Thứ Tư, 24 tháng 12, 2025

Tập kích nhà băng: Quan điểm của nhà thơ (Phần 1)

“Nếu tôi tiến hành cướp một trong những nhà băng hàng đầu nước Mỹ, tôi sẽ chiêu mộ một đội gồm toàn nhà thơ. Vụ đó chắc chắn sẽ thất bại, nhưng mà nó sẽ đẹp.”

Roberto Bolaño

Băng cướp nhà băng chúng tôi gồm có sáu người. Chúng tôi là nhà thơ. Sáu nhà thơ. Sáu kẻ tự coi mình là nhà thơ. Chúng tôi quyết định cướp nhà băng. Chúng tôi biết mình đang làm chuyện rồ dại. Chuyện thiên hạ coi là rồ dại. Chúng tôi biết mình cầm chắc sẽ thất bại hoặc gần như thế. Chúng tôi biết và vẫn làm. Như thể chúng tôi còn biết đấy là định mệnh của mình dù không ai nói ra.

Chúng tôi không nói ra điều gì như thế hoặc hao hao như thế bởi vì hầu hết thời gian chúng tôi còn bận cười, bỡn cợt, pha trò, hát, ngâm thơ hoặc là - càng về sau càng thế - bận hét. Dĩ nhiên không phải thằng nào trong chúng tôi cũng hét. Pedro Salinas là một thằng không lúc nào hét hoặc gần như thế. Shin là hai. Thứ ba là Reza. Ba thằng còn lại có hét, nhiều hoặc ít. Và không phải khi nào cũng hét vì tức giận hoặc vì sợ hoặc vì hứng chí dù phần lớn là thế. Có lúc một thằng trong chúng tôi hét chỉ để nghe âm thanh cộng hưởng của tiếng hét được tạo ra từ trần cao có dạng vòm và các bức tường uốn cong của sảnh chính nhà băng. Chúng tôi không hẹn trước sẽ làm thế, nhưng khi thằng ấy làm vậy thì tất cả các thằng khác đều lập tức hoặc gần như lập tức hiểu ý hắn. Chúng tôi thường không hiểu sai ý nhau những lúc như vậy.

Antonín Neruda lắng nghe cho đến khi âm thanh được khuếch đại lớn và kéo dài kia đã dứt hoặc có vẻ đã dứt hẳn trong không khí nhưng đã chan hòa hoàn toàn vào hơi thở hắn và hơi thở chúng tôi, rồi mới từ tốn nhắc tới khả năng cộng hưởng âm của thính phòng Albert Hall, Luân Đôn. Hắn nói cứ như hắn đã ở đó hàng trăm lần mặc dù tôi biết chắc hắn chưa ở đó lần nào. Hắn là thằng cao nhất trong chúng tôi. Đó là điều chắc chắn nhất chúng tôi biết về hắn. Ngoài chuyện tôi biết chắc hắn chưa bao giờ đến Albert Hall, chưa bao giờ tới Luân Đôn. Và ngoài chuyện tôi biết gần như chắc chắn thật ra hắn không phải người Tiệp, một nửa cũng không. Cùng lắm thì một trong bốn người - ông bà nội ngoại hắn - có mang dòng máu Tiệp. Hay có thể Slovakia. Có người từng nói riêng với tôi là hắn nói một thứ tiếng Tiệp giống như của một người Hung lấy vợ người Tiệp nhưng chưa bao giờ tới Tiệp. Một thứ tiếng Tiệp què hay tiếng Tiệp lùn, người đó nói. Dù sao thì chuyện đó chúng tôi làm sao biết chắc được, mà cũng không quan tâm. Chả ai trong chúng tôi biết tiếng Tiệp, tức là hắn chả bao giờ nói tiếng Tiệp với chúng tôi. Hắn nói tiếng Pháp, Anh, Đức, Ý, tất cả đều dở tệ, đến mức Hugo hay Shakespeare hay Goethe hay Dante nếu nghe thấy được thì chắc sẽ lấy búa đập đầu hắn cho hắn im, nhưng dù sao thì chúng tôi vẫn cứ hiểu, tạm gọi là hiểu hay dù chỉ hiểu chừng non nửa thì rồi mọi chuyện vẫn cứ êm.

Thay vào đó hắn hát, bằng cả bốn thứ tiếng, hát hay một cách khốn nạn, đến mức vô lối, buộc tim chúng tôi lặng đi và người chúng tôi đờ ra bất cứ hoặc gần như bất cứ lúc nào hắn muốn. Hắn không khi nào nói là hắn thích hoặc mê hoặc tôn sùng Dvorák (tôn sùng chắc hẳn là cái từ chúng tôi cần) tuy nhiên tôi đồ rằng đó chính là lý do hắn chọn tên Antonín. Còn Neruda là để tỏ tình đoàn kết với Chilê, một tình đoàn kết muộn tới mười thế hệ với Chilê thời Allende mặc dù tôi thành thực nghĩ rằng riêng với ông già Pablo thì không muộn. Sự thực là, mặc cho ông bạn Roberto thân mến của chúng tôi nghĩ sao thì nghĩ, tôi thì thấy Antonín có nhiều lý do chính đáng để tự cho mình cái họ Neruda. Hắn rất sợ gián và chuột (nghĩ mà xem, một tên cao kều dềnh dàng như hắn) và rất khoái ngủ với Pedro Salinas.

Pedro Salinas không thích ngủ với Antonín Neruda dù có hay không có quần áo. Hắn chỉ thích ngủ với Takanobori Shin. Shin là chàng hoàng tử của chúng tôi, nàng công chúa kiều mị của chúng tôi. Cả lũ chúng tôi đều muốn ngủ với Shin, hay ít nhất lúc đầu thì vậy. Tôi cũng từng muốn nằm chung giường với Shin mặc dù tự tôi không rõ liệu tôi sẽ làm gì với Shin giữa hai phần của giấc ngủ, trong bóng tối. Chỉ những thằng đàn ông nào mà hệ thần kinh đã hỏng vô phương cứu chữa thì mới không bị thôi miên trước khuôn mặt trắng như sữa đúc và cặp môi hồng ngời lên như ngọc của Shin. Cái mùi tinh khiết ở Shin giống như nước cất và cũng phảng phất (dưới đáy sâu) chút mùi sữa như là sữa của một người mẹ.

Shin cùng với Pedro Salinas là hai người lãnh nhiệm vụ trấn áp và kiểm soát các nhân viên nhà băng ở tiền sảnh. Shin cứ khăng khăng đòi chỉ dùng dao - nhiều dao, mỗi con một loại khác nhau - và ngay cả khi đã nhượng bộ chúng tôi mà ôm khẩu Magnus 84 báng gập, Shin vẫn lận dao trong người, theo tôi biết thì ba con, cũng có thể bốn con. Shin có thể giấu dao ở những vị trí trên cơ thể mà không ai khác có thể ngờ tới. Lần đầu tiên thấy Shin thực sự dùng dao, chúng tôi, hay ít nhất là tôi, như thể nhìn thấy một ánh chớp, một phiên bản thu nhỏ của tia chớp ở ngay trước mắt, một động thái đột ngột và chói lòa đến từ một thế giới khác, ảnh chiếu tức thời từ một vũ trụ khác nơi sự sống là tia chớp giáng vào sự chết. Lúc ấy Shin không giết chết thằng say rượu đó, chỉ làm y chảy máu, bằng một thứ tuyệt kỹ dường như chỉ tồn tại trong truyền thuyết và chuyện bịa, đủ khiến chúng tôi sững sờ nhận ra rằng bấy lâu nay mình đã có ý niệm sai lạc đến thế nào về chiều sâu thực của bóng tối bên trong Shin.

Reza luôn mồm nhắc chúng tôi không dùng súng, không dùng dao, không dùng thứ vũ khí nào, không dùng bất cứ vật nào kể cả thân thể mình làm vũ khí, kể cả khi tính mạng bị đe dọa. Thường thì chúng tôi cười nhạo gã. Nhưng chúng tôi cũng thường xuyên cười nhạo quá nhiều kẻ và quá nhiều thứ khác (những kẻ và những thứ không đáng cho chúng tôi cười nhạo cũng có song ít hơn nhiều), thành thử cũng khó biết Reza hiểu thế nào cái cười nhạo của chúng tôi. Reza nhiều lúc hiểu chúng tôi hơn chúng tôi tự hiểu mình và nhiều lúc hiểu chúng tôi ngang với cây cột đèn hiểu chúng tôi. Gã tự nhận phần lái xe và chúng tôi cũng biết khó mà tin cậy giao phó cho gã việc gì khác. Gã không muốn tận mắt thấy những người bị chúng tôi làm cho sợ, thậm chí chỉ là làm cho sợ thôi. Reza, kẻ có thể không hé răng ba bốn ngày liền sau khi chứng kiến một con chó hoang bị đám thanh niên lêu lổng đánh chết cho vui. Dĩ nhiên cướp nhà băng không giống như đánh chết chó cho vui, tuy nhiên từng có lúc tôi cho rằng hay cảm thấy rằng Reza tham gia cùng chúng tôi như một cách để bù lại cho con chó bị đánh chết ấy.

Reza cao thứ nhì trong bọn tôi, chỉ sau Antonín non nửa đầu, tuy nhiên mỗi khi gã đội cái mũ chỏm Kavkaz hay Ottoman hay Ba Tư của gã lên đầu thì gã có vẻ như đang bồng bềnh trên không, hai chân cách đất hai ba chục phân gì đó mà nhìn xuống cả lũ bọn tôi. Dĩ nhiên còn lâu mới có chuyện gã Hồi giáo nào cũng gây cho ta ấn tượng tương tự nhờ cái mũ chỏm. Chính xác hơn, tôi ngờ là không một người Hồi giáo nào có thể như thế trừ Reza, mặc dù đấy chỉ là xét trên số ít người Hồi giáo tôi đã gặp trong cái cuộc đời chả lấy gì làm dài của mình. Và tôi biết mình sẽ không bao giờ nói được, có phải chỉ một người Hồi giáo như gã mới có thể là người bạn và người đồng hành như thế của chúng tôi hay chăng. Thậm chí có khi, tôi còn cảm tưởng gã là tín đồ độc nhất của một chi phái Hồi giáo độc nhất trên thế giới, tương tự sufi nhưng không phải sufi, hắn mà mất đi là chi phái này tuyệt tự.

Khác với Antonín Neruda chỉ là polyglot giả cầy, Reza là polyglot thứ thiệt, với thứ năng lực ngôn ngữ chỉ có thể một là của thần thánh hai là của quỷ. Gã rành rẽ tiếng Ả rập (tiếng Ả rập “chuẩn” và tiếng Ả rập Ai Cập, Ả rập Tuynizi, Ả rập Marốc, Ả rập Libăng), tiếng Farsi, Thổ, Hindi, Bengali, Nhật (kể cả phương ngữ Osaka), Hàn, Trung (Bắc Kinh), Trung (Quảng Đông), Thái, Việt, Afrikaan, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Nga, Đức, Latinh, đọc tốt đâu như ngần ấy thứ tiếng khác nữa, mặc dù theo tôi biết thì phần lớn các xứ nói những tiếng ấy gã chưa tới bao giờ, và mặc dù bằng cách nào đó gã dạy cho chúng tôi hoặc nhắc chúng tôi rằng thứ ngôn ngữ khó học nhất và khó sử dụng nhất là sự im lặng.

Pedro Salinas là người duy nhất trong chúng tôi không ưa hoặc công khai tỏ ra không ưa Reza. Hắn lấy làm thích chí một cách độc địa (hay ít nhất là như một đứa con nít độc địa) mỗi khi hắn làm bẽ mặt hoặc cho là mình làm bẽ mặt được Reza. Trái ngược với Reza, Pedro gần như chỉ có trần xì mỗi tiếng mẹ đẻ Tây Ban Nha của hắn nếu không kể dăm câu tiếng Anh vừa đủ để chửi hoặc biết là mình bị chửi. Cũng có thể hắn khá tiếng Anh hơn thế song điều này không ai có thể chắc được, bởi hắn lúc thì tỏ ra mình biết nhiều hơn thực tế còn lúc khác thì làm bộ kém hơn so với thực tế.

Pedro là lực sĩ của chúng tôi. Hắn có thân hình của kẻ sinh ra để làm đô vật chuyên nghiệp. Xương sườn không ít ả hay gã điếm đã bị gãy vì hắn, không phải vì hắn có xu hướng bạo dâm mà vì hắn quá cuồng nhiệt. Thơ của hắn là thứ thơ được quai bằng búa, đẽo bằng đục và bổ bằng chày vồ. Trái với nhiều người có thể nghĩ, hắn không bao giờ dùng ma túy, vì lý do duy nhất là cái thứ đó làm hắn yếu đi. Tôi thích nói chuyện với hắn, nghe thứ tiếng Tây Ban Nha của hắn nện vào mình như những cú đấm dù không phải khi nào cũng vậy. Một vết sẹo sâu, dài, đỏ lựng, nhăn rúm nhăn ríu vắt chéo một bên vai hắn.

Hắn thích hoa huệ trắng và si như điếu đổ bạn gái (cũ) của tôi mà hắn chưa gặp. Hắn nhìn thấy ảnh cô trong bóp tôi và lâu lâu lại cố moi từ tôi vài chi tiết vụn về cô để từ đó xây dần nên hình ảnh của riêng hắn về cô, phiên bản của riêng hắn về thế giới có cô. Khi chúng tôi lần đầu tiên bàn đến chuyện phân công từng người trong vụ cướp nhà băng, nhiệm vụ cầm súng uy hiếp nhân viên quầy trước gần như đương nhiên thuộc về Pedro, không cần nói, không bàn cãi. Chất giọng trầm, to “như còi xe cứu hỏa và vang như sấm” của hắn đủ sức làm tê liệt một người bình thường trước khi có họng súng chĩa vào ngực chị ta hay anh ta. Có lẽ đó là một lý do để hắn không hét ầm lên như vài đứa khác trong chúng tôi khi đang ở trong đại sảnh nhà băng: tiếng vang của giọng hắn trong đầu hắn chắc là đã đủ cho hắn.

Huỳnh Lê là thằng thân thiết nhất với Pedro Salinas. Y là thằng lắm lời nhất trong chúng tôi, không bao giờ giận ai, chỉ giương mắt nhìn với vẻ ngỡ ngàng vui vẻ, ngừng một chút rồi cười hề hề và tiếp tục nói cho dù y biết là người đối thoại vừa nói kháy y, có thể với dụng ý hay hàm ý rành rành là xúc phạm y. Không gì thú vị, gây cảm hứng và gây cười hơn là nhìn Huỳnh Lê và Pedro Salinas tán chuyện hay đấu láo với nhau. Huỳnh Lê nói thứ tiếng Anh có thể khiến một người mặt ít dày hơn y phải đỏ lựng lên, mù tiếng Tây Ban Nha và mọi thứ tiếng khác trừ tiếng Việt. Pedro chỉ thạo độc tiếng Tây Ban Nha, lòa tiếng Anh và đương nhiên mù tiếng Việt. Nhưng hai thằng có thể ngồi hay nằm nói với nhau từ chập tối đến gần sáng không hiểu là còn thiếu về thứ chủ đề nào.

Đầu tóc muôn đời tổ quạ của Huỳnh Lê là một trong nhiều nguồn cảm hứng của chúng tôi. Những câu hát Huỳnh Lê gân cổ rống lên những khi chúng tôi la cà khắp phố như một lũ côn đồ hạng bét hoặc giả cầy là một trong nhiều nguồn cảm hứng của chúng tôi. Y là thằng có khả năng cười ha ha mỗi khi có bất kỳ ai chê thơ y dở. Y làm thơ bằng tiếng Anh (ngoài tiếng Việt ra), và khoảng cách giữa tiếng Anh mà y viết với tiếng Anh mà y nói là một trong những bí ẩn lớn nhất thế gian ít nhất là với tôi. Shin là người duy nhất (ít nhất là duy nhất trong chúng tôi) trước sau như một toàn tâm ngưỡng mộ Huỳnh Lê. Và Huỳnh Lê cũng là thằng duy nhất trong chúng tôi (nếu tôi không lầm) thật ra là không muốn ngủ với Shin, tuy ngoài miệng thì nói là thèm ngủ với Shin “muốn chết” và nói thế một cách sống sượng nhất.


Nếu chúng tôi hoàn toàn không cần phải bàn cãi về chuyện giao nhiệm vụ cầm súng chủ chốt cho Pedro thì về chuyện ai là người cầm súng yểm trợ cho Pedro - Tay Súng Thứ Hai như chúng tôi gọi - chúng tôi đã phải tranh luận ít lâu để chọn giữa một đằng là Shin một đằng là Huỳnh Lê. Và chúng tôi đã đúng khi chọn Shin, vì, khác với Huỳnh Lê, sẽ không có khả năng Shin đứng đần ra nhìn cô nhân viên nào đó ở nhà băng thay vì chĩa súng vào cô ta và ra lệnh cho cô ta.

Ngay từ đầu chúng tôi đã quyết là trong vụ này sẽ không có ai trong chúng tôi làm thủ lĩnh. Không ai là thủ lĩnh và mỗi chúng tôi là một phần của thủ lĩnh. Làm thế nào cho vị thủ lĩnh gồm sáu phần riêng rẽ và khác nhau này hiện diện một cách thực sự và hoạt động một cách tối ưu trong khả năng có thể, đó là một trong những ẩn số chưa biết của bài toán thực tại mà chúng tôi cần phải khám phá. Chúng tôi nhất trí rằng, trong khi hành động, mọi quyết định sẽ được đưa ra tức thời trên cơ sở sự nhất trí của những ai có mặt tại cùng một địa điểm ở từng thời điểm. Sự hài hòa với nhau từ trong sâu thẳm tất cả chúng tôi và sự xả kỷ đích thực ở mỗi chúng tôi là thử thách lớn nhất và đáng cho chúng tôi đạt tới nhất, chúng tôi tin chắc như vậy.

Dĩ nhiên ngôn ngữ là một vấn đề, có thể nhỏ. Chúng tôi thống nhất với nhau về một số mật khẩu sẽ dùng, bằng tiếng Anh, thứ tiếng mà tất cả chúng tôi, dù ít hay nhiều, có biết. Phần còn lại, chúng tôi tin vào chuyện có những lúc và những vấn đề chỉ cần nhìn mắt nhau là hiểu ý nhau, cũng như có những lúc và những vấn đề mà sẽ không ai hiểu nhau dù đã nói với nhau hàng trăm năm. Chúng tôi cũng tin vào chuyện có những lúc một lời hay một từ tuyệt đối bất ngờ, hoàn toàn ngẫu phát sẽ làm xoay chuyển hoàn toàn tình thế hay chiều hướng phát triển của sự kiện, dù tốt hay xấu. Bóng tối hay có thể là sự nhá nhem sáng tối của những gì chúng tôi đang dấn vào làm cơ thể và linh hồn chúng tôi bớt đi phần lớn trọng lượng.

Chúng tôi vét sạch hoặc gần sạch những đồng bạc cuối cùng hiện có của mình để mua súng và đạn trên thị trường chợ đen. Dao, dây dù, dây thừng, thuốc mê, găng tay, bao tải, đèn pin, và một số thứ khác, chúng tôi mua rải rác ở nhiều siêu thị và cửa hàng lớn nhỏ. Vì những khoản mua này chúng tôi nhịn ăn hoặc gần như nhịn ăn mấy ngày liền. Chúng tôi cũng nhịn cả thuốc, nhịn rượu, nhịn đàn bà, nhịn sách, nhịn phim mấy tuần liền hoặc gần như thế. Cũng nhờ đã mất nhiều trọng lượng và lại được sự hấp dẫn của tương lai chưa biết và không thể đoán nâng lên nên chúng tôi vượt qua được mấy ngày và mấy tuần đó như đứa trẻ vượt qua được mấy giờ bị phạt cấm cố và nhịn đói. Khổ sở một tí, thì có, nhưng là gì so với vũ trụ?

Khoảng một tuần trước giờ hành động là quãng thời gian hạnh phúc nhất của chúng tôi. Chúng tôi không nói với nhau một lời về việc chúng tôi sắp làm cùng nhau, như thể nó không tồn tại. Song dĩ nhiên không thể nói là nó không tồn tại, cũng như không nói về cái chết không có nghĩa là không có cái chết. Lúc này chúng tôi đã lại có tương đối đủ tiền để tới những nơi mình thích. Một đêm ở những nơi đó có thể dài như thiên thu đối với chúng tôi, bởi vì mỗi phút của nó đều đầy ắp những gì ở trong chúng tôi. Hay sự rỗng không đến độ hoặc gần đến độ của chúng tôi. Pedro lại xuất hiện cùng các cô nàng của hắn. Huỳnh Lê với cô nàng bất di bất dịch chói lòa như nắng của y. Shin, với hàng lũ nam giới vây quanh cứ như từ khai thiên lập địa đã vậy rồi. Reza, lặng im, cô độc, bí hiểm, đáng ngại, cuốn hút, như một ngọn núi mỗi ngày đứng ở một chỗ khác. Antonín, với giọng hát muôn thuở, tuyệt đẹp, đáng sợ, có khả năng cướp linh hồn con người bất cứ lúc nào, khiến người ta gặp gỡ và thấy thân thiết với hư vô. Cách hữu hiệu nhất để bảo đảm cho Antonín đừng hát là lôi kéo hắn chơi bài. Song giải pháp này không ổn nếu chúng tôi đang nhẹ túi. Cho nên tuần đó chúng tôi để cho hắn mặc sức hát. Antonín hát thì lẽ tự nhiên là Pedro hát, rồi Huỳnh Lê hát rồi Shin hát và cuối cùng là tất cả chúng tôi. Tất cả, nếu có thể coi cái giọng ông ổng chói ráy như còi xe chữa cháy của Huỳnh Lê cũng là một thứ có khả năng làm một việc giông giống như hát. Không phải ai cũng sẵn lòng chịu đựng chúng tôi.

Nơi hát ưa thích của chúng tôi không phải là quán này tiệm nọ mà là quảng trường, công viên, bến sông, bãi rác, nghĩa trang. Antonín, người thường hay rủng rỉnh nhất hoặc có vẻ như vậy trong chúng tôi (dù đôi lúc không phải vậy) lái xe chở cả lũ chúng tôi những khi hắn còn có xe hoặc kiếm đâu ra được chiếc xe. Xe không chứa hết chúng tôi thì hai ba thằng trong chúng tôi đi tàu điện ngầm, bắt xe buýt, tắc xi, cưỡi mô tô nếu có mô tô, xin quá giang, cuốc bộ. Ở một trong những lần đi như vậy, ba thằng trong chúng tôi vào bệnh viện. Không phải Pedro: chính hắn làm kẻ khác vào bệnh viện. Một kẻ khác nữa vào bệnh viện - sau nhiều kẻ tương tự trước đó - vì một đường dao của Shin. Chất thép trong lưỡi dao của Shin cũng như trong nắm đấm của Pedro là một số trong những thứ đánh dấu ranh giới khả năng tồn tại của chúng tôi.

Reza là người duy nhất trong chúng tôi không bao giờ đánh lại ai ngay cả khi máu từ màng tang gã chảy xuống bén vào khóe miệng gã do một cái chai đập vào đầu gã (chúng tôi biết là ngay cả lúc đó Reza vẫn còn tỉnh táo đủ để đánh trả nếu gã muốn, chỉ cần gã muốn). Pedro là người duy nhất trong chúng tôi chế giễu Reza về chuyện đó. Chúng tôi thì không. Chúng tôi tôn trọng Reza, chỉ có điều không phải tất cả chúng tôi đều là Reza. Gã luôn luôn là người đầu tiên tình nguyện đi bộ (khi tình thế bắt buộc vài thằng trong chúng tôi đi bộ). Gã không bao giờ uống rượu và làm một thứ thơ kỳ lạ, lúc thì đập vào chúng tôi như một túi khí trên ô tô bung ra không đúng lúc làm chúng tôi tối tăm mặt mũi và ngộp thở, lúc thì đâm thẳng vào tim hay gan ruột chúng tôi như dao găm. Có nhiều lý do để sợ Reza. Mặc dù gã không bao giờ dùng bạo lực với ai. Mặc dù chẳng phải là không có lúc nào chuyện đó đến trong óc gã, như tôi đã thấy một lần trong mắt gã khi ai đó trong chúng tôi, tôi không nhớ rõ là ai, Pedro hoặc Huỳnh Lê, cũng có thể Shin hoặc tôi, nói gì đó về fitra hay là niềm kiên tín quái quỷ gì đó của gã.

Pedro kiếm tiền bằng quả đấm của hắn theo nghĩa đen. Hắn đấm bốc ở mấy câu lạc bộ hạng ba, đấu vật ở các sới vật chui, và có dạo làm bảo vệ - bouncer - ở một quán bar do hai chị em người Bolivia làm chủ. Hắn cặp bồ với cả hai chị em, cùng lúc, công khai, và cuối cùng bị đuổi, mặc dù bị đuổi (to be fired) không nhất thiết đồng nghĩa với bị đá đít (to be dumped). Thơ là một thứ khó mà hình dung là ở trong hắn và song hành cùng hắn, cũng như thuyết tương đối và con đười ươi hay Tractatus Philosophicus và cái dùi đục. Tuy nhiên sự phức tạp, sự phong phú và những khả năng biến dị khôn lường của thế giới cũng luôn luôn vượt ngoài trí năng con người, bằng chứng hiển nhiên cho điều đó là quả thực có một thứ thơ ở Pedro, của Pedro, từ Pedro, cho dẫu đó chỉ là thơ đối với Pedro (và tôi không đến nỗi không tin đó là thơ không chỉ với Pedro).

Khi chúng tôi hành sự, ít nhất ba lần Pedro gí nòng súng vào sát ngực hay sát thái dương một nhân viên nhà băng và kề ngón trỏ lên cò súng, khẽ bóp vào chừng một hai ly, một hai ly thôi, nhưng rõ ràng hắn thực sự có ý định bắn hay ít nhất có hình dung trong đầu cảnh tượng diễn ra một khoảnh khắc sau khi hắn bắn. Ngoài cái đó ra hắn không đụng đến họ. Shin có phóng một con dao cắm vừa gọn vào mép tay áo cài măng sét của một nhân viên và ghim chặt nó (cùng với cổ tay anh ta lồng trong tay áo) xuống mặt quầy - tôi có thể hình dung lưỡi dao chỉ cách thịt anh ta chừng hai, ba, bốn milimét, khiến anh ta nghe rõ khí lạnh của thép, khí lạnh của sự chết và khiến mồ hôi (lạnh không kém) túa ra đầm đìa trên trán anh ta.

Antonín và Huỳnh Lê là những người có mỉm cười với các nhân viên nhà băng bị chúng tôi uy hiếp. Shin cũng có, song nụ cười của Shin có lẽ quá nhẹ và quá bí hiểm nên người ta khó nhìn ra hoặc khó chấp nhận là nụ cười, tuy dĩ nhiên nếu quan sát kỹ thì sẽ nhận thấy nụ cười này của Shin là hướng ra bên ngoài, về phía kẻ khác, chứ không phải vào bên trong Shin. Huỳnh Lê cười cái nụ cười vui vẻ hứng chí, nom giống như y mới làm vài ly cồn loại mạnh mặc dù chắc chắn là hai tư giờ trước khi hành động không ai trong chúng tôi đưa vào mình một giọt cồn nào. Antonín cười dịu dàng như thể hắn muốn ngầm hỏi những người đang bị chúng tôi uy hiếp, Nè, tui làm cái trò này cũng được chớ phải không, nom tui không đến nỗi tức cười, không ngố quá phải không. Hắn cũng cười cái nụ cười dịu dàng, gần như là ngượng nghịu ấy đồng thời hơi nghiêng nghiêng cái đầu mỗi khi hát xong, tuồng như thấy có lỗi khi mình có giọng hát đầy ma lực đến như vậy. Cùng với tôi, hắn giữ nhiệm vụ gom tiền cho vào bao. Chính xác hơn là tôi cầm súng cảnh giới cho hắn còn hắn chuyên trách làm việc đó. Đó là công việc vừa vặn phù hợp với hắn. Một phần là bởi chúng tôi tính rằng với đôi tay dài ngoẵng như tay vượn hay như hai con trăn kia thì hắn có thể vơ tiền ở cự ly xa hơn, một vòng quét hay một lượt ôm của hắn lớn hơn. Huỳnh Lê thì đóng vai trò như một libero hay trung vệ tự do, y sẽ phối hợp và yểm trợ cho hoặc nhóm uy hiếp hoặc nhóm gom tiền tùy tình huống, tùy đòi hỏi của mỗi thời khắc. Việc này chúng tôi cũng cho là hợp với y. Để làm một tay uy hiếp thuần túy hay một tay thu tiền thuần túy thì y vừa có thừa một cái gì lại vừa thiếu một cái gì. Để làm tròn cái vai đặc biệt này Huỳnh Lê có vũ trang nhẹ, mặc dù đúng ra tất cả chúng tôi, kể cả Reza, đều có vũ trang, nặng hoặc nhẹ, ít nhất là một khẩu súng ngắn.

(còn tiếp)

Thứ Hai, 8 tháng 12, 2025

Faínâhind-Arrobauth-Mattai (trích từ "Ngoại truyện Gurun" đi kèm tiểu thuyết "Cospolist Nổi Loạn" của tôi)

Nheo mắt nhìn ánh sáng nóng dịu tỏa ra từ đống than âm ỉ cháy có màu gần giống mặt trời mới mọc, Faínâhind nói:

“Bài hát của dân Shwevakenara, có câu gì về đá girin ấy, nó như thế nào, Ăltâhind?”

Ăltâhind nói:

“Là thế này, thưa cô.”

Và cô bắt đầu hát bằng giọng kim lanh lảnh, có một cạnh sắc rõ rệt hơn và một mặt êm, mềm, ẩn kín hơn: 

Khi tôi cất cao tiếng hát tràn ngập niềm vui

Tự bên kia bờ chàng nhìn tôi say đắm

Ngực chàng tựa đá girin xanh thẫm.

Chàng không biết tôi, song chàng biết rõ như tôi

Rằng chàng với tôi, ai đã là kẻ mạnh.

Ở đây Ăltâhind dừng lại, như thể luôn luôn biết rõ Faínâhind muốn cô hát đến đâu là vừa, im lặng đến đâu là đủ. Và rồi, giữa chừng quãng lặng nối theo sau câu hát cuối cùng của Ăltâhind, khi dư âm vô thanh của nó đang tiếp tục làm rung động những gờ vách mỏng mảnh của tâm hồn người, Arrobauth cất giọng, bình thản và khô khốc, nói.

“Bài hát của ngươi nghe khá hay đó, bằng tiếng Bongora. Song ngươi có cho rằng nó sẽ hơi rúm ró lại nếu nó phải chuyển sang tiếng Siră Kăntânări của bọn ta, theo lệnh của bọn ta, hay không? Ta e rằng bất cứ bài hát Bongora nào, khi bị chuyển sang tiếng Siră Kăntânări, đều sẽ lộ nguyên hình là quá thừa chất lỏng chất nhầy, thừa mỡ, nhưng lại rất thiếu xương, thiếu cơ bắp rắn, thiếu gân, thiếu máu. Ngươi có nghĩ thế không, tên dân xứ Bongora?”

Ngồi trong một góc xa hơn, tối hơn của tấm thảm dài, Mattai thong thả ngẩng đầu lên, không để một cái gì từ bên trong mình lộ ra trên mặt chàng, khuôn mặt đang làm nền cho trò hoán vị và biến đổi không ngừng của vô số sắc độ khác nhau giữa ánh sáng và bóng tối.

“Arrobauth bạn ta đây là con người quá thừa kiêu hãnh,” Faínâhind nói. “Giữa đêm khuya, nếu lắng tai, ngươi có thể nghe thấy các vì sao thì thầm trong khi kính cẩn đợi lúc chàng ta quyết định lên giường ngủ. Máu trong huyết quản chàng ta chảy chậm gấp đôi máu trong huyết quản ngươi, không phải một cách lờ đờ uể oải, mà một cách đường bệ và cao nhã. Này Mattai, hãy coi chừng chàng ta.”

“Phải, máu người Bongora chảy nhanh hơn và dễ đổ ra ngoài hơn so với máu Siră Kăntânărî,” chậm rãi, sau một hồi lặng im “như quả xoài chín rụng trong vườn”, Mattai nói. “Máu chúng tôi chảy càng nhanh và đổ ra ngoài càng nhiều thì chúng tôi học được càng sâu sắc hơn về niềm tôn kính đối với sự sống. Ngài nói đúng, thưa Arrobauth Rất Mực Tôn Quý. Cơ thể Bongora luôn luôn thiếu máu; máu nó nằm ở bên ngoài nó cũng nhiều ngang với ở bên trong nó. Người Bongora chúng tôi, từ trong bản chất, lớn hơn nhiều so với người Siră Kăntânărî. Chúng tôi có cả vũ trụ này là cơ thể lớn của mình; chúng tôi rướn ra ngoài vũ trụ nhiều hơn, bởi chúng tôi cảm thấy thiếu cái cơ thể lớn hơn kia một cách mạnh mẽ hơn so với các ngài. Với người Siră Kăntânărî, bản thân các ngài là đủ lớn để các ngài mãn nguyện và ngưỡng phục. Người Bongora chúng tôi nhường điều đó cho các ngài. Nó không dành cho chúng tôi.”

“Người Bongora các ngươi không hổ danh là những kẻ hơi quá lớn so với thân phận mình,” Arrobauth nói, cười nhạt. “Ta không lạ rằng các ngươi nằm trong số những giống dân bịa chuyện giỏi nhất trên thế gian. Thêu dệt nên từ trí tưởng tượng giống như loài ngựa hoang của các ngươi những câu chuyện không có thật, hòng mua vui cho đám phàm nhân chẳng biết làm gì hơn để sống qua những giờ những ngày những tháng những năm rảnh rỗi của đời mình và lấp đầy khoảng trống không gì lấp nổi bên trong mình, đó là việc tốt nhất nòi giống các ngươi đủ khả năng làm, niềm tự hào duy nhất của các ngươi, di sản tinh thần độc nhất - độc nhất và hèn mọn - của các ngươi. Các ngươi biết rõ rằng các bậc đế vương và những người quyền thế, những người thuộc dòng dõi tôn quý, họ thích thú câu chuyện của các ngươi chứ không thích thú bản thân các ngươi. Nàng công chúa mê mẩn là mê mẩn tiếng hót con họa mi chứ không mê mẩn đống phân của nó. Ta ưa là ưa trái tim con chim trĩ, ta không cần phải ưa những thứ hạt tầm thường mà con chim trĩ ăn. Bản thân ta, người Siră Kăntânărî, thì khác. Ta có cần phải nói về điều đó không?”

Sau khi Arrobauth dừng lời, có một thoáng im lặng, rồi Faínâhind nói.

“Này Mattai! Ta biết rõ và đánh giá cao khả năng ứng đáp của ngươi. Tuy nhiên ngươi có cho rằng, vào lúc này, thay vì lại nói, ngươi hát một bài thì tốt hơn không? ‘Một đêm nghe anh hát hơn mười năm cùng anh trò chuyện’, người Bongora có câu như thế, theo ta nhớ.”

Nàng ngừng nói, và, sau khi thấy Mattai lặng một thoáng, đồng thời nhận ra một cái gì đó đang tự kìm nén, phập phồng trong im lặng này, nàng quay sang Arrobauth với vẻ điềm nhiên và đường hoàng nhất nàng có, rồi nàng hướng về phía những người còn lại, cao giọng nói.

“Mattai đây là người biết rõ hơn ai hết khi nào thì một bài hát về tình yêu không được đền đáp là đáng được nghe hơn khúc tráng ca của một chiến binh. Những lời đanh thép nhất của chàng ta luôn tự biết khi nào chúng phải nhường chỗ trong khí trời và trong trái tim con người cho tiếng của con chim đầu tiên hót lúc rạng ngày. Ta có nói quá không, Mattai?”

Sau khi một quãng lặng dài hơn vài nhịp tim trôi qua, Mattai ôn tồn và đĩnh đạc nói.

“Những bài hát hay nhất và những lời đẹp nhất trên thế gian đáng được cất lên và đáng được sinh ra dù chỉ vì lý do duy nhất là có cô nương Faínâhind hiện hữu. Nếu ngày tháng của tôi cho phép, tôi chẳng tiếc gì mà không cho bao nhiêu bài hát cùng bao nhiêu lời ấy tuôn hết cả qua tôi mà về với cô nương như trăm sông đổ về biển, chúng không làm biển đầy hơn và biển không làm chúng vơi đi, chẳng qua sông thì đi về biển, âu đó là cơ đồ của vạn vật. Trong cái cơ đồ ấy, tôi là lòng sông đầy bùn, cũng như tôi là bầu không khí qua đó biển ban sức sống và cảm hứng cho sông trong hình dạng những cơn mưa. Kẻ hát những bài hát này và nói những lời này là những cái bóng vô hình không tên, không tồn tại tự thân. Kẻ như tôi tuyệt không có lý do gì để được người đời biết và nhớ tới, đúng như Arrobauth đại nhân nói. Chúng tôi chẳng có lý do gì để đòi tồn tại song song với tinh túy của tâm hồn chứa đựng trong chúng tôi và lưu chuyển qua chúng tôi. Chúng tôi là mạch máu, lý do tồn tại duy nhất của chúng tôi là để máu không đổ tràn trên cỏ.”

Và, ngừng một nhịp, chàng hát.

Ksbyámbâdŏrj-swénlig ăsshúpduven iryín,

Dolgöspāthnay féllâsargăn êrîvgálay íchten.

(...)

Và hãy ném cho tôi miếng bánh

Khi máu nóng đổ tràn trên cỏ

Gió qua kẽ núi

Mưa tưới đồng bằng

Ối a!

Kìa hãy ném cho tôi miếng bánh.

Trong im lặng sau đó, Faínâhind bình thản nhìn Arrobauth.

Nghiêm trang vỗ tay ba lần, hai nhặt một khoan, không quá nhẹ và không quá mạnh, Arrobauth lạnh nhạt nói.

“Ta từng nghe bài này. Ta cũng thích nó một chút đó. Ồ, nhưng có thể ta nhớ lầm. Có thể ta vừa định nói tới một bài khác, được coi là khác, dẫu cho nó có gì đấy giống hệt. Giống ở cái gì, để ta nghĩ một chút. Máu. Dĩ nhiên. Giống ở chỗ máu. Những chữ và những cung bậc khiến người ta cảm thấy máu của chính mình đang chảy ra ngoài, như nước bẩn rút ra khỏi lỗ thoát trong bồn tắm. Đó là thứ tinh túy của tâm hồn mà ngươi ám chỉ, phải không Mattai. Cái thứ tinh túy có thể hiện hữu dưới muôn ức triệu dạng thức và điệu thể khác nhau song kỳ cùng ra thì vẫn là nó và chỉ dành cho những con mắt cái tai nào biết nhận ra nó. Các ngươi, dẫu biết muôn triệu bài hát tưởng như khác biệt, các ngươi có khi nào chuyển tải được cái gì khác thế đâu, đúng không, hở tên Bongora. Chẳng lấy gì làm nhiều nhặn cái gọi là tinh túy của tâm hồn mà ngươi nhắc tới với vẻ trang trọng tức cười và ngây thơ kia. Và toàn bộ tài khéo của các ngươi, tất thảy tinh túy của tim óc các ngươi nằm ở chỗ trưng ra cái dúm chả lấy gì làm nhiều nhặn kia dưới nhiều, thật nhiều dạng thức khác nhau, tạo ra bức màn hư ảo trá ngụy về một cõi thế gian phồn phức, muôn mặt. Các ngươi ăn nhờ vào sự thích thú của đám đông - mà vốn dĩ tầm vóc tâm trí chẳng lớn hơn con ngan con vịt - trước cái vẻ ngoài phồn phức đa tạp kia, các ngươi kể một điều và làm mọi cách để làm điều đó có vẻ như mới mẻ, đồng thời giấu đi, bít đi, ỉm đi cái sự thực rằng điều đó từng được nói rồi, cho dù bằng lời lẽ khác hay không. Các ngươi sợ đến phát ốm với ý nghĩ rằng một ai đó, khi nghe những gì từ miệng các ngươi, sẽ cảm thấy những thứ này mình đã nghe đâu đó rồi, đã biết rồi, quen thuộc lắm rồi, tuy rằng từ lúc nào, bằng cách nào thì chưa thể nhớ ra được.” 

“Arrobauth đại nhân của chúng ta là người khó tính và đầy lý tưởng,” Faínâhind nói. “Nghe một khúc nhạc, xem một vở kịch, nhìn một bức tranh, chàng ta dùng đầu nhiều hơn là tai, mắt, ruột và tim. Chàng ta nhận định và phán xét trước khi cười và khóc, thay cho cười và khóc. Cái đó đôi khi ta ngưỡng mộ, có khi ta cũng thích. Còn ngươi, Mattai, hẳn ngươi biết hơn ta ngươi làm gì là tốt nhất lúc này. Ngươi biết cách tạo nên một bầu khí khác, một cõi khác trong giây lát, vậy sao ngươi không làm vậy đi? Nếu không phải là máu tràn trên cỏ và trong làn gió ta nghe nơi vách mũi thì đó sẽ là gì đây?”

Và Mattai, thoáng cười, bắt đầu hát.

Có cô gái kia ra chỗ dòng sông

Mẹ hỡi, xin cho con đôi mắt

Cho con đôi cánh chim ưng

Để con bay đi tìm chàng trai của lòng con

Thế là dòng sông cho cô đôi cánh chim ưng

Cho cô đôi mắt chim ưng

Thế là cô bay đi

Tìm chàng trai yêu dấu của lòng cô.

Lặng một hồi, cho đến khi âm hưởng cuối cùng của bài hát lắng đi như muối tan vào trong máu, Mattai nói.

“Để Arrobauth đại nhân không phải băn khoăn, tôi xin nói rằng bài hát này chắc hẳn đại nhân từng nghe, dẫu là qua quá nhiều con đường và dạng thức trung gian đến nỗi giờ đây đại nhân dẫu có muốn cũng không thể nào nhớ ra nguồn cội nguyên thủy của nó. Đó là bài “Malka Moma” của một nữ nhân tên Neli người xứ Bulgaria ở Terra, cái thế giới mà nghe nói không một ai trong chúng ta từng đặt chân tới và sẽ đặt chân tới song dẫu vậy vẫn hiện diện cùng chúng ta trong từng khoảnh khắc, từng hơi thở, cái bóng của chúng ta đổ vào trong lòng chính mình. Những bài hát của Neli, cũng như bản thân hiện hữu của nàng, chẳng khác gì tia nắng đầu tiên, ngọn gió đầu tiên, làn bụi nước đầu tiên của thế giới vào ngày đầu tiên sau khi thế giới sinh thành; không cách nào và không bao giờ chúng tôi có thể như nàng và hát giống nàng được. Dẫu vậy, không phải vì điều đó mà chúng tôi không hát nàng thông qua chúng tôi, không sống nàng bằng sự sống của chúng tôi. Và cho dẫu khi tôi hát

 

Khi người ta mang quả táo về

Trên cành con ong treo cổ

Và tôi đứng dựa tường này

Khóc

thì cứ để ai đó nghe ra trong đấy âm vang một cái gì họ từng nghe, có thể trong một cuộc đời khác hoặc trong một giấc mơ hay một giấc mơ trong một giấc mơ; cái mà với ai đó là tiếng vọng hoặc dư âm hoặc im lặng nối liền theo một dư âm thì với chúng tôi là âm thanh nguyên tuyền; tiếng nói nguyên tuyền của một phần nào đó của vũ trụ, một kết hợp khác ngẫu nhiên và không thể khác trong cơ đồ của Tạo hóa, cái cơ đồ mà theo đó tiếng nói nguyên tuyền của một ai đấy rất có thể chỉ là tiếng vọng của một cái gì thân quen đối với chúng tôi, tuy nhiên còn có gì giản dị hơn thế: mỗi chúng ta vừa là máu thịt và tiếng nói nguyên tuyền vừa là hình bóng và tiếng vang của chính mình và của nhau, đối với chính mình và đối với nhau. Việc của chúng tôi không gì hơn là cất lên thành lời, tạo hình hài cho sự xoắn xuýt không rời hòa quyện bất phân này giữa bóng và thân, giữa thanh âm nguyên thủy và tiếng vọng. Chúng tôi tự hào rằng mình hiện hữu, độ lớn của chúng tôi được đo bằng độ dài mối liên thông bất tận ấy giữa mọi vật và mọi sinh thể.”

Trong quãng lặng dài sau đó, chỉ còn nghe tiếng lách tách phát ra từ một cái gì đang chuyển hóa bên trong ngọn lửa mà đám gia nhân chăm chút không để tàn, và một cái gì đó cất lên tiếng nói không thanh âm, không đòi được lắng nghe, song, hoàn toàn tự nhiên, tâm trí con người nghe thấy nó.

Arrobauth nói.

“Kărâdángy, một trong các sư phụ ta ở Börâkhon, chắc chắn sẽ nhận ngươi làm môn sinh mà không cần phải sát hạch ngươi như đã sát hạch ta.” Chàng cười nhạt. “Bằng cái lưỡi sẵn có của ngươi, được mài bén và luyện dẻo đến mức tột cùng nhờ những năm dài siêng năng tập tành dưới sự trông nom của Thầy, ngươi sẽ chỉ cần dùng đôi lời để biến vị anh hùng thành kẻ đớn hèn, người tận trung thành tên phản phúc, đứa con hiếu thảo thành phường phá gia chi tử. Và dĩ nhiên, ngược lại cũng vậy. Ngươi đang khiến ta bắt đầu cảm thấy mình kém cỏi và bé mọn bởi ta không có khả năng nhìn thấy Hình của ngươi ở trong ta và Hình của ta ở trong ngươi. Cái khả năng mà hình như ngươi có, hử. Ta đang tự hỏi liệu ta có cần phải tự hỏi điều đó không. Cái cảm giác tự thấy mình lớn ở mi, nó có đáng để ta phải dành một góc tâm trí ta cho nó trong chốc lát trà dư tửu hậu hay không, hở tên Bongora?”

Tiếng vỗ tay chậm rãi, gồm nhiều nhịp cách đều nhau của Faínâhind như xé rách dần bầu không khí thẳng căng và đáng lẽ đã im lặng.

Faínâhind nói.

“Arrobauth của ta luôn khắc nghiệt với thế giới cho dù chàng ta yêu thế giới, hay là, chà, điều này ta mới nghĩ ra thôi: hay chính vì chàng ta yêu thế giới. Này Mattai tội nghiệp! Nếu ngươi tin chắc hay đinh ninh hay cảm thấy rằng Arrobauth đây không yêu những bài hát đi qua mồm ngươi, không yêu những linh hồn trú ngụ trong các bài hát đó và lưu chuyển thông qua chúng thì ngươi lầm. Arrobauth biết vũ trụ này đủ lớn để chàng ta phải luôn mở rộng mình hứng lấy và ôm chứa nó. Nếu ngươi có cảm thấy chàng ta rẻ rúng ngươi và nghệ thuật của ngươi, hãy coi đó là một biểu hiện của tình yêu. Ngươi chưa bao giờ biết tới gã đàn ông nào rẻ rúng ả đàn bà hắn yêu hơn hết sao? Bản chất của sự luyến ái giữa đàn bà và đàn ông không thể khó lường đến mức ấy ru? Ta không tin rằng những bài hát của ngươi không ôm chứa cả điều đó.”

"Secrets of the Earth", tranh của Ania Tomicka

Im lặng một chút, Mattai nói.

“Tôi chưa bao giờ nói rằng những gì tôi cảm thấy trong lòng mình đối với Arrobauth đại nhân không phải là một biểu hiện của tình yêu. Cũng bằng cách đó tôi yêu vẻ đẹp và sức mạnh của một tia sét khi nó tỏa những cành nhánh ảo diệu và chết chóc của nó trên bầu trời. Có một điều khắc sâu trong tâm trí những người kể chuyện chúng tôi, hay đúng hơn tâm trí chúng tôi được tạo hình dựa trên tinh túy của điều này: mọi hành vi sáng tạo đều là một hành vi của tình yêu. Dù cho tình yêu ấy trộn chung với cái gì đi nữa, và do đó có vẻ ngoài khác với tình yêu đến thế nào đi nữa, song, nếu ta đón nhận nó bằng cái tâm rộng mở, không phân biệt, cách đón nhận mà tự thân nó cũng là một hành vi của tình yêu, thì ta sẽ nhận ra nó.

“Mỗi lần chúng tôi hát một bài hát, và có một người đón nhận nó vào trong tâm khảm mình, là thêm một hành vi của tình yêu được thực hiện và viên thành. Mỗi lần một hành vi của tình yêu đó hiện hữu, chúng ta cảm thấy nó trong xương tủy mình, và ngay khi đó ta ngộ ra rằng bí mật của hiện hữu thật ra là rất giản dị: ngay khi đó cái chết có thể tới, không còn gì ngăn trở giữa nó với sự sống của chúng ta nữa. Cái chúng ta vừa cho ra đời là đủ để chúng ta không cần sống nữa.”

“Phải, toàn bộ sự sống của mi vừa vặn ngang giá với khoảnh khắc mi khiến kẻ khác phải nhỏ lệ, mơ màng hoặc cười ré lên,” Arrobauth nói, với một nụ cười mà chàng muốn người ta phải hiểu là độ lượng. Nói đoạn, chàng nhìn chằm chằm vào đôi mắt bình thản của Mattai, bình thản và sâu như đáy một vịnh kín. “Thôi được,” sau một chốc ngắn chàng nói. “Ta sẽ nói rõ hơn, để mi không hiểu lầm ý ta, với cái đầu nhỏ nhặt và chật hẹp của mi.

“Mi có biết chuyện Oglosméten và ngón đàn thần diệu hoặc quái dị của hắn ta chứ? Rằng từ tiếng đàn của hắn hồn ma các dũng sĩ và chiến binh tử trận lại hiện về sát vai cùng các chiến hữu còn sống đặng tiếp tục cuộc giao tranh kéo dài mãi mãi không dứt với những kẻ thù xứ Kinka hùng mạnh như chính Chúa Trời? Phải nói ngay với mi rằng ta không tin cái khía cạnh huyền hoặc ma mị của câu chuyện đó. Ta, một kẻ đầy lý trí và xây dựng phẩm giá của mình dựa trên lý trí, ta chỉ chấp nhận những sự thật nào không bị che đậy hoặc tự che đậy trước mắt ta. Ta nói thêm như thế để cho mi, kẻ có thể sâu sắc hơn nhưng nhất định là u mê hơn ta, chớ có bị cái bầu khí tối tăm u huyễn của câu chuyện đó lay động hoặc lôi cuốn mi, mà hãy tập trung vào một và chỉ một điểm cốt yếu: phải chăng làm sống lại những kiếp sống đã chấm dứt bằng cách đó, dựng người chết dậy và tiếp tục sử dụng họ, cho đến khi không cần tới họ nữa thì để họ nằm xuống lại và tiếp tục chết, phải chăng đó là điều tốt nhất cái nòi những kẻ như ngươi có thể làm? Linh hồn một ả đàn bà sống cách đây ngàn năm, hay một đứa con gái ở Terra, cái thế giới không-thể-nào-tới-được như mi nói, nó sống dậy, động đậy, làm rung động, làm đắm đuối, làm nức nở. Đúng. Trong một khoảnh khắc. Một khoảnh khắc tương giao với vô tận, như mi nói. Đúng, có thể. Song, khi khoảnh khắc đó đi qua rồi, cái còn lại là tất cả các khoảnh khắc khác, và cuộc đời thực của chúng ta hợp thành từ các khoảnh khắc ấy, dù có cái một-khoảnh-khắc kia hay không. Chẳng phải thế ru? Mi có thể nói gì thì nói, và nói một cách đầy sức mạnh, cao nhã, minh triết, ừ, quả có thế thật. Thế nhưng, một sự thực khác mà mi không nói, ta đây nói, và không một cái gì từ mi mà ra có thể làm thay đổi hay động tới nó đâu: Với thế giới này, cái thế giới ta, của ta, bởi ta, cho ta, mi và những kẻ như mi không là gì khác ngoài một hạng người chuyên mua vui bằng cách dựng cái chết thành cái sống và buộc người ta nhận đó là cái sống. Làm ra sự sống đích thực là việc quá khó khăn và quá lớn lao so với bọn mi. Ta coi là bạn ta và bằng vai phải lứa với ta những người làm việc để đắp nên từng dặm đường lát đá của Đế quốc, làm ra từng cái cúc áo đẹp mà ta mân mê trong ngón tay ta, đưa tới cho ta những quả nho mà ta chậm rãi, trang trọng cho vào mồm từng quả một, dâng lên ta từng mũi tên mà ta âu yếm cho thoát khỏi cánh cung, lấp loáng dưới nắng rồi tìm đến đúng chỗ thịt mềm của một con chim và hân hoan hối hả ngập sâu vào đó.

“Dĩ nhiên,” chàng giơ một tay lên như để ngăn lại một lời đáp lại trước khi nó được thốt ra, trước khi ai đó kịp nghĩ rằng mình sẽ thốt ra. “Dĩ nhiên ta biết, mi hay ai đó như mi sẽ nói, như ai đó ta không nhớ tên và không cần nhớ tên, từng nói, rằng những bài hát của bọn mi, tiếng cười, giọt nước mắt, giấc mơ ngày, nỗi xáo động, cơn thắt ruột mà bọn mi khơi nên ở những kẻ lắng nghe bọn mi, tất cả đều là những hình thái khác nhau của một vương quốc bị lãng quên, cái vương quốc đã từ lâu không tìm được chỗ cho mình trong cái thế giới của những lo toan tủn mủn thường nhật và lạc thú chóng tàn. Ô hô, ta hiểu mi lắm. Ta hiểu mi hơn mi tưởng nhiều, phải không. A ha, ta rất hiểu mi, mặc dù ta khác mi, chính bởi vì ta khác mi, chính vì vậy mà ta mới khác mi. Ha, chính vậy đó: ta khinh mi, dù biết hay không biết rằng theo nghĩa nào đó mi cũng có thể giàu có và sâu xa hơn ta. Trong cái thế giới chúng ta đang tồn tại đây, chẳng có điều gì tự nhiên và hợp lẽ hơn thế. Khinh miệt mi và những kẻ cùng nòi giống với mi là một trong những cái làm nên phẩm tính của ta, chẳng khác nào chạy nhanh là phẩm tính của con ngựa và tàn độc là phẩm tính của loài rắn bé tí xinh xẻo mà mi thấy đang cuộn mình ngoan ngoãn và u sầu trong bình rượu này của ta. Ừ đấy, mi nói nữa đi, nói cho đến hơi thở sau bét của mi nếu mi muốn, về những vũ trụ mà dường như mi và bọn như mi có khả năng tạo ra còn ta thì không, vũ trụ của những thứ thực sự sống hoặc vờ sống hoặc chết mà như sống hoặc sống nhưng khó nhận ra đến nỗi chả khác gì không sống, đó là việc của mi. Còn ta, cái vũ trụ thực sự có và thực sự đang sống này, ta đang có nó trong tay ta, trên ta, dưới ta, xung quanh ta, bên trong ta, nó là của ta, nó ta, và ở trong đó, mi, một thứ ở bên dưới ta, mi không có khả năng gì tác động tới ta được. Cơ đồ của vũ trụ đã được an bài theo cách đó. Mi cựa quậy, vùng vẫy, khua khoắng nhặng xị lên trong cái xó của mi, cái xó khiêm nhường nhất giữa những xó khiêm nhường nhất, cố công làm đẹp làm giàu thêm cái thế gian này theo cách của mi, theo cách hiểu của đầu óc mi về chuyện thế nào là cái đẹp và sự giàu có. Cứ làm thế đi, không ai cấm mi. Song khi nào ta, Arrobauth, công dân đế quốc Siră Kăntânări, ta cất lời với mi về chuyện thực ra mi và cái mi làm ra đang nằm ở đâu trong thế giới này thì mi phải lắng nghe ta và hiểu đúng cái điều ta muốn mi hiểu. Có một khoảng cách thường tồn, không thể vượt qua giữa ta với mi. Dù mi có ở đâu, làm gì, hát gì, nói gì, nghĩ gì, đừng bao giờ quên mất cái khoảng hẹp đó, nơi duy nhất mi được phép đứng.”

Có một quãng lặng ngắn trong đó dường như vạn sự trong vũ trụ đã khép lại thay vì mở ra. Thế rồi, điềm tĩnh, dường như vừa thân mật vừa châm biếm, giọng Faínâhind cất lên.

“Nào Mattai. Miệng lưỡi và thần trí của ngươi đâu rồi?”

“Miệng lưỡi và thần trí không phải lúc nào cũng đi đôi với nhau, thưa tiểu thư,” Mattai chậm rãi nói, không vơi chút nào vẻ bình thản. “Ai là kẻ trong chúng ta có thể khẳng định, như một chân lý tối hậu, rằng một tảng đá tồn tại trong trời đất từ thuở hồng hoang lại không có thần trí riêng của nó? Chuyện tôi nói gì không có thực chất bằng chuyện tôi nghĩ gì, điều đó hẳn Faínâhind cô nương và Arrobauth đại nhân hiểu. Những gì tôi nghĩ luôn luôn lớn hơn, sâu hơn, nặng hơn gấp bội những gì tôi nói, chẳng phải như vậy ru? Những gì tôi mang trong đầu và trong tim tôi nặng gấp muôn lần những gì tôi mang trong bụng tôi, cho dẫu điều đó chỉ những người như tôi mới thấu hiểu được. Tôi chỉ có một cõi thế duy nhất mà trong đó tôi sống, nhưng tôi mang trong đầu và trong tim mình hàng trăm hàng ngàn cõi thế khác, chúng sống trong tôi và bên trong chúng hàng muôn vạn những người những thú những chim những cá những trùng những cỏ cây khác sống, đối với muôn loài đó thì những cõi thế ở bên trong tôi kia là những cõi thế vô tận. Vậy là thân thể tôi, trí óc tôi, tâm hồn tôi là ngõ thông giữa cái hữu hạn và cái vô hạn. Bên kia là vô hạn thì ở đây hữu hạn, ở đây hữu hạn thì bên kia vô hạn. Và khi tôi chết, muôn vàn thế giới ở bên trong tôi không chết, chỉ là cái lối đi từ thế giới này đến các thế giới ấy thông qua tôi đã đóng lại vĩnh viễn. Những thế giới đó, chúng vẫn có đấy, đang hiện hữu đấy. Hãy tìm một lối thông khác, rồi thì chúng sẽ lại mở ra cho ta, nguyên vẹn. Đó là lý do vì sao chúng tôi hát, chúng tôi kể chuyện, chúng tôi trao lại những bài hát và câu chuyện ở trong mình cho những ai sẵn lòng nghe chúng và mong muốn đến lượt họ mang chúng ở trong mình, để cho chúng tuôn bên trong mình giống như máu và sinh khí của mình và thông qua mình mà tuôn trở về cõi vô hạn ở phía bên kia chúng tôi. Nghề của chúng tôi khiến cho, chừng nào chúng tôi còn sống, chừng nào chúng tôi còn một giọt sự sống cuối ở trong mình, chúng tôi còn hát còn kể về những gì lớn hơn chúng tôi, tốt hơn chúng tôi, đẹp hơn chúng tôi, và còn mãi mãi im lặng về bản thân chúng tôi. Vâng, đó là đạo lý nghề nghiệp của chúng tôi: mãi mãi cất tiếng và đồng thời mãi mãi im lặng.

“Vả chăng, chúng tôi im lặng, có những lúc cần im lặng, về bản thân mình thì im lặng bởi vì, rất có thể, trong khi chúng ta đang kể chuyện về các nhân vật của mình, có một ai đó đang kể chuyện về chúng ta. Người kể chuyện này cũng là một con người, có một cuộc đời đầy bất trắc khôn lường giống như chúng ta. Cho nên rất có thể một lúc nào đó có một sự biến xảy ra khiến người này không thể kể tiếp câu chuyện về chúng ta nữa, chừng đó thì chúng ta vừa tồn tại vừa không tồn tại. Chừng đó chúng ta tồn tại đối với bản thân chúng ta và không tồn tại, không còn tồn tại nữa đối với những ai cho đến giờ vẫn đang nghe câu chuyện về chúng ta. Và do vậy đến lượt mình chúng ta tiếp tục kể chuyện về các nhân vật của mình là để cho họ tiếp tục tồn tại đối với chúng ta, giữ cho cái cõi thực ấy không biến mất đối với chúng ta. Khi một người trong chúng ta chết giữa khi đang kể, liền có một người khác nắm lấy câu chuyện mà kể tiếp, không để nó đứt, đấy là chúng ta đang làm tròn nghĩa vụ của mình đối với các thế giới kia, giữ cho chúng tiếp tục hiện hữu đối với chúng ta, và thế là chúng ta có thể chết trong tự hào rằng mình đã không sống vô ích.”

Chàng ngừng nói. Và rồi, từ sâu dưới đáy sự im lặng mà chỉ đây đó bị nẻ ra vài vết li ti bởi tiếng nổ lách tách của củi cháy đượm trong ngọn lửa, trồi lên giọng Faínâhind, mảnh, mong manh, run run, chẳng giống tí nào với giọng thường ngày của Faínâhind, như giọng một sinh thể vừa sống lại bằng xương thịt song vẫn chưa thể tin vào điều đó, sợ phải biết sự thật rằng mình vẫn đang là một linh hồn.

“Cái cõi xa xăm vô cùng mà chưa một ai trong loài người chúng ta từng đến được ấy, ngươi bảo tên nó là gì, Mattai?”

“Thưa cô nương Faínâhind kiều diễm, điều đó bản thân tôi không biết chắc. Chỉ biết rằng nó có nhiều tên khác nhau trong những ngôn ngữ khác nhau của các tộc người sinh sống ở đó, và một trong số đó là Terra. Đó là một trong những cái tên được nói ra nhiều hơn hết từ môi các cư dân thế giới đó mỗi khi họ muốn nhắc đến nó, với tình yêu, với niềm hoài nhớ, với nỗi đau đớn, trong cơn phẫn hận hoặc bằng trí óc lạnh lùng. Terra, hay một trong nhiều biến thể của cái tên đó trong nhiều thứ tiếng khác nhau. Terre. Tierra, Tèra... Một tên khác của nó, mà ta có thể nghe đến còn thường xuyên hơn, là Earth. Thế giới ấy cũng rộng lớn như thế giới của chúng ta, cũng nhiều sông, nhiều núi, nhiều rừng, nhiều đồng bằng, nhiều vực sâu, nhiều hoang mạc, nhiều biển lớn, nhiều vùng băng giá như thế giới của chúng ta vậy. Ở đó cũng có nhiều đất nước rất khác nhau giống như thế giới của chúng ta, với rất nhiều tộc người có hình dáng khác nhau, nói những ngôn ngữ khác nhau và theo những tập quán khác nhau, giống như thế giới của chúng ta. Và những người này, cho dẫu có vẻ khác chúng ta đến như vậy, kỳ thực rất giống chúng ta, rất gần chúng ta. Nếu một người như vậy, từ Terra, bằng cách nào đó mà rơi sang thế giới của chúng ta và lọt vào giữa chúng ta, hoàn toàn có thể một ai đó trong chúng ta sẽ đem lòng yêu người ấy và chung thủy với mối tình đó đến chết. Ngược lại cũng vậy. Biết bao câu chuyện và bài hát tuyệt đẹp có thể sinh ra từ đó. Nghiệt nỗi, chuyện đó không bao giờ xảy ra được. Terra là bóng của chúng ta và chúng ta là bóng của Terra. Chúng ta không thể trở thành bóng của chính mình đặng yêu một cái bóng khác.”

“Vậy thì,” Arrobauth chợt lên tiếng, kìm một tiếng cười khẩy khó mà đoán được ẩn nghĩa, “mi nói nhiều về Terra như vậy để làm gì? Cứ để cho thân của ta là thân của ta và bóng của ta là bóng của ta, mỗi đằng có chỗ của mình và yên phận, thế chẳng hay hơn sao? Hãy say mê ngắm nhìn thế giới bóng đó nếu mi muốn, đắm mình vào thế giới bóng đó nếu mi thích giống như đắm mình vào một giấc mơ không đành quên, song vẫn luôn luôn khắc cốt ghi tâm rằng đó là thế giới bóng, những cái bóng mà trong thực chất không hơn gì những hồn ma, những hơi gió, những làn khói, và sống hết mình sống đến cùng kiệt máu của mi trong thế giới thực, cái thế giới thực duy nhất hiện hữu, thế giới của những thể xác đầy cáu ghét đầy cứt song cũng có thể đầy hương thơm. Thế giới của cô nương Faínâhind, của ta, của mi. Mi có đủ khả năng làm vậy không? Nghe mi nói, ta có cảm tưởng là mi không thể.”

“Kẻ không thấy được có thể nghe xa hơn những người thấy được,” Mattai nhỏ nhẹ nói. “Kẻ không thể đứng trên hai chân mình có thể chỉ nói một lời mà khiến một người gục ngã đứng dậy. Người kể chuyện chúng tôi có thể không đứng chắc chân được trên mặt đất giống như người thợ xây đường cho đế quốc hay kẻ tiều phu ngày ngày đốn cây cổ thụ, thể xác chúng tôi không được sinh ra để làm việc đó. Song bằng một đôi tai ở sâu trong chúng tôi và đồng thời ở cách chúng tôi vô số dặm song là của chúng tôi, chúng tôi nghe được một người nào đó ở Terra đang kể câu chuyện về chúng ta, về chính chúng ta, và qua đó làm cho chúng ta ngày càng hiện hữu đối với người ở thế giới ấy. Khi chúng ta im lặng đủ sâu, chúng ta có thể nghe được sự im lặng của chính mình ở đó, ở Terra. Khi chúng ta thét lên đủ lớn với toàn bộ tâm hồn mình vì sung sướng hay phẫn nộ, chúng ta có thể nghe tiếng thét đó của chính mình ở đấy, Terra, không phải tiếng vọng mà là anh em song sinh của tiếng thét ấy. Chừng đó, và chỉ chừng đó, chúng ta mới thấu hiểu rằng chúng ta sống từng khoảnh khắc của chúng ta ở đây cũng là để sống cho từng khoảnh khắc của chúng ta ở đó. Thể xác chúng ta không thể đi sang được đó song tinh thần chúng ta có thể. Chúng tôi kể chuyện Terra là để không ngừng nhắc nhở mọi người chúng ta nhớ điều đó, cũng như những người Terra kể chuyện chúng ta vậy. Chúng ta và họ cùng hiện hữu, cùng sống sánh đôi bên nhau qua những câu chuyện. Thể xác chúng tôi, cuộc đời chúng tôi, người kể chuyện, chẳng là gì hơn cái đầu mút của những sợi dây vô hình nối liền đôi bên, thưa Arrobauth đại nhân. Chúng tôi không được phép gắn quá chắc vào cõi hữu hình đến nỗi làm lơi đi mối nối giữa mình với cõi vô hình.”

Mattai ngừng nói, và một lần nữa âm thanh duy nhất chiếm hữu không gian và đôi tai cùng trái tim người là tiếng củi nổ lách tách trong ngọn lửa. Vài cặp mắt hướng về phía Arrobauth, chờ đợi, giữa khi chàng ngồi đó chìm trong trầm tư. Faínâhind nhìn chàng với vẻ dịu dàng. Nếu chàng nhìn lại Faínâhind, chàng sẽ thấy rằng chưa khi nào nàng nhìn chàng với sự dịu dàng đến như vậy. Tuy nhiên chàng không nhìn Faínâhind. Chàng như đang thấy, xuyên qua bầu máu và thịt nóng của một sinh thể nào đó thuộc về đất mà chàng yêu thương, hình bóng mơ hồ khó nắm của một giấc mơ nào đó chàng từng có trong quá khứ mà lúc này bỗng trở lại trong tâm trí chàng, thoảng nhẹ và ám ảnh, như làn gió nổi ẩm lạnh duy nhất ở trong lòng bừng cháy của mùa hè khô kiệt nhất. Một vẻ buồn khác lạ thấm đượm chàng, “giống như ánh mờ của một ngôi sao đen”. Nếu có ai nhìn Mattai lúc này, người đó sẽ biết chàng đang nhìn Arrobauth với một vẻ trìu mến và dịu dàng ra sao. Như thể chàng đang nhìn một người anh em ruột thịt cho dẫu chàng biết người anh em đó có thể giết chàng bất cứ lúc nào bởi chàng biết rằng người anh em đó không biết việc mình làm. Và cái im lặng tỏa ra từ hai người này, từ Arrobauth kẻ đang chiêm quan cái gì đó chỉ một mình chàng thấy, và từ Mattai kẻ đang chiêm quan cái gì đó bên trong Arrobauth mà có lẽ chỉ một mình Mattai thấy, là một im lặng mà mọi người khác đều cảm thấy mình không nên phá vỡ cho dù bản chất của nó họ không thật hiểu.

 @Trần Tiễn Cao Đăng