái cú bắn ấy, có thấy tận mắt thì mới có thể tin là nó có thật trên đời, và một khi đã biết nó có thật trên đời thì khái niệm của chúng ta về thế giới và sự sống sẽ khác đi một chút, kẻ đã thấy nó và kẻ chưa hề thấy nó là không bao giờ có thể so với nhau.
(còn tiếp)



Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2018

A Bank Raid: From a Poet’s Viewpoint

Dưới đây là phần đầu truyện “Tập kích nhà băng: Quan điểm của nhà thơ” của tôi (đã in trong tập “Những gặp gỡ không thể có”), do tôi tự dịch ra tiếng Anh, với sự hỗ trợ lúc ban đầu của một người bạn.

My own translation of “Tập kích nhà băng: Quan điểm của nhà thơ”, a story from my recently published collection of stories with the title “Những gặp gỡ không thể có” (“Impossible Encounters”).

Lý tưởng nhất là bản dịch này được hiệu đính/nhuận sắc bởi một người mà tiếng Anh là bản ngữ, cố nhiên. Và càng lý tưởng hơn nếu tôi tìm được một người dịch “lý tưởng” của mình, để không phải tự dịch. 

--------------------

If I were to plan to rob one of America’s top banks, I would recruit a gang consisting solely of poets. The operation would certainly fail, but it would be beautiful. 
- Roberto Bolaño

Our bank robbery gang consists of six. We are poets. Six poets. Six guys who consider themselves poets. We decide to rob a bank. We know we are doing an insane thing. Something people deem insane. We know we would definitely fail or almost fail. And we do it. As if we all silently know it is our fate.

We never said anything like that or even remotely like that because we spent most of our time laughing, cracking jokes, singing, reciting poems, or, all the more so toward the end, screaming. Not all of us screamed, of course. Pedro Salinas is one who never screams or almost so. Shin is another one. And Reza. The other three all scream, more or less. And it is not always because of anger or fear or excitement. Sometimes, one of us would scream just to hear the sounds reverberating against the high vaulted ceilings or the undulated walls of the bank’s main hall. We didn’t plan it ahead, but when one of us started screaming then the rest immediately or almost instantly caught on. We usually don’t misread each other’s mind at times like that.

Antonín Neruda listened until the crescendoing and reverberating echoes had faded out or seemed to fade out in the air and become fully absorbed in his breaths and ours, then, in perfectly subdued manner, recalled the acoustics of Albert Hall, London. He sounded as if he had been there hundreds of times even though I knew as sure as hell he had never stepped foot in Albert Hall. He is the tallest of us. That is the most certain thing we know about him, apart from the fact that I know he has never been to Albert Hall or London. And apart from the fact that I’m dead certain he is actually not Czech, not even half. At most, one of his four grandparents has Czech blood in his or her veins. Or maybe Slovakian. Somebody has told me in private that Antonin speaks a Czech tongue resembling that of a Hungarian man who is married to a Czech wife but has never been to Czech Republic. A lame or stunted Czech, so I was told. Anyway, that’s something we cannot know for sure, nor do we care about. None of us understands Czech, which means he never speaks Czech to us. He speaks French, English, German, and Italian, all of them hopelessly badly, so badly that had Hugo or Shakespeare or Goethe or Dante been here to hear him speak they would have clobbered his head with a hammer to shut him up, but we sort of understand what he means or else vaguely grasp perhaps half of it anyway and with that things go on their way smoothly.

Instead he sings, in all four languages, and in such a cursedly, outrageously beautiful voice that hushes our hearts and paralyzes our bodies anytime he wants. He never admits he likes or worships Dvorák (‘worship’ must be the word we need), but I suspect this is the reason why he picked the name Antonín. His (adopted) surname Neruda must be a token of comradeship with Chile, a solidarity ten generations too late with a Chile from the Allende era, although I honestly opine that for old man Pablo alone it is not that late. The truth is, whatever our dear friend Roberto might think, I see Antonín has multiple sound reasons to christen himself Neruda. He dreads cockroaches and mice (a giant like him, think of it!) and he loves to sleep with Pedro Salinas.

Pedro Salinas doesn’t love to sleep with Antonín Neruda, with or without clothes. He only likes to sleep with Takanobori Shin. Shin is our beloved prince, our enchanted princess. We all wanted to sleep with Shin, in the beginning at least. I too have wanted to share a bed with him, though I’m not sure what I would do with Shin in the limbo between sleeps and amidst the dark. Only men with irreparably damaged brain would not be hypnotized by his milky white skin and pearly pink lips. He emits a pure aroma of distilled water and also, from a hidden depth within, a faint lactic scent like a mother’s milk.



Shin and Pedro Salinas are responsible for knocking down and controlling the bank security guards at the front hall. Shin would give his nod to nothing other than his using only knives - many of them, with different shapes and sizes. Even after he has compromised and agreed to carry a Magnus 84 with folded stock, Shin still keeps his knives with him, three of them, or maybe four as far as I know. He can hide them in places on his body where no one can ever think of. The first time Shin actually used his knife, it was as if we‘ve just seen a lightning strike, a small-scale version of a lightning right in front of our eyes, a sudden and blinding apparition that comes from another dimension, a projection from another universe where that lightning is life itself crashing against death. Shin did not kill that drunkard at the time, just made him bleed a bit with a technique that seems to exist only in legends or bogus tales. It was enough to make us realize, utterly awestruck, how we have had wrong ideas all along about the actual depth of the darkness inside Shin.

Reza would not stop reminding us about how we must not use guns, knives, or anything, including our bodies, as weapons, even when our lives are at risk. Usually we would just laugh at him. But we always make fun of too many people or things (the people or things that are beyond our jokes do exist, only that there are too few of them) that it’s hard to know how Reza takes our jokes and our laughter. Sometimes Reza understands us more than we do ourselves, while at other times he would understand us as much as a light pole does. He voluntarily takes on the driving part and we know all too well how impossible it is to assign him anything else. He doesn’t want to see with his own eyes the people whom we are to scare (and we are saying to scare, nothing more). Reza, a fella who can clamp his mouth shut for three or four days straight after having seen a stray dog being taunted and beaten to death by a bunch of hooligans for fun. Robbing a bank is not similar to beating a dog to death for fun, of course, yet I do sometimes think or have an inkling that Reza joins us just to compensate for that dead dog.

Reza is the second tallest among us, just nearly half a head shorter than Antonin. Whenever he goes with his Caucasus or Ottoman or Persian cap on his head, however, he seems to hover in the air, his feet some twenty or thirty centimeters above the floor, and from that height he looks down on us all. Not all Muslims donning a similar fez give us a similar impression, of course. To put it more exactly, I doubt there exists another Muslim like Reza. And I know I will never be able to say whether only a Muslim like him can be such a friend and a companion of ours. There are even times where it seems to me he’s none other than the sole follower of a unique Islam order, in the same veins as Sufi but not Sufi, and should he perish, this order would surely fall into extinction.

Far from being a bogus polyglot like Antonin Neruda, Reza is a genuine polyglot, with the kind of linguistic power that befits no one less than gods or devils. He’s thoroughly competent in Arabic (Standard Arabic and Egyptian Arabic, Tunisian Arabic, Moroccan Arabic, and Levantine Arabic), Persian, Turkish, Hindi, Bengali, Japanese (including Osaka dialect), Korean, Mandarin, Cantonese, Thai, Vietnamese, Afrikaans, English, French, Spanish, Russian, German, Latin, on top on that he possesses advanced reading skills in a more or less similar quantity of other languages, although as far as I know he’d never set foot in the countries where those languages are spoken, and although in some way or other he teaches us or reminds us that the language most difficult to learn and use is silence.

Pedro Salinas is the only among us who dislikes or does not hide his disliking Reza. He would show a malign pleasure (or at least one that reminds of a malign kid) whenever he succeeds or thinks he succeeds in putting Reza to shame. In dire contrast to Reza, Pedro possesses almost no language other than his native Spanish, if you do not take into account a couple of English words enough for him to swear or to know somebody is swearing at him. It is also possible that his English is better than he makes it to appear. This, however, nobody can know for sure.

Pedro is our strongman. He possesses the physique of a born wrestler. Quite a few whores’ ribs have been broken by him, not because he’s inclined towards sadism but because he’s too fervent. His is the sort of poetry forged with a hammer, rough-hewn with a chisel, or wrought with a sledgehammer. Contrary to what many could think, he never uses drug, for the only reason that it weakens him. I like to talk with him, listening to how his sort of Spanish hits me like heavy punches even though that’s not always the case. A wrinkled, purple, long, deep scar runs diagonally across one of his shoulders.

He has a weakness for white lilies and a huge crush for my (ex-)girlfriend whom he’s never met. He saw her photograph in my wallet and from then on would not refrain from occasionally digging from me trifle details about her, based on which he builds, bit after bit, his own version of her and the world inhabited by her. When we had the first discussion about who was to do what in this bankrobbing mission, the task of intimidating the front desk employees with guns went to Pedro in an almost undisputable manner. His deep bass voice, “blasting like a firefighter siren, resonant like a thunder”, would render a normal person petrified before a gun muzzle is directed towards his/her chest. Perhaps this is one reason why he would not scream like hell as some of us did when in the bank hall: the echoes in his head of his own voice are more than sufficient for him.

(to be continued)

@Tran Tien Cao Dang

Thứ Năm, 23 tháng 8, 2018

Nghĩ về nghề.

Văn chương cũng giống như cuộc đời: ở đó, có khi anh cần cực nhẹ, có khi anh cần cực mạnh.

-------------

“Take mankind in mass, and for the most part, they seem a mob of unnecessary duplicates.”
“Gộp chung loài người lại thì, hầu hết bọn họ dường như là một lũ những bản sao không cần thiết.”
- Hermann Melville
==>; Làm nghệ thuật là một trong những cách để bản thân ta không phải là một trong những “bản sao không cần thiết” (unnecessary duplicate) đó.



-------------

Văn chương/nghệ thuật không thể thay đổi thế giới. Tuy nhiên, nó có thể thay đổi một số người, và những người này có thể sẽ góp phần thay đổi thế giới.

--------------

Nhà văn lớn không phải là người viết như đang chơi một cuộc chơi, kể cả dù y là tay chơi giỏi nhất. Nhà văn lớn không phải là người viết như đang thực thi trách nhiệm của một con người trước thế giới, kể cả dù y là người thực thi hữu hiệu và mẫn cán nhất. Nhà văn lớn là người viết như đang chơi một cuộc chơi và đồng thời đang thực thi trách nhiệm của một con người trước thế giới, cả hai đều gần nhất với hoàn hảo trong chừng mực có thể.

Thứ Năm, 9 tháng 8, 2018

Nghĩ về nghề.

Có hàng trăm nhà văn tài ba mà bạn không thể và không cần đọc, cũng như có hàng vạn người đặc sắc mà bạn không thể và không cần gặp, hàng ngàn nơi hay ho mà bạn không thể và không cần đến. Bạn chỉ cần đọc một số nhà văn có hạn, gặp một số người có hạn và đến một số nơi có hạn. Quan trọng không phải số lượng; quan trọng là chất lượng và chiều sâu của các nhà văn/con người/nơi chốn đó, của sự tương giao hay cộng thông giữa bạn và các nhà văn ấy, người ấy, chốn ấy.

-----------

Ai đó nói rằng có thể chia nhà văn thành hai loại: loại viết cho những người đọc đã có sẵn, và loại tạo ra những người đọc cho riêng mình. 

Tôi thuộc loại thứ hai.

Cố nhiên, "tạo ra" ở đây chỉ là một cách nói. Nó không có nghĩa là tạo ra từ chỗ không có gì. Văn của những người viết của tôi là nhắm tới một số người đọc đang có trong thực tại, tuy nhiên họ chỉ mới là người đọc "tiềm năng", là "nguyên liệu thô" để từ đó tạo ra những người đọc cần có. Để họ trở thành người đọc cần có cho loại văn này, cần xảy ra một quá trình chuyển hóa. Quá trình chuyển hóa này sẽ thành công nếu 1) bản thân tác phẩm đủ giàu có và đủ mạnh; và 2) nếu bản thân những người đọc tiềm năng này có đủ sự cởi mở và quả cảm cần thiết để dấn vào và kinh qua sự chuyển hóa này.

Tranh của Joseph Zbukvic
----------

Một điều hiển nhiên và đơn giản: Nếu bạn viết không phải nhằm có được bất cứ cái gì, không phải để chạy theo bất cứ cái gì; không phải nhằm làm hài lòng riêng một ai; thì sự viết của bạn là trong một cõi phi thời gian. Tác phẩm của bạn, cái tạo vật nảy sinh từ bên trong bạn, được bạn cưu mang, lớn lên cùng với bạn, nó sẽ hình thành trọn vẹn và ra đời khi nó phải ra đời, theo quy luật của riêng nó.

Để ra đời được một tác phẩm nghệ thuật đúng nghĩa, một năm hay hai mươi năm chẳng có gì khác nhau: đằng nào thì cũng chỉ là một chặng thời gian. 

-----------

Ngẫm hai câu này:

"Nếu một con lừa nhìn vào một tấm gương, thì không thể có một thiên sứ từ trong gương nhìn ra được."
(Ngạn ngữ cổ)

"A great film/book gives back to you whatever it is you invest to it."
"Bạn đầu tư cái gì vào một bộ phim/cuốn sách lớn thì nó sẽ trao lại cho bằng chừng nấy."
(không nhớ của ai)

==> Một bộ phim/cuốn sách lớn giống như một tấm gương mà ẩn trong đó là một "thiên sứ". Thiên sứ này chỉ hiện ra khi người đến soi gương là một người cởi mở, thành tâm, không định kiến, vô ngã.

-----------

Tự dịch tác phẩm của mình (nếu ta thu xếp được thời gian) là một việc đầy thử thách, cần thiết và đẹp. Nếu trong khi làm việc ta đừng quên rằng, khác với khi dịch tác phẩm của người khác, dịch tác phẩm của chính mình, ta có quyền thực sự viết lại nó theo nghĩa đen, làm nó gần với ý ta muốn hơn, bằng một hệ phương tiện khác, trong một hình hài khác, với một tông giọng khác, vừa là tác phẩm gốc vừa không phải là nó, có thể không hoàn thiện hơn, nhưng khác biệt, có vẻ đẹp và sức mạnh riêng của mình.

-----------

Những dòng sau đây cũng có thể dùng để nói về tôi:

“[I write] in order to become greater than I am, for I am so little. I write because I have nothing better to do in this world: I am superfluous and last in the world of men. I write because I am desperate and weary. I can no longer bear the routine of my existence and, were it not for the constant novelty of writing, I should die symbolically each day. [...] Now I only wish to possess what might have been but never was.”

“Tôi viết để trở nên lớn hơn tôi trong thực tại, vì tôi quá nhỏ bé. Tôi viết vì tôi không có gì hay hơn để làm trên thế giới này: tôi thừa thãi và hạng bét trong thế giới người. Tôi viết vì tôi kiệt quệ và tuyệt vọng. Tôi không chịu nổi nữa sự đều đều lặp lại trong cuộc sống của tôi, và giá không có sự tươi mới thường xuyên của việc viết văn thì ngày nào tôi cũng chết theo nghĩa tượng trưng. [...] Giờ tôi chỉ muốn sở hữu những gì lẽ ra đã có thể có nhưng chưa bao giờ có.”

 - Clarice Lispector

Thứ Ba, 17 tháng 7, 2018

Về sự viết.

"Cospolist Nổi Loạn" của tôi: một dự đồ tiểu thuyết lớn hơn nhiều - về độ dày, quy mô, trữ lượng, tham vọng... - so với "Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian".

 Tôi đã dành cho nó nhiều năm - từ đầu năm 2006 (khi tôi bắt đầu thực sự viết như một nhà văn) cho tới cuối năm 2010 - khi tôi tạm ngừng "Cospolist..." để dành trọn thời gian và tâm trí cho "Life Navigator..." mà những dòng/hình ảnh đầu đến với tôi một cách bất ngờ vào giữa năm 2010.

Trong một buổi tọa đàm giữa Thuận, Nguyễn Thúy Hằng và tôi về sự viết.

Quay trở lại với "Cospolist..." và hoàn thành nó là một quá trình không dễ dàng. Có một thời gian tương đối dài - từ 2014 cho đến 2016 - tôi cảm thấy một thứ lực cản nào đó khó lý giải được, mà đến giờ tôi mới có thể tạm gọi tên nó ra: đó là sự mất tự tin, do cảm thấy bản thân mình, đến lúc này, vẫn chưa thực sự sẵn sàng cho tầm cỡ mà "Cospolist Nổi Loạn" cần và xứng đáng có.

Giờ thì, tôi vẫn đang tiếp tục tiến lên cùng "Cospolist...", thận trọng, từng bước một, không kỳ vọng, không vội vã. Tôi có lẽ như người leo núi, sau một cuộc tạm dừng khá lâu ở lưng chừng núi vì kiệt sức hoặc vì lý do nào đó, giờ đây, hiểu núi hơn và hiểu mình hơn, lại tiếp tục leo, bình tĩnh, vui với mỗi bước lên được cao hơn, đồng thời đủ khiêm nhường để biết rằng một lúc nào đó có thể mình lại sẽ phải dừng lại. Để rồi lại tiếp tục, có thể.

Thứ Ba, 3 tháng 7, 2018

Trần Tiễn Cao Đăng: Tôi là thành viên bộ tộc những người 'đau đời'

Bài đã đăng trên zing.vn ngày 23/06/2018
https://news.zing.vn/tran-tien-cao-dang-toi-la-thanh-vien-bo-toc-nhung-nguoi-dau-doi-post853913.html

--------------------------

Bốn truyện ngắn trong “Những gặp gỡ không thể có” đều có dung lượng khá dài so với mặt bằng truyện ngắn thông thường và đều có thể phát triển tiếp thành tiểu thuyết. Như vậy, nếu không xét đến yếu tố dung lượng, theo anh điều gì là điểm khác biệt giữa truyện ngắn và tiểu thuyết?

Nếu nhất định cần một sự phân định về hình thức các truyện này thì tôi nghĩ chúng là truyện vừa (novella) chứ không phải truyện ngắn.

Nhà văn đôi khi có thể biết, trước hoặc trong khi viết, rằng ý tưởng đang có trong đầu mình là phù hợp với một truyện ngắn, truyện vừa hay tiểu thuyết. Tuy nhiên, ở một số trường hợp khác thì không. Chẳng hạn, các tiểu thuyết “Cuộc săn cừu hoang” và “Biên niên ký Chim vặn dây cót” của Murakami là được triển khai từ những truyện ngắn trước đó. Ta có thể hình dung rằng, một thời gian sau khi viết các truyện ngắn đó, có thể nhiều năm, nhà văn “đột nhiên” nhận ra rằng ý tưởng ấy, câu chuyện ấy có tiềm năng của một tiểu thuyết. Mặt khác, có những truyện vừa toàn bích, tự nó là quá đủ, chẳng hạn “Hóa thân” của Kafka. Hẳn bản thân tác giả biết hơn ai hết rằng không cần triển khai nó thành tiểu thuyết.

Trên thực tế, ranh giới giữa truyện ngắn, truyện vừa và tiểu thuyết không phải bao giờ cũng rõ ràng, và không phải là điều trọng yếu.

Được biết anh rất yêu thích nghệ thuật múa, và cả âm nhạc, điện ảnh, vậy khi viết tập truyện ngắn “Những gặp gỡ không thể có”, ba bộ môn nghệ thuật ấy có tác động gì đến quá trình sáng tác của anh không, có gợi mở những phương thức viết mới cho anh không?

Tôi yêu mọi cái đẹp đích thực dưới mọi dạng thức, do tự nhiên hoặc con người tạo ra. Những cái đẹp trong các thể loại nghệ thuật hoặc loại hình hoạt động khác của con người đều có thể tác động đến văn của tôi, bằng cách này hay cách khác. Chẳng hạn, “Chika Choắt”, một chương trong “Life Navigator…”, hiển nhiên là “chịu ơn” từ cái đẹp của võ thuật. Về việc “gợi mở những phương thức viết mới” như bạn gợi ý, bản thân tôi không rõ. Cũng có thể như vậy trong tương lai. Một trong những niềm vui không gì thay được của việc sáng tạo là bản thân ta, trong phần lớn trường hợp, không thể mường tượng trước một cách chính xác hình hài cái thành quả sau cùng của mình.

Có phải “Những gặp gỡ không thể có” là một tiền truyện hay hậu truyện cho “Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian”, vì ở truyện ngắn cuối cùng “Tập kích nhà băng: Quan điểm của nhà thơ”, cho người đọc cảm giác nhân vật người phụ nữ được tôi mời kể chuyện chính là “nàng” trong cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh?

Thật ra, bốn truyện trong tập này được viết vào những thời gian khác nhau - có truyện viết cùng lúc với “Life Navigator…”, có truyện trước đó, có truyện ít lâu sau đó. Nhưng bạn đã có một nhận xét tinh tế. Bên trong các truyện này và trong “Life Navigator…” có một âm vọng chung, một cái nền chung nào đó, như thể tất cả chúng là những tiểu truyện bên trong một đại truyện mà cho đến giờ (và có thể sẽ mãi mãi) ẩn kín, chỉ phát lộ mỗi lúc một phần. Theo nghĩa này, rất có thể người phụ nữ được mời kể chuyện kia chính là “nàng” trong “Life Navigator…”, mặc dù trên thực tế “Tập kích nhà băng…” được hoàn thành sau “Life Navigator…” và tôi không có chủ ý như thế khi viết.

Trong tác phẩm của anh, ngoài đề tài tận thế, có thể thấy một đề tài cũng thường xuyên xuất hiện là về động vật, cụ thể hơn là việc động vật bị ngược đãi. Anh bắt đầu nuôi dưỡng tình yêu, sự quan tâm dành cho động vật từ khi nào và vì sao anh cảm thấy bản thân có trách nhiệm phải lên tiếng về việc bạo hành động vật thông qua tác phẩm của mình?

Tôi yêu thương loài vật - chó, mèo, chim… - từ nhỏ, như một tình yêu thương hoàn toàn tự nhiên. Tuy nhiên, chỉ đến khoảng 10-15 năm trở lại đây, tôi mới ngày càng bắt đầu thường xuyên suy nghĩ về cái gọi là “nhân tính” của loài người nói chung một khi chúng ta vẫn đang tiếp tục cư xử với mọi loài khác với sự kiêu ngạo và vô cảm như trong hiện tại.



Câu văn của anh thường rất dài và anh miêu tả chi tiết rất kĩ, anh có sợ sự tập trung quá nhiều vào chi tiết sẽ khiến người đọc bị lạc vào mê cung chữ nghĩa của anh và khó nắm bắt nội dung, tinh thần chính yếu của câu chuyện không? Hay chính sự lạc lõng giữa bộn bề chi tiết ấy là cảm giác anh có chủ đích đem lại cho người đọc khi sáng tác?

Viết câu văn dài, tập trung vào chi tiết không phải là lựa chọn của tôi - điều đó đến một cách tự nhiên. Mặt khác, tôi cũng không muốn tự giam mình trong lối viết đó. Ở một số truyện khác, tôi dùng chủ yếu những câu ngắn - tuy nhiên, điều đó là do bản thân nội dung câu chuyện quyết định.

Tuy vậy, đúng là câu dài hợp với tạng của tôi hơn. Đó có lẽ là do một đặc tính nào đó của phương thức tư duy, hay đúng hơn là hình thái của tâm thức. Không phải vô cớ mà đa phần các nhà văn tôi đặc biệt yêu thích là những người “chuyên trị” câu dài, như José Saramago, Laszlo Krasznahorkai, Bohumil Hrabal, Thomas Bernhard. Cái chung của những người này: họ không chỉ là nhà văn tài hoa, trí thức đích thực, mà còn là những tâm hồn lớn thường xuyên bận tâm đến những vấn đề lớn của loài người, của sự tồn tại - những người thường xuyên mang một nỗi lo âu lớn (Angst) nào đó về thế giới. Tôi là một thành viên trong bộ tộc những người “đau đời” này.

Bổ sung một chút: Tôi không nói rằng câu văn dài “hay” hơn hoặc “cao” hơn câu văn ngắn. Mỗi loại câu, mỗi phương thức kể chuyện đều có sức mạnh của nó, vẻ đẹp của nó.

Cái đẹp xuất hiện trong “Những gặp gỡ không thể” có hầu hết đều bị hủy diệt, vì sao anh thường chọn những kết thúc rất khốc liệt cho truyện của mình như thế? Phải chăng anh đã mất niềm tin vào việc con người ngày nay biết cách giữ gìn, nâng niu cái đẹp?

Một người bạn của tôi, là người có khả năng thẩm định nghệ thuật tinh tế mà tôi quý trọng, có nhận xét rằng truyện của tôi thường khởi đầu với một sự êm đềm, bình an, như thể sẽ không có chuyện gì xảy ra, nhưng, nếu tinh ý, người đọc có thể dần dần nhận ra một dòng chảy ngầm ở bên dưới báo hiệu sự bất an nào đó. Và rồi, ở một thời điểm tưởng như bất ngờ, bất an phát lộ và bùng ra. Theo anh ấy, đó là phong cách riêng của tôi.

Cũng có thể đúng như anh ấy nói, nhưng nếu vậy, tôi nghĩ nguyên nhân không đơn giản là mất niềm tin vào việc con người biết giữ gìn cái đẹp. Mất niềm tin vào việc con người có khả năng giữ gìn giới tự nhiên đã sinh ra mình và kể cả giữ gìn chính mình, đó mới là dòng chảy ngầm lớn và sâu nhất trong mọi thứ tôi viết.

Không phải không có niềm hy vọng nào vào con người. Chỉ là, tôi không tin vào loài người với tư cách như một toàn thể, mà chỉ tin vào một số ít con người.

Những tác phẩm của anh đều có chất fantasy, sci-fi, hiện thực huyền ảo và câu chuyện thường diễn ra ở thì tương lai giả định. Các nhân tố này tạo ra nét riêng trong sáng tác của anh. Đây có phải là phong cách anh sẽ theo đuổi lâu dài trong thời gian sắp tới hay anh sẽ có những điều chỉnh, thay đổi, chẳng hạn một tác phẩm hiện thực đặt trong bối cảnh hiện tại?

Bên cạnh nhiều thể loại khác, tôi thích văn chương và phim ảnh scifi từ nhỏ. Hồi những năm đầu đại học, tôi viết một tiểu thuyết khoa học viễn tưởng mà tôi đặt cái nhan đề đầy tham vọng là “Vũ trụ loài người”. Dự đồ đó sớm bị bỏ dở, nhưng qua đó tôi biết mình sẽ đi con đường nào.

Mặt khác, tôi không phải típ nhà văn scifi “thuần túy”, theo nghĩa là tôi không bận tâm nhiều đến các vấn đề kỹ thuật, những phát kiến khoa học hoặc phát minh công nghệ trong tương lai. Điều tôi bận tâm hơn là số phận của con người cá nhân trong tương lai xa; vì vậy, trong truyện của tôi, scifi là một thành tố quan trọng thì đúng hơn là một đặc trưng mang tính thể loại.

Vũ Lập Nhật thực hiện