Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2017

NHÀ THƠ

(Viết vào khoảng năm 1989-1990, khi tôi đang học đại học - một phần của một tiểu thuyết bỏ dở có nhan đề "Vũ trụ loài người").

Cho đến giờ tôi vẫn khó hình dung bản thân mình, tại đất nước Việt Nam những năm đó, một thằng sinh viên ốm đói, hoàn toàn không có ý niệm về chuyện tương lai sẽ đi về đâu, lại dành thời gian và có tâm trí để viết một thứ như thế này.

Đầy nhiệt huyết và không ít ngây thơ. 

-----------------------

NHÀ THƠ

Nhà Thơ khi ấy một bông huệ trắng cầm tay
Anh mang nhiệt tình trong đôi mắt;
Nhưng hoa huệ bỗng chốc hóa máu đào,
Và máu đào bỗng chốc thành cái chết.

Nicolas Guillen

 … Cái hình ảnh đau buồn và bi thương ấy - bông hoa bé nhỏ dịu dàng bị vài chục gót giày chà đạp, xéo nát - đã không bao giờ buông tha Nhà Thơ, đã trùm lên giấc ngủ anh như tảng bóng tối kinh khủng khiến những giấc mơ anh nặng nề và thoang thoảng mùi cái chết. Hình ảnh ấy là con dao nhọn hoắt chọc thủng ngực anh và rạch nát tim anh; là tia sáng ảm đạm và khắc khoải rọi suốt cuộc đời kỳ lạ của anh. Một người Đông Nam Á với cái tên bí hiểm Susu Durakôn viết tắt là S. Dur nhưng người Hoa gọi một cách trìu mến và kính cẩn là S. Long - S. Con Rồng, anh sinh ra như hiện thân cho đứa con của sự cùng khổ và sự Tự Vượt Thoát Lớn mà nhờ nó những dân tộc này đã đạt được những bước nhảy vó đại vào thế kỷ XXIII “hoàng kim” mà người ta mãi mãi nhắc tới với niềm kiêu hãnh. Thiết tha yêu đời một cách dữ dội và yêu phụ nữ đến cuồng si, anh có người chị - người mà anh yêu quí vô hạn - bị một lũ chiếm đóng nước ngoài bắt cóc vào một đêm sáng trăng rồi hãm hiếp đến chết, xác chặt làm mười lăm mảnh vứt cho chó ăn. Đó là một vết thương rộng toác hoác trong lòng anh; anh như ổ bánh mì bị moi hết một nửa ruột. Nhưng anh vẫn cố gắng làm việc, và người phụ nữ đã luôn luôn là nhân vật - người bạn đường thân yêu nhất của anh. Ai từng biết về thời Phục Hưng Văn Hóa vó đại từ thế kỷ XXI đến XXIV của châu Á trong đó có Đông Nam Á với tên tuổi các danh nhân khổng lồ cùng những công trình bất hủ của họ không thể nào không nghe đến tên anh: những bộ tiểu thuyết - sử thi đồ sộ vừa khủng khiếp vừa huyền hoặc và nên thơ của anh, những vở kịch khác thường hay đến mức siêu thực trong đó anh nói về phụ nữ và tình yêu của nàng với sự am tường và trìu mến khôn tả cũng như làm sống lại những kỹ thuật diễn xuất và lối cảm nhận không gian độc nhất vô nhị của Rom Robam, của Wayang Kulit và Hát Bội tưởng đã vĩnh viễn chôn vùi vào lãng quên, những bộ phim trong đó sự vận dụng táo bạo đến liều lĩnh những khả năng biến ảo khôn cùng và ngoài sức tưởng tượng của Điện ảnh Phi Ơclit đã làm cho Riêm Kê và Aria Chăm Bơni dưới bàn tay tuyệt vời của anh trở thành những thế giới vừa hoang đường vừa có thật mà kẻ lọt vào trong đó vừa thấy e sợ đồng thời háo hức, đau lòng, phẫn nộ và bâng khuâng - đó chỉ là một ít trong những gì S. Dur đã làm cho dân tộc anh và Đông Nam Á của anh cũng tức là cho toàn thể thế giới. Và trong suốt cuộc đời kỳ dị luôn luôn tràn ngập từ ngữ, âm nhạc và ánh sáng của anh, những hình hài phụ nữ đã không một phút nào rời khỏi bóng đôi vai rộng của anh; anh từng yêu rất nhiều người, từng đau khổ, và cả tình yêu lẫn nỗi đau của anh đều luôn luôn cực kỳ mãnh liệt. Anh đã từng, như cách nói người xưa, đi khắp cùng trời cuối đất, đã nếm qua tất cả niềm vui cùng bất hạnh, lạc thú và tai ương của cuộc đời người. Cõi thế vô tận hằng mến yêu anh nâng đỡ anh cũng vững chắc như bầu không khí vững nâng những cánh đại bàng; vinh quang làm rạng rỡ năm tháng của cuộc đời anh cũng như Bắc cực quang khiến những đêm trường đài nguyên trở thành lung linh huyền ảo. Nhưng MỘT CÁI GÌ đã luôn luôn không có trong đời anh; anh đã luôn luôn tìm kiếm một cái gì vượt khỏi tay anh và chân trời mộng tưởng của anh; và anh đã chỉ tìm thấy nó vào những năm tháng sau cùng - những tháng năm đẹp nhất - của cuộc đời anh (chính xác hơn là cuộc đời anh với tư cách một Con Người) khi anh truc tiếp tham gia cuộc kháng chiến đã thành huyền thoại của hành tinh Chulakorn 10 chống sự nô dịch thô bỉ từ phía Tập đoàn liên hành tinh Ngoại Sirius.

Người ta nói anh từng phẫn nộ một cách khủng khiếp và lập tức ghi tên vào Lữ đoàn Tình nguyện Bolivar - một việc mà bấy lâu nay anh lần lữa - khi nghe kể câu chuyện không dành cho kẻ yếu tim về loại vũ khí trứ danh người ta dùng để khử những kẻ yêu tự do, cái vũ khí được gọi một cách giàu chất thơ là Skull Squeezer - Vắt Sọ. Người ta kể rằng những kẻ chống bạo quyền tự bảo vệ bằng những bộ Siêu Giáp (SA - Super Armor) dày đặc mà mọi thứ sóng cũng như hạt đều không thể nào lọt qua - đó là sự vận dụng Hiệu ứng Trở Tuyệt đối. Bằng bộ Siêu Giáp này người ta không sợ bất kỳ thứ gì trong số những vũ khí quang học lợi hại nhất - kể cả đại bác laser và bom hồ quang, kể cả Vòi Rồng Tử Ngoại và loại súng bắn tia Sáng Đặc kinh hồn V. Killer. Khi đó những kẻ muốn thống trị kẻ khác, vốn vô cùng sáng tạo và tuyệt vời thông minh, đã làm ra cái vũ khí phi thường này - Skull Squeezer - Vắt Sọ. Đó là một thứ tia hoàn toàn bí mật, cho đến nay là thứ sóng độc nhất có thể xuyên qua lớp vỏ của Siêu Giáp vốn không cho xuyên qua bất kỳ thứ gì. Vắt Sọ không tấn công toàn bộ cơ thể người, Vắt Sọ chỉ nhắm vào sọ não anh ta. Trong vòng 1/15 giây sau khi được tắm mình trong tia Vắt Sọ, bộ não người liền tan ra thành một thứ dịch loãng màu xám nhờ như tro; dịch này tiết ra ngoài qua mọi ngả có thể: mũi và tai, mắt và chân răng. Dịch chảy ra đều đều và chậm, sánh hơn sữa bò mới vắt một chút. Dịch càng chảy thì cái đầu càng tóp lại, quắt lại, nhàu nát, nhăn nhúm - cũng như quả cà chua thối; thử bóp mạnh cho phần ruột bầy nhầy phọt ra, bạn sẽ thấy cái xác còn lại quắt queo và nhăn nhúm như thế nào. Mà thật, điều Vắt Sọ làm giống việc vắt nước một quả thối đến nỗi người thứ dịch màu xám tro thu được sau cùng ấy bằng cái tên không kém chất thơ là Brain Sauce - Xốt Não. Và đúng như dự kiến của nhà phát minh thiên tài, Skull Squeezer đã làm được điều mà tất cả các vũ khí quang học (Optical Weapons, OW) khác đành chịu bó tay: hàng đàn những kẻ chống đối - những tên Người Dưới xấu số và cũng khá can đảm - đã gục chết như rạ cách hàng nghìn kilômét trước khi chúng bén mũi chân đến được vòng đai bảo vệ các nhà sáng chế vô địch kia; và ai lại không biết rằng trong những bộ Siêu Giáp màu xanh lưu ly nằm ngổn ngang chất chồng như sau cơn động đất kia, trong những cái mũ trùm kín khum khum như mai rùa kia không còn những cái đầu, mà chỉ còn những cái vỏ quắt lại, bẹp dúm nhầy nhụa trong vũng Xốt Não nhờ nhờ màu tro... Hình ảnh ấy thật mới lạ, kỳ thú và gây cảm hứng đến nỗi người ta đâm ra khoái dùng Vắt Sọ; người ta dùng nhiều và thường xuyên một cách đôi khi không cần thiết với một sự cuồng nhiệt đôi khi hơi quá đà; người ta thấy thật hả hê và dễ chịu khi không ai khác ngoài mình lại có dịp ngồi vào sau bàn điều khiển hình ovan màu da cam, viết bằng ý nghĩ lên màn hình trong suốt những chữ và số màu xanh ngọc bích - địa điểm và thời gian mà các Sọ sẽ được Vắt -, rồi, một tay đặt lên cần maníp màu vàng chanh, tay kia nâng cốc rượu vang hảo hạng màu hổ phách, nốc một hơi cạn đến đáy, khà một tiếng ngon lành, chép miệng, rồi nhìn các chiến hữu với nụ cười của Mars Thần Chiến tranh, nói bằng giọng hân hoan và đầy phong vị chiến thắng:“Well, let's cook them!” - “Nào, ta hãy nấu chúng!” - "chúng" ở đây là những cái đầu người.

(Có mối liên hệ giữa động từ "to cook" - "nấu" với cái tên Vắt Sọ - Skull Squeezer: số là, từ hai chữ Skull Squeezer, một người nào đó với óc tưởng tượng trào lộng đã chế ra cái tên lóng này mà về sau thành thông dụng đến nỗi có người quên hẳn xuất xứ - thay vì "Skull Squeezer" người ta chỉ gọi "KUKKEE"; cái tên này, như bạn sẽ thấy, lại gợi nhớ từ "Cookie" - "bánh mì con, bánh dẹt, người nấu nướng". Và nghĩ sâu hơn nữa thì không thể không nhận thấy có gì đó khá gần gũi giữa Skull Squeezer và Ku-Klux-Klan khét tiếng, vì hình như chính từ Ku-Klux-Klan mà có Kukkee (Ku + K (lux) + K (lan) + EE).

Tất nhiên S. Dur chẳng phải là người đầu tiên cảm thấy không thể nào ưa nổi Vắt Sọ. Quả thật đứa con út kỳ lạ và ghê gớm này của kỹ nghệ vũ khí không thể làm nhẹ nhõm trái tim một người bình thường. Vắt Sọ là một cái tên dễ thương; sự dễ thương mang lại cái chết. Trước S. Dur đã có những người nói chung không thiếu tự trọng lập nên cái gọi là Tổ chức Quốc tế Những người Chống Vắt Sọ (IOSSA - International Organization of Skull Squeezer Againsters). Họ gọi Vắt Sọ là cặn bã đáng tởm (disgustful offal) của nền văn minh; điều này cũng đáng lưu ý, vì có những người khác tôn xưng Vắt Sọ là thành tựu kỳ vĩ (monumental achievement) của chính nền văn minh ấy. Các iossani (thành viên của IOSSA) coi bản thân sự hiện hữu của Vắt Sọ là biểu hiện thuần khiết cho sự cùng kiệt của lương tri con người. Đấy là chưa nói đến việc sử dụng nó, tán dương nó và nhớ ơn nó. Và, như người ta nói, IOSSA đã tranh đấu. Kể cũng khá nực cười cái ý nghĩ rằng có thể đấu tranh có kết quả với một thế lực vĩnh hằng như các Tập đoàn Liên hành tinh. Nhưng iossani là những kẻ thông minh; họ biết việc họ làm không điên như nhiều người - chẳng hạn các chủ Vắt Sọ - thường nghĩ. (Ngược lại, chẳng có gì điên hơn là ngồi yên cho Vắt Sọ tiếp tục làm cái công vụ quý hóa của nó). Chủ Vắt Sọ là những người lịch lãm; họ biết lấy lòng thiên hạ, nhưng iossani còn lịch lãm hơn thế. “Vắt Sọ có một great dignity; mọi kẻ hoàn thành sứ mạng của mình đều như vậy”, một kẻ nói, nhưng kẻ khác trả lời: “Con quái vật kinh tởm (A monstruous monster)! Nó không có khả năng cư xử khác hơn với những cái đầu người”. Mà giống người, trước tiên là những cái đầu người (chứ không phải là những ngực và đùi); việc IOSSA làm là thiêng liêng chính vì lẽ đó. ... Phải, và IOSSA bắt đầu từ việc đơn giản nhất: đòi IA thông qua Nghị quyết về Cấm Dùng Vắt Sọ. Việc ấy dễ làm?... Không, không phải. Chấp nhận điều đó với một số người hóa ra lại khó khăn một cách quỷ quái, đơn giản vì ở đây không phải ai khác mà chính công dân thuộc hành tinh đẳng cấp cao nhất bị buộc phải suy nghĩ về những gì kẻ khác nghĩ về họ. Nhắc đến điều đó đơn giản là một việc nằm ngoài ý niệm. Và cho dù lời của IOSSA có làm rung động những con tim, người ta vẫn không thể nào thông qua nổi một Nghị quyết như thế và khi đã thông qua thì chẳng cách nào thực thi một Nghị quyết như thế. Đấy là do thế lực của Ngoại Sirius - tức là của New Earth mà nó là hiện thân - đối với thiên hà địa phương là toàn diện và tuyệt đối: người ta chỉ có thể phản đối họ - bằng nước bọt và media -, người ta chẳng đời nào có thể ngăn họ làm những việc cực đoan nhất họ muốn, vì lợi ích của họ. Bởi thế nên Nghị quyết Cấm Dùng Vắt Sọ, thông qua ở Đại Hội đồng IA ngày 17 tháng 4 năm...., về sau mệnh danh là Nghị quyết Cấm Nấu Sọ (No Brain-cooking Resolution), cho đến ngày 31 tháng 12 cùng năm vẫn là Nghị quyết Liệt (Paralytic Resolution, "Pralute"), đến ngày 26 tháng 2 năm tiếp theo vẫn cứ vậy và được đổi tên là Nghị quyết Chết (Dead Resolution, "Delute"), và như thế ở hành tinh nhỏ bé xấu số kia những cái đầu người vẫn tiếp tục được nấu.

Sunyuan & Pengyu - If I Died (2013)

Về sau ta đọc được tất cả những điều đó trong tác phẩm của anh. Bằng giọng văn chính xác, mãnh liệt, đau đớn, anh miêu tả một cách hiện thực khủng khiếp cái tính hung triệu ghê gớm và âm thầm của một thế giới nơi mà nghìn triệu cuộc đời bị chém, bị chặt, và bị chết nghẹt. Từ những trang sách ứa ra từng giọt nước mắt đục chát xít; hòa sang trong mắt Hanuman, chúng thành chì lỏng, còn qua mắt ta, chúng trở thành axít đặc. Càng đọc càng cảm thấy ruột gan ta dần dần biến thành carbon nguyên thuỷ. Ta đau đớn khủng khiếp. Và ta không thể nào không trút bớt bầu phún thạch này từ bụng ta sang kẻ khác; ta mong chờ ở lòng vị tha và tình thương của họ. Ta chưa muốn chết. Ta chưa được phép chết. Còn quá nhiều kẻ phải đau đớn thê thảm rồi mới chết; mà ngoài ta,không ai kể về cái chết của họ. Và như vậy chẳng biết bao lâu ở Chulakorn không gì khác hơn là bóng đêm quái đản và mông muội, bóng đêm khủng khiếp và đồng nghĩa một cách kinh dị với Cái Chết. Nhưng không, bóng tối ấy… Kinh dị đến nỗi không chỉ đồng nghĩa với cái chết. Nó ghê rợn và hãi hùng đến nỗi… ghê rợn và hãi hùng đến nỗi… Hình như người đời chẳng có lời gì khác hơn nỗi kinh hồng ngập lút trong bóng đêm, và Cái Chết dâng lên làm cổ họng tắc nghẹn. Chưa bao giờ thế giới đen ngòm đến mức đó!... Bạn thấy mình chỉ là một giọt trong biển mực tàu không đáy và rộng hơn cả vũ trụ. Bạn khiếp vía khi thấy mực tàu nuốt chửng bạn, bạn chóng mặt buồn nơn, muốn kêu thét, muốn gào lên rằng bạn đang chết. Nhưng Cái Chết đà tiện phăng tiếng thét của bạn. Đó là chính là Màn Đêm tuyệt đối mà người ta nói trước đây nhiều thế kỷ. Quà Thiêng liêng, Quà Tối thượng mà người Văn minh - Công dân siêu trái đất (CIV-Supertric) dành cho lồi Hai Cẳng Đáng Thương ở Chulakorn IO khốn nạn chính là Màn Đêm này đây. Mãi mãi không còn được thấy ánh sáng, mãi mãi không còn được Mặt Trời sưởi ấm; đó là câu trả lời dành cho những yêu sách bình đẳng và tự do.

... Xamba! Nàng là Niềm Vui là ánh sáng của S., là Mặt Trời thân yêu, Hy vọng nặng trĩu và tròn đầy của S. Hào quang ngời chói của tuổi thanh xuân từ tấm thân Nàng, mãnh liệt và làm đắm say hơn bất kỳ thứ ánh sáng hữu hình nào; có Nàng, Màu Đen Tuyệt Đối trở thành nhu mì như đêm trăng tròn. S. nhìn nàng, nín thở,chống cằm, bâng khuâng; S. khóc. S. chưa bao giờ gặp ai hoàn mỹ hơn người con gái này; mà những người hoàn mỹ như vậy; S. thấy mình bất lực nếu chỉ có thể hiến dâng cả cuộc đời S., sinh mạng S. S. yêu nàng, yêu dữ dội, yêu ghê lắm, nhiều lắm...và Nàng, Nàng cũng yêu S., Nàng tự hiến mình làm Nàng Thơ của Nhà Thơ. 

HOA HUỆ CỦA NHÀ THƠ

Nghiệt ngã xiết bao thân phận con người! Xamba đích thực là Hoa huệ của S., Hoa huệ của Nhà Thơ, mặc dù Nàng không trắng, Nàng đen. Nàng như một hạt huyền thật lớn, nàng như đúc bằng đồng đen; nàng như mặt hồ loang loáng một đêm trăng non. “Ông cố nội em tuyền trắng; ông nội em hầu như trắng, ba em gần như đen. “Con cần phải đen. Con cần có màu da đen như tổ tiên ngàn đời trước của con. Con phải tự hào với màu da đen của con. Ba sung sướng rằng con đen hơn ba; rằng con gái ba đen như bất kỳ người con gái Xuđăng nào. Đó là thành quả của cuộc đời ba; hãy cám ơn ba”. Ba thật là giống Seydou Okucha; râu ba rậm dày, mặt ba phúc hậu nhất là khi ba nhìn em mỉm cười. Em hôn trán ba, hôn bộ râu xồm của ba; đấy là em cảm ơn ba. Em xúc động vô cùng; em cảm thấy niềm vui của cả cuộc đời ba nằm trong một nụ hôn trìu mến của em. Ba đã từng mong mỏi màu da đen một cách da diết và dữ dội. Đã từ bao giờ người ta không còn thấy màu da đen nguyên thủy? Màu da ấy chết rồi ư? Không, nó vẫn còn; nó ở nơi em đây. Cuộc sống thật là vĩ đại!

S. nghe nói, mắt cười hoan hỉ dịu dàng. Nữ tính là Nàng; Nàng hiền thục lắm thay! Sau khi em đã hôn ba, ba lại chỉ hai má mình mà bảo: “Nào, hôn đây nữa, con gái!” Thế là em hôn má ba; em sung sướng làm sao; bởi ba không chối từ để em bày tỏ lòng biết ơn vô bờ bến. Rồi ba bảo: Đi đi; em ngần ngừ; ba lại bảo: đi đi! Em hiểu rằng ba muốn ở một mình; đấy, có mặt em mà ba quay lưng lại thế... Nhưng em biết rằng buổi tối, ba sẽ lại chờ em đến để hôn ba... Đó là Tình Yêu kỳ lạ của ba; em là Tình Yêu không gì thay thế được của ba. Em rất giống mẹ; bác Ng’u em bảo: mẹ em bỏ ba con em khi em còn rất nhỏ... Nàng cười, e ấp, lặng im. Nàng là cái túi đựng phần tinh hoa huyền diệu nhất của đêm; hàm răng nàng là hào quang tất thảy trăng sao luyện thành đôi chuỗi ngọc. “Các mẹ em khen rằng em xinh hơn cả Um’ban. Em hỏi Um’ban là ai, xinh đến cỡ nào; các mẹ cười mà bảo Um’ban là người đẹp huyền thoại, nàng không còn đã lâu, lâu lắm rồi; từ cái thời chúng ta chưa ra khỏi Hệ Mặt trời-Mẹ của chúng ta. Thiên hạ bảo người da đen đẹp như nàng chỉ có một. Nhưng nay Um’ban ở số hai, số một chính là em. Điều đó em không tin; các mẹ lại cười và mang em đi tắm. 

Nàng tắm trong lâu đài nước vĩ đại hình tinh thể kim cương sáng lóa mắt mà điểm cao nhất ngang tầm con hải âu chao cánh liệng bên chàng thủy thủ trên cột buồm. Những cột nước - những giải lụa nước, những con rồng bằng nước khổng lồ óng ánh ngũ sắc - biến nàng thành giọt nước trong veo, xoay nàng tít mù trong điệu múa cuồng hoan, hút nàng vào hạt nhân của muôn ngàn asymmétrie ảo diệu mà mỗi phần tử dù nhỏ nhất cũng là một aformisme huyền bí. Các mẹ nàng cũng tham gia vào vũ điệu phi thường này: họ hát lên bằng giọng trầm trầm, và lâu đài nước, chói lòa và lóng lánh như pha lê, đáp lại - hay dội lại? - những tiếng cười ngân nga, lanh canh, thánh thót. Đó là nghi lễ dành riêng cho buổi tắm đầu năm của nàng - Người Da Đen Đẹp Nhất; điều này sẽ tuyệt biết bao ở cái thời người ta không còn khái niệm về màu da và những ranh giới chủng tộc thời xa xưa chỉ còn là bài học chua chát và nực cười về sự ấu tró của tâm thức loài người.

Nhà Thơ vô cùng hứng khởi trước sự dịu dàng vô hạn của Xamba; anh không còn cách nào hơn là nhảy với nàng. Nàng chưa hề biết thế nào là xarikakeo; nhưng nhiệt tình hừng hực bùng lên từ cặp mắt anh, từ đôi tay cuồn cuộn bắp của anh, từng thớ thịt trên thân thể anh, nó làm cho không khí rực lửa; không khí cuộn thành vòi rồng;nàng bị cuốn theo vòi rồng, nàng xoáy tõm vào vòi rồng (nàng dường như quá nhẹ); nàng cũng múa xarikakeo; anh truyền sinh lực và linh hồn cho nàng - linh hồn của anh, của xarikakeo - và nàng trở thành người múa xarikakeo thần diệu nhất thế giới. Rồi trong cơn tuyệt thú anh vọt sang múa trống Chăm H’roi; lưng anh mềm và dai, dẻo và sóng cuộn tràn trề như con trăn thật lớn bóng nhẫy; đầu anh chạm đất, rồi anh bật lên mạnh và dữ dội với tiếng rền vang oai hùng từ cổ họng kim khí làm ta nhớ lại phát cung siêu phàm của Arjuna ; nó làm cho bóng đêm kinh hoàng ở Chulakorn phải rùng mình run rẩy và nhường chỗ cho ánh sáng; tiếng rền của con người này, nó rực lên như chớp, và người ta thấy rõ từng giọt mồ hôi trên trán những người Irôca đang chơi trò săn bò rừng. Bóng tối đen như mực và nặng hơn nghìn triệu quả núi chẳng làm họ sợ hơn tiếng voi gầm; tự họ làm nên ánh sáng bằng cặp mắt tươi cười và hàm răng toe toét - cũng cười - của họ. Và ánh sáng huyền hoặc của muôn vàn loài cây phát quang chỉ là phần đóng góp khiêm nhường và hân hoan vào ánh sáng rực rỡ lấp loáng trên thân họ bóng mồ hôi, ánh sáng của hàm răng họ lên nước tựa ngà voi và thở rọi niềm vui còn nặng và tràn trề hơn ngàn vạn chuỗi cười của bọn gây chiến vô sỉ. Vậy đó: Chulakorn 10 là hành tinh của Người Dưới. Rồi thình lình gầm lên một thứ tiếng ngàn lần dữ dội hơn sấm rền,cũng cực kỳ vật chất như một chiếc búa tạ mà diện tiếp xúc vượt từ chân trời này đến chân trời kia, vượt quá xa khỏi đường chân trời, và búa từ trên trời vô hình - nhưng choáng ngợp kinh khủng - nện thẳng cánh xuống mặt đất: Ình! Ình!Ình! Đó là chày vồ nện xuống đồng bạc cắc; mặt đất quắn lại, tê liệt, chết cứng. Và tiếng vọng chết chóc bục từ lòng đất giộng đầy tim bạn, lèn chặt tim bạn.

Đó là lời Cảnh Cáo Cuối Cùng của New Earth báo hiệu một cách cuồng đắm và rợn người về Cái Chết Tuyệt Mỹ không tránh khỏi cho những Người Dưới nhỏ nhoi và đầy bi kịch kia mà lời kêu gọi hòa bình cuối cùng từ trung khu thần kinh thống thiết của họ đối với những hộp sọ Người Trên thì cũng chẳng hơn gì tiếng vù vù của con ong bầu giãy giụa trong cái hộp kín. Người ta không còn lạ gì cái giọng cầu hồn kinh khiếp của New Earth, nhưng lần này nó thụi vào tim người và quai vào màng tang người bằng một sức mạnh giết người mới về chất. Người ta hiểu lần này New Earth không trù trừ gì nữa sẽ hất tung Người Dưới Chulakorn 10 xuống vực thẳm Cái Chết. Đại diện không chính thức của New Earth, xưa cũng là Người Đen, phát biểu bằng giọng suy lý và thâm trầm: “Phải, các người nên chết.Chúng ta đây sẽ nhớ ơn các người đã chịu chết. Các người cần chết, nhường hành tinh lại cho những Người-Khó-Chết; Người-Khó-Chết là bọn ta”. Những Lời Thông Thái này, chỉ người Chulakorn được nghe; đối với phần còn lại của thiên hà, hành tinh tội nghiệp này chết vì mặt trời của họ nguội. Nguồn tin chính thức của New Earth bảo thế; người ta biết thế. Đó là Sự Ngu hóa ảo diệu.

(...)

Trần Tiễn Cao Đăng

Thứ Tư, 22 tháng 11, 2017

Nghĩ về nghề.

Một điều không có gì mới nhưng nhắc lại không thừa:

Không có trường/khóa dạy viết văn nào tốt hơn là tự mình đọc cho kỹ kiệt tác của các đồng nghiệp lớn. Đọc không chỉ một lần: hai, ba lần hoặc hơn, nếu cần. Đọc và phân tích cho được những gì làm nên sức mạnh của các kiệt tác đó. Chủ đề? Cấu trúc? Nhân vật? Chi tiết? Ngôn ngữ? Giọng điệu? Khí lực? Sự tràn trề? Sự tiết chế? Sự phong nhiêu? Sự nhã đạm? Sự trong vắt? Sự bí hiểm?.. Và, điều quan trọng không kém: Bất kể nó là kiệt tác, nó có những cái dở nào? (một ý rất hay của Sebald).

Một số kiệt tác như vậy đối với tôi:
 - Vụ án; Hóa thân; Lâu đài (Franz Kafka)
- Tội ác và hình phạt; Anh em nhà Karamazov (Fyodor Dostoyevski)
- Bể phong nhiêu (Mishima Yukio)
- Trăm năm cô đơn (G.G. Marquez)
- 2666 (Roberto Bolano)
- Tây Vương Mẫu giáng hạ (Seiobo there below); Chiến tranh và chiến tranh; Nỗi buồn kháng cự (Melancholy of resistance) (Laszlo Krasznahorkai)
- Too loud a solitude (Bohumil Hrabal)
- (…)

Thứ Ba, 17 tháng 10, 2017

Viết hay không viết bằng tiếng Anh

"To write or not to write in English"

Đây là những điểm chính mà tôi đã chuẩn bị để nói tại một hội thảo văn chương underground diễn ra hôm qua. Vì một số lý do, tôi đã không có cơ hội nói xung quanh hầu hết các điểm này. Ở đây, tôi tạm sắp xếp lại chúng dành cho những ai quan tâm đến vấn đề này. Có thời gian hơn, tôi sẽ triển khai chúng thành một bài tiểu luận đúng nghĩa.

- Hãy chọn viết bằng ngôn ngữ mạnh trong tâm thế của một cá nhân đồng đẳng và tự do. Chỉ khi bạn là một cá nhân tự do từ bên trong, lựa chọn đó mới thực sự xứng đáng.

- Cái gì cũng có hai mặt. Chọn viết bằng ngôn ngữ mạnh, một mặt đó nghĩa là bạn đủ tự tin mình có khả năng chinh phục người đọc thế giới bằng phương tiện này, mặt khác đó có thể là do bạn không tự tin mình có khả năng làm vậy thông qua tiếng mẹ đẻ.

Khi bạn có khả năng viết bằng ngoại ngữ mạnh, song bạn chọn viết bằng tiếng mẹ đẻ của mình, một ngôn ngữ yếu, đấy là bạn chọn sự rủi ro của kẻ làm ra những viên ngọc khuất nẻo ít ai biết. Chừng đó, nhiệm vụ phát hiện ra những viên ngọc ấy, trước hết và trên hết là của những người đọc cởi mở và quả cảm đến từ những nước có ngôn ngữ mạnh.

- Ta viết về những gì gần với trái tim của ta nhất, chứ không phải những gì gần với trái tim của người khác. Nếu tim ta đủ lớn, nó sẽ bao trùm hoặc giao với tim của người khác một cách tự nhiên.

- Người học viết bằng một ngôn ngữ “mạnh” không phải tiếng mẹ đẻ của mình là người dũng cảm, song người vốn có tiếng mẹ đẻ là một ngôn ngữ mạnh mà quyết học đọc bằng một thứ tiếng khác “yếu” hơn thì cũng dũng cảm không kém. Dĩ nhiên đây chỉ là một cách nói. Đọc bằng ngôn ngữ khác, hiểu theo nghĩa rộng, là đọc những hệ quy chiếu khác, những mô thức tư duy khác, những cấu hình khác của tâm trí loài người.

- Một nền cộng hòa văn chương thế giới đích thực chỉ có thể là chốn của những người rộng mở và quả cảm.

Sleeping Muse/Nàng Thơ ngủ, của Brancusi
--------

(trích từ bài viết của một nhà phê bình về các nhà văn Indonesia viết bằng tiếng Anh)

[Readers should be] prepared to be surprised and delighted by a story very unlikely to resemble anything that could be written by a native English speaker.
[Người đọc nên] được chuẩn bị sẵn để ngạc nhiên và thích thú trước một câu chuyện rất khác với bất cứ cái gì mà một người bản ngữ Anh có thể viết ra.

(...) You can always find a writer’s roots in her writings [no matter in what language she writes]. They may be visible or hidden but they are there. It’s up to you to see them or not.
(…) Bạn có thể luôn luôn tìm thấy cội rễ của một nhà văn trong tác phẩm của người đó [dù người đó viết bằng tiếng gì đi nữa]. Cội rễ ấy có thể hiển lộ hoặc ẩn giấu song chúng có đó. Nhìn thấy chúng hay không là tùy ở bạn.

... I do not look for the new and the unknown in a writer’s works. I look for the authentic and the beautiful.
… Tôi không tìm kiếm cái mới và cái chưa biết trong tác phẩm của một nhà văn. Tôi tìm cái nguyên tuyền và cái đẹp. 

Thứ Hai, 9 tháng 10, 2017

Một người đọc viết về "Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian"

https://yuipham.wordpress.com/2017/10/01/book-review-91-life-navigator-25-nguoi-tinh-cua-ca-the-gian-tran-tien-cao-dang/

Mình biết đến bác Trần Tiễn Cao Đăng qua tác phẩm “Biên niên ký chim vặn dây cót” bác dịch cho Haruki Murakami. Phải nói mình thật sự ấn tượng với phần chuyển ngữ của cuốn sách ấy, vì “Biên niên ký chim vặn dây cót” hết sức đồ sộ và phức tạp, đòi hỏi người dịch phải có một vốn ngôn ngữ lẫn vốn kiến thức thật sự uyên bác mới có thể làm tốt công việc được. Vậy mà bản dịch tiếng Việt đọc mượt mà không thua kém bản tiếng Anh là bao! Thế nên khi thấy “Life Navigator 25” ra mắt ở nhà sách, mình đã phải mua cho bằng được. Kết quả là 5/5!

Để tóm tắt cốt truyện cho “Life Navigator 25 – Người tình của cả thế gian” không hề dễ dàng, vì tuy nó sở hữu một cốt truyện tuyến tính, nhưng góc nhìn của tác giả xoay chuyển liên tục, ranh giới giữa các thời không cũng không hề rõ ràng. Đơn giản hơn thì, trong thế giới giả tưởng ấy, con người đã có Thế chiến III và IV, và đã tự tay phá huỷ Trái Đất. Hầu hết dân số thế giới sau thời điểm đó đều đã lên vũ trụ sinh sống, và bằng sự phát triển của công nghệ, thế giới đã có những Dream Navigator và Life Navigator. Không có Life Navigator nào mà không là Dream Navigator cả. Họ có khả năng di chuyển xuyên qua các giấc mộng, trú vào nhiều thân xác khác nhau, tại nhiều thời điểm khác nhau, kể cả từ trước trước khi họ sinh ra rất lâu. Nhưng việc di chuyển liên tục có hậu quả khá lớn, đó là các Life Navigator sẽ quên mất chính bản thân mình. Câu chuyện của chúng ta tập trung vào Life Navigator mang số hiệu 25, anh không có tên gọi cụ thể, đang sống ở thế kỷ XXI và yêu một cô gái gốc Huế. Họ bên nhau trong hiện thực và trong những giấc mơ, và chuyến hành trình có một không hai ấy đã hiện diện suốt quãng thời gian ngắn ngủi họ bên nhau. Đó là Minotaur ở quảng trường, là chuyến tàu trên không vắt ngang Hà Nội, là điệu múa bí ẩn ngoài vũ trụ, là tất cả những gì họ có. Life Navigator 25 đã yêu cô gái gốc Huế ấy bằng tất cả con người mình, và chấp nhận đánh đổi tính mạng mình cho việc đó. Là một chuyện tình kỳ lạ vượt qua không – thời gian, là những chiêm nghiệm triết lý về cuộc đời lý tưởng, là những giấc mơ huyễn hoặc xoá nhoà ranh giới hư ảo, “Life Navigator 25” mang đến cho người đọc tất cả những điều đó, một cách thoả mãn và say mê.

Mình mất ba tuần lễ tròn mới đọc xong cuốn sách này, thực sự là một kỷ lục, vì trong lúc ấy mình chẳng bận rộn gì mấy. Văn phong của Trần Tiễn Cao Đăng thuộc hàng bậc thầy, vì trong cõi hỗn mang xoắn vặn của từ ngữ ấy vẫn hiển hiện một trật tự xâu chuỗi kỳ lạ, nếu kiên nhẫn và tập trung thì không hẳn là quá khó, nhưng chỉ rời mắt một giây thôi, biển ngôn từ ấy sẽ nhấn chìm người đọc vào một hố xoáy khó nhận biết. Song khi dành đủ thời gian và tâm huyết để cảm thụ, bạn sẽ thấy đây là một tác phẩm thiên tài. Dù bạn có yêu thích thể loại hiện thực huyền ảo hay không, thì đây vẫn là một cuốn sách đáng cân nhắc. Vì nó quá đỗi xuất sắc!

Mình rất buồn khi thấy cuốn này vỏn vẹn 1000 bản in. Một tuyệt tác mà thế này, phí quá!

Thứ Ba, 15 tháng 8, 2017

Nghĩ về nghề

Viết là một hành động sống, là sẵn sàng chấp nhận nỗi đau của kẻ thực sự hành động, chấp nhận khả năng thất bại, khả năng sai lầm, khả năng khủng hoảng, trầm uất, rơi vào hoài nghi chính mình của kẻ thực sự hành động - hành động hết mình vì kết quả và đồng thời không trông mong vào kết quả. Hành động thực sự vì tình yêu thế giới - khát vọng gìn giữ những cái đẹp của thế giới và trao những cái đẹp mới cho thế giới; hành động thực sự nhằm nới rộng không ngừng cái ranh giới ngăn cách giữa bản thân và ngoại thể, tìm và trụ ở khoảng cân bằng mong manh, chông chênh, dao động, nhòe mờ, quý báu giữa thực tế rằng ta là một cá thể riêng khác biệt và thực tế rằng ta là một phần tử nhỏ của một vũ trụ vô biên, vô ngã. Hành động thực sự để hướng tới một thế giới tốt đẹp hơn, đáng sống hơn, kể cả dù bản thân ta và loài người không bao giờ tới đó được.

Thực sự viết cũng đầy rủi ro và cũng đáng như thực sự sống.

---------

Color Collision, của Nancy Eckels

Một trong những sự tiến hóa cá nhân của tôi là vượt qua thói khinh thị quý phái rởm đối với văn hóa đại chúng, trong khi vẫn nhất tâm tìm kiếm, gìn giữ và tạo dựng những gì văn hóa đại chúng không thể mang tới cho con người.

Thứ Hai, 24 tháng 7, 2017

Heo và virút (hay Tự sự của một di dân III)

Trong số những phần mà bản thân tôi tâm đắc nhất ở tiểu thuyết “Life Navigator 25: người tình của cả thế gian” của tôi có các Phụ lục về những Di dân.

Di dân ở đây là những người Trái đất (không nhiều) có được cơ may thoát khỏi Trái đất, vốn đã trở thành một nơi không thể ở được, để tìm cuộc sống mới ở các thuộc địa mà con người đã kịp lập ra bên ngoài Trái đất. Một tương lai đáng buồn cho loài người, dĩ nhiên. Tuy vậy, những phần này sẽ không thực sự đáng đọc nếu như trong đó người ta chỉ thấy vấn đề từ một điểm nhìn, chỉ nghe các giọng nói từ một phía.

Phần dưới đây, và một số phần khác, là nỗ lực của tôi để hình dung - để nắm bắt - vấn đề từ một điểm nhìn khác, qua giọng nói từ một phía khác. Không phải từ điểm nhìn và qua giọng nói của những người thấp cổ bé họng, những kẻ thua thiệt - vốn là những người mà tôi, với tư cách tác giả và như một cá nhân, đồng cảm một cách tự nhiên. Mà từ điểm nhìn và qua giọng nói của một người thuộc “phe chiến thắng”, một thành viên của tầng lớp thiểu số nắm phần lớn của cải của thế giới và, do đó thực sự cầm chịch thế giới - kể cả và nhất là khi thế giới đó trong một cơn khủng hoảng tối hậu như là Tận thế.


Tôi sinh ra trong một gia đình thuộc tầng lớp cao nhất, không chỉ của nước tôi mà của cả nhân loại. Nhờ có điều này mà, ngay từ khi bắt đầu nhận thức được về thế giới, tôi đã biết một điều hiển nhiên. Rằng quyền lực, thứ quyền lực cao nhất có thể có trên thế giới, là thuộc về tôi. Như không khí và ánh mặt trời đương nhiên thuộc về tôi. Và tôi biết tôi xứng đáng với nó - kẻ nào không biết giá trị thực của mình thì không thích hợp để tồn tại lâu dài trên thế giới này. Không một giây nào trong đời tôi, kể cả trong giấc mơ, mà tôi không nhớ rằng tôi tồn tại là để làm những việc nhân loại chưa ai làm được, đến những nơi nhân loại chưa ai đến được theo nghĩa đen và nghĩa bóng, làm chủ những thứ mà nhân loại chưa ai làm chủ được.

Đó là vận mệnh của tôi. Bản mệnh của tôi.

Tôi kế thừa và học hỏi điều đó từ cha mẹ tôi. Cha tôi - những người sống cùng thời với tôi chắc chắn biết ông là ai, là người như thế nào, còn kẻ nào sống trước thời của tôi thì đương nhiên không thể biết ông và điều đó là đáng tiếc cho họ. Có lẽ tôi chỉ cần nói thế này. Cha tôi nằm trong số ít, rất ít những người mà, bằng tài trí và ý chí của mình, làm thay đổi thế giới theo ý ông muốn. Cha tôi là người đã góp phần quyết định để cho Mạng Tâm trí Toàn cầu (Global Mind Network, GMN) trở nên khả thi và năng sản về mặt thương mại. Những ai sống trước thời của chúng tôi sẽ không có khả năng biết GMN là gì. Cùng lắm họ chỉ có thể hình dung một cách thô thiển rằng nó là cái gì đó giống như mạng máy tính toàn cầu, tuy nhiên thay vì các máy tính và các thiết bị đi cùng (hub, switch, vân vân) thì là các bộ óc người (có thể là óc theo nghĩa đen hoặc có thể là óc đã được tối ưu hóa bằng công nghệ, song, để cho đơn giản, hãy hình dung đó là óc theo nghĩa đen mà thôi) và thiết bị đi cùng. Thật ra, bất cứ ai đủ nhạy cảm và tinh tế thì sẽ hiểu đây chỉ là một phép so sánh hết sức tương đối. Nó tương đối chẳng khác gì so sánh một virtual human (người ảo) vốn chỉ tồn tại trong GMN với một hồn ma. Nhưng điều này thì nhất định ai cũng có thể hiểu: sự ra đời của máy vi tính, của hệ điều hành Windows cùng các hệ tương đương và của mạng internet toàn cầu đã làm thế giới vào cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 thay đổi triệt để như thế nào, thì sự ra đời Mạng Tâm trí Toàn cầu vào giữa thế kỷ của chúng tôi cũng làm thế giới thay đổi triệt để như thế ấy. Nó chứng tỏ rằng năng lực tự đổi mới mình của loài người là vô tận. Nó chứng tỏ rằng khả năng của trí tuệ con người là vô hạn. Khoa học giả tưởng của hôm qua là thực tại ngày hôm nay. Mục đích tối hậu của sự hiện hữu của loài người trong vũ trụ là đạt tới chỗ làm Chúa Trời của chính mình, làm ra những thứ mà Chúa Trời kia chưa bao giờ làm ra, và kể cả quyết định những chuyện mà Chúa Trời kia không tự mình quyết định. Chẳng hạn, về sự tồn vong của Trái đất. Sinh mệnh của Trái đất. Con người chỉ thật sự là mình khi họ có khả năng quyết định số phận trái đất của mình, cho sống là sống, cho chết là chết. Như Thượng đế từng làm khi quyết định gây ra Hồng thủy. Khi quyết định thiêu hủy Sodom và Gomorrah. Con người chỉ thật sự là con người khi họ đã vượt qua được cái rào cản tâm lý luôn luôn tự buộc mình phải mang một nghĩa vụ bất di bất dịch nào đó. Tỉ như nghĩa vụ giữ gìn cái nôi sinh ra họ, trái đất. Nếu cái nôi ấy trở nên quá chật hẹp đối với họ, không còn đủ cho họ nữa cho dù họ đã cố sức thu gọn chính mình lại đến mấy, và một khi họ đã ý thức được đầy đủ về điều đó rồi, thì họ sẽ chỉ là chính mình nếu như họ đủ dũng khí và đủ sáng suốt để nhìn nhận và chấp nhận rằng nghĩa vụ đúng đắn nhất và duy nhất của họ trong trường hợp hay hoàn cảnh ấy là phá tung cái nôi ấy, một lần một, dứt khoát, và chuyển sang chốn ở khác phù hợp hơn. Chốn ở khác đó là do họ tìm ra hay do họ tự làm ra, đó không phải điều quan trọng nhất. Chỉ cần có một chốn ở khác, loài người vẫn tiếp tục tồn tại, thế là đủ. Và đó, đó chính là điều thiện.

Và khi tôi nói loài người vẫn tiếp tục tồn tại, tôi muốn nói một phần nhất định của loài người, chứ không phải toàn bộ loài người. Thời nào chẳng vậy, và giống loài nào chẳng vậy: sau một cơn đại biến, chỉ một phần của loài là sống sót, tiếp tục tồn tại. Dĩ nhiên, đó là bộ phận có khả năng thích nghi và sinh tồn lớn nhất. Nói cách khác, bộ phận ưu tú nhất, mạnh nhất. Và chẳng lẽ vì đó chỉ là một phần của cái loài từng có trước kia - một phần rất nhỏ của nó - mà người ta có thể nói rằng về cơ bản loài đó không còn tồn tại sao? Chỉ cần còn lại một cặp nam nữ duy nhất của loài người, loài người vẫn còn. Như thế là ít sao? Chúng tôi không phải chính là loài người sao?

Chúng tôi còn sống, thế là không đủ để nói rằng loài người vẫn đang còn đó sao?
Cần phải có mấy tỷ người kia vẫn đang còn sống cùng với chúng tôi thì chúng tôi mới có quyền tự coi mình là loài người sao?

Hồi tôi nhỏ xíu, bốn tuổi gì đó, cha tôi bắt đầu cho tôi dự các cuộc họp giữa cha và cấp dưới của ông bàn về các kế hoạch cứu trợ người nghèo trên khắp thế giới. Tôi vẫn nhớ rõ, như mới hôm qua, rằng ngay từ lần đầu tiên có mặt ở một cuộc họp như thế tôi đã có thể hiểu ngay lập tức người ta đang nói chuyện gì. Vấn đề đó từ đâu ra. Bản chất của nó. Tầm quan trọng của nó. Tại sao phải giải quyết nó. Tại sao không thể không giải quyết nó. Cách gì để giải quyết nó tốt hơn là những cách khác. Giải quyết nó sao cho không phương hại đến một số thứ khác. Nói gọn, tôi hiểu tất cả những gì cần phải hiểu liên quan đến các cuộc họp đó, mà không phải đợi người lớn giải thích. Cha tôi không cần giải thích với tôi một câu. Ông chỉ cần cho tôi ngồi đó, có mặt và nghe, thế là tôi hiểu cả, và ông biết trước như thế. Và tôi chỉ mới bốn tuổi lúc đó. Có thể ai đó thấy khó tin, nhưng sự thật là vậy. Tôi không phải thiên tài. Tôi không phải người có thiên tư đặc biệt hay trí thông minh hơn người. Tôi là một cá nhân bình thường tiêu biểu cho dòng giống của tôi. Cái đó, nó mặc nhiên là của tôi, cũng như vóc người, hệ cơ, hệ xương, hệ nội tiết, nhóm máu, màu tóc, màu mắt, màu da của tôi. Việc của tôi là đón nhận nó và đến lượt mình làm tất cả những gì mình có thể làm để nó phát triển được đến tận cùng tiềm năng của nó. Bảy tuổi, tôi bắt đầu thực sự và chính thức tham gia các cuộc họp đó. Tôi tranh cãi với mọi người về chuyện rốt cuộc thì có nhất thiết phải giữ vẹn trái đất và giữ vẹn loài người như hiện tại bằng mọi giá hay không.

Tới giờ tôi vẫn nhớ rõ mồn một quang cảnh cuộc họp đó. Cứ như nó đang diễn ra ngay trước mắt tôi và tôi chỉ việc mô tả nó thay vì nhớ lại. Cha tôi nằm trên cái giường bằng nước lơ lửng cách mặt sàn 1,5 mét, tuyền một màu vàng chói, như thể chất liệu làm nên nó không phải nước thường mà là vàng ròng, vàng ở dạng lỏng trong điều kiện 24 độ C. Ngăn giữa mặt giường và thân thể ông là tấm đệm bằng lụa màu tím than, một thứ lụa không thấm nước và mềm mại êm mướt như da nàng thiếu nữ đương thì. Cái áo choàng mặc trong nhà cũng bằng lụa màu cam sẫm, mép viền nhung màu ngọc lục bảo, quấn từ cổ đến gót chân ông, che kín toàn thân ông, như cái kén bọc kín con nhộng, song mặc dù vậy hay đúng hơn chính vì vậy tôi thấy ông gần như trần trụi, một thân thể còm nhom đến mức kinh rợn, hằn rõ dấu ấn tàn bạo của cái chết như người ta nói, khiến tôi dù không muốn vẫn không thể không nhớ tới hình ảnh Steve Jobs vào một trong những ngày cuối đời ông ta. Tuy nhiên, khác với Steve Jobs, cha tôi không mắc căn bệnh hiểm nghèo nào tại thời điểm đó. Ngược lại, với cái cơ thể thoạt trông chết nhiều hơn sống đó, ông thừa sức một mình ngốn sạch một con gà tây tướng trong một bữa ăn. Ông thừa sức làm vậy, nhưng ông không làm. Tuy nhiên, cái hằn trong ký ức tôi sâu hơn thế nhiều là ánh mắt ông khi nghe tôi trình bày luận điểm của mình. Không, trình bày không phải từ đúng. Nói bô bô điều tôi nghĩ, vậy mới đúng. Khi đó tôi bảy tuổi, cần nhớ như vậy. Tôi nói: Nếu tôi lên thuyền Nôê (mọi người đang nhắc đến và sử dụng hình tượng thuyền Nôê), tôi sẽ đem theo một mình Hachikô, còn lại tôi giết hết. Tôi và Hachikô là đủ một cặp. (Hachikô là một trong mười con chó mà cha mẹ tôi cho tôi nuôi, ngay từ bé tôi đã đặc biệt yêu loài vật, nhất là chó.) Vừa nghe tôi nói hai ba chữ đầu tiên, cha tôi đã nhìn sang tôi bằng ánh mắt khiến cho tất cả những người khác cũng đồng loạt lắng nghe và nhìn tôi tựa hồ thằng oắt bảy tuổi này đang phát ngôn bằng giọng sấm rền của Hitler. Ngay khi đó, chính trong những giây đó, tôi trải nghiệm cái mà người ta gọi là mặc khải hay đốn ngộ rằng tôi sẽ nằm trong số những người dẫn dắt loài người, nói đúng hơn là dẫn dắt loài người tối hậu, cái loài người đã vĩnh viễn rứt mình khỏi cái nôi nơi mình ra, Trái đất Mẹ. Tại sao không để cho khí độc, phóng xạ, dung nham và tro núi lửa, sóng thần, bệnh dịch hay cái đói giết chúng, mà phải tự tay giết chúng? sau một thoáng có người hỏi. Tôi không trả lời ông ta. Không nhìn ông ta. Và tôi nhớ sau đó họ nói về chuyện, Cứ để cho cái gì phải xảy ra hãy xảy ra. Cứ để Thế chiến Thứ tư xảy ra, rồi tự nhiên sẽ làm nốt những gì cần làm. Về sau tôi mới hiểu rõ, còn ngay khi đó tôi không thật sự hiểu tuy nhiên cũng cảm nhận được bằng trực giác rằng một phát ngôn như thế, chính xác hơn là cái tư duy làm nảy sinh một phát ngôn như thế, nó là bước khởi đầu dẫn tới một sự thay đổi về chất, triệt để, trong quá trình ra những quyết định liên quan tới vận mệnh nhân loại. Có mặt ở cuộc họp ngày hôm đó cùng với cha tôi là những người thuộc hàng có quyền lực lớn nhất trên hành tinh tại thời điểm đó. Và như tôi nói, ngay từ lúc đó tôi đã biết chắc điều hiển nhiên rằng tôi rồi cũng sẽ là một trong những người tham gia vào việc ra những quyết định liên quan tới số phận nhân loại. Không phải vì tôi là con của cha tôi - tuy điều này cũng có đóng vai trò nhất định trong chuyện này -, mà bởi tôi là tôi. Cùng với sự lớn dần lên của thể xác tôi trong thời thơ ấu và thời thiếu niên, cũng lớn dần lên và vững chắc dần lên cái ý thức sáng rõ như pha lê rằng một người như tôi thì không thể không sẽ là kẻ định đoạt số phận nhân loại.



Một ví dụ. Một trong các bạn thân của tôi (tên ông ta là gì, những người cùng thời với tôi chắc chắn sẽ nhận ra dù tôi không nói, còn với những ai sống trước thời tôi thì có nói cũng vô ích), ông ta là chủ sở hữu một trong ba tập đoàn sản xuất tàu vũ trụ thương mại lớn nhất thế giới. Đón trước họa Tận thế, nhiều chính phủ đã (bí mật hoặc không bí mật mấy) đặt hàng ông ta sản xuất hàng loạt tàu vũ trụ cỡ lớn và siêu lớn dành riêng cho việc di dân khẩn cấp khi cần thiết (khi cơn dầu sôi lửa bỏng đến thì số tàu sẵn có dù bao nhiêu cũng sẽ không đủ). Và ông ta, mau mắn, tự tin, đã sản xuất nhiều hơn thế. Ngăn chặn Thế chiến Thứ tư của Trái đất vào phút chót cũng có nghĩa là lượng tàu vũ trụ khổng lồ mới ra lò hoặc đang trong lò của ông ta sẽ không có dịp được dùng (ít nhất là không có dịp nào trong tương lai gần có thể hình dung được) và nếu vậy ông ta bán chúng cho ai? Tống chúng đi đâu? Đáp lại cái nhìn đầy lo âu, mất hướng, thậm chí hoảng sợ của ông ta, tuy rằng, bình thường ra, những chữ như ‘hoảng sợ’ dùng với loại người như ông ta là hoàn toàn không thích hợp (hãy nhớ: ông ta và tôi là bạn thân của nhau, hay có lẽ phải nói là bạn chí thiết), tôi nhỏ nhẹ nói với ông rằng nhu cầu đối với những con tàu đó lớn đến đâu là tùy ở chúng ta. Qua cái ánh sáng lóe lên ngay tức thì trong đáy mắt ông khi tôi nói xong, tôi biết rằng ý tôi vừa nói cũng là ý của ông nhưng ông thà chết còn hơn để cho thế gian này (chứ không nhất thiết là tôi) nhận thấy rằng ý đó đã có sẵn trong đầu ông trước khi tôi nói nó ra và cái vẻ lo âu, mất hướng, hoảng sợ vừa mới đó của ông có thể hiểu là nằm sâu ở trong ông cũng được mà hiểu là chỉ nông vừa đúng bằng bộ da ông (bộ ngoài cùng trong số nhiều bộ da khác nhau của ông) cũng được, Tuy nhiên điều đó hoàn toàn không nằm trong diện quan tâm của tôi và của ông. Điều quan trọng là, cái ý vừa được tôi nói ra ấy, nó là sự thật tối hậu về thế giới, cái thế giới nằm trong tay chúng tôi. Tôi khẽ cười, nhìn ông. Những con tàu vũ trụ cỡ lớn, siêu lớn ấy - có thể chứa hàng ngàn người, vạn người, và di chuyển nhiều tháng nhiều năm liền trong không gian không cần tiếp tế -, chúng không phải thứ duy nhất đang khiến ông ta bận tâm. Ông ta còn nắm một lượng cổ phần lớn trong một tập đoàn chuyên xây các công trình bán quân sự và dân dụng ở các khu thuộc địa ngoài Trái đất - Mặt trăng, Sao Hỏa, các Đảo Vũ trụ. Các khu dân cư đã được xây sẵn ở đó, cùng mọi thứ tiện ích đi kèm, sẵn sàng đợi người Trái đất di cư lên với số lượng lớn, đó là một mối bận tâm khác, lớn không kém, đang đeo nặng ông ta. Và một lời giản dị của tôi khiến cho bất cứ cái gì đang đeo nặng ông ta không còn nặng nữa. Nó vẫn còn đó, cái bận tâm ấy, song bây giờ nó vừa nặng vừa nhẹ như một tấm hợp kim đuy-ra. Và sự thực là tuy tôi nói rằng nó nặng song nó không nặng đến nỗi như ai đó có thể tưởng nếu nhìn bề ngoài ông ta. Một phần của ông ta, chắc chắn là phần lớn của ông ta, đã biết chắc từ trước rằng tôi sẽ nói thế. Bởi, xét cho cùng, đâu phải vô cớ và đâu phải là chẳng để làm gì mà ông ta với tôi là bạn nhau.

Dĩ nhiên đó chỉ là một trong các nhân tố đóng vai trò nhất định trong tiến trình tư duy và ra quyết định của tôi. Nhiều nhân tố khác cũng đóng vai trò quan trọng không kém, hoặc hơn. Tình yêu đối với Trái đất Mẹ, chẳng hạn. Tôi hy vọng không phải tất cả những ai đang đọc những dòng này đều mặc nhiên cho rằng một tình yêu như thế không tồn tại ở tôi. Những người đọc các dòng này ắt hẳn có cái đầu khá hơn thế. Tôi tin mình có cơ sở để hy vọng như vậy. Chắc chắn phải vậy. Tôi là người. Tôi khác hầu hết những người khác, đúng. Tôi có quá nhiều thứ mà họ không có, đúng. Nhưng tôi là người. Người, như họ. Người, không kém họ. Và có thể hơn họ. Bao nhiêu kẻ trong số họ từng nhìn thấy các phần khác nhau của Trái đất Mẹ được nhiều hơn tôi và mang chúng trong óc trong tim nhiều hơn tôi? Số người đó nhiều không? Nếu bạn bảo nhiều, tôi sẵn sàng tha thứ cho bạn dù bạn đang có chủ ý đùa dai hay không. Tôi hay nằm mơ thấy sa mạc Sahara. Như một người Tuareg. Thấy đại dương đóng băng. Như một người Inuit. Thấy rừng già Amazôn. Như một người Yanomami. Thấy thảo nguyên. Như một người Mông Cổ. Thấy rừng già nhiệt đới. Như một người Papua New Guinea. Hoặc như bản thân tôi, một công dân của thế giới. Một đứa con của Trái đất. Tôi yêu Trái đất này, đơn giản vậy. Tôi yêu Trái đất, nếu không nhiều hơn họ thì ít nhất cũng không ít hơn họ. Thế mà tôi đã góp phần vào cái quyết định tối hậu để loài người rời bỏ Trái đất. Mặc dù, xét cho cùng, đó đã chắc gì là quyết định của bản thân chúng tôi, quyết định xuất phát từ ý muốn của chúng tôi. Việc của chúng tôi làm chẳng qua là: Có một con bò đang đứng trên bờ vực, sắp sửa rơi xuống đó và tự nó biết thế song nó không thể làm gì khác ngoài cứ dấn tới trước. Và chúng tôi quất cho nó một phát rõ đau, cực đau, khiến nó tê điếng toàn thân, không còn tiến thêm được một ly nào nữa, sau đó thì nắm cổ nó giật sang phía khác, giật mạnh, không thì nó sẽ không đời nào tự mình chuyển sang đường khác được. Chỉ có vậy. Đương nhiên, ta có thể thay hình ảnh con bò bằng đàn bò hay đàn heo điên, thực chất vấn đề không thay đổi tuy nếu nói đằng thẳng ra và chuẩn xác hơn thì tôi có để mặc cho đàn heo ấy cứ thế đâm đầu xuống vực, chỉ có điều, khác với Thượng đế trong Kinh Thánh, tôi có giữ lại vài con trong đàn heo đó, không cho chúng đâm đầu xuống vực - đấy là những con duy nhất đủ sức mạnh tinh thần hay ít nhất đủ sạch về tinh thần để không bị nhiễm chứng điên như lũ còn lại. Chúng là vài con heo tôi đã chọn từ trước, những cá thể được lựa chọn.

Đó là một quá trình lâu dài và không dễ dàng. Nếu tiếp tục dùng ẩn dụ đàn heo, những con heo được lựa chọn - hay được đánh dấu, có thể nói vậy - được tách khỏi bầy không phải chỉ trong một lần duy nhất mà theo nhiều đợt, mỗi đợt vài con, một con, suốt một thời gian dài. Giữa khi cả bầy, trong cơn điên, vẫn tiếp tục lao tới vực và rơi xuống vực (bầy đủ lớn để đến khi con cuối cùng lao xuống vực phải mất hàng trăm năm với điều kiện là trong khi chờ đến lượt mình những con ở đoạn giữa và đoạn cuối không được đẻ đái gì). Đó là việc cần làm. Cứu lần lượt từng con heo đã lựa chọn, từng con một, đưa chúng đến nơi an toàn, đến vùng Đất Hứa, các vùng Đất Mới đã được biến cải cho phù hợp với chúng và dành sẵn cho chúng. Làm thế trong một thời gian dài, trước khi quá muộn, trước khi mọi sự trở thành một mớ hỗn loạn khó bề kiểm soát và không thể kiểm soát. Cứ thế, cho đến khi sự biến chung cuộc xảy ra thì số heo được đánh dấu còn sót lại cần phải cứu và di tản là không nhiều hoặc không quá nhiều, và công cuộc di tản cuối cùng này là một chiến dịch tuy thực sự là đại quy mô song hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của chúng tôi, luôn luôn mấp mé bờ vực hỗn loạn và vô kiểm soát song luôn luôn được ghìm chắc lại kịp thời nhờ bàn tay mạnh và cái đầu tỉnh, sáng của chúng tôi. Phải, đó là toàn bộ những gì cấu tạo nên sự ưu việt thuộc về bản thể của chúng tôi, phẩm chất vô song của chúng tôi với tư cách những cá thể định đoạt số phận của cả loài: bàn tay mạnh và cái đầu tỉnh, sáng. Và một trái tim đủ nóng, dĩ nhiên, như ai đó hẳn đang muốn nhắc tôi.

Ông già José Saramago - nếu quý vị còn nhớ đó là ai - từng nói rất hay về loài người. “Đôi khi tôi tự nhủ, tôi hy vọng chúng ta không bao giờ có thể rời khỏi hành tinh này bởi nếu ta bành trướng ra vũ trụ thì rồi ắt hẳn ở đó chúng ta cũng sẽ hành xử chẳng khác gì ở đây. Nếu chúng ta có thể thực sự di cư vào vũ trụ - mà tôi thì không tin rằng chúng ta sẽ có thể -, thì chúng ta sẽ làm vũ trụ bị lây bệnh. Có lẽ chúng ta là một loài virút nào đó mà thật may mắn là chỉ tập trung trên hành tinh này thôi.” Nay, trên cơ sở tất cả những gì đã và đang xảy ra, với toàn bộ lòng kính trọng dành cho một trong những nhân vật mà không nghi ngờ gì nữa là thuộc hàng sáng láng và khả kính nhất của loài người, tôi, hay chúng ta, có thể nói ngay rằng ông ta đã lầm ở ít nhất hai điểm. Thứ nhất, loài người đã có thể di cư lên vũ trụ, dù có phải nói chính xác hơn rằng đó chỉ là một phần rất nhỏ, vô cùng nhỏ của loài người. Thứ hai, điều này quan trọng hơn: phải, loài người không phải có thể là mà chính xác là một loài virút, cực độc, đã nảy nòi và sinh sôi trên hành tinh trái đất và cuối cùng ăn ruỗng hay phá nát cái hang ổ đầu tiên của nó, tuy nhiên đó là một loài virút có khả năng tự tiến hóa thành một loài cao hơn chính nó, khá hơn cái loài virút vốn là bản thân nó trước kia, và một lần nữa chỉ một phần rất nhỏ, vô cùng nhỏ của loài virút này có khả năng làm được việc đó. Và nhiệm vụ của tôi, của những người như chúng tôi là làm tất cả những gì làm được hầu bảo đảm rằng những ai được lên tàu đều thuộc về cái thiểu số cực nhỏ ấy. Đương nhiên, cũng như mọi virút, cái thiểu số này, bên cạnh khả năng vượt lên cao hơn phận virút như đã nói, còn có khả năng tự biến dị thành một chủng virút mới độc hơn, tàn hại hơn, nguy hiểm hơn. Khả năng đó có. Chuyện gì cũng có thể. Chỉ khi nào cái quần thể nhỏ này được đặt vào hoàn cảnh và môi trường thích hợp và được cho một quãng thời gian đủ dài thì mới có thể biết được từ đó sẽ nảy ra một giống loài gì. Chừng nào chuyện đó chưa diễn ra, những tuyên ngôn như của ông Saramago chỉ là một thứ sấm truyền kiểu Nostradamus, một thứ bột nặn thế nào cũng được, không hơn, tức là không có giá trị gì. Đó chẳng qua là những lời lèm bèm cẳn nhẳn cằn nhằn bất lực của một lão già lý tưởng chủ nghĩa ưu uất, yếm thế, đi khật khưỡng qua một thế giới mà lão tưởng mình hiểu song về thực chất là không hiểu, và do vậy là những lời rất ít giá trị hoặc không có giá trị gì.

(...)

------------

Minh họa: Hình dung của Tsunehisa Kimura, nghệ sĩ Nhật chuyên ghép ảnh (photomontage), về Tận thế.

Thứ Năm, 6 tháng 7, 2017

Vài lời về tôi (3)

Đầu năm 2002, tôi đang làm việc cho một công ty công nghệ thông tin của nước ngoài với mức lương 550 đô la Mỹ, số tiền không nhỏ tại thời điểm đó. Tháng Hai, sau một thời gian dài đắn đo, tôi quyết định nghỉ việc, dấn hẳn vào con đường chữ nghĩa - vào văn chương, con đường mà mãi đến lúc ấy, gần bốn mươi tuổi, tôi mới nhận định được một cách dứt khoát là con đường của mình.

Nhìn lại, tôi không hối tiếc về quyết định đó, cho dù nhiều năm sau tôi không lúc nào tạo ra được khoản thu nhập thường xuyên giống như vậy nữa. Không phải là không có lúc tôi cảm thấy có lỗi với người thân, khi mà quyết định này của tôi ảnh hưởng không tốt đến họ. Dù vậy, tôi vẫn đi theo đường của mình.

Và, do bản tánh và tư chất của tôi, những gì tôi viết ra không dành cho số đông. Tức là, con đường của tôi dẫn tôi ngày càng xa khỏi số đông, ngày càng dấn vào chỗ ít người. Tuy nhiên, tôi biết rằng chỗ dành cho ít người có giá trị của riêng nó. Điều này làm tôi an tâm.

Tranh của Ben Goossens


Thứ Ba, 4 tháng 7, 2017

Vài lời về tôi (2)

Về thực chất, tôi là người đa cảm. Tôi có thể chảy nước mắt khi nghe một bản nhạc, xem một bộ phim, cho một nỗi đau nào đó, hoặc cho bản thân - như một đứa trẻ.

Đọc kỹ “Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian”, người ta có thể nhận ra điều này, ít nhất là qua một số phần của nó.

Tuy nhiên, tôi đồng thời là người có lý trí mạnh. Tôi có thể gạt qua bên những cảm xúc mạnh nhất để làm việc mà lý trí tôi biết là đúng. Trong văn chương, điều này thể hiện qua việc tôi   không có hứng thú với thể loại fantasy, trong khi thực sự say mê science fiction, và văn của tôi, bởi vậy, mang hơi hướng science fiction một cách hoàn toàn tự nhiên: là người có thiên hướng lý trí, tôi luôn có xu hướng muốn rằng những tưởng tượng của mình, dù có vẻ bất kham đến đâu, đều phải dựa trên một căn bản logic nào đó, một logic có thể hiểu được đối với đầu óc con người. Ngoại lệ duy nhất là những tưởng tượng của tôi trong giấc mơ của các nhân vật - mà người ta có thể đọc thấy trong “Life Navigator...” và nhiều truyện khác -, nơi mà logic chủ đạo là logic của mơ, vốn chẳng giống mấy với logic của thực tại.


Con người đa cảm trong tôi tin điều kỳ diệu là có thật. Con người lý trí của tôi biết điều kỳ diệu là có thật, vấn đề là xác suất của nó. Con người tổng thể của tôi thì hiểu rằng điều kỳ diệu sinh ra từ ta; bản thân ta dự phần quyết định xác suất ấy.

Trước những gì loài người đã, đang và sẽ làm, tôi có một tình cảm vừa yêu vửa ghét con người. Điều đó, hiển nhiên, là một trong những nét xuyên suốt các tác phẩm tôi viết.

-----------

Ảnh: Essaouira (hay Mogador), Maroc. Một trong những nơi tôi muốn đến và sẽ đến.

Thứ Tư, 28 tháng 6, 2017

Nghĩ về nghề

Khởi đầu một dự đồ nghệ thuật mới cũng giống như khởi đầu một tình yêu mới: để nó tựu thành, cần năng lượng, cần sự tươi mới, cần sự rộng mở, cần chất men, cần lửa, cần trí tưởng tượng, cần sự tự tri, cần sự đam mê.


Tôi ngưỡng mộ những nhà văn vừa viết khỏe vừa cho ra lần lượt hết kiệt tác này đến kiệt tác nọ là vì vậy: bước vào cuộc phiêu lưu mới luôn luôn vừa như một người trưởng thành đầy kinh nghiệm vừa như một thanh niên mới lớn vừa như một đứa trẻ.

--------
tranh của Serge Marshennikov.

Thứ Ba, 27 tháng 6, 2017

Nhạc phim và tôi.

Vẻ đẹp khôn cưỡng, đầy ám ảnh của những bộ phim như “Tâm trạng khi yêu” (Vương Gia Vệ), “2046” (Vương Gia Vệ), “Chuyến tàu của Châu Ngư” (Tôn Châu), “Mê cung của thần Pan” (“Pan’s Labyrinth”, Guillermo del Toro), “Trinh nữ và quái vật” (“Panna a netvor”, Juraj Herz), “Nostalghia” (Andrey Tarkovski), “Cuộc đời kép của Veronique” (“La double vie de Veronique”, Krzysztof Kieslowski), “Công chúa Mononoke” (Hayao Miyazaki)… một phần quan trọng là nhờ âm nhạc của chúng.

Những nghệ sĩ kỳ tuyệt như Shigeru Umebayashi, Zbigniew Preisner, Toru Takemitsu, Petr Hapka… có thứ năng lực đáng mơ ước để có thể, bằng âm nhạc của mình, góp phần vào những tác phẩm điện ảnh toàn bích.


Ao ước của tôi là, trong khi viết, luôn luôn cảm thấy đồng hành với dòng ngôn từ của mình là một nền nhạc giống như nhạc của các phim ấy. Sao cho, nếu truyện tôi viết ra có cơ hội hóa thân thành bộ phim, thì âm nhạc của nó là một thứ âm nhạc đẹp khôn cưỡng, đầy ám ảnh giống như thế.

-------------

Cảnh trong phim “Nostalghia”.

Thứ Ba, 20 tháng 6, 2017

Nghĩ về nghề (1)

Bạn có thành thật nghĩ rằng bạn phải đọc toàn bộ trước tác của Hegel, Schopenhauer, Montaigne, Heidegger... và/hoặc có vốn kiến văn tương tự - và chỉ vậy thôi - thì mới có thể viết văn hay và/hoặc thẩm văn tốt? Nếu bạn nghĩ vậy, bạn chẳng hiểu về văn chương, và nghệ thuật nói chung. Văn chương/nghệ thuật không chỉ là chốn của những triết gia, nhà tư tưởng và học giả đầy ắp lý trí: Nó còn là - nó phải còn là - chốn của những sức mạnh bản năng, quỷ dị, gần với ma thuật. Nếu bản thân anh không có cái đó, anh làm sao bước vào những thế giới tạo thành chủ yếu bởi những sức mạnh đó được.

 --------------



Nhà văn đích thực thì không nghển cổ hóng vài lời của nhà phê bình "chuyên nghiệp". Bởi, nhà phê bình chuyên nghiệp, do đặc thù của mình, đôi khi có thể là người đọc tốt nhất (đúng như họ nghĩ và muốn mọi người phải đồng ý) tuy nhiên trong nhiều trường hợp là người đọc tồi nhất. Nhất là đối với những nhà văn cùng thời.

Người đọc tốt nhất của nhà văn là người đọc hãy còn chưa hiện hữu. Người đó sẽ hiện hữu khi một người đọc "bình thường" bước vào cuốn sách với một con đường đúng và với một tâm trí rỗng. Người đọc mà anh không ngờ tới nhất, và/hoặc người đọc sau anh nhiều nhiều năm. 

---------------

 Tranh của Laurent Parcelier.

Thứ Tư, 14 tháng 6, 2017

Về nghề, về tình yêu.

Nếu như ý tưởng cho "Life Navigator 25: người tình của cả thế gian" đến với tôi bây giờ chứ không phải bảy năm trước (2010) thì hẳn tôi đã viết ra một cuốn sách hay hơn, thành công hơn so với cuốn đã viết.

Tuy nhiên, thực tế là, với con người tôi như hiện tại, đến với tôi là những ý tưởng khác, bày ra trước tôi những cái đích khó đạt khác, lôi tôi vào những cuộc mạo hiểm khác.


Cũng như tình yêu: cơ hội cho một cuộc tình đẹp chỉ xảy ra một lần. Nếu vì non nớt, vì thiếu can đảm, vì tính toán, vân vân, ta để cơ hội đó bị thui chột, trở thành một mối tình không trọn hoặc một chuyện tình chết yểu trước khi ra đời, thì ta không thể, và cũng không nên, mong chờ nó lặp lại lần nữa y nguyên như thế.

Thay vì vậy, hãy mở mình ra cho cơ hội mới nếu và khi nó xuất hiện, tận dụng những phẩm chất hiện có của mình để nó trở thành tình yêu đẹp nhất trong khả năng có thể. Và, nếu cơ hội đó không xuất hiện, thì ít nhất ta có thể yên lòng rằng ta đã luôn chờ đợi nó một cách nhẫn nại, không hy vọng, chung thủy.

--------------

Tranh: "Trăng và bò" của Alex Colville.

Thứ Tư, 31 tháng 5, 2017

Đoàn Xuân Phong

(trích tiểu thuyết “Cospolist Nổi Loạn” đang hoàn tất)

Người ta thường nói một mối tình đẹp luôn luôn đến bất ngờ. Điều đó có lẽ đúng với cả trường hợp những mối tình đẹp không bao giờ có thể xảy ra, mối tình ta ao ước có với những người đàn bà ta không bao giờ có thể gặp trong đời, chẳng hạn một nữ diễn viên đã chết trước khi ta sinh ra. Những mối tình như thế, dù có được ta hình dung trước, được ta sẵn sàng chờ đón từ bao lâu đi nữa, song khi nó tới thật thì, bằng cách nào đó, trong hình thức nào đó, nó luôn luôn là sự bất ngờ.

Điều xưa như Trái đất này, chẳng phải vì nó đúng là xưa như Trái đất mà nó thôi không còn mang sức nặng như nó từng mang vào lúc con người còn có khả năng tiếp nhận mọi cái như mới lần đầu. Sự bất ngờ vẫn vẹn nguyên là sự bất ngờ, dù ta đã biết trước về nó và trong thâm tâm đang chờ đợi nó.

Khi ta nói về chuyện này, ấy là ta nói về chuyện những khả năng nào của thực tại là có thể mở ra còn những khả năng nào ngay từ đầu vĩnh viễn đóng chặt. Và ta nói về sức mạnh của lòng khao khát, của niềm tin. Nơi kẻ khác nhìn thấy một ả điên hay một gã điên, ta nhìn thấy một trong những con người đích thực nhất. Nơi tất cả kẻ khác dè bỉu, cười nhạo, nhục mạ một ai, ta im lặng và, khi đến lúc cần thiết, nói với người đó, người bị dè bỉu, cười nhạo và nhục mạ ấy, đồng thời là với tất cả, rằng, giữa nhân gian, họ là con người đáng kể nhất bởi họ không từ bỏ niềm mong muốn vào điều khó xảy ra nhất và, do vậy, chọn con đường khó đi nhất.

Ta đang nói chuyện Đoàn Xuân Phong, một gã điên, đáng kể và đơn độc như thế. Gã biết rõ những khó khăn chừng như vô tận trên con đường của mình. Điều gã ao ước nhất là một trong những điều khó xảy ra nhất: được gặp và yêu những người đàn bà hiện hữu trước hắn trăm năm và sau hắn trăm năm, được họ yêu và quên đi chính mình, cũng như quên đi thời gian, trong tình yêu. Cố nhiên, một số người khác cũng có hoặc từng có ao ước giống như gã. Tuy nhiên, khác với nhiều người, gã tin tưởng, với sự mãnh liệt khó lường, rằng chuyện đó có thể xảy ra trong đời gã, bằng cách tận dụng tiềm năng của gã, kết hợp với sức mạnh của niềm tin này nơi gã. Cố nhiên, nếu người đời biết đến điều này - thực ra ít ai biết, gần như không ai biết - thì họ sẽ, bằng thứ sức mạnh bản năng và vô lối của cộng đồng, không ngần ngại không chần chừ đè bẹp gã, trước tiên bằng cách gán cho gã cái định danh “thằng điên” và, qua đó, loại gã ra khỏi các cơ chế vận hành đã được thiết định của xã hội. Cô đơn một cách tuyệt đối, trong niềm tin và khát vọng của mình, tự do theo kiểu của mình trong cõi ngoài-nhân-loại, gã bình thản, tự tại, đôi lúc chạnh lòng, đôi lúc hạnh phúc.

Câu chuyện này dành cho những kẻ duy nhất, giữa muôn vạn kẻ, dừng lại để cúi nhìn một con cua nhỏ bị ai đó giẫm nát, và nghĩ về số phận của nó, cảm thấy như bị chạm vào ở bên trong mình.

Gã nói với tôi, “Tôi yêu Hara Setsuko, và tôi phải làm cho thế giới này tốt hơn lên dù chỉ vì một mình nàng thôi”, và tôi biết tôi là kẻ đầu tiên tin ở cái quyết tâm chân thành này, tin rằng sự chân thành đó không bao giờ thay đổi dù cho cái tên thay đổi, không còn Hara Setsuko mà là Thanh Nga, Greta Garbo, Anastasia Vertinskaya, những người đàn bà như thế, và tôi biết rằng trong sự chân thành này hàm ẩn một trữ lượng tinh thần hiếm gặp ở loài người. Đó cũng là một thứ thiên khiếu: thiên khiếu nhất tâm hướng tới những gì không thể đạt tới được.

Không cần phải có một cốt truyện hấp dẫn thì mới có thể kể câu chuyện về gã, Đoàn Xuân Phong: chẳng phải vì gã chưa bao giờ có được điều gã mong muốn nhất mà chuyện về gã là không đáng kể.

Gã sống một đời tầm thường, như mọi kẻ khác, trong chỗ tối, màu xám nhờ, “thỉnh thoảng mới có vài sự kiện nhỏ tiếp thêm cho ít ánh sáng và màu sắc”. Đời gã như thế: bên ngoài xám nhờ, bên trong nhiều thật nhiều màu, những vầng mặt trời bên trong gã soi sáng con đường bên trong gã. Với gã, phàm đã là cái đẹp trường cửu thì dẫu nó có ở nơi xa nhất trong vũ trụ hay cách gã hai ngàn năm thì cũng chẳng khác gì ở ngay cạnh gã và ở khoảnh khắc ngay sau khoảnh khắc hiện thời của gã.



“Setsuko Hara, tôi không dám nhìn thẳng vào nàng. Nàng là hiện thân cho những giấc mơ đẹp của tôi. Nàng là những gì tôi đã mất và sẽ mất.” Những lời này không phải của gã, nhưng chúng nằm trong gã; chúng là thanh âm phát ra từ cái nhìn câm lặng của gã hướng về cái đẹp mà, đối với gã, là khoảng mở cho gã nhìn thấy cái vô hạn.

Tôi không biết kể chuyện gì về gã, người tình của cả thế gian. Không một thời điểm nào trong đời gã hàm chứa một năng lượng tích lũy đủ để đột biến thành một câu chuyện, và, đồng thời, bất cứ khoảnh khắc nào trong hiện hữu của gã cũng có đủ bên trong nó cái tiềm năng khôn lường, tĩnh lặng mà mãnh liệt, của một vũ trụ những câu chuyện. Về phần mình, gã bận tâm đến việc sống sao cho càng nhiều phút càng tốt trong đời gã tương hợp với cái đẹp mà những người đàn bà “của gã” là hiện thân. Bằng hiện hữu của mình, gã muốn cứu vãn được chừng nào hay chừng nấy cái đẹp của thế giới, dẫu cho hoặc bởi vì việc đó gần như là bất khả.

Sau khi chúng tôi chia tay nhau trước Nhà thờ Phú Thọ Hòa, sau hai tiếng đồng hồ uống cà phê vỉa hè và hồi lâu đùa cợt với cô bé đánh giày chẳng lấy gì làm xinh có bộ ngực khá to, năm phút sau Phong nhắn tin cho tôi, ngỏ lời cám ơn tôi vì tôi đã nói về những người đàn bà “của gã” như thể họ là những người mà tôi có thể mời đến quán cà phê để gặp nhau, ngày mai, tại thành phố này. Khi gã nói “Mai tôi sẽ gửi hoa cho Thái Thanh”, tôi hiểu ấy là gã muốn nói đến Thái Thanh của thập niên 1950, và tôi biết rằng, với lời đó, gã đang tạo ra, cũng như mọi lần khác, một thực tại của riêng gã. Một thực tại nhất thời, hư huyễn, có thể, song đối với gã cái thực tại nơi gã sinh ra, lớn lên và sống cuộc sống của gã cho đến giờ đâu hề ít nhất thời và hư huyễn hơn.

Mỗi khi nhìn khuôn mặt tươi cười của Hara Setsuko, tôi biết ấy là nàng đang gửi nụ cười qua thời gian đến cho tôi, gã nói.

Tôi bảo gã rằng bất cứ một hay một số gã càn rỡ hoặc say rượu hoặc vừa càn rỡ vừa say rượu nào cũng có thể chặn đường Hara Setsuko vào bất cứ một đêm nào ở một ngõ hẹp vắng người hoặc không nhất thiết vắng người và hãm hiếp cô ta sau đó thì cắt cổ hoặc lấy vật nhọn đâm vào âm hộ cô ta, hoặc lấy băng dính quấn nhiều vòng quanh miệng cô ta để cô ta hết kêu được sau đó thì hết thở được.

Thì gã nói: Nếu chuyện như vậy có xảy ra, nếu chuyện đã như vậy, thì cái chết của nàng xuyên qua thời gian mà đến gặp tôi.

Tôi nói rằng tiếng cười của những tên lính hãm hiếp một người đàn bà có thai sau đó rạch bụng cô ta, lôi đứa bé ra khỏi tử cung cô ta mà tung lên không rồi chìa mũi giáo hay lưỡi lê ra đón, tiếng cười đó cũng xuyên qua thời gian mà đến gặp gã.

Thì gã nói: Cuộc sống của chúng ta, bên cạnh nhiều chuyện khác, còn là để gánh chịu sức nặng của tất cả những cái chết từng có trên trái đất.

(...)

Trần Tiễn Cao Đăng

Thứ Ba, 23 tháng 5, 2017

TÔI NHÌN CHỊ SUỐT TRÊN ĐƯỜNG (hay MÂN CỬNG DẠ HÀNH)

(Một truyện đã post trước đây khá lâu, dưới dạng bản thảo thô, nay được chỉnh sửa kỹ lưỡng và post lại) 

Tôi đã nhìn chị rất lâu, trong khi chị cùng một người đàn ông ngồi xe hơi đi trên xa lộ lúc đêm về sáng.

Chị và anh ta, bằng mọi giá, phải từ S. đến được D. vào sáng sớm, để kịp có mặt tại một cuộc gặp quan trọng. Một cuộc họp quyết định liên quan đến một chương trình biểu diễn lớn, chương trình mà không có chị và anh ta thì không thể diễn ra. Cho nên hai người đi suốt đêm. Người đàn ông lái xe từ giữa buổi chiều cho đến quá nửa đêm, để cho chị ngủ. Như mọi người đàn ông ở vào địa vị anh ta đều làm, cho nên không có gì đặc biệt, nhưng dù sao thì cũng đáng khen. Tôi thích cái lối anh ta chốc chốc ngoái nhìn chị đang nằm ngủ ở băng sau, với ánh mắt vừa ân cần vừa trầm tư, vừa mãn nguyện vừa sầu muộn, vừa trong trẻo vừa ranh mãnh. Tôi thích cái lối tất cả những thứ đó hòa quyện thành một cái nhìn duy nhất, như nhiều màu trong quang phổ hòa trộn thành một sắc trắng. Tôi thích cái lối thi thoảng một trong những sắc thái đó nổi lên, tách biệt ra, hiện rõ trong thoáng chốc rồi mờ đi và được thế chỗ bằng một sắc thái khác, như những mặt khác nhau của cùng một khối pha lê liên tiếp thay nhau tiến ra tiền cảnh theo một trật tự có vẻ ngẫu nhiên song vị tất là hỗn loạn. Và như vậy theo nghĩa nào đó tôi đang thấy những khía cạnh khác nhau của tâm hồn anh ta lần lượt thay nhau hiển lộ, những mặt khác nhau của cùng một khối tâm hồn, mặc dù nói đúng ra, nếu dùng cách nói của vật lý, đó chỉ là ảnh chiếu qua gương thứ năm, thứ sáu hay thứ bảy của cái gọi là khối tâm hồn (mà thật ra là vô hình) ấy thôi.

Dù đã rất mệt, anh ta trì hoãn từng phút cái lúc phải đánh thức chị. Nếu có thể, anh ta sẵn sàng lái như thế mười ngày đêm liên tục mà không đánh thức chị. Nếu sức anh ta cho phép. Nhưng sức anh ta không cho phép. Đến một lúc, khi anh ta ngáp và bất thần nhận ra mình vừa nhắm mắt lại khoảng nửa giây, anh ta lập tức giảm ga, tấp vào lề xa lộ, đạp phanh, cài số dừng. Cú dừng khiến chị sực tỉnh. Mới vài giây trước có vẻ như khó có gì trên đời đủ khả năng đánh thức chị được. Anh ta lặng lẽ nhìn chị và mỉm cười. Nụ cười như thể anh ta biết mình có lỗi với chị. Rõ ràng là nếu anh ta chuyển tay lái cho chị như chị đã dặn trước (“Dứt khoát không được dừng nghỉ một phút nào hết”), ấy là bởi anh ta sợ mình gây nguy hiểm cho chị nếu vẫn cố tiếp tục lái; chỉ có lý do đó thôi.

Chị bảo anh ta mở khóa cửa xe, đoạn chị mở cửa bước ra ngoài, dùng chai nước khoáng vơi non nửa để rửa mặt. Xong, chị vươn thẳng người, giang rộng hai tay, hít vào thật sâu bầu không khí lúc đêm về sáng, bên cánh đồng, ẩm và mát như thể đang mưa nhẹ. Chị khép mắt lại, gần như nhắm chặt, miệng chị giãn ra và cong thành nụ cười, rồi chị thốt ra một tiếng kêu dài, mảnh, ở âm vực cao song đồng thời cũng mềm, mượt và ấm, giống như một dải lụa ủ hơi người miết vào không gian. Người đàn ông đứng cạnh cửa trước xe, nhìn chị, mỉm cười, một cái cười lây từ chị, giống như người ta có thể lây sự tươi mới của một dòng suối ở nơi thực sự vắng người. Nhìn dáng vẻ anh ta, tôi nhận ra một điều nữa: anh ta đang phải đấu tranh với bản thân để có thể nhìn chị như thế này lâu thêm được một giây, hai giây: nhu cầu tự giải phóng mình khỏi khối nước giải tích tụ bên trong mình đột nhiên xâm chiếm anh ta, trong khi chỉ mới một phút trước anh ta tưởng mình vẫn đang còn tự do đối với nó.

Chị ngoảnh lại phía anh ta và chỉ cần thoáng nhìn chị nhận ra ngay sự căng thẳng mà anh ta đang phải chịu đựng, cái thứ sắp bục ra nơi anh ta. Muốn đi đâu thì đi đi, chị nói, giọng nhẹ, thoáng chút giễu cợt. Và bên cạnh đó còn có một nét gì đậm hơn chứ không chỉ là thân ái, hẳn có thể gọi là âu yếm đối với người đàn ông, tuy rằng ngay cả nét này cũng chỉ phớt nhẹ, giống như chút vân xanh và ám khói vàng nâu nơi khối thạch anh màu trắng trong: nó có đó, rõ là vậy, nhưng đồng thời vẫn luôn luôn có vẻ như không thực sự có, bởi chỉ cần ta đổi góc nhìn là nó không còn đó nữa và cố nhiên nó không thể chạm tới được, có thể mất đi bất cứ lúc nào song là thứ làm tất cả trở nên khác biệt.

Anh ta đáp lại bằng một nụ cười rồi quay lưng, tìm một chỗ thuận tiện ở khoảng cách vừa phải, để làm cái việc chẳng đặng đừng của mình, nhưng có thể thấy rõ, nơi tư thế của anh ta khi anh ta làm việc đó, là anh ta đang căng thẳng, khẩn trương: anh ta không muốn kéo dài một chút nào cái khoảng thời gian anh ta buộc phải để chị lại một mình sau lưng, khuất tầm mắt anh ta, không có anh ta bên cạnh, gần chiếc xe đỗ bên lề xa lộ lúc đêm về sáng. Đó là một quãng đường vắng, nhìn hút mắt cũng không thấy một ánh đèn nào của chỗ có người. Tuy vậy nơi này không vắng, thỉnh thoảng nó lại sáng lòa, rung chuyển và inh tai khi những xe khách, xe tải, xe container chạy suốt đêm rầm rập lao qua. Sự sống đang lưu chuyển ở cấp độ cường liệt nhất của nó và do đó cận kề nhất với cái chết, mang theo cái chết. Như thể anh ta sợ rằng một trong những xe đó, dẫu cách chị hàng nhiều mét khi chạy ngang qua, vẫn có khả năng làm chị biến mất vĩnh viễn. Anh ta sợ cái hố thẳm không đáy có thể há ra mà ngăn cách vĩnh viễn chị với anh ta chỉ vì ít giây anh ta quay lưng lại chị như thế này.

Chị nhận thấy điều này cũng như tôi tuy chị có vẻ chẳng nhìn anh ta, ánh mắt chị dán vào cánh đồng lúa trước mặt gần như hoàn toàn tối đen, rồi lại chuyển sang nhìn hai phía đầu đường cũng mất hút vào trong bóng tối, thứ bóng tối dày đặc những khi không bị ánh đèn pha mới nào xuất hiện mà khoan thủng. Hình như chị chăm chú chờ những lúc bóng tối lại một lần nữa bị khoan thủng như thế, hoặc bị khoan thủng mấy lần liên tiếp cho đến khi bóng tối vỡ ra nhiều mảnh và biến mất gần như hoàn toàn, nhường chỗ cho ánh sáng rồi ít giây sau lại ùa trở về chiếm lĩnh không gian ngay sau khi ánh sáng (cùng với rung chấn và huyên náo và lực hút bất thần của nó) đã đi qua. Chị có vẻ rất hứng thú với cảnh bóng tối và ánh sáng không ngừng hoán đổi hoặc tranh đoạt vị trí với nhau một cách mạnh bạo và không khoan nhượng như thế này, hứng thú thấy mình đang ở trong bóng tối mà quan sát cảnh ánh sáng thi thoảng giành được chút tiền cảnh từ tay bóng tối song không bao giờ có thể giữ lâu vì ánh sáng này là thứ di chuyển, loáng qua như chớp rồi mất hút, trong khi bóng tối là tĩnh tại, trùm khắp và vĩnh hằng hoặc ít nhất là có vẻ vĩnh hằng. Chỉ có đèn pha xe của hai người là ánh sáng tĩnh tại ở đây và sau khi làm xong việc của mình anh ta tiến lại gần, dấn mình vào vùng sáng đó, nhìn chị như muốn hỏi gì song không hỏi, hai điểm sáng trong hai con ngươi anh ta trông như thể có một vùng mép ẩm ướt. Chị hiểu điều anh ta muốn nói và nhún vai. Không, chị không cần đi đâu để làm gì hết, và khi chị làm động tác đó chị có vẻ là một người có khả năng làm chủ toàn bộ tâm trí và thân thể mình, làm chủ cả chuyện đó nữa, chị làm cái việc chẳng đặng đừng ấy chỉ khi chị muốn mà thôi. Sau khi nhún vai, chị nhìn anh ta khoảng một giây khiến anh ta cụp mắt xuống bởi cái nhìn của chị chạm tới tim anh ta. Chị có thể cảm được cái cảm giác lạnh nơi lưng anh ta trong khoảng một phút qua, khi vực thẳm có thể mở ra chia cách chị với anh ta bất cứ lúc nào, tốc độ chóng mặt của vực thẳm đó khi nó đến và sự vĩnh hằng của nó.

Chị nói với anh ta, Đi thôi, đoạn chị nhanh nhẹn chui vào xe - chị không vòng sang cửa dành cho người lái mà vào xe qua cửa dành cho khách, nên chị phải len qua ghế của khách mới đến được ghế của người lái, song chị gần như lập tức yên vị sau vô lăng. Anh ta đứng trong một thoáng, như để thu vào mình trọn vẹn cảnh đó, rồi mới vào theo và đóng cửa xe. Chị lái chậm, thư thả. Được một lát chị nói, không liếc sang anh ta: Sao không xuống băng sau mà nằm. Anh ta khẽ lắc đầu, mỉm cười. Chị mỉm cười, chị thấy nụ cười của anh ta dù chị không nhìn. Tuy nhiên gần như ngay sau đó có một cái gì khác len vào mắt chị làm mắt chị có một vẻ khác. Không phải vẻ tập trung vào việc lái xe. Không đơn giản vậy. Không có cái vẻ đó thì tôi vẫn biết chắc chị đang lái xe với sự chắc chắn và bình thản. Có lẽ tôi phải nói rằng chị vừa trở lại tập trung hoàn toàn vào khoảnh khắc đang sống như vào một toàn thể, một toàn thể không phân biệt, mà trong đó việc lái xe của chị và nụ cười của anh ra là hai trong nhiều thành tố, ranh giới giữa chúng đã biến mất và có thể nói rằng cái này hay cái kia là một mà thôi. Chị tập trung lái và đồng thời tiếp tục tập trung vào nụ cười đó. Giống như một người đang dốc hết mình vào một điệu múa hay bài hát và đồng thời không giây nào quên một đôi mắt đặc biệt hơn mọi đôi mắt, đôi tai đặc biệt hơn mọi đôi tai trong đám đông dưới kia hoặc thậm chí không phải đang có đó trong đám đông dưới kia.

Và anh ta không rời mắt khỏi chị, anh ta thấu được điều này. Có thể hình dung anh ta, vào những lúc khác, lặng ngắm sự toàn vẹn này ở chị, vẻ đẹp của nó, niềm tin vào sự có nghĩa lý của thế giới, hoặc niềm tin rằng vẫn có cách để nhìn thế giới này như một cái gì đó có nghĩa lý. Nhờ có những lúc như thế mà anh ta có thể quen dần với ý nghĩ rằng loài người này hoặc cõi hiện hữu này hoặc cả hai là một cái gì có thể hiểu được, một vùng sáng duy nhất, nhỏ nhoi, mà có thể ta chưa biết là gì song làm tim ta ấm, giữa một bóng tối vô tận mà ta không biết là gì và làm tim ta lạnh. Đó có lẽ là lý do khiến cái nhìn của anh ta kéo dài như không bao giờ ngừng, cho đến khi, hơi rời mắt khỏi con đường trước mặt mà xoay sang anh ta, chị nói, Ngủ chút đi, giọng nhẹ đến nỗi dường như chị muốn dùng giọng này để vuốt má anh ta. Một nụ cười liền nở ra và sáng lên trên mặt anh ta, làm như đối với anh ta được nghe chị nói với mình bằng giọng như thế là đủ thay cho giấc ngủ sâu nhất. Song dĩ nhiên đó chỉ là một cảm tưởng vì chỉ thoáng sau là có thể thấy rõ cơn buồn ngủ bắt đầu đè xuống anh ta ra sao. Anh ta kiên cường chống lại nó, như chống lại cánh cổng bằng đá đang từ từ đè xuống anh ta, để có thể tiếp tục nhìn chị. Ngủ đi, chị nói, rất nhẹ, lần này chị thực sự liếc sang anh ta. Một cái lắc đầu nhẹ, đó là cách duy nhất của anh ta để trả lời, và gần như ngay sau đó mắt anh ta sụp xuống, như một người, sau nhiều năm kháng cự kiên cường, cuối cùng cũng chấp nhận cái kết không thể tránh, mở rộng mình đón nhận cái chết.

Một hồi lâu trong xe hoàn toàn im lặng, những chuyển động duy nhất là của hai tay chị nhẹ nhàng dịch chuyển vô lăng. Đầu chị thẳng, bất động, vai và người chị cũng vậy. Đầu anh ta gục xuống, cằm chạm ngực, ít lắc lư qua lại đến độ gần như khác thường, tuy chẳng phải không có những lúc bánh xe bập vào những chỗ mặt đường lõm xuống gồ lên và những lúc chị phanh gấp để tránh chiếc xe tải hay xe khách điên cuồng nào đó. Như thể đầu và thân trên anh ta được giữ cố định nhờ một bộ đai chắc chắn, hữu hiệu và vô hình. Có cảm tưởng như bộ đai đó là từ chị mà ra, như những sợi tơ nhện giăng ra từ một con nhện tuy rằng dùng hình ảnh so sánh này với chị thật không phù hợp. Tôi tiếp tục quan sát chị. Tôi có thể quan sát chị như vậy trong một năm liền không nghỉ nếu trong một năm đó chị lái xe không nghỉ, nếu trong một năm đó thế giới chỉ có ba chúng tôi trong chiếc xe này, trên con đường của chúng tôi đến một nơi nào đó, dĩ nhiên là với điều kiện trong một năm đó có một phép mầu cho phép chúng ta không cần ăn không cần ngủ không cần làm vệ sinh, nếu có phép mầu ấy thì tất cả chúng ta sẽ thoát khỏi cái căn bệnh đáng sợ nhất của hiện hữu con người là sự buồn chán, và sự có mặt của chị là đủ để bảo đảm cho điều đó.

Và nếu cần phải nói thật thì tôi nói thật: nếu suốt một năm đó anh ta không thức dậy một lần nào thì cũng không sao cả đối với tôi. Cứ để anh ta chìm trong giấc ngủ hay trong thế giới riêng của anh ta, trong giấc mơ của anh ta, những giấc mơ mà tôi chân thành cầu mong là đủ xứng đáng để anh ta không muốn rời khỏi chúng. Suốt một năm ấy. Tuy tôi biết rất có thể chị không nghĩ như tôi. Bởi vì đến một lúc, khi anh ta lại mở mắt thì chị là người đầu tiên nhận thấy chuyện đó, tôi chỉ biết chuyện đó khi thấy cái liếc nhìn của chị sang anh ta. Chị có một thứ giác quan đặc biệt dành riêng cho anh ta, đó là điều không thể nhầm. Hay nói chung chị có giác quan đó đối với mọi đàn ông ở bên chị? Điều này tôi không biết. Có thể giác quan đó ẩn dưới mũi hoặc da chị, có khả năng nắm bắt sự thay đổi cực nhỏ của độ ẩm trong không khí ngay khi người đàn ông mở mắt, ngay khi cái ẩm do tuyến nước mắt của anh ta tiết ra tiếp xúc với hơi ẩm trong không khí. Và có thể dưới những dạng khác. Liền sau đó chị trở lại nhìn đường, tuy nhiên lúc này đã có một thay đổi xảy ra ở chị. Có một hay những ý nghĩ mới xuất hiện đang chạy dọc các dây thần kinh của chị, làm cho mặt chị giống như thể có những con kiến nhỏ li ti đang bò nhanh ở dưới da: ta không thấy được nó và đường đi của nó, song những gợn lan tỏa sinh ra từ chuyển động của nó thì ta thấy. Và động năng của các gợn lan tỏa này hợp lại khiến tôi có cảm tưởng rõ rệt rằng chị sắp làm gì đó hầu chuyển hóa cái động năng này.

Bàn tay phải chị rời khỏi vô lăng, từ từ vươn ra chạm khẽ vào má trái anh ta. Chị là người cao, cánh tay dài, nên chị làm việc này dễ dàng dù khung xe khá rộng, khoảng cách giữa hai ghế đằng trước lớn hơn đáng kể so với nhiều xe khác. Cái đụng chạm ấy làm anh ta như rùng mình choàng dậy khỏi giấc ngủ và nhìn chị, như chờ đợi chị giải thích nó.

Chị không liếc sang anh ta tuy rõ là chị ý thức được sự chờ đợi của anh ta và hình như chị thích việc kéo dài sự chờ đợi này. Nhưng rồi như thể có một làn sóng rắn và mạnh vừa lướt qua chị, tương tự ở người cầm súng trong một nháy mắt trước khi đột nhiên quyết định bắn: cái bóng lướt qua của quyết định làm một việc gì đó, cái quyết định mà trước đó dưới một giây bản thân chị không biết là sẽ đến với chị.

Và như tuân theo mệnh lệnh của quyết định đó, tay phải chị lại bắt đầu rời khỏi vô lăng, vươn về phía người đàn ông. Lần này nó không hướng về vùng mặt anh ta, mà xuống dưới, đặt lên đùi anh ta, gần háng, rồi chậm rãi lần xuống, tìm khóa kéo quần của anh ta.

Có thể thấy rằng ngay khi tay chị chạm vào vùng đùi của người đàn ông, anh ta liền cứng người lại. Và anh ta càng lúc càng cứng hơn, thuận theo đà tay chị chuyển dần từ ngoài vào trong. Đến khi các cơ của anh ta đã đạt tới chỗ không thể cứng hơn được nữa thì tim anh ta bắt đầu đập càng lúc càng nhanh, máu trong người anh ta cũng thế. Chắc chắn là chị nhận thấy tất cả điều đó, qua sự tiếp xúc giữa bàn tay và cổ tay chị với một phần thân thể anh ta và hẳn bằng cả một thứ giác quan cảm thụ không dựa vào thân thể. Bởi vì tôi thấy một nét cười cực nhẹ phớt qua mặt chị, như cú chạm lướt của đầu cánh một con chim, và bàn tay chị dừng lại trên khóa quần của người đàn ông, không phải vì chợt ngần ngại, mà là để chị có thì giờ tận hưởng hương vị của nụ cười này trước đã, vị ngọt dịu, mát, the, lâng say, như kẹo bạc hà có cồn. Với chị lúc này không gì quan trọng hơn chuyện chị có thể cảm nghiệm trọn vẹn cảm giác đó, như một nghệ sĩ lão luyện hay diễn giả già rơ tận hưởng giây phút im lặng sững sờ của cử tọa trước một hiệu ứng choáng người mà chị hay anh ta vừa tạo ra.

Và cũng như nghệ sĩ hay diễn giả đó, chị biết rõ đúng khoảnh khắc nào sẽ cần tiếp tục, sao cho khoảng lặng ấy không thừa không thiếu dù chỉ nửa giây, và tiếp tục bằng cách nào. Đúng khoảnh khắc mà chị biết cần phải tiếp tục, bàn tay chị đang đặt trên lòng người đàn ông lại bắt đầu chuyển động. Nó dấn tới thêm chút nữa, một quãng ngắn nhưng mạnh, gần như một cú thúc hay cú huých nhẹ. Và cú huých nhẹ, không nóng nảy, không có vẻ khẩn thiết ấy, nó lập tức giống như luồng điện khiến mọi tàn dư của cơn ngủ đang đeo trĩu người đàn ông lập tức tuột xuống như những manh rách cuối còn sót lại của một chiếc áo. Và, trong khi đầu óc mới được gột sạch của anh ta, một cách chậm chạp song chắc chắn, dần dần lĩnh hội được cái thông điệp không lời của bàn tay chị, bàn tay anh ta, cho đến lúc này vẫn để xuôi bên mình, bắt đầu chuyển động, như một sinh vật đang ngủ chợt thức giấc vì đã đến lúc nó thực thi vai trò của nó trong vũ trụ.

Nó bắt đầu dịch về phía bàn tay chị lúc này đang nằm yên. Lập tức tay chị liền khẽ dịch ra khỏi đó, nhường chỗ cho tay anh ta. Chỉ vừa vặn cho bàn tay anh ta có đủ không gian đặng làm việc nó phải làm, để khởi đầu cho một giai đoạn mới, một trạng thái khác của cuộc hiện tồn trong chiếc xe này giữa đường bon trên xa lộ lúc đêm về sáng, cái chốn nhân sinh nhỏ nhoi và dễ bị hủy diệt ấy.

Bàn tay người đàn ông bắt đầu tìm đến cúc quần, mở cúc, kéo phéc mơ tuya xuống, không nhanh, không chậm, với ý thức đầy đủ về sức ép của sự chờ đợi từ phía bên kia, và với cảm thức trọn vẹn về sự cẩn trọng cần phải có, sao cho không có một động tác thừa nào, không một sự thiếu chuẩn xác nào dù nhỏ, không có sự bộp chộp, xăng xái hơi thái quá nào mà nhất định sẽ lộ rõ là không thích hợp và không cao nhã. Rồi sau đó, bàn tay anh ta cầm lấy con giống của anh ta - cẩn thận như đang cầm một con gà con mới nở, con mèo con mới đẻ, dịch nó ra khỏi vị trí nó đang náu mình, làm cho nó phơi ra không khí, trong ánh sáng mờ mờ màu xanh lục tỏa ra từ táp lô xe, như một con sâu lớn, kỳ dị, đang say ngủ, lộ ra khi tảng đá to che giấu nó vừa bị lật sang bên. Ngay cả dưới thứ ánh sáng tù mù ấy, sự tương phản giữa màu sắc của bộ phận hay vật ấy với màu sắc của các phần lộ ra khác của cơ thể anh ta là nổi bật và hùng hồn đến độ người đàn bà nào nhìn thấy lần đầu tiên gần như chắc chắn sẽ không ghìm nổi một tiếng kêu hay câu cảm thán mà trong thực chất cũng là một tiếng kêu. Chị không kêu. Không phải vì đây chẳng phải lần đầu tiên chị thấy nó - tôi hoàn toàn có cơ sở để nói rằng nếu đây thực sự là lần đầu tiên chị thấy nó chị cũng sẽ không kêu. Mặt khác tinh thần chị có cách riêng của mình để bộc lộ ra, qua cơ thể chị, cái tương đương với tiếng kêu: tôi thấy gương mặt chị, đang chìm trong tranh tối tranh sáng, vụt bừng tỏ như cánh đồng nhập nhoạng nhá nhem dưới ánh sáng một lằn sét. Mắt chị, môi chị, gò má chị, sống mũi chị, quai hàm chị, xương trán chị, xương cằm chị, mỗi thứ một cường độ khác nhau, riêng với các phần xương thì có thể do phải vượt qua lực cản của thịt và da mà ánh sáng của chúng có phần suy giảm, song hiệu quả tổng hợp của chúng là một: một tiếng kêu dài, to, lảnh lót, trong vắt, bật ra từ sâu trong bản thể, không bị kìm giữ vì bất cứ cái gì. Và điều đó diễn ra một cách tự nhiên và hoàn hảo đến độ dường như trong chính hành vi hay cách phản ứng này mà cơ thể hay bản thể chị vừa phát hiện ra chính nó và một phần cái ánh sáng này là để hân thưởng phát hiện ấy, hân thưởng bản thân nó. Có một nét chuyển biến rất nhỏ nơi miệng chị khiến nó trở nên gần hơn với cái thường được mô tả là nụ cười, song đồng thời mắt chị không cười; mắt chị sáng, song đó là một ánh sáng quyết liệt và tỉnh lạnh. Có lẽ anh ta cảm ứng được tức khắc cái quyết liệt và tỉnh lạnh này bởi vì, rất nhanh, toàn thân anh ta giãn ra, mềm đi, dấu hiệu rõ ràng của một sự ngỡ ngàng thuận mệnh. Anh ta sẵn sàng đón nhận bất cứ điều gì từ chị bởi anh ta đã nhanh chóng nhận ra rằng ở đây, lúc này, duy chỉ chuyện đó là có ý nghĩa: đó là sự ngỡ ngàng thuận mệnh của người trong nháy mắt ngộ ra toàn bộ tầm vóc mênh mông của cái sự thật rằng anh ta sắp sửa dự phần vào việc tạo ra một thế giới khác, một thực tại khác, tầm vóc của điều đó đủ lớn để tất cả những gì khác với nó đều không có chỗ trong tâm trí anh ta. Bởi vì ở thế giới khác đó, những gì chị sắp làm với anh ta, những gì hai người sắp làm cho nhau, là thứ tự nhiên nhất, thứ độc nhất có ý nghĩa.

Chầm chậm, vừa nhẩn nha, uể oải như đứa bé có cảm giác mình vừa có toàn thế giới trước mặt mình, vừa khoan thai như bà hoàng biết rõ rằng vẻ khoan thai này là ấn chứng cho thấy mình là chủ nhân của thời gian, các ngón tay chị, từng ngón một, khép vòng quanh cái vật đen đen, lớn song hãy còn mềm, chưa tự dựng lên được đó. Và, sau khi đã bao trọn vật ấy vào lòng mình, bàn tay chị dừng yên trong không biết bao lâu, và trong khoảng thời gian ấy, bàn tay chị, hay toàn bộ chị có vẻ giống như một người mẹ, sau khi rốt cuộc cũng giằng lại được đứa con mình khỏi dòng lũ dữ, ôm chặt nó và, thở dài nhẹ nhõm, nhắm mắt, bình thản với ý nghĩ rằng miễn sao có cả hai mẹ con thì không có gì đáng sợ nữa kể cả cái chết.

Đó chỉ là một cảm tưởng chóng qua, bởi vì đến một lúc bàn tay chị lại bắt đầu cử động tuy hầu như không thể thấy bằng mắt. Rồi thì, rất từ từ, chuyển động của tay chị trở nên nhặt hơn với biên độ lớn hơn. Nó giống như những động tác vuốt ve vừa nhẹ nhàng vừa dứt khoát sao cho một con thú cưng đang ngủ say thức dậy từ từ, để biết rằng có một thứ khác ngọt ngào và vui thích ít nhất là ngang với giấc ngủ đang chờ đợi nó, đang sẵn sàng được trao cho nó bằng tình yêu thương hoặc ít nhất là với sự chu đáo và cẩn trọng, như của một người đã làm động tác này nhiều lần bởi đó là nghề của họ, một nghề họ làm với tình yêu. Và quả thực là con thú cưng đó, cái vật đen sì đang ngủ mềm như gié bún trong rổ đó, nó bắt đầu trồi dậy khỏi giấc ngủ, như cái mầm đội đất ngoi lên, thẳng dậy, lớn lên. Và khi chị thấy như vậy thì hình như có một ánh sáng mới bắt đầu tỏa ra từ chị, tôi nói là ánh sáng mới bởi vì trước đó chị vốn đã sáng, chị là mẫu người luôn luôn tỏa ánh sáng riêng, tuy nhiên như thể có một làn gió mới lùa vào khiến ánh sáng này trở nên đậm hơn, đượm hơn, gây nhói hơn. Một làn gió mới vừa lùa vào nó, hoặc vài giọt men, vài giọt máu vừa được vẩy vào nó. Môi chị căng ra và run lên, thật khẽ, giống như ở vài người khi họ nghe một giai điệu nào đó, giai điệu cứa vào tim họ và làm lông trên tay họ dựng lên như một thứ điện.

Một tay vẫn nắm chặt vật đen đó mà xóc nó, từ từ, quả quyết, theo chiều từ trên xuống dưới, tay kia của chị buông vô lăng, chỉ trong một giây hoặc giây rưỡi, chừng đó là đủ cho nó làm việc phải làm. Khi bàn tay đó lại cầm vô lăng như cũ thì ba cúc áo trên cùng của chị đã được mở, cổ áo phanh rộng sang hai bên, một trong hai bầu của chiếc xu chiêng chị mang, màu hồng sen có viền ren, đã bị trật xuống và một trong hai bầu vú của chị, - bầu bên phải, phía dễ thấy hơn cho người đàn ông, đã hoàn toàn phơi lộ. Đó là một bầu vú tròn, lớn, tuy hơi xệ, có lẽ do sức nặng của chính nó. Khó hình dung chị có bầu vú như vậy nếu chỉ nhìn thấy chị khi chị mặc áo cài kín cổ - chị thuộc típ phụ nữ như thế. Dù sao đi nữa, sự xuất lộ của bầu vú này, trong thế giới nhỏ riêng biệt của hai người lúc này, khiến cho thế giới ấy chuyển sang một cấp độ khác với những phẩm tính khác. Và như thể, với bầu vú này vừa xuất lộ, dường như có thể hiểu được phần nào về chuyện, cái ánh ngời tỏa từ bên trong chị - từ từng tế bào bên trong, chỉ lu đi đôi chút do lọc qua lớp da - thực chất là từ đâu ra: một phần lớn năng lượng của nó tập trung ở bầu vú này và hẳn cả bầu vú kia mà lúc này đang ẩn kín. Đôi bầu vú giống như khu vực tập trung phần năng lượng và vật chất lớn nhất của một thiên hà tuy rằng mọi khu vực khác của thiên hà cũng cấu tạo bằng năng lượng ấy và vật chất ấy.

Ngay khoảnh khắc bầu vú này, vùng lõi thiên hà sáng rỡ màu trắng sữa này lộ ra trọn vẹn, có thể nghe thấy người đàn ông hít vào một hơi mạnh và gắt nghe như một tiếng nấc. Có gì đó trong tiếng nấc này giống như là tuyệt vọng, tuy nhiên không hoàn toàn như thế, bởi ở đây có sự mở toang một loạt những triển vọng mới mà hầu hết đều cuốn hút như xoáy nước và tối đen như hình dung của con người về cái chết. Điều này có thể thấy trong cặp mắt chợt trở nên sâu hoắm và như rực cháy của anh ta, cặp mắt của người sắp châm lửa đốt mình trong một màn nghệ thuật trình diễn.

Người đàn bà không nhìn anh ta, mắt chị không rời con đường đang không ngừng mở ra trước mặt. Hình như, trong khi cảm thấy con đường đang vun vút nuốt chửng chị hoặc chị đang vun vút nuốt chửng nó vào dưới hoặc vào giữa hai chân mình, chị cũng đồng thời cảm thấy mình đang phóng vun vút vào cái vực sâu là bản thể anh ta, cái bản thể sâu hút và không bao giờ tự thấy đủ của anh ta, nó không ngừng nuốt chị với sự hối hả chẳng khác gì chị nuốt anh ta, không bao giờ thỏa và không bao giờ hết. Và có lẽ một cách vô thức chị bắt đầu dấn ga mạnh hơn. Cũng có thể chị làm vậy không hoàn toàn vô thức, điều đó tôi không chắc... Thực ra gần như ngay sau đó chị chuyển về vận tốc như cũ, nhanh song không quá nhanh: một thoáng tăng tốc bất chợt ấy có lẽ là khởi phát từ một cú tăng vọt của ađrênalin ở trong chị và chị đã đủ khả năng kiềm chế nó ngay trước khi nó trở nên nguy hiểm. Và chị kiềm chế nó vì nếu chạy quá nhanh thì nguy hiểm sẽ lớn hơn và chị không thể dồn trọn tâm trí vào việc đó, chị còn việc khác phải làm.

Chị bắt đầu làm cái việc mà dường như mình chị có thể làm: nhìn thẳng trước mặt, chị lái xe, và chị xóc cho cái vật đen kia to lên hơn, cứng lên hơn, cả hai việc này chị làm với cùng một sự tập trung cao độ như nhau, như thể hai việc có vẻ tách rời nhau này về thực chất là hai thể của cùng một việc. Bàn tay phải chị lúc này chuyển động mạnh hơn so với lúc đầu. Không nhanh nhưng mạnh. Không khoan nhượng, không vội vàng. Bởi vì qua độ cứng của người đàn ông, mà chị cảm nhận bằng bàn tay và qua đó bằng toàn bộ con người mình, chị biết mình đang tiến đến đâu và đang tích lũy được cái gì, có được cái gì. Bản thân chị cũng căng lên, có thể nhận thấy điều này qua lưng chị ưỡn thẳng, hơi cong ra trước, và chị bắt đầu hít thở sâu hơn, qua đằng mũi (lúc này mỗi hơi hít vào bắt đầu nghe ra thành tiếng) và sau đó qua cả đằng miệng tuy rằng miệng chị chỉ hé mở. Đây đã là độ cứng ấy, độ cứng tối đa, tối hậu mà mình có thể có, mà mình thực sự muốn chưa? hình như cùng với một trong những nhịp hít vào đó chị đang tự hỏi như vậy. Và hình như bao nhiêu lần chị hít vào và tự hỏi là bấy nhiêu lần chị tự trả lời, chị biết câu trả lời từ sâu trong chị: chị còn muốn hơn thế, chị có thể có được hơn thế. Tay chị vẫn xóc đều và cứ mỗi một cú xóc mới tôi lại nghe như có gì riết róng hơn, tuyệt vọng hơn ở đó, như tiếng rít của cái găng tay cao su bó chặt bị lột nhanh ra khỏi cánh tay... chị luôn luôn muốn hơn nữa, hơn nữa, hơn nữa song đó đơn thuần là khát khao của chị, một khát khao quá quắt - có thể tự chị biết thế - và khôn nguôi, và bất kham, chính cường lực của nỗi khát khao đó, ẩn chứa và lồ lộ trong từng cú xóc một, là cái gây cho tôi ấn tượng mạnh nhất, chứ không phải cái lực trên thực tế, thuần túy vật lý mà chị thực hiện được bằng cơ và xương của mình và đang tác động lên bộ phận đen sì của anh ta mà lúc này đã to đến nỗi bàn tay chị cơ hồ không ôm xuể nữa và nom cứng đến độ khó mà hình dung đó là một phần của một con người. Có một cái đau nào đó mà sự cứng này gây ra cho người đàn ông: mày anh nhíu lại, gò má anh căng ra, hàm anh đanh lại, là do anh đang nghiến chặt răng. Không nghe thấy anh thở vì anh đang nín thở, sự nín thở này thì có thể cảm nhận được, giống như ta có thể cảm nhận được khi ai đó đang cơn cuồng nộ hoặc cuồng hoan chỉ muốn hét lên nhưng cố ghìm mình không hét. Nhìn hai bàn tay anh ta, đặc biệt bàn tay phải, có thể thấy chúng đang được giữ yên tại chỗ bằng một lực lớn hơn nhiều so với lực đang thôi thúc chúng giơ ra, vươn về phía chị, có thể để chạm vào bầu vú phơi trần của chị mà cũng có thể để chạm vào một phần khác của chị bởi vì sức hút của chị đối với anh ta là sức hút của một toàn thể. Thoạt tiên tôi không hiểu tại sao anh ta tự ghìm mình một cách quyết liệt như vậy. Sau đó tôi tự hỏi: nếu không phải chị đang lái xe thì anh ta có tự ghìm mình vậy không? Liệu có chắc câu trả lời là không? Tôi đang mải nghĩ về điều đó thì anh ta đã nhắm mắt lại. Bầu vú của chị đối với anh ta thế là đã đủ. Là quá nhiều. Và nhất định là ánh sáng từ nó vẫn đang tiếp tục ngời tỏa trong tâm trí người đàn ông, nó làm mặt anh ta sáng lên giữa cảnh tranh tối tranh sáng trong xe: Mặt anh bây giờ như một khuôn mặt được soi tỏ bởi ánh trăng, trăng mười lăm hoặc gần như vậy, tuy nhiên là một thứ ánh trăng đặc hơn, đậm hơn bình thường, là bởi nó tập trung vào riêng khuôn mặt này thay vì trải đều khắp mọi vật. Nhưng chắc chắn là ở trong anh, với riêng anh, cái ánh sáng ấy rực rỡ và sâu xa hơn nhiều so với ánh sáng mà người quan sát ở ngoài thấy được: đó là cái ánh sáng mà trong đó anh tồn tại ở mức tuyệt đỉnh, trạng thái mà ở đó toàn bộ năng lượng thể xác và tinh thần của anh nén chặt thành một tinh thể độc nhất và với cái tinh thể đó thì không còn vũ trụ, không còn thời gian, bởi gồm thâu trong nó là vũ trụ và thời gian.

Tranh của Tamara de Lempicka.
Nhiều xe tải xe khách chạy ngược chiều hắt đèn pha vào xe chị, những lóa sáng bùng nổ mạnh, chói lòa tưởng như nuốt chửng chiếc xe của chị, bao gồm chị và người đàn ông trong khoảnh khắc. Có ai trong số những người đàn ông ngồi trong buồng lái các xe kia thấy được dù chỉ trong một phần giây bầu vú trần của chị không? Thấy và liền sau đó tự hỏi phải chăng mình nhìn lầm, bị hoa mắt, một trong những ảo ảnh dị thường và gây men phấn khoái của đêm? Vị tất họ đã thấy, bởi tất cả họ đều đang mải mốt phóng nhanh, cố sao không gây tai nạn ít nhất là trong chừng mực họ tự kiểm soát được mình và do vậy không nhìn ngang nhìn ngửa hoặc có song không liên tục. Và còn vấn đề ánh sáng. Ngoài chuyện các đèn pha này, tuy mạnh song đang di chuyển nhanh nên không thể là phương tiện đáng tin để giúp nhìn rõ một vật thể mà bản thân nó cũng đang di chuyển nhanh và ngược hướng, còn có chuyện xa lộ gần như hoàn toàn không có đèn đường trừ những quãng gần điểm tập trung dân cư. Tuy nhiên cử chỉ của chị, tư thái của chị khiến tôi có cảm giác rằng đối với chị thì tất cả các đàn ông đó đều thấy chị và đang nhìn chị. Tôi thấy rõ điều này qua cách chị cười. Chị thích thú. Chị thích thú rằng người ta có thể nhìn thấy chị đang như thế nào, đang làm gì vào lúc này. Chị cười tựa như chị đang làm như thế này trước mặt cả nhân gian. Tuy nhiên không có chút gì là lên gân hay màu mè ở chị. Chị phơi mình ra trước nhân loại, cho nhân loại thấy, song sự thật là chị không quan tâm tới nhân loại. Chỉ một số rất ít phụ nữ làm mẫu ảnh porno có khả năng cho ta ấn tượng như vậy và chính điều này khiến họ khác biệt. Thậm chí có một khoảnh khắc tôi chợt nghĩ: nếu như, do đã nhìn thấy bầu vú trần của chị và tha thiết muốn thấy thêm lần nữa (dù chỉ để cho chắc mình không nhìn lầm) mà một tài xế nào đó lạc tay lái gây tai nạn thảm khốc thì chị cũng không một lần ngoái lại nhìn mà vẫn đường mình thẳng tiến. Tôi không biết cái kịch bản này có thể xảy ra không, tôi vừa thầm mong nó xảy ra vừa muốn thấy nó xảy ra. Trong đầu chị có thoáng qua ý nghĩ này không? Tôi không biết. Nụ cười của chị ẩn chứa bóng dáng khó luận ra của quá nhiều thứ. Và bỗng nhiên tôi nhận ra rằng cái vùng lẩn khuất, sâu kín, chưa biết và u tối ẩn sau những ô cửa luôn chỉ mở hé của một người đàn bà - đôi mắt của cô, nụ cười của cô, giọng nói của cô - là mênh mông và có thể vô biên ra sao. Có khả năng chỉ mấy giây nữa thôi chị sẽ lao thẳng xe của mình và bản thân mình cùng người đàn ông đi với mình vào một xe khách hay xe tải ngược chiều, như anh bạn Nashe đã làm trên một xa lộ bang Pennsylvania trong “The music of chance” - tôi thấy cả hạt mầm của chuyện đó, như một chấm sáng có màu sắc và cường lực riêng biệt, trong nụ cười và cặp mắt mở to của chị. Có khả năng chị sẽ làm như vậy không, giữa khi chị đang trong cơn hân hoan tột đỉnh, giống như Nashe đã làm như thế sau khi anh vừa tự giải phóng được mình khỏi món nợ điên rồ và do đó về lý thuyết có thể đang trong lúc hân hoan tột đỉnh? Chị có phải là người có khả năng làm vậy không? Có lần, một bạn thân của chị, một nhà văn đã từ lâu không viết gì, nói với chị về ý định tự tử của anh ta, hay đúng hơn là hình dung của anh ta về việc tự tử của mình nếu lúc nào đó anh ta tự tử. Anh ta nói anh ta sẽ giam mình trong phòng, đóng kín mọi cửa, bít chặt mọi kẽ hở, và bật khí ga, song trước đó anh ta sẽ mở nhạc, một playlist anh ta đã chọn sẵn từ trước, để nó tua đi tua lại, sao cho khi người ta phá cửa vào được trong phòng thì họ sẽ thấy anh ta đã chết, dường như không phải nằm trên giường mà nằm trong tiếng nhạc bị nén chặt như thuốc nổ do không thoát được ra ngoài và đúng lúc này vỡ bùng ra như một siêu tân tinh. Nhạc gì? chị hỏi. Tụng ca Niềm vui, Giao hưởng số 9, Beethoven. Allegro con fuoco, Từ thế giới mới, Dvorak. Chương cuối, Sinfonietta, Janaček. Chương 1, Titan, Mahler. Chương 1, Concerto cung Mi thứ cho violon, Mendelssohn. Vài cái tên khác. Chị nghe, nhìn anh ta, và sau một lát chị bắt đầu ứa nước mắt. Tôi hiểu nước mắt ấy. Đó không phải vì chị đang hình dung ra cái chết của anh ta, nghĩ đến chuyện anh ta chết - anh ta, người bạn mà chị không có tình ý gì đặc biệt dù anh ta thân quý với chị. Đấy là do chị đang hình dung ra âm nhạc đó, hình dung ra lúc người ta bắt gặp nó bao quanh thân thể người chết như một cái nôi bằng nước và nổ bùng ra cùng thân thể ấy, nó sẽ nghe như thế nào. Khi tôi nhớ lại chuyện này về chị thì tôi biết rằng hoàn toàn có thể chị sẽ làm như Nashe. Người đàn ông bên chị, liệu anh ta có cảm nhận được điều này ở chị không? Có lẽ với anh ta lúc này chuyện chị có khả năng làm vậy không chẳng có ý nghĩa gì bởi sự phúc lạc ẩn sau cặp mắt nhắm của anh hàm chứa tất cả. Cuộc đời của anh hay vũ trụ quanh anh chấm dứt lúc này thì cũng không hề gì bởi lúc này anh đang có mọi thứ. Bàn tay phải của chị lúc này đã chuyển sang một nấc chuyển động lên xuống mới với một tốc độ và cường độ gần như nộ cuồng đến nỗi sự tương phản giữa nó với cử động đều đặn thong dong của tay trái chị trên vô lăng trở nên lớn tới mức gây bất an, có gì đó rất gần với sự hiểm nghèo. Một cái gì đó chắc chắn sắp nổ bùng ra, phải nổ bùng ra, thứ đang dồn ứ trong người đàn ông, thứ đang dồn ứ trong người chị, cơ thể chị và cơ thể anh ta, bản thân cái mẩu thế giới nhỏ này gồm chị và anh ta, nó sắp nổ, cần phải nổ. Song như thể do cảm thấy được điều này rõ hơn ai hết và do không muốn nó xảy ra, hãy còn chưa muốn nó xảy ra nên đúng lúc này tay chị bắt đầu chuyển động chậm dần. Đó là sự giảm chỉ một nấc, một nấc duy nhất thôi, đó vẫn tiếp tục là chuyển động đều, mạnh, nhanh, gần cực đại, chỉ cần dấn thêm một nấc nữa là lại quay về với mạnh và nhanh cực đại. Biết rõ sự phân biệt này là việc đòi hỏi tri thức, trải nghiệm và bản tính nghệ sĩ, làm chủ được nó là một nghệ thuật. Lùi khỏi nấc cực đại trong một giây, sau đó dấn trở lại lên cực đại... trụ ở đó chừng một giây, nhưng rồi trong khoảng một phần năm cuối của giây ấy, trước khi cú nổ bùng xảy ra thì lập tức lùi khỏi nấc cực đại mà lùi xuống cận-cực đại, cứ thế... như chị đang làm, đó là một nghệ thuật. Và đến một lúc người đàn ông, mắt vẫn nhắm, đang hít thở gấp gáp, liền bật một tiếng rên như thể anh vừa vô tình bước bằng cái chân đã bị rạn xương, đó là cách duy nhất để anh tiếp tục chịu nổi cái tình trạng luôn luôn chực nổ và luôn luôn chưa nổ được này. Đó là tiếng rên ở âm vực trầm, rền, gợi đến sự sâu dày của đất và độ nhạy của kim loại đối với các rung chấn, và bằng cách nào đó mà khi nghe nó ta có cảm tưởng rõ rằng người đàn ông này ần như chưa bao giờ bật tiếng rên như thế trong đời. Miệng chị há ra khi nghe thấy nó - lần đầu tiên thực sự há ra, bởi cho đến lúc này nó chỉ dừng ở chỗ mỉm cười, môi chị và răng chị về cơ bản vẫn khép chặt, giấu kín phần lớn những gì đang diễn ra bên trong chị. Tôi chợt nhận thấy mình đang đợi nghe một âm thanh tương tự, tiếng rên, tiếng kêu hoặc một tiếng khó gọi cho chính xác là gì, nó bật ra khỏi chị, nhưng liền sau đó tôi nhận ra rằng từ miệng chị sẽ không có gì bật ra bởi thần kinh chị rất mạnh. Trò chơi này của chị, chị đang ngự ở đỉnh của nó, và cho dẫu tiếng kêu hay tiếng rên của người đàn ông có đang làm cho cả những tế bào sâu kín nhất của chị rung lên thì đó chỉ là một phần của trò chơi, nó không thể khiến cho chị lơi đi dù chỉ một phần sự tập trung cao độ sao cho mọi thứ luôn luôn trong tầm kiểm soát của mình. Điều tôi muốn là chụp ảnh chị hoặc bằng cách nào đó làm cho hình ảnh chị lúc này còn lại mãi với tôi và tồn tại lâu hơn tôi, một hình ảnh tiến vào thật xa trong tương lai, có thể không phải đến vĩnh cửu song gần như thế, khi cả chị và tôi từ lâu đã biến khỏi trái đất. Hiển nhiên rằng không cần một thiết bị nào thì hình ảnh này của chị cũng đã nằm trong tâm trí tôi và sẽ trường tồn ít nhất là cùng với tôi. Tuy nhiên đó chỉ là ý nghĩ thoáng qua như chớp, sự thật là tâm trí tôi không dừng ở một khoảnh khắc đơn lẻ nào mà liên tục tiến về phía trước, bởi vì sự hoàn hảo này của chị không phải là sự hoàn hảo trong tĩnh tại mà là hoàn hảo trong chuyển động, trong hành tiến không ngừng. Đó là một sự hoàn hảo tuyệt đối đến độ không thể không có lúc kết thúc, nó sẽ phải kết thúc bởi chỉ cần nó kéo dài thêm chút nữa là một người quan sát như tôi sẽ không còn chịu nổi. Dẫu vậy chị vẫn đang cố kéo dài nó thêm chút nữa, thêm chút nữa và thêm chút nữa mặc dù chị biết, bằng trực giác và thể xác chứ không bằng lý trí, rằng chỉ kéo dài thêm một chút thôi thì ngay cả người cầm chịch mạnh nhất là chị cũng có cơ không còn chịu nổi, chị biết vậy song vẫn cố kéo dài, lì lợm kéo dài, như thể chị đang hường được lạc thú lớn nhất từ việc đó, từ việc chiến đấu hòng đạt được điều không thể đạt. Người đàn ông dường như sau tiếng rên hoặc tiếng kêu hoặc cả hai đó đã trút rỗng bản thân mình đến độ không còn cả khả năng lẫn nhu cầu thở, anh ta xoãi người trên ghế như bao gạo bị chọc thủng, miệng há, ngực lõm, mắt nhắm: mọi thứ của anh ta đều rời rã, đều mềm oặt, trừ con giống của anh ta, phần duy nhất của anh ta đang sống hơn bao giờ hết, cứng hơn bao giờ hết, với mật độ năng lượng và vật chất siêu dày đặc giống như sao lùn trắng nơi “một thìa cà phê vật chất cũng nặng nhiều tấn” - toàn bộ anh ta cho thấy cả anh ta cũng không còn khả năng tồn tại lâu hơn trong trạng thái này. Sự bùng nổ phải tới, ngay bây giờ. Không thể không nổ. Cần phải nổ. Và một lần nữa chị chứng tỏ chị có khả năng làm chủ mọi thứ đang diễn ra đến mức độ nào. Trong khoảng một phần giây chị lơi chân, giảm tốc một chút, vừa vặn làm sự bù trừ cần thiết cho cú nổ liền theo. Đồng thời chị khẽ xoay vô lăng cho xe cặp sát vào lề đường, tức là cho cả hai người gần hơn một chút đến chỗ an toàn, và, khoảng nửa giây sau động tác này, tay phải chị liền tăng tốc với một sự dứt khoát gần như bằng với sự dứt khoát người ta cần có để tự đâm mình một nhát thủng tim. Và cứ thế, vài giây sau, toàn bộ khối năng lượng dồn cứng vào một bộ phận nhỏ của người đàn ông bùng nổ làm cho bắn thẳng lên không, như pháo thăng thiên, một tia chất lỏng sánh đặc và trắng đục khẽ lóng lánh dưới ánh sáng mờ của táp lô điều khiển.

Đúng lúc đó có tiếng nổ.

Tiếng nổ mạnh đến nỗi chiếc xe cơ hồ nhảy dựng lên và đồng thời mặt đường dưới bánh xe cũng nhảy dựng lên như thể nó vừa biến thành biển giật sóng cồn. Sự trùng khớp về thời điểm giữa cú bùng nổ trong xe và cú bùng nổ ở ngoài xe là toàn bích đến độ nếu sau đây có lúc nào chị và anh ta nhớ lại khoảnh khắc này thì hai người hẳn sẽ thấy khó mà gạt bỏ cái cảm tưởng rằng cú bùng nổ do hai người tạo ra ở trong xe, chính nó chứ không gì khác, đã kích hoạt cái bùng nổ rung chuyển trời đất kia, tức bằng cách riêng của mình chị và anh ta vừa làm biến đổi thế giới theo nghĩa đen. Và liền sau đó là cái cảm giác mà bất cứ ai đã nếm trải một lần là sẽ nhớ rõ đến chết, cảm giác mình đang ở giữa không trung, bất chấp quy luật vật lý, bất kể bằng cách nào... đùng một cái toàn bộ lục phủ ngũ tạng của ta đồng loạt biến mất, toàn bộ thịt, xương, máu, mỡ, sụn và da của ta và tất tật các thứ khác của ta biến mất, gió lùa xuyên qua ta như lùa qua chân không, toàn bộ bản thể ta co rút lại đến khi còn trơ cái cảm giác này, cảm giác mình lơ lửng giữa chân không và hình như chính mình là chân không. Cái cảm giác kỳ lạ, trôi qua rất nhanh, và liền sau đó, như do không còn điểm tựa trong không trung, chị lẫn người đàn ông và chiếc xe đột nhiên lại có trọng lượng và lập tức rơi thịch xuống đất, rơi thịch trở về thực tại. Và ngay sau khi rơi xuống như vậy chị và anh ta thấy mình cùng với xe tiếp tục chuyển động về phía trước... như thể hai người vừa cho xe phóng ngang qua một con sông hay hẻm vực như trong phim hành động và lập tức tiếp tục cuộc tháo chạy hay truy đuổi điên rồ của mình sau khi tiếp đất ở bờ bên kia. Cái phản lực sinh ra từ cú tiếp đất cực mạnh này, bùng ra từ mặt đường rắn bên dưới và truyền theo các bánh xe, khung và sàn xe mà ập vào chị và anh ta từ dưới lên, nó lập tức chuội bắn đi về đằng sau và biến khỏi tầm nhìn. Chỉ khi đã tiếp tục tiến tới như vậy chừng nửa phút hay khoảng thế, khi dư chấn của cú nổ trong lẫn cú nổ ngoài đều đã ở lại sau lưng, chị và anh ta mới bắt đầu dần nhận thấy có gì đó quanh mình đã thay đổi.

Chị và anh ta, ngồi trong xe, vẫn đang tiếp tục di chuyển trên một con đường phẳng, rộng, vắng ngắt, dài ngút mắt. Song cảnh quan hai bên đường giờ đã khác. Bầu trời phía trên hai người cũng khác. Không còn những cánh đồng trống ngập trong bóng tối thi thoảng lộ ra từng mảng dưới ánh đèn, hoặc những vùng đen đặc dường như vô tận không bị ánh đèn nào khoan thủng song vẫn gợi cho ta nhớ một cách mơ hồ, hầu như bứt rứt rằng dưới đó là những cánh đồng. Hai bên đường lúc này, chị và anh ta thấy cái gì đó như hai bức tường, dài ngút mắt, cao không biết bao nhiêu, chừng như thấu trời. Những bức tường hình như rành rành là có thật, có thể sờ được, có thể làm xe bẹp rúm nếu hai người quặt mạnh xe vào mà chạm nó, song mặt khác bằng cách nào đó chị và anh ta có cảm giác nó vô hình hoặc trong suốt, chỉ có điều đằng sau nó là gì thì không thể nhìn ra do quá tối, tuy nhiên không có gì chắc chắn đấy là những cánh đồng. Nhưng liền sau đó chị và anh ta nhận ra rằng không hẳn vậy. Từng quãng, với khoảng cách không đều, hai bức tường hai bên này có những khoảng trống mở ra. Như những ô cửa. Những ô cửa hình vuông hoặc hình chữ nhật, những hình chữ nhật rất khác nhau, có cái hẹp và cao tít tắp, có cái hình như không cao lắm song thật rộng, và kích cỡ khác nhau, từ khoảng hẳn vài mét cho đến có lẽ cả trăm mét hoặc trên trăm mét, chị và anh ta nhận biết được thế là bởi hai người phải nhìn nó dễ đến mấy giây thì nó mới lướt qua hết mặc dầu hai người đang di chuyển với tốc độ không nhỏ. Và những gì chị cùng anh ta thấy ở bên kia những ô cửa đó! Hình như chỉ khi nào nhìn qua những ô cửa đó thì chị và anh ta mới thấy và có ý niệm dù chỉ một phần những gì có ở bên kia hai bức tường. Ở chừng mực nào đó các ô cửa ấy giống như những màn ảnh lớn và cực lớn chăng rải rác dọc theo vách một đường hầm xuyên núi, trên đó người ta phóng chiếu những hình ảnh hết sức khác nhau, song đồng thời ta vẫn luôn luôn nhớ đằng sau các hình ảnh đó là các màn hình và đằng sau các màn hình đó là vách bê tông của đường hầm, thực tại tối hậu. Chẳng phải là chị và anh ta có thể thấy những gì bên kia các ô cửa một cách rõ ràng cho cam. Mặc dù đã căng mắt nhìn, nhất là với những ô cửa đủ rộng để chị và anh ta có thể nhìn qua nó trong vài giây trở lên, chị và anh ta vẫn chỉ thấy được vài mảnh hậu cảnh thoáng qua, vài vật thể đáng ngờ. Ở một ô cửa, chị và anh ta có cảm giác mình thấy cái gì đó giống như nhành san hô cực lớn, dựng đứng, như một cội cây to hơn một người ôm, điều này thấy rõ dù có vẻ là nó ở khá xa, cách chị và anh ta chừng hai ba chục mét, quanh nó là một cảnh quan trơ trụi hình như là một trảng cát mấp mô, giống nơi nào đó ven biển miền Trung hoặc giữa sa mạc, bản thân nhành san hô có lẽ màu trắng ngà song có một ánh sáng không rõ từ nguồn nào ra, từ hướng nào đến rọi vào nó khiến nó ửng lên một màu trung gian hoặc xen lẫn giữa vàng mơ, hồng nhạt và da cam. Ở một ô cửa khác, chị và anh ta thấy một hình thể giống như khối hình kim tự tháp lơ lửng giữa không trung, khối kim tự tháp khổng lồ dễ thường bằng tòa nhà chục tầng, với một trong ba góc ở mặt dưới hầu như chĩa thẳng về phía hai người, một khối kim tự tháp không biết cấu tạo bằng gì, có vẻ là kim loại do bề mặt phẳng láng song cũng có thể không, có thể là đặc ruột hay rỗng ruột, thật ra thì cũng không rõ nét lắm bởi chỉ mình nó nổi lên với màu hao hao như thép không sơn, hồ như bất cứ lúc nào cũng có thể chìm nghỉm và biến mất vào bối cảnh nền vốn là một vùng tranh tối tranh sáng giống như một bể axít nơi không thể có một vật thể hình khối nào hiện hữu, và khi chị cùng anh ta, bán tín bán nghi, muốn nhìn kỹ hơn để cho chắc mình đã thực sự thấy khối kim tự tháp khó lòng xác định kia thì nó đã không còn đó nữa. Ở một ô cửa khác, chị và anh ta có cảm tưởng mình thấy được hoặc nắm bắt được rằng phía bên kia cửa đang có sự chuyển động của không khí, chuyển động mạnh, một cơn gió giật, một luồng gió xoáy, trận giông đi trước một cơn bão, tuy rằng thật ra chị và anh ta không thấy gì ngoài một biển bóng tối đen đặc. Ở một ô cửa khác, nơi vùng tối quánh sệt như hắc ín kia dường như có hằng hà sa số những con mắt hay những cặp mắt nhiều màu khác nhau đang nhìn chị và anh ta, như hằng hà sa số con đom đóm đứng yên một chỗ, một cảm tưởng thì đúng hơn là một thứ chị và anh ta thực sự thấy bằng mắt. Ở một ô cửa khác chị và anh ta thoạt tiên không thấy gì ngoài bóng tối đen đặc nhưng rồi có gì đó giống như một tia sét lóe lên, một tia sét tẽ làm nhiều nhánh và có màu xanh lục ửng tím, tuy nhiên nó không phóng từ trên xuống dưới mà từ trái sang phải gần như theo phương nằm ngang và tuy có vẻ cực sáng song nó không hề soi cho chị và anh ta thấy một chút gì của bối cảnh nền xung quanh nó, giống như một rễ cây ngoằn ngoèo sum suê phát sáng chọc xuyên qua đất thịt tối tăm mà tỏa ra mọi hướng trên đà khai triển bạo liệt của mình. Rồi đến một lúc chị và anh ta thôi không chú mục vào những gì đằng sau các ô cửa nữa mà nhìn thẳng trước mặt, việc này không dễ bởi vì mọi thứ, trước mặt cũng như hai bên, phía trên, phía dưới chị và anh ta đều đang lôi cuốn tâm trí hai người với một lực mạnh như nhau khiến chị và anh ta thật sự bối rối không biết tập trung vào cái gì là hơn - ngay sau khi chuyển cái nhìn ra đằng trước chị và anh ta lại cảm thấy bứt rứt muốn nhìn sang các ô cửa hai bên, như sợ bỏ mất gì đó, như sợ mình sẽ phạm sai lầm, sẽ mắc lỗi khó tha thứ nếu để sót gì đó, nhưng rồi những gì hai người thấy trước mặt lại khiến hai người không rời mắt đi được nữa. Càng nhìn ra đằng trước, chị và anh ta càng cảm thấy rõ hơn rằng con đường mình đang tiến tới, cái xa lộ vắng ngắt thênh thang hoàn toàn trơn phẳng này mà chiếc xe đang bon tới êm ru đến nỗi cảm giác như đang lướt trên đệm khí, như thể các bánh xe không thực sự chạm nền nhựa mà là là trên đó, nó là một xa lộ không có điểm cuối, mặc dù bên cạnh đó hai người cũng có một cảm tưởng khác, rõ không kém, mạnh không kém, rằng bầu trời hay cái giống như bầu trời trên đầu mình kỳ thực là có tiếp giáp với mặt đất hay cái giống như mặt đất này ở một chỗ nào đó và do vậy nó cùng với mặt đất tạo nên một thứ giống như mái vòm hoặc nắp vung, song mép của cái mái vòm hay nắp vung này là ở xa đây đến độ chị và anh ta có đi như thế này hết cả đời cũng không tới được, một cái ranh giới thực sự hiện hữu song đối với những cá thể chỉ có một quỹ thời gian ít ỏi như chị và anh ta thì nó không hiện hữu. Và cái gọi là bầu trời và mặt đất ấy, hay nửa trên và nửa dưới của cái vật thể giống như gồm hai cái vung nồi úp vào nhau mà hai người đang ở trong đó giống như hai hạt bụi, nó chìm trong một thứ bóng tối không hoàn toàn tối mà có lẽ bảy phần tối ba phần sáng, một thứ tối nhờ nhờ màu xanh nước biển sẫm, “mặt đất” sẫm hơn “bầu trời” một chút, không thể thấy được cái gọi là đường chân trời, chị và anh ta chỉ có thể cảm thấy sự hiện diện của nó thôi. Ánh đèn xe như một thanh kiếm dài tít tắp màu vàng chọc xuyên qua vùng tối nhờ nhờ màu xanh sẫm đó song dẫu nó có vẻ dài đến đâu thì vùng tối ở đằng trước vẫn quá lớn so với nó. Thật tình tôi không thể chắc mình nắm được những gì đang diễn ra trong tâm trí hai người. Trong mắt hai người, trong từng chuyển động nhỏ của từng cơ ở hai người, những cơ không bị quần áo che lấp, và cả một số cơ bị quần áo che lấp, tôi không thấy nỗi sợ hay nỗi hoang mang, tôi chỉ thấy một sự sửng sốt sâu xa quyện với một niềm thích thú sâu xa, như thể, trong thâm tâm, chị và anh ta có bị bất ngờ bởi sự thay đổi đột ngột này, bởi cái sự thật đang càng lúc càng rõ rằng chị và anh ta đã từ thế giới quen thuộc của mình chuyển sang một thế giới khác. Có gì đó ở chị và anh ta lúc này khiến tôi không thể không nghĩ rằng hình như trong thâm tâm hai người vẫn luôn luôn sẵn sàng để đón nhận nó. Lại cũng như thể hai người đang ở tại một xứ sở từng cả đời mơ được đến và hai người đang vừa ngỡ ngàng vừa hân hoan nhận thấy xứ sở đó vừa khác biết bao vừa giống biết bao với xứ sở từng thấy trong mộng tưởng của mình. Tôi không phải là chị hay anh ta, song tôi hình dung rằng nếu tôi là chị hoặc anh ta thì hẳn lúc này tim tôi đập rất mạnh và đồng thời nghe lạnh toát trong ngực, như thể có cái tủ lạnh công suất lớn vừa được mở toang ra ở đó. Có một cái gì vừa làm tôi mê đắm vừa khiến tôi hãi hùng nơi cái tư thái vừa bồn chồn vừa đĩnh đạc, gần như cao nhã này của chị và anh ta khi hai người tiếp tục dấn sâu vào cái cõi chưa biết mà hình như trong vô thức hai người biết rằng từ đấy sẽ không có đường quay về.

Làm sao tôi có thể tiếp tục nhìn thấy chị và anh ta sau khi hai người đã chuyển sang thế giới khác này, cái thế giới mà lẽ ra không thể có bất cứ mối liên hệ hay kênh kết nối nào với thế giới quen thuộc của tôi? Điều ấy tôi không biết. Tôi không tin rằng cái thứ được tôi âm thầm lắp vào xe chị đang giúp tôi tiếp tục thấy được chị và anh ta lúc này. Cái cơ chế khiến chuyện này có thể xảy ra, nó không thể đơn giản như vậy... Không thể là đơn giản, cái cơ chế này, cái cơ chế đang vừa làm tôi hân hoan vì vẫn đang tiếp tục nhìn thấy chị lại vừa khiến mọi cơ quan nội tạng của tôi như co rúm lại và đâm cứng như đá, cứng và lạnh như nội tạng heo để trong tủ đông, vì một nỗi kinh rợn mà đời tôi mới biết lần đầu. Tôi vừa muốn nó kéo dài càng lâu càng tốt lại vừa cảm thấy tốt nhất nó hãy chấm dứt ngay lập tức, và sự căng bức giữa hai cực đối lập này khiến cho cả cơ thể lẫn tâm trí tôi như cứ chực đứt toạc ra. Tôi biết gần như chắc chắn rằng chỉ cần thế này thêm vài giây nữa là tôi có thể chết, song đồng thời tôi thấy vô phương cưỡng được niềm khoan khoái hay mê mẩn bởi cái rợn lạnh của nỗi sợ chết.

Xe tiếp tục bon, êm như thể các bánh xe lẫn mặt đường kỳ thực đều bằng không khí... Thế rồi có gì đó khác bắt đầu hiện ra, xa tít, hồ như ngay ở chân trời nếu cái đường phân cách thật ra không nhìn thấy được kia có thể gọi là chân trời. Cái gì trăng trắng, mờ mờ, hình như xoắn cuộn, bồng bềnh, như một vũng sương mù hay một cụm mây sà xuống gần chạm sát mặt đường. Xe tiến thẳng về phía đó bởi không có đường nào khác, song mãi một hồi dường như khá lâu mà cái đám trăng trắng mờ mờ kia không có vẻ gì là đang gần lại. Song chị và anh ta không tỏ ra băn khoăn về điều này. Hai người ngồi thẳng, nhìn thẳng như trước. Chị có vẻ tập trung, tự chủ, bình thản, chị như thấm nhuần trong máu lời minh triết dân gian: Cái gì đến sẽ đến. Anh ta thì có vẻ náo nức, kích động, tuy không quá nhiều, có lúc anh ta ngoảnh sang chị như muốn hỏi gì đó, song có lẽ phần nhiều anh ta chỉ muốn nhìn xem phản ứng và tư thái của chị ra sao trước những gì chị thấy, hoặc đơn giản để nhìn chị bởi anh ta chợt nhớ đã lâu không nhìn chị.

Nhìn kỹ hơn, anh ta hẳn sẽ để ý thấy chị đang không điều khiển xe. Bàn tay trái chị đặt hờ lên vô lăng song chị không có vẻ gì là đang thực sự gắn liền với nó, tác động vào nó, làm chủ nó. Chị tì tay lên đó cũng như một hành khách tì tay lên đầu lưng ghế trước trên toa tàu: người này có tì như vậy hay không, tàu vẫn chạy. Hình như bản thân chị không nhận thấy điều này. Tuy nhiên khi cái thứ ở đằng xa kia có vẻ bắt đầu rõ hơn lên một chút - không hẳn là gần lại hơn -, chị liền như sực nhớ một chuyện gì. Chị khẽ nhìn xuống ngực mình và thấy hai ve áo sơ mi của mình vẫn đang phanh rộng sang hai bên, một bên xu chiêng của chị đang trật xuống và bầu vú chị về bên đó vẫn đang thây lẩy lộ ra. Một cái gì đó liền lập tức lướt qua mặt chị và biến mất ngay, cái gì đó rắn, mạnh và hằn sâu, giống như vệt hằn chớp nhoáng và vô hình trên mặt chị khi có một ngọn roi da vụt ngang trước mặt, chỉ còn cách vài phân là bén vào thịt chị. Và khi chị toan dùng tay phải để chỉnh đốn lại mình, chị liền nhận ra rằng bàn tay đó vẫn đang nắm chặt con giống của người đàn ông mà lúc này đã lại mềm nhũn. Và mấy đốt ngón tay cũng như mu bàn tay chị đang dính bết thứ dịch đặc màu trắng đục từ con giống đó bắn ra - dưới ánh sáng tù mù của táp lô điều khiển, chỗ dịch ấy tiếp tục anh ánh lên như một thứ ngọc hay một thứ mỡ. Một chút phân vân thoảng qua trong mắt chị: chị không biết có nên chùi tay vào chỗ nào đó không, có thể áo quần của anh ta, đâu cũng được, chùi qua loa, rồi mới dùng nó để chạm vào y phục của mình. Rốt cuộc chị không chùi, để nguyên bàn tay như vậy mà xốc lại xu chiêng, cài cúc áo: rõ là áp lực buộc chị phải làm việc này càng sớm càng tốt là mạnh hơn nhu cầu bản năng về sự sạch sẽ. Chị làm việc này một cách không hấp tấp, tuy khẩn trương, với một sự tập trung và dứt khoát cao độ ẩn trong vẻ ngoài điềm nhiên, nhẹ không, hẳn là phong thái của chị khi làm mọi việc ở đời.

Nhận thấy động tác này của chị, anh ta chợt như giật thột mà nhìn xuống chính mình. Và một vệt hằn chớp nhoáng vô hình tương tự thoảng qua mặt anh ta khi anh ta nhìn thấy phần cơ thể sâu kín của mình đang phơi ra đó, bê bết thứ dịch thể của mình. Không nghĩ tới chuyện lấy gì đó lau sơ qua chỗ dịch ấy, anh ta giấu phần cơ thể đó vào trong quần lót, cài cúc quần kaki, kéo kín phéc mơ tuya, bằng hai bàn tay hơi lập cập mang sự vụng về của một đứa trẻ không quen với chuyện phiêu lưu. Như thể hai người biết trước rằng việc này là nhất thiết phải làm, để chuẩn bị cho một cuộc gặp gỡ hệ trọng hơn bất cứ gì khác trong cuộc đời (đã qua) của mình. Liền sau đó chị cũng như anh ta thôi không bận tâm đến bản thân mình nữa hay đúng hơn là lại hoàn toàn buông bỏ chính mình, tập trung trọn vẹn vào cái ở đằng trước mà cả hai đang tiến tới.

Và rồi có gì đó xảy ra mà tôi chỉ có thể mô tả là như có một luồng điện phóng vào hai người. Luồng điện không mạnh như sét song là một thứ gây chết chóc đối với loài hữu tử. Hầu như tôi thấy rõ mồn một lông tơ trên cổ, gáy và hai cánh tay trần của chị dựng lên và dường như mỗi tế bào trong cơ thể chị cũng như anh ta đều biến thành một điểm phát quang song bằng cách nào đó mà chị và anh ta vẫn tiếp tục sống hay ít nhất là xét qua mọi vẻ ngoài thì vẫn đang sống trong mắt tôi. Không nghi ngờ gì nữa, đó là do những gì chị và anh ta thấy. Ngần ngại mấy giây, tôi rời mắt khỏi chị và anh ta để nhìn ra phía trước. Và giờ thì, cả tôi nữa, cũng thấy.

Thay vì những đám trắng mờ, lô nhô, xoắn cuộn, không định hình, giống như sương mù hoặc mây sà sát đất như ban nãy, giờ trước mắt tôi là những con người. Những sinh vật giống như người. Rất nhanh sau đó tôi nhận ra đó quả thật là những con người, phần lớn là bởi chỉ trong thoáng chốc họ đã to hẳn ra, rất giống như thể chị và anh ta và do đó cả tôi giờ đã thực sự tiến lại gần họ hơn mặc dù một phần trong tôi đang bảo tôi rằng kỳ thực chúng ta không hề tiến lại gần họ được thêm tí nào theo nghĩa vật lý. Nhận thức này khiến cho như thể cả máu trong mười đầu ngón tay mười đầu ngón chân tôi đông lại. Cổ tôi trở nên cứng như đá, tôi không thể làm gì khác ngoài tiếp tục nhìn.

Đó là những con người... đúng hơn là những hình người, những dạng người... tôi chỉ nhìn thấy được thế... Tôi nhìn mãi mà không thấy ra được những đường nét cụ thể của họ... các chi tiết của khuôn mặt họ, thể chất của họ... quần áo họ mặc nếu họ có mặc quần áo... Tôi nhìn thấy họ giống như những vùng sáng trắng có hình người mỗi lúc một to hơn lên và có thể bây giờ đã thực sự gần lại hơn song cũng có thể không... màu trắng sáng của họ nhanh chóng làm tôi chói mắt... không hẳn chói mắt mà là nhưng nhức sâu trong mắt... tôi không thể biết chị và anh ta có đang cảm thấy như tôi không... tôi không thể đoán được điều này nếu chỉ nhìn bề ngoài của hai người... không, có lẽ hai người không cảm thấy như tôi... hai người đang thấy những thứ gì đó mà tôi không thể thấy... Bởi vì có những khoảnh khắc tôi cảm thấy rõ ràng mình đã thấy mắt chị lẫn mắt anh ta phản chiếu cái ánh sáng trắng nọ hoặc tự mình bừng ra thứ ánh sáng tương tự đến nỗi gần như hoàn toàn không còn tròng đen mà chỉ là những tròng trắng rực sáng…. Và ngay khi thấy thế tôi cũng liền cảm thấy từ trong xương tủy mình rằng đã đến lúc tôi cần phải rời khỏi đây ngay tức khắc... Tôi cần phải sống còn. Tôi cần phải rời khỏi đây mà vẫn sống còn! Muốn sống còn thì tôi phải cắt đứt ngay tức khắc bất cứ mối liên kết nào đang có giữa tôi với hai người cho dù đó là mối liên kết vận hành theo những cơ chế không thể hiểu và làm tôi dựng tóc gáy đến đâu đi nữa... nhưng làm sao tôi cắt được đây? làm sao?!.. tại sao chị và anh ta vẫn cứ ở đó trước mắt tôi, sừng sững và giờ thì đang làm tôi chói mắt như ánh nắng giữa trưa, cùng với cái gì đó ở đằng trước hai người mà giờ tôi không còn đủ sức nhìn, như là một hình phạt cho việc tôi đã làm? Hình phạt thật khủng khiếp!.. nếu vì những việc tôi đã làm mà tôi bị trừng phạt như thế thì hình phạt thật quá khủng khiếp!.. tôi đâu có làm gì ngoài quan sát chị và anh ta, một cách âm thầm, bởi làm thế nào tôi có thể quan sát hai người nếu không phải là một cách âm thầm... Còn cú nổ kia, làm sao tôi biết được do đâu mà ra... tôi là ai mà có thể tỏ tường chuyện đó được... Song nếu có ai bảo rằng người như anh chị thì làm sao lại bị kẻ nào đó căm thù đến mức mưu hại anh chị bằng cách đó hoặc làm sao lại có kẻ mà nếu anh chị chết thì họ sẽ hưởng lợi nhiều đến độ họ sẵn sàng làm cho cái chết đó xảy ra càng sớm càng hay thì tôi sẽ bảo rằng họ nói thế chẳng qua vì họ biết quá ít về con người... Tôi có thể chờ đợi trước một hình phạt nào đó song hình phạt như thế này thì dù có sống lại trăm lần tôi cũng không bao giờ có thể nghĩ ra... có lẽ vì cái thứ tôi đã chọc vào kia kỳ thực là độc hơn tôi tưởng gấp trăm lần chăng... tôi chọc vào chị và anh ta bằng một cái gai con trong khi chị và anh ta đáp trả tôi bằng một lưỡi cưa bén xả đôi tôi... Tôi chỉ muốn hét đứt cả họng và miệng tôi chưa bật ra tiếng hét đó thì dự cảm về nó đã như làm rách toạc họng tôi và màng nhĩ tôi rồi và cùng lúc đó ánh sáng trắng đã mạnh lên và trở nên bao trùm đến nỗi trong mắt tôi không còn lại gì khác ngoài một vùng trắng rờ rỡ bất tận. Vận hết chút sức tàn còn lại, chút sức tàn duy nhất mà tôi lờ mờ cảm thấy hãy còn chưa bị cái vùng trắng đó nuốt chửng nốt, tôi quờ tay hay vươn một phần nào đó còn lại của tôi ra về phía cái mà tôi nhớ lơ mơ là thứ có thể ngắt rời tôi ra khỏi chỗ này. Dường như tôi phải vươn xa tới hàng nhiều cây số trong một vùng nước sâu như một kẻ mù thì mới chạm được tới cái đó. Và ngay khi chạm được nó, cái vật rắn duy nhất cho tôi nắm giữa trùng trùng nước không có một cái gì khác một chỗ nào khác cho tôi nắm này, tôi vận hết chút sức cùng còn lại kia mà tì lên vật đó. Một cú nhấn... tôi chợt nhớ ra hay chợt nghĩ ra rằng đó là tất cả những gì phải làm... Tôi nhấn mà không thực sự hy vọng gì, không hình dung được sau đó chuyện gì sẽ xảy ra với tôi... Một cái gì đó giống như một tấm màn đen rộng bằng cả bầu trời, rộng hơn cả vùng trắng đang nuốt chửng tôi kia bất chợt chụp xuống tôi, và sự chuyển đổi nhanh đến thế, tuyệt đối đến thế từ toàn-trắng sang toàn-đen quanh tôi khiến cho một nỗi sợ khủng khiếp bóp chặt ngực tôi như một bàn tay lớn bóp chặt quả nho, đó là bởi một ý nghĩ khủng khiếp chợt bật ra mà tôi không thể chịu nổi rằng phải chăng màu đen toàn triệt vừa chụp xuống tôi đây có nghĩa là nếu tôi rứt khỏi chị và anh ta hòng quay về thế giới của tôi thì kỳ thực là tôi đang làm vậy để dấn vào cõi chết. Suýt nữa tôi đã hét lên và quẫy đạp như kẻ đang mất thăng bằng và chới với sắp rơi xuống vực một cách không cưỡng nổi... cũng có thể tôi đã hét và quẫy đạp thật, tôi không chắc... song khi đã hơi hoàn hồn lại thì tôi thấy mình đang ở trong căn phòng quen thuộc của mình... Cái ghế bành mềm, sâu màu ruốc của tôi... Cái bàn màu trắng hình giọt nước của tôi... Khoảng tường có bọc giấy dán mang hoa văn các loài sinh vật biển, mà tôi ưa dùng làm màn hình tùy biến của mình... Cái mùi gỗ thanh thanh ngan ngát luôn luôn làm tôi nhẹ bẫng người mỗi khi về nhà mình, vào lại phòng mình, cái mùi đồng nghĩa với nhà tôi, cái ổ của tôi, chốn náu mình đầy an lạc và bất khả xâm phạm của tôi... Tất cả đều đang ở đây, quanh tôi... Nhưng có cái gì đó thiếu ở trong tôi... không có ở trong tôi... Như thể mọi thứ quanh tôi đều hiện hữu duy có tôi là không hiện hữu... Giống như cái khoảng rỗng không, mang hình người, trong lòng một khối mácma đã cứng lại từ hàng triệu năm... Cái này chỉ là cảm giác chỉ là cảm giác chỉ là cảm giác, tôi lặp đi lặp lại với chính mình như trong cơn điên, đồng thời căng ra hết cỡ hòng lắng nghe một dấu hiệu nhỏ nhất chứng tỏ rằng tôi đang thực sự hiện tồn bên trong một thân thể, một thân thể sống... và đồng thời sự căng ra hết cỡ này của tôi cũng là để tống cho bằng được ra khỏi tôi, giống như tống ra ngoài cho bằng được một vật cứng tắc trong họng tôi, cái hình ảnh chị và anh ta, ở một nơi nào đó, trong một thế giới mà tôi không cách nào quay trở lại, chị và anh ta vẫn đang tiến tới trên chiếc xe không mệt mỏi của mình, như những người sống hơn bất cứ người nào đang sống, chứ không phải như những người đã chết.

Trần Tiễn Cao Đăng