Thứ Năm, 1 tháng 12, 2016

Ba người

(Đã in trong "Baroque và ẩn hoa". Dành cho những ai chưa đọc.)

I

Người con gái ấy anh đã gặp ba lần; anh để ý đến nàng và nàng để ý đến anh. Không thể nào không để ý đến nàng, vì với tấm thân nhỏ nhắn, mong manh rất đỗi yêu kiều, bộ ngực thật căng hơi tương phản với thân hình mảnh dẻ mong manh ấy, làn da trắng xanh mát rượi như hoa sen, dáng đi tha thướt, lưng ong ẻo lả như dây bìm, dáng quay đầu mềm mại như thiên nga, một khuôn mặt hoàn hảo, vầng trán cao trắng muốt, đôi mày bán nguyệt, má lúm đồng tiền, cái miệng xinh với nụ cười chúm chím làm anh bồi hồi trong lòng, người con gái ấy, chỉ gặp một lần, dù một thoáng cũng không thể nào quên - giữa đám đông xám xịt của vỉa hè, nàng ngời sáng như trăng rằm Trung thu. 

Nhà nàng nghèo, anh biết; bởi ba lần tình cờ gặp anh đều thấy nàng mặc một chiếc áo độc nhất; áo vải sờn, thô, một mảnh vá hình chữ nhật trên vai phải, có trời biết để lại cho nàng từ đời thuở nào, thế nhưng vẫn cho người đời thấy rằng đấy là chiếc áo trắng, màu trắng thật sự, mặc dù hơi ngả sắc vàng - làm sao khác được một khi thời gian in dấu lên nó nhiều thế kia - nhưng sạch bong, tinh tươm, không một gợn nhăn, dường như không hạt bụi nào có thể đậu lên đó. Chiếc áo bó chẽn làm lồ lộ đường nét bộ ngực tròn căng của nàng. 

Anh thấy nàng bước đi ngoài phố, lần nào cũng mang xách nặng - nàng đi chợ về. Rất đỗi khiêm nhường, e lệ, nàng cúi đầu cố không để người ta chú ý tới mình (nhưng hoài công: người ta dùng mắt để lột trần nàng...). Thế nhưng thấy một chú mèo con sưởi nắng bên cột đèn đường, nàng ngồi thụp xuống vuốt ve, một nụ cười trìu mến và sung sướng nở trên môi. Cũng nụ cười ấy nàng đã trao anh ba lần, và mỗi lần như thế là một cơn mưa đầu mùa mát rượi lòng anh... 

Nàng đi ngoài phố, rồi rẽ vào một hẻm lớn, từ hẻm lớn rẽ vào hẻm con, từ hẻm con lại vào hẻm con nữa, vào hẻm con nữa, cái loại hẻm nhiều không sao kể xiết ở cái thành phố quái gở này - chỉ vừa một người xoay tới xoay lui, không có mặt trời; đấy là hang giun đất. Từ phố vào con hẻm lớn vầng trăng Trung thu đã mất một phần ánh sáng, lọt vào hẻm con thì vầng trăng mất hút trong bóng tối của địa ngục. Cả ba lần anh đều theo nàng, và cả ba lần đến nơi ấy anh lại dừng, e ngại... Giờ thì anh muốn đập đầu mình xuống đất vì tội đã không theo nàng đến cùng, để nắm được nàng, để giữ được nàng, để bảo vệ nàng... 

Những người sống ngoài phố gần hẻm lớn xác nhận rằng đêm hôm ấy, thứ bảy, mười lăm tháng ba, vào quãng 23 giờ rưỡi đến 24 giờ, hay muộn hơn, họ thấy nàng từ trong hẻm đi ra, ý chừng rất vội. Họ nhận ra nàng ngay vì dáng người kiều diễm quen thuộc, vì chiếc áo trắng duy nhất nàng có để mặc ra đường, họ biết nhà nàng - mãi sâu trong tận cùng cái mê cung vô số con hẻm chằng chịt giấu biệt đằng sau vẻ ngoài nền nã của đường phố -; họ biết gia đình nàng chỉ có ba người: nàng, cha nàng, người anh tật nguyền của nàng; họ biết cha nàng là thợ giày, cha nàng bị đau tim nặng, họ biết ông thường lên cơn bất thần nửa đêm về sáng, mỗi lần như vậy nàng lại tất tả đến nhà ông y sĩ quen, mời ông thăm bệnh cho cha. Thế nên họ chẳng lấy làm lạ rằng nàng ra khỏi nhà giữa đêm khuya như thế. 

Nhà người y sĩ cách đó khoảng ba trăm mét, nàng đi bộ, nàng không có xe. Có một quãng chừng hơn trăm mét nhà cửa thưa thớt mà lại chỉ có một phía, bên kia đường là đồng trống, cỏ dại, lau lách mọc tràn, không có đèn đường, hôm ấy lại hầu như không trăng, nhưng nàng không sợ; nàng đi quen rồi. 

Một người bán thuốc dạo ngồi không xa chỗ ấy - nơi có ngọn đèn đầu tiên mà sau khi ra khỏi quãng tối lẽ ra nàng sẽ băng qua - nhớ lại rằng đêm mười lăm tháng ba, khoảng 24 giờ mười phút hay mười lăm phút gì đó, có một tốp lính Mỹ, chừng bảy, tám tên, mười tên không chừng, say chuếnh choáng, ngật ngưỡng từ trên phố lại, ngược chiều với nàng, vẻ dồn nén, hung bạo và âm thầm. Nhác thấy chúng từ xa người bán thuốc lật đật dẹp hàng: ai biết được đêm hôm như thế, giữa lúc muốn nổ tung như thế, chúng có thể làm trò gì. 

Sáng tinh mơ ngày thứ hai 17 tháng ba, người ta phát hiện ngoài kênh quãng gần chợ xác chết một thiếu nữ. Cái xác còn mới, không một tí áo quần, mặt méo xệch một cách ghê rợn, môi như hai miếng thịt nát, tóc rũ rượi, một mảng bị dứt đứt tróc cả da đầu; cặp vú nhão nhoét, biến dạng, như hai tảng bột méo mó nặn bởi tay người khùng rực lên dấu răng đen xịt, sâu hoắm, hai bàn tay nắm chặt tứa máu, hai chân dạng rộng tênh hênh một cách quái đản, cửa mình mở tung như bị một trái bộc phá. Người ta kể xác người con gái chưa kịp trương lên và bốc mùi, trắng hếu một cách kinh tởm, nhiều chỗ toạc da bầm máu nước chưa hoà tan, trôi lềnh bềnh giữa đám rác rưởi - giấy lộn, lá chuối gói bánh, bao thuốc rỗng, mảnh chiếu, rơm rạ, củi mục - vật vờ, dập dềnh sát bên bờ như đám tuỳ tùng kinh khủng của cái xác ấy; cảnh tượng ấy gây nên nỗi khiếp đảm không sao tả xiết trong lòng những kẻ chứng kiến; nhiều em bé kêu thét lên, một phụ nữ gần như ngất xỉu; người ta phải đưa chị vào quán nước dưới bóng cây bã đậu để xức dầu cho chị. 
- Tội nghiệp con nhỏ... Con cái nhà ai thế không biết? - người ta thở dài chép miệng. 
Anh không chứng kiến cảnh ấy. 
Nhưng cũng chưa bao giờ anh không chứng kiến cảnh ấy.



II
“.... ”
là tiếng chửi thề thông dụng và hung hãn nhất của Người Mỹ. Mặc dù thứ ngôn ngữ Anglo - Saxon ấy không xa lạ với tôi, tôi không bao giờ, sẽ không bao giờ muốn nhắc lại nó. Nhưng bất cứ lúc nào Người Mỹ dùng tiếng chửi đó với các bạn tôi, khi họ khạc tiếng chửi đó vào mặt các bạn tôi và dập thân thể họ lên người các bạn tôi, máu trong toàn bộ huyết quản tôi lại sôi lên vì một nỗi phẫn nộ cùng cực, và khi đó những lời nguyền rủa khủng khiếp - bằng chính thứ tiếng Anglo-Saxon đó - lại nổ tung toé khỏi miệng tôi. Và chính vì cái điều đó - rằng tôi nã vào họ hàng tràng lời nguyền rủa khủng khiếp -, Người Mỹ đặc biệt căm ghét tôi và ra sức liên tục hành hạ tôi. 

Và cả khi Người Mỹ cuồng thú hành hạ tôi, tức là khi mỗi một centimét vuông cơ thể họ là một tảng núi thịt thông minh và điên dại đè nát tôi, tôi vẫn chửi họ, thoá mạ và nguyền rủa họ bằng tiếng Anglo-Saxon của họ, mà một người trong số họ từng dạy tôi; mặc dù miệng tôi, hàm tôi, họng tôi thường xuyên bị thít chặt, trét kín, lèn cứng bởi xương thịt nhầy nhụa và tàn bạo của họ, những tràng nguyền rủa vẫn nghiến qua hai hàm răng tôi thành tiếng rít long óc, vẫn phòi ra thành tiếng rên rỉ và tru tréo sởn gáy họ. Phải, đó là tất cả những gì tôi nói với Người Mỹ trong một thế kỷ bẹp dí giữa gọng kềm phọt máu của họ, cùng các bạn tôi, các Nữ Sinh bị bắt vì những lá truyền đơn và những quả bom xăng chống Người Mỹ. 
Không còn gì khác ngoài những lời nguyền rủa khủng khiếp đó tuôn ra khỏi miệng tôi; vào mặt Người Mỹ. Và tôi nói những lời sau với các bạn tôi, khi mồ hôi họ đầm đìa như mưa dầm thối ruộng cày, khi máu từ chỗ thiêng của họ lai láng như suối, khi nước mắt nóng rẫy của họ từ từ ứa và ròng ròng chảy như mưa trút xuống máng xối: 

Nếu chúng ta muốn sống thì chúng ta sẽ sống, các chị ạ. Nếu chúng ta quyết thắng, chúng ta sẽ thắng. Có thứ sức mạnh nào sai khiến được tâm hồn ta!.. Chị em cứ nghĩ mà xem: trăm nghìn roi vọt mẹ cha có bắt ta quên nghĩa với người thương được không? Lòng yêu Tổ quốc của ta còn thiêng liêng hơn thế, còn bất diệt hơn thế. Chị em ơi!.. Nếu không chịu nổi thì hãy cứ khóc vì những vết thương đau, nhưng đừng cho chúng tưởng rằng ta sợ... Phần tôi, tôi không khóc đâu... Điều duy nhất chúng ta thua đàn ông, ấy là nước mắt... 

Miệng nói vậy nhưng tôi, mắt tôi cay xè, giọng tôi run; tôi cắn môi nhịn khóc. Tôi đâu có rỏ một giọt nước mắt sau lần bị bốn mươi tên lính dày vò, khi mỗi thớ thịt thân tôi là một vết thương và mỗi hơi thở tôi để lại một bong bóng máu dưới lỗ mũi, một bợn máu trên mép giống như vết cợn bẩn sau khi tôi ăn chè mè đen. A ha! Tôi quay đi quay lại nhìn mọi người, và mọi người đăm đăm nhìn tôi, kẻ đang đứng trước họ với cặp má bầu bĩnh, với đôi vai tròn, với bộ ngực cao, lớn và chắc; họ nhìn và như biết đó là lần cuối cùng trông thấy tôi; họ có lý, họ rất có lý, vì đêm hôm đó tôi đã tự sát giữa chừng một cuộc tra tấn đầy bạo dâm, dưới mắt một Người Mỹ. 

Và nếu thời gian cho phép, nếu các bạn cho phép, tôi sẽ còn nói nữa, nói không dứt về những cơn quằn quại của tôi, về nỗi ê chề của tôi, về người yêu của tôi, về người tình của tôi, về các người tình của tôi, về cái nhọt dưới bả vai tôi, về nốt ruồi bên cánh mũi tôi, về những điệu ru Tình yêu vẳng trong tai tôi, về vị cay của cơm hến trên lưỡi tôi, về dòng trăng đêm nào đó vẫn tuôn đầy hiên nhà sực nức hương nguyệt quế của tôi, về chiếc guốc đứt quai dưới bóng Ngọ Môn làm nỗi thẹn bừng lên hai má tôi, về chiếc tách sứ vỡ tan tành dưới cái giật thót của tay tôi khi nghe tiếng kêu cứu thê thiết dội tới từ chùa Từ Đàm làm kinh động đêm bình yên của tôi, về những tên Mỹ gào rú, bị xả ra trăm mảnh và bắn tung lên trời vì bom và tiếng chửi thề trong giấc mơ tôi, về hớp không khí cuối cùng của tôi mà cùng với nó tôi hiểu thế là hết cuộc hiện tồn của tôi trên cõi thế tuyệt diệu và đau đớn này, cõi thế mà dù gì đi nữa tôi vẫn yêu vì đó là cõi thế đã cho tôi chính tôi và tất cả những gì của tôi. 

Và nếu cho tôi sống lại khoảnh khắc bất kỳ nào đó trong cuộc hiện thế đã qua của tôi thì sẽ lại chính tôi, chính tôi, chính tôi tuôn xối xả vào Người Mỹ những tràng nguyền rủa khủng khiếp; và sẽ không Người Mỹ nào đang sống còn có dịp biết miệng tôi có thể thỏ thẻ những lời dịu dàng như thế nào, có thể trao những nụ hôn quấn riết và nóng hổi như thế nào. Và, mặc dù tôi không muốn, tôi biết rõ sẽ không cách nào ngăn nổi những tràng nguyền rủa đó chuyển hóa thành một đoạn bầm dập trong tâm linh kiếp sau hạnh phúc và đáng thương của tôi. 

 
Tranh của Joan Miro


III

Con đường

- Bạn ơi, thế là cuối cùng nàng đã gặp được chàng... Ta uống mừng nàng đi! Vâng, tôi muốn uống mừng nàng, cầu phúc cho nàng... 
- Bạn xúc động quá đấy. Hẵng ngồi xuống đã; ghế ngay sau lưng bạn kia... 
- Chao ôi, bạn không hình dung được điều đó là thế nào ư?.. Nhưng không... tôi, chính tôi cũng không tin, chưa bao giờ tin... 
- Vậy nói đi, nói nhanh đi. 
- Trời, tôi biết bắt đầu từ đâu đây? 
- Bình tĩnh nào! Ngồi xuống đi. (Ngừng một chút) Nàng đã tới được Con Tàu Trắng chứ? 
- Vâng, nàng đã tới! Và nhanh hơn bất kỳ dự đoán nào của chúng ta, nhanh hơn ý thức của chúng ta! 
- Nàng đi bằng chính con đường Vũ-trụ-đa-tầng chứ? 
- Đúng thế, đúng như thế! Và nàng đã... 
- Thế thì có gì đáng ngạc nhiên nữa? Nào, ta uống mừng nàng! 
- (vẫn còn rất xúc động) Nhưng tôi... 
- Bạn hoàn toàn không ngờ ư? 
- (cúi đầu) Tôi đã quá lo cho nàng... 

o
o o

... Thế là nàng đã đến được với anh. Ôi, giá nàng ngoảnh lại, nàng sẽ thấy con đường nàng đã qua mới dài làm sao; nhưng nàng chỉ nhìn trước mặt, nàng tìm anh - nàng đến vì anh mà!.. 
Nàng biết mình đang ở đâu - bên hồ Shankar, hướng Bắc. Giờ này ai nấy đều đang làm việc, rừng không một bóng người. Nàng chẳng muốn quấy rầy ai; chọn chỗ ngồi thoải mái dưới bóng cây champa, nàng đợi. 
Hẳn mình trông không đến nỗi nào đâu nhỉ? Chẳng biết anh sẽ nghĩ sao khi thấy mình như thế này... Nàng thầm nghĩ khi soi mình trong gương bằng chất dẻo sáng lấp lánh, kích thước thay đổi tuỳ vị trí và tư thế người sử dụng. Lúc này nàng ngồi trên cỏ tóc tiên, đối diện với gương, thân hình nằm gọn giữa chiếc khung vàng sáng như mặt trời. Nàng rất sung sướng thấy mình không bị ảnh hưởng bao nhiêu bởi chuyến hành trình độc nhất vô nhị vừa qua. Chỉ có điều tóc tai hơi rối, nàng lấy lược ra chải. Cặp má hơi xanh, nàng tìm cách mỉm cười thật tươi để tạo thêm sắc hồng. Rồi nàng thay chiếc áo quen thuộc mà anh rất yêu, và do đó cũng vô cùng thân thiết với nàng - trắng như tuyết,với những làn mây - hay sương - màu xanh tim tím. Chỉ có điều phải điều chỉnh chút ít cho vừa với cái bụng đã thay đổi kích thước khá nhiều của nàng. 
Đứa con nàng cựa quậy; nàng vỗ nhẹ lên chỗ mà nàng biết là cái đầu bằng trái cam của nó.
- Yên nào, để mẹ đi gặp cha... Cha con đấy! 
Nàng rất muốn tự mình đi tìm anh, nhưng trước tiên nàng phải dỗ cho đứa bé nằm yên đã. Eva và Radda gặp nàng trong tư thế ấy: ngồi gọn dưới bóng cây, tay xoa chiếc bụng căng phồng, hai chân khép về một bên, duỗi dài trên cỏ, dáng mềm mại, dịu dàng như chiếc cổ thiên nga. 
- Kìa, LAN! Cách gần trăm thước Radda đã nhận ra nàng, vội vàng chạy đến rõ nhanh. Đến sát bên Lan, nàng quỳ xuống, ôm chặt bạn vào lòng. 
- Lan! Lan thật ư! Đúng là bạn rồi... Trời đất quỷ thần ơi! Bạn làm thế quái nào đến đây được?! Lại còn mang thai nữa... Gần tới ngày còn gì! - giọng run run, Radda siết đầu bạn vào ngực mình; nàng ứa nước mắt. 
Eva đứng đàng sau, im lặng - nàng đã nghe nói nhiều về Lan, nhưng đây là lần đầu tiên nàng gặp người thiếu nữ mà người ta nói “đáng yêu như chính cuộc đời” ấy; và nàng sửng sốt nhận ra rằng ngôn từ lắm khi bất lực và tầm thường làm sao... 
Radda vẫn ôm riết lấy Lan, trìu mến vuốt ve khắp người nàng, nhất là cái bụng to của nàng. 
- Ôi, bạn dễ thương quá! Ai ngờ được cơ chứ? Cừ thật. Xem cái bụng này: Hẳn chú nhóc không dưới bốn kílôgam đâu... Kìa, Eva! Lại đây, lại đây! Làm quen đi: Lan, nàng tiên của chúng tôi. Đây là Eva, bạn rất tốt của chúng ta, Lan ạ... 
Eva mỉm cười dè dặt, thế rồi, hơi do dự, nàng cũng quỳ xuống, cầm tay người bạn mới, siết thật lâu.
- Tôi là Eva... Chào bạn. - nàng nói ngắn gọn, nhưng trong giọng nói nàng còn có thể nghe thấy: Tôi tiếc rằng trước kia đã không hề biết bạn... Nếu biết bạn từ lâu, thì tôi đã có thể, như Radda, ôm chặt bạn vào lòng... Radda nói phải: bạn là nàng tiên của chúng ta.. Bạn dễ thương quá! 
Lan cũng nồng nhiệt siết tay Eva; nàng cũng nhận thấy Eva thật đáng yêu, lại đẹp vô cùng nữa, chỉ có điều, không hiểu sao cái nhìn chị ấy buồn rười rượi... 
- Rất mừng được làm quen với chị, Eva... - nàng mỉm cười, hôn lên má người bạn mới. Eva cũng mỉm cười, hôn lại nàng, và thế là chẳng còn thứ hàng rào nào ngăn cách họ nữa.  
- Thật không ngờ bạn đến được đây, Lan ạ... Bạn tìm John chứ gì? Chúng tôi sẽ gọi. 
- Không, để tự mình đến với anh ấy! 
Nàng dợm đứng lên, nhưng bàn tay khoẻ mạnh của Radda đã nắm vai nàng giữ lại. 
- Không được. Anh ấy phải đến đây.
Giờ kể nghe nào: Bạn làm cách nào đến được đây, làm sao đuổi kịp tàu chúng tôi? Bạn đi nhanh hơn ánh sáng được ư!.. 
- Mình hóa thân vào Đại-Vũ-Trụ. 
- Không thể như thế!!! 
- Sao lại không? Người Ngực Rừng làm được điều đó hàng thế kỷ nay rồi... 
- Nhưng họ là người Ngực Rừng! Còn chúng ta... 
- Có gì khác đâu! Mình đi theo con đường của họ, và thế là mình biết. 
- Điều đó... như thế nào? - Radda hồi hộp. 
- Nói thế nào nhỉ? Nói chung là tuyệt diệu! - Lan mỉm cười. 
- Tuyệt diệu ư? - Radda lặp lại. Thử nghĩ mà xem: nàng Lan-Ngực-Bông-Sen mảnh mai và trắng ngần kia, bụng mang dạ chửa, đi trên cái gì đó tạm kêu là ”tàu” của người Ngực Rừng, từ vật-chất chuyển sang phản-vật-chất, rồi từ phản-vật-chất chuyển sang vật-chất, từ Tiểu-Vũ-Trụ làm cú nhảy vô biên vào Đại-Vũ-Trụ, rồi từ Đại-Vũ-Trụ rơi tự do sang Tiểu-Vũ-Trụ, mà vẫn nguyên vẹn, vẫn cứ tươi rói, tinh anh, vẫn dịu dàng như thế... 
- Thấy bạn như thế này mà... họ vẫn cho bạn đi cùng ư? - Radda đưa mắt nhìn cái bụng to của Lan.
- Nó chẳng làm sao đâu. Bạn thấy không... 
- Nhưng... 
- Hãy tin mình; trước sau mình chỉ lo cho nó thôi. 
- Ôi, mình biết nói gì nữa! Lan ơi, bạn cừ thật đấy! - một lần nữa Radda lại nồng nhiệt ôm lấy nàng. 
Chính lúc ấy John xuất hiện đằng xa. 
Dễ nhận ra anh vô cùng vì chẳng còn ai cao lớn bằng anh nữa. Anh chạy phăng phăng, mái tóc bồng bềnh phấp phới in hệt bờm ngựa; mà thật, dường như anh chạy còn nhanh gấp mấy lần con ngựa đua nhanh nhất trong lịch sử các trường đua ngựa khắp thế giới. Chạy sau anh là các chàng trai bạn anh - họ không đuổi kịp anh, hơn nữa họ cố tình để anh được thấy nàng trước nhất. 
Lan không ngồi được nữa, nàng đứng dậy - lẽ ra nàng đã chạy bay về phía anh nhanh chẳng kém gì anh để đu lên cổ anh, giá bụng nàng đừng nặng như thế. 
- Lan!... - anh cố kìm lại không gọi tên nàng quá to; giọng anh vỡ ra, phập phồng, run rẩy. Nàng không đáp, chỉ mỉm cười với anh, vươn cả hai tay về phía anh. Anh lao đến chỗ nàng như một cơn lốc, dừng lại sát bên nàng như một chiếc Mercedes thời cổ có bộ thắng cực mạnh, anh nhấc bổng nàng lên bằng hai tay, ép nàng vào ngực như thể nàng là một em bé. 
- Em làm gì ở đây?! - đặt nàng xuống đất, anh hỏi. 
- Em muốn đi với anh, - nàng bình tĩnh nhìn vào mắt anh. 
- Nhưng mà trời ơi, ai bảo em làm thế? Ai cho phép em? - anh dừng một chút. - Trời đất, em tôi đã làm gì thế này! - câu cuối cùng giọng anh trầm hẳn xuống; anh thở dài hôn lên má đầm đìa lệ của nàng, chính anh cũng ứa nước mắt. 
Bây giờ anh mới nhận thấy kích thước khác thường của bụng nàng.
 - Em gần sanh? - anh cau mày. 
- Con anh đấy, - nàng cụp mắt xuống, nhưng miệng cười quá tươi, ”rạng rỡ như mặt trời”. 
Anh sững người một lát, rồi chầm chậm bế nàng lên, một cách nâng niu, một cách trang trọng. Anh hôn lên cái bụng to của nàng - đấy là anh hôn nàng, vợ hiền kỳ diệu của anh, đồng thời cả con anh nữa. Mãi đến khi bế nàng qua cửa vào ngôi lầu đẹp đẽ hình củ hành mọi người vừa tạo nên dành cho nàng, anh mới thốt lên:
- Em hư lắm, em biết không?

Thứ Năm, 10 tháng 11, 2016

Jo-Fly (trích tiểu thuyết)

(Trích đoạn từ cuốn tiểu thuyết - tạm lấy tên là “Vũ trụ loài người” - mà tôi viết trong những năm đại học và bị bỏ dở. Một tiểu thuyết khoa học giả tưởng thuần túy.
Có nên viết tiếp chăng?)

- Thưa tôn sư, Isvara ở đâu?
- Đây không phải lần đầu ta nói:
Isvara, đó là lòng ta.
- Thưa tôn sư, Cõi Tuyệt Thoát ở đâu?
- (lặng thinh).
(tâm thoại) Nếu ta không tôn trọng người, ta đã đứng dậy, nhún vai và cắn một hạt dẻ; ta trả lời như vậy đó.”


Jo-Fly là một quả cầu không thể xác định kích thước. Cắt ngang dọc nó là 10n mặt phẳng với n>2 và 100n mặt cong dương hoặc âm (hoặc siêu tuyến tính) với n>2. 1000n (n>2) mặt phẳng và cong cắt ngang dọc các mặt phẳng và cong đó, và 100.000n (n>2) cát tuyến nối liền các mặt phẳng và cong đó. Trên mỗi mặt trong từng ấy mặt phẳng là một hệ hình Euclide trên đó triển khai một trong 100n (với n ~ ∞) phương diện của Hình học Đứt gãy. Số phương diện còn lại phân bố trên các mặt cong. Cả cái phức hệ này vận hành theo các hệ hấp dẫn đa nguyên.
Ai chẳng biết rằng muốn đến Jo-Fly chỉ có cách độc nhất là không biết đường đến Jo-Fly. Trung cũng thế: đã bao lần chàng đến Jo-Fly, nhưng chàng biết đường đến Jo-Fly thì cũng như César biết đường đến mũi Horn. Lần nào cũng vậy, dẫn chàng đi có một tân tòng: cậu trai cao nhồng mảnh khảnh lông măng lơ thơ vàng hoe, tận tụy và u sầu, hay người thiếu nữ nhỏ nhắn, mắt đen như đêm không trăng, mặt hết sức thanh tú, dịu dàng và e thẹn. Chàng không chuyện trò với họ; họ cũng thế. Một đôi lời theo nghi thức, thế rồi bắt đầu cái tịch mịch, bí ẩn mà chàng không thể nào quen, khởi đi từ (một trong) hai cái đầu nhìn từ phía sau trọc tếu trắng nõn câm lặng - chính từ đây ra đời cái biệt hiệu trứ danh của những con người này: The Eggers, “Bọn Trứng” -, đến những hành lang trơ trụi không (bao giờ có) tên nơi những vị khách thường xuyên duy nhất là vầng trăng và màn đêm mượt như nhung mà chàng thấy thấp thoáng từng mảng sau những khung cửa kỷ hà học màu ngà voi chẳng biết bao giờ mới đi tới nhưng lại choán cả tầm mắt chàng; vẽ lên trên (những mảng trời) đó là đường viền những thảo mộc kỳ ảo lấp lánh như san hô. Dọc theo các thảo mộc này, từng quãng một hay liên tục bùng lên những ánh ngời chói trắng rực, những tia chớp da cam hay vàng bưởi, những loáng mờ đỏ quạch phóng ra thành lưỡi kiếm tận cùng đâu đó trong lòng ta. Trung nhìn và hiểu những cái đó thảy đều lừa mị. Chàng hiểu, chỉ khi nào chàng thấy đường chàng đi tuyền hai bức tường trắng nhưng trong lòng chàng là cánh rừng hoa xuân nở rộ ngát hương và trên đầu là mặt trời in bóng chim câu, chỉ khi đó chàng mới đang trên đường đến Jo-Fly, Cõi Tuyệt Thoát Hằng Sản. Con đường đó dài một năm ánh sáng, mà cũng có thể là 13±7 parsec và 1/10 parsec. Rồi, ngay bên cạnh chàng và hút tầm mắt chàng, chàng thấy 17 tinh vân hình quả trám, hình thủy tức và sao chổi, kéo tua quay vòng tròn, chậm và nhanh, sáng và không sáng, sống động và chết. Rồi chàng thấy trên đầu, trải xa vô tận là Mạng Nhện kinh khủng, đầy ma thuật và uyên nguyên vô cùng lấp lánh màu hồng. Rồi tất cả biến mất; chàng thấy mình trên sa mạc khởi nguyên chói lọi cát vàng; rồi cát biến thành tám bức tường pha lê dài như nhau và dài như những dải mưa; đó là một sảnh đường bát giác, trên trần qua vòm trong suốt là trời sao, ngoài ra không còn gì hết. Rồi tám bức tường lại tẽ ra hai, bốn quây thành khối lập phương, ba quyện thành hình nón, một thì bay hướng thượng và mất tăm nơi vô cực u minh. Chàng đi vào khối lập phương, pha lê khép lại sau chàng: chàng cảm thấy - vừa cảm thấy vừa trông thấy, vừa trông thấy vừa cảm thấy - rằng lập phương dưới chân chàng và trong mắt chàng chầm chậm chao nghiêng óng ánh như băng, hình nón lắc lư, đổi trục không biết mấy lần trong nháy mắt rồi chổng ngược, đỉnh cắm sâu mất hút vào Đường giới hạn vô hình thể. Và giờ đây chàng thấy mình trên bờ sông trắng ngập ánh trăng; không khí như sương khói lung linh, chính chàng như tinh thể thạch anh, còn người con gái đi trước chàng, xa hơn tầm ném quả táo, thì ngời lên lấp lánh tựa lân tinh. Chàng ngạc nhiên nhận thấy lần đầu tiên chàng để ý tới nàng kể từ khi chàng - không phải, họ - bước vào mê cung 17n với n>2 tầng không gian siêu-Euclide làm nên một trong 2000000575695 vùng ngoại vi vô giới hạn của Jo-Fly; suốt thời gian ấy chàng không để ý đến nàng hoặc không nhớ là có nàng. Giờ đây khi chàng lại thấy nàng và để ý đến nàng, đột nhiên chàng thấy, choán cả tầm mắt chàng, rộng hơn bầu trời, to hơn mặt đất là hai bầu vú tròn phụ nữ trắng phau, và, như chớp loé, chàng tỉnh mộng.
Vậy đây chính là Jo-Fly.
Một lâu đài cao màu hồng, đỏ, tím, xanh. Hành lang vút lên xa tít hồng tươi đến nỗi hình như tỏa hương thơm ngát. Chàng thấy ba người thiếu nữ lướt ngang, áo thụng trắng tinh hồ cứng cọ sột soạt vào thân thể sinh ra để bùng nổ trong cơn tuyệt hứng và ái ân. Bây giờ kẻ dẫn đường xinh đẹp lại ở sát bên chàng, cúi mình hết sức khiêm cung (như người Nhật bản), khẽ khàng nói: Jo-Fly đón nhận người; xin kính chào người! Rồi biến mất, như lặn vào hư vô.
Chàng bước lên hành lang, ngập ngừng e sợ trước cái thanh khiết. Thậm chí vạt áo trắng như tuyết của chàng dường như cũng lấm bụi lấp lánh. Chàng bình thản nhận thấy mình nhẹ tựa hư không; chàng phó mặc thân mình cho dòng sông vô tận màu hồng thăm thẳm khởi nguyên; một làn gió nổi trong ngần, mát rượi đến nỗi chừng như mỗi tế bào của chàng đều biến thành một phần tử của gió, dày, nặng hơn nước. Hai bên chàng, tít xa, xa hơn cả chân trời - ở đây làm gì có chân trời - chàng thấy mình bay - vẫn bằng bậc tam cấp kia trắng và xốp như bọt biển mà phút này như một đám mây hình kỷ hà, như rìa boong tàu, như mép vực thẳm, một phiến đường biến thành ngoại vi vũ trụ; bên dưới chàng - và bên trên chàng - cũng một tổ ong khổng lồ, mênh mông nhưng sắc trắng, trắng như tuyết. Nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều khoang, chỉ nhận thức được bằng Não phụ. Có những sinh vật màu đen, không nhiều, nhưng đủ làm bức tranh sống động. Đó là HỌ, các Eager. Chàng cách họ chừng 300 mét - bên dưới, cùng bình độ, hoặc trên. Chàng hít một hơi dài; cần chuẩn bị ít nhiều trước khi gặp họ.
Chàng tự hỏi dùng cách nào đến đó - hạ xuống hay bay lên - là hơn; nương theo Dòng Chuyển, hay bay, hay bước bằng chân? Ý nghĩ chàng nhanh hơn ánh sáng, nhưng chưa kịp nghĩ xong chàng đã thấy, trắng và sắc cạnh như gươm, một giải đường long lanh mỏng và nhẹ tênh như một mảnh thếp bạc mà đoạn khởi đầu mất hút sau lưng chàng còn đoạn cuối, vút dài thành dải băng vô tận, trở thành cấu tử ngoại vi của một lâu đài mà kiến trúc lập thể - hay vô thể - kỳ khu chỉ có thể tái hiện từ tiềm thức sâu thẳm của Joan Miro. Và cả lâu đài này - toàn bộ phức hợp kỳ khu này - cũng trắng như “tổ ong” chàng mới nghiệm qua; tuyền trắng. Giờ đây trên và dưới chàng - xa không nhận thức nổi - là màu xanh thẫm nhất mà ta còn có thể gọi là xanh; chàng hiểu mình đang ở trong lòng một không gian kín, như hạt bụi trong lòng con trai ngọc còn lâu đài kia chính là viên ngọc trắng ngần tuyệt đẹp hình dáng dị thường. Chàng bắt đầu đi trên dải lụa mà với chàng là con đường; nó vừa căng vừa chùng xuống dịu dàng như giải yếm người thục nữ bắc cầu đến một đóa hồng; hồng bạch. Nhìn thì tưởng xa nhưng lên đường lại thấy không xa; bởi con đường chàng đi đấy là con đường của Tình yêu, của lòng mong đợi nhất định được đền đáp. Đấy là con đường của Tâm hồn đã vượt qua tất cả để đạt đến chỗ ảo diệu của tri thức.
Và Ánh Sáng ngời lên; Ánh Sáng tràn trề tươi rói như ngày phục thế hoàn sinh, Ánh Sáng huyền không lai láng như trăng đổ đầy sân và vai trần thiền sư không áo; Ánh Sáng như mặt trời xuyên suốt bảy tầng địa ngục khiến những linh hồn tội lỗi đọa đày phải run lên vì thành kính và ăn năn. Trong ánh thiều quang chàng thấy mình trên một quảng trường khác chi con tàu thật lớn bằng ngà voi neo trên biển xanh biếc; đáy hụp sâu trong lòng biển, mạn tàu lại cao vút chênh vênh trên biển. Và từ cái gọi là mặt đá nhưng đúng hơn nên gọi là mặt tuyết có điều rắn và dòn như cơm dừa khô kia một cái gì là lạ bốc lên như sương khói, hay ánh tỏa xa vời của phún thạch dưới đáy đại dương; và trong sương khói này tầm nhìn trở thành thảm hại. Thấy rõ mồn một những gì tít trên đầu chàng, hầu như mờ xóa những gì cùng bình độ với chàng. Và quảng trường ấy, với những khối kỷ hà phiêu diêu siêu thực mới tương phản làm sao với những hàng trắc bá và thông mà màu xanh mát rượi cả lòng; chúng chạy dài dọc gờ cao sừng sững hình thoi, vòng qua “quả trứng” khổng lồ, vẽ quanh hình khối chữ nhật một đường viền mộng ảo hợp bằng ba elip và bốn parabol. Tất cả đều màu trắng, ngoại trừ màu xanh ngắt của cây, màu xanh biếc của vùng trời và vực biển. Đường chu vi của quảng trường-con tàu mở bung trong một thế hyperbol đầy chất nổ; thế nhưng chàng đâu có ở ngoài xa kia, ở mép bờ kia, chàng đâu có lạc trong mê hồn trận những vòng cây kia; ngay từ đầu chàng đã ờ đây, ngay dưới chân đường dốc quanh co với những bậc thang dài lênh thênh dẫn đến Thánh đường.
Chàng nghển cổ tìm đỉnh cao nhất của tòa nhà vĩ đại kia và sửng sốt nhận ra rằng phần trên nó khuất vào hào quang rực rỡ; khác nào đỉnh núi chìm trong mây.
Mỗi lần chàng đến Jo-Fly, người ta lại đưa chàng đến một cõi vô minh huyền hoặc mới; và đây lại một vòng hoa khói quàng vào cổ chàng. Chàng luôn lấy làm lạ, nhưng chàng không dao động nữa.
Có những ghế dài dọc lối vào Thánh đường màu trắng lạnh như băng. Cửa vào Thánh đường như ngọn mác vọt cao vút nhọn, ngoài trông chỉ một màu đen. Hai Eager Huynh trưởng dẫn đường, áo trắng, nhìn xa như tượng.
Trên một ghế dài chàng thấy… Consuela.
- Consuela! - chàng thốt lên, hồi hộp và xúc động. - “Consuela!” chàng lại thốt lên lần nữa, trong lòng. Chàng không sao ngờ sẽ gặp nàng; và vậy đó, vừa thoáng nhận ra chàng, nàng đã tươi cười như hoa, nàng đứng lên bước lại phía chàng, và ánh sáng từ nàng ngời chói đến nỗi thiều quang rực rỡ quanh nàng mờ tối, co lại thành ánh trăng.
- Trung! - giọng nàng vỡ ra vì niềm vui hết sức trẻ thơ; nàng chìa cả hai tay, và chàng nắm cả hai tay nàng, sung sướng, vụng về. Nàng mặc áo giản đơn màu hoa cà; có nàng, thế gian yên lòng hơn một chút.
- Consuela, em làm gì ở đây? - chàng hỏi khi đã chắc rằng giọng mình không dao động bất thường nữa.
Nàng cười e ấp, đầu nghiêng nghiêng (cái cử chỉ chàng yêu biết mấy!).
- Thế còn anh?
- Anh có việc của anh, - chàng cũng cười, hôn tay nàng.
- Dễ thường em không có việc của em?!..
- Họ mời em đến? - chàng ngoảnh nhìn cánh cửa màu đen thẫm.
- Mời ư! - nàng lắc đầu, lẳng tay ra. - Họ bảo: Nàng cứ việc đến đi; thế là em đến.
- Để làm gì?
- Anh thấy đấy, - nàng khoát tay về phía cõi hư đồ màu trắng và xanh ngồn ngộn bày ra tít tắp dưới kia. - Họ có khả năng xây dựng thiên đường; em thì em muốn có thiên đường cho bọn trẻ… Bọn trẻ chúng đâu cần biết thế nào là Eager; nhưng chúng cần Jo-Fly, chúng cần có Thiên đường…
- Em chẳng đã ban cho chúng hàng loạt thiên đường ư ?!
- Jo-Fly là ước mơ cuối cùng của em.
Chàng lắng nghe hơi thở của nàng và tự nhủ: hừ, vậy đó: lúc nào cũng cảm thấy, nếu nàng bảo ta vứt bỏ mọi thứ mà theo nàng, ta sẽ làm ngay không nghĩ ngợi… Nhưng không, ta biết nàng chẳng đời nào quỷ quyệt đến thế.
- Em không tin rằng các Eager quả thật cần ẩn mình như vậy. Anh hiểu điều đó chứ, amigo? - Nàng phát âm từ cổ xưa ấy một cách duyên dáng và hay lạ lùng: “amigo”. - Họ làm nên một Jo-Fly nhân loại chưa hề biết tới rồi lại giấu đi; vậy có công bằng không, hở amigo? Em không hề tôn sùng lý thuyết về Tự do tuyệt đối, nhưng em sẵn sàng giành lấy Jo-Fly từ tay họ. Anh biết về kỹ thuật cắt tầng (Hệ Cắt Tầng) Al-Yuk chứ? Đó chính là cái em sẽ giành từ tay họ. Họ bảo: nó sẽ là của cô một khi cô chế ngự được nó bằng trí lực của chính cô. Vậy đó: người ta sẽ đặt em trước một mê cung; em phải tự tìm đường ra không ai giúp đỡ và không gì giúp đỡ. Đấu trường mở cửa ngay bây giờ thôi; em từ biệt anh trước vậy. Giống như đấu sĩ ngày xưa: tay gươm tay mộc lên đường, họ biết mình có thể trở về hoặc sẽ chết. - Nàng cất tiếng cười ngắn, nhưng miệng nàng hơi méo; nàng cố làm tròn nụ cười. - Anh tự hỏi em có sợ không? Ồ, sợ chứ!... Sờ đây này… - nàng đặt tay lên ngực. - Mà thôi, anh lại chẳng dám nào! Lại đây; - nàng hôn má chàng, ôm chàng nồng thắm trong vòng tay thật khoẻ. - Anh dễ thương vô cùng! - một tay nâng quai hàm chàng, nàng cười trìu mến và dịu dàng. - Anh sẽ nói gì chứ? Chúc em thành công đi, nào, amigo!
- Em sẽ thành công, nhất định rồi! - chàng nói giản dị và hôn bàn tay nàng đang tiếp xúc một cách huyền diệu nơi quai hàm chàng. Chàng nghĩ: mình phải nói gì thêm, nhưng chàng thừa biết chính những lúc như vầy mình sẽ lại im lặng. Mà dù chàng có nói gì đi nữa, lời nói ra cũng phải thật dịu dàng, bởi chàng hiểu rõ những gian truân nào đang đợi nàng sau cánh cửa kia… Chàng hiểu Hệ Al-Yuk là một Hệ Có Cá Tính (Characterized System, CS); nó sẽ vờn nàng như vờn chuột trước khi hàng phục nàng. Nó là đứa trẻ ngỗ ngược khó tính; nó là con ngựa hay không muốn để ai trị. Đến lượt mình chàng lại ôm nàng, cẩn thận hôn má nàng. Trong khi khẽ nghiêng đầu để hôn nàng như vậy, chàng nhìn xuống bờ vai tròn trặn của nàng màu vỏ quế thật dịu ngọt (vai bên này để trần, vai kia ẩn hiện sau lần vải mỏng). “Ồ không, em cứ đi đi; chẳng có kẻ ma mãnh nào thắng nổi em đâu”.
Tận trong lòng chàng chợt nghe cái gì khác lạ. Tựa như một cái túi không to hơn quả trứng cút bục vỡ từ đó túa ra một dòng mật sền sệt, ướp lạnh thấm vào từng ngóc ngách của gan ruột chàng.
- Người ta gọi em đấy, - nàng gỡ khỏi chàng, cười, tháo kẹp tóc, xổ tung mái tóc rất dày. Nàng vắt vài lọn tóc qua vai, ra trước ngực. - Để thế này tiện hơn, - nàng giải thích, hơi ngượng ngùng. - Họ không ưa bất cứ kiểu đầu nào có sự hiện diện trực tiếp của ngoại thể. - Nàng nhìn nhanh về cái họng đen ngòm tạm gọi là cửa rồi quay lại chàng. - Thôi chào nhé, amigo! - nàng khẽ nắm tay chàng, hôn phớt vào môi chàng.
Rồi nàng dợm bước, nhưng đột ngột quay lại, tay vẫn chưa rời khỏi tay chàng. - Sao anh buồn thế, hở amigo? (Por que eres tu tan triste?) - Nàng vỗ nhẹ vào ngực chàng, chỗ trái tim. - Đừng quên rằng ở Wonderland người ta phạt 1000 điểm kẻ nào nhăn nhó không cười và 2000 điểm cậu nhóc nào khóc nhè đấy! - Nàng cười hơi e lệ. - Anh đừng bảo: “Tôi không buồn” nhé! Chỉ cần một nụ cười, thế… là đủ. Trời, tôi nói nhăng gì vậy? .. - nàng đặt tay lên trán. - Thì giờ thì cứ trôi.
Nàng thoắt chạy đi; váy dài tốc lên, chân tròn lẳn rùng rùng cuộn săn bắp thịt, lưng ong thắt đáy uyển chuyển như dây bìm. Dừng lại bên cánh cửa kỳ vĩ giờ sáng lóa như sao lùn trắng, gần như bị nuốt chửng vào ánh sáng, nàng quay lại nhìn chàng lần nữa, vẫy tay và mỉm cười. Rồi biến mất, và tòa tháp dị thường lại hút hết hào quang vào cuống họng sâu thẳm nhanh không tài nào nhận ra.
Chàng ngồi lại một mình.
Chàng ngồi xuống ghế, chỗ còn ấm hơi nàng. Chàng đi vào thế tịnh tâm. Và đợi.

Tranh của René Magritte.

o
o          o

- Thưa tôn sư, con của Người đã chết.
Nói xong câu đó chàng thấy dễ thở hơn. Điều quan trọng nhất với chàng là đặt vào chữ “chết” đó toàn bộ ý nghĩa bi thống của nó; bởi từ lâu lắm người ta không còn quen coi Cái Chết là điều không thể đảo ngược. Nhưng Cái Chết này lại ĐÚNG LÀ không thể đảo ngược.
- Thưa tôn sư, mong rằng tin này không làm động tâm Người, - nói thì nói vậy, nhưng chàng đếm được rành rành biên độ giao động khủng khiếp của tâm trường người đàn ông tóc bạc trông như nhà thơ kia, mặc dù bàn tay thon dài nguời đó cầm quản bút bằng san hô hồng như mây chiều tịnh không run rẩy, an nhiên như một cành đa thật lớn. Nỗi đau đớn vĩ đại của Nguời có thể làm ngòi bút kia chệch khỏi đường đã định không đầy một phần ngàn triệu milimét, bấy nhiêu là đủ để làm mốc tiên khởi cho một Megabig Bang sẽ làm đảo lộn tận gốc vận mạng của Vũ trụ con OANE Nơi Mặt Trời Vẫn Mọc, cái vũ trụ mà Người là đấng Tạo hóa, cái Vũ trụ mà phút này đang chuyển thành OANENOAEEONAEOANNE Nơi Mặt Trời Vẫn Mọc Mọc Mặt Trời Vẫn Vẫn Vẫn Mặt Trời Vẫn Mặt Mọc Trời Mặt Trời Vẫn Và Vẫn Và Mặt Trời Vẫn Mọc; đó là một chuỗi đột biến khủng khiếp mà tận cùng không chỉ là Cái Chết. Chàng hạ cái nhìn xuống tay mình, đôi tay mà chàng đặt thanh thản trên hai cổ chân bắt chéo (chàng ngồi theo thế kiết già như mọi môn đồ của Phật). Tay chàng to khỏe mà sạm nắng; chúng không trắng mịn như ngà, như tay Lajos, người con trai vắn số của Tôn sư. Bằng đôi tay này chàng đã bắn phát cung quật ngã con kurli vĩ đại nhất của Hành tinh Voi, con kurli mà Lajos vừa trỏ theo bằng cánh tay mảnh khảnh vươn thẳng tắp như mũi tên bằng búp sen vừa kêu những tràng dài khâm phục hoan hỉ: Kìa một cái đuôi con kurli dài gấp mấy lần con voi; kìa, đầu nó cứ như con tàu Apollo thời xưa chúi thẳng vào ta. Chàng không cầm được nước mắt khi nhìn thấy Lajos chết.
“Thưa tôn sư, Lajos đã chết. Nếu Người bảo con trả thù, con sẽ trả thù cho chàng. Nguời không cho con trả thù, con cũng tìm bằng được để trừng phạt kẻ giết chàng, vì y không có quyền sống yên ổn một khi đã làm điều đó. Thưa tôn sư, con không muốn người ta khóc vì nỗi oan ức của chàng.”
Khi Trung bế Lajos đã lạnh cứng trên tay, chàng nhận thấy Lajos nhẹ hơn nhiều so với Natasa. Nhìn Lajos nằm vắt ngang tay Trung, người ta tưởng thấy một người con gái kiều diễm giả trai, nàng ngủ thiếp; Trung bế nàng về khuê phòng nàng; nàng bé nhỏ nên ai nấy ngắm nàng với nụ cười âu yếm. Sự thực thì nguời ta khóc vì đó là Lajos, chàng trai hiền lành có mái tóc như vàng; chàng chết, và Trung bế chàng về nhà chàng, chuẩn bị tang lễ cho chàng...
             “Anh nằm xuống
                        cho hận thù                            
                                                vào lãng quên...
Trung không thể nào, không đời nào quên kẻ giết Lajos. Chàng biết chúng. Ở Cospol ai mà chẳng biết chúng. Giết Lajos, chúng thủ tiêu (hay bắt cóc?) cả Frem (Linh hồn) của Lajos. Bằng cách nào? Trung vẫn chưa biết. Chúng triệt đường tái sinh của Lajos. Lajos trẻ quá; miệng còn lông măng.
Có nguời con gái giữ riệt lấy thi thể Lajos mà khóc. Tiếng khóc ai oán đặc thù dành riêng cho kẻ chết tức tưởi, đột ngột. Như Lajos. Trung không nhìn ra nàng ngay. Prakti Bergson-Khal. Chị của Lajos. Cùng một người mẹ siêu phàm Veda Bergson, người chinh phục thế giới bằng trí tuệ và đạo hạnh. Prakti than khóc như nguời xưa. Buồn thay, Lajos.
“Thưa tôn sư…” Trung lại nói, nhưng chính chàng không nghe mình nói gì, chàng cứ nhớ hoài đôi mắt trợn trừng của Lajos. Giấc ngủ chàng bị đục nát tươm bởi cặp mắt ấy nhiều hơn là cảnh tay, chân, đầu, ngực Lajos ứa mỡ, kêu xèo xèo, quắt lại, cháy đen trên giàn thiêu. Liệu pháp tịnh tâm chàng vốn khinh thường mà có lúc phải dùng, không thì chẳng tìm được giấc ngủ. Mỗi gót chân thục nữ loá lên trong đêm, như con bướm bạc, như con chim bằng tuyết băng, chàng lại chạch nghĩ đến bàn chân thon trắng muốt của Lajos, bàn chân như thục nữ của chàng trai xinh xẻo dịu dàng. Chàng kể về cái chết của Lajos với sự cố kết đến cùng cực của ngôn ngữ đặc trưng cho thời đại chàng. Cùng những lời nói, hình ảnh sinh động từ ký ức chàng cũng truyền vào tâm thức Tôn sư. Người cúi gục đầu, tóc bạc loà xoà như tấm rèm bằng bờm ngựa tơ vơ. Người khóc theo cách Trung hiểu về sự khóc, nghĩa là không nước mắt. Cái Chết của Lajos.
Lajos tin mình có thể cứu hành tinh Kalinga. Lạ thay, người ta cứ muốn chiếm hữu nó. Sức mạnh là cái gì chứ? Lajos không sợ quyền uy và Sức Mạnh. Lajos tin vào Tính Định Hướng của Đạo Nguyên Khởi. Lajos tin ở sự tất yếu và khả năng bảo toàn thế quân bình giữa mọi nhị nguyên và mọi bất nhị nguyên. Chàng chống lại mưu đồ ám đoạt Kalinga vì đó là nhiễu động không cần thiết hướng về cái Ác. Và người ta giết chàng.
Người ta giết Lajos! Tay chàng nhỏ nhắn và mềm mà phụ nữ thích hôn như tràng hoa dâng nữ thần trinh tiết, tóc chàng vàng như lửa và mắt chàng lóng lánh pha lê khi phụ nữ đi qua. Người ta giết Lajos trên con tàu liên vũ trụ chàng dùng, chàng đang viết bức thư cuối gửi Sklerotto kẻ muốn cưỡng hiếp Kalinga, bức tối hậu thư. Trên bàn người ta thấy chàng vẽ cây đàn ghita và cần đàn là cuống là vật vờ theo hơi thở. Lajos chết.
Lajos là Người nhưng khi Lajos chết những giống Không-Phải-Người cũng khóc. Người ta bảo tôi thế. Tôi không tin.
Huynh trưởng Reza theo tiễn Trung. Chàng mong thấy lại Consuela. Nhói trong tim khi nhớ vai tròn màu quế mịn như hoa. Lẽ ra chàng có thể dùng trí lực đập đi cái nhói đau ấy, nhưng chàng lại thích mang nó, một vết thương nho nhỏ trong ngực.
Đọc được ý chàng, Reza nói:
- Consuela, Consuela, Consuela!
Chàng biết chữ Consuela được lặp lại ba lần nghĩa là ba tầm vóc của Consuela, ba bậc lũy thừa của Trí năng Consuela, của Con-Người đối mặt với Hệ Có Cá Tính, với Trí năng Siêu Nhân Tính. Consuela lặp lại ba lần tức Consuela-Ở-Bậc-Lũy-Thừa-Ba, Consuela ĐÃ THẤU HIỂU làm sao đưa Hệ Có Cá Tính vào chỗ Sanh và chỗ Diệt, Consuela sắp đạt được Trí-Năng-Cao-Nhất-Gần-Cái-Tuyệt-Đối-Hơn-Hết-Thảy-Mọi-Cái-Khác. Hệ Có Cá Tính đang đầu hàng Consuela và sẽ hợp nhất với Consuela. Consuela thân yêu! Nàng đã thành công. Trung khẽ mỉm cười biết nàng sẽ thấy mà sung sướng bởi nụ cười chính là tặng nàng. Chàng lên tiếng với Reza:
- Ngài có yêu Consuela?
- Ông yêu Consuela?... - Reza đáp.
- Hãy nói: nàng yêu tôi.
- Nàng yêu ông.
- Đó là Sự thật, kỳ diệu quá, phải không?
- Đi đi, đi đi.
- Chào Reza. Ngài mềm mỏng với nàng nhé.
- Ông không thể hiểu điều đó hơn tôi.
Chàng nhìn qua vai Reza ngắm lại cõi hư đồ. Trên đầu là không gian kín màu xanh ngăn ngắt, tít đằng xa là cây cầu như dải yếm (hay dải yếm làm cây cầu) vẫn còn đó đợi chàng như con ngựa trung thành, như một người bạn.

- Chào Reza - chàng nói, mặc dù biết Reza vừa hút biến đi như bong bóng xà phòng. - Hãy nhớ mãi ràng tôi yêu Consuela - chàng nói thêm và chợt cảm thấy trên lưỡi một vị chát.

(...)

Thứ Ba, 1 tháng 11, 2016

Hoa, sáng tạo, thời gian.

Đối với một số người, đóa hoa của sự sáng tạo phải mất một thời gian tương đối dài thì mới có thể bắt đầu bung nở từ bên trong họ.

Cũng như đóa hoa tình yêu. Nó không nở vào cùng độ tuổi như nhau ở tất cả mọi người. Ở một số người, nó - đóa hoa của tình yêu đích thực - nở tương đối muộn. Chỉ đến một độ tuổi tương đối muộn họ mới bắt đầu cảm thấy sự bung nở của nó từ bên trong mình: nhu cầu yêu thương trọn vẹn, năng lực yêu thương trọn vẹn. Hoặc, chỉ đến tuổi đó, năng lực yêu ở họ mới gặp được chất xúc tác duy nhất thích hợp để nó bung nở hết kích thước tiềm tàng của nó.

Tại sao phải mất nhiều thời gian như vậy?

Bất kể những cách giải thích hợp logic mà ai đó có thể đưa ra - như môi trường gia đình, hoàn cảnh giáo dục, tinh thần thời đại, v.v. -, ẩn trong điều ấy luôn luôn là một bí ẩn lớn.

Tại sao Henry Miller, Marcel Proust, Hermann Broch, Jose Saramago... phải đến cuối độ tuổi ba mươi và đầu độ tuổi bốn mươi, hay muộn hơn nhiều, thì mới có thể viết ra được những tác phẩm quan trọng đầu tiên của mình - tất cả những gì họ làm trước đó chỉ là để "dọn đường" cho điều ấy, đến cái độ mà, giả như họ chết trước tuổi bốn mươi thì đời sau hoàn toàn có thể coi như chưa từng có họ trên đời?



Thật khác biết bao với những nhà văn - dù gì thì cũng chỉ số ít - viết ra được một số trong những tác phẩm quan trọng nhất, thậm chí là kiệt tác duy nhất của đời mình ở lứa tuổi rất trẻ, dưới ba mươi. Như Mario Vargas Llosa. Như Mishima Yukio. Như Krasznahorkai Laszlo... Đóa hoa sáng tạo của họ nở rộ từ rất sớm, một cách thực sự là đáng ghen tị.

Tuy nhiên, nghĩ cho kỹ, những đóa hoa nở muộn có cái đẹp của nó.

Khi nhà văn nở muộn, thời gian của anh ta không nhiều.

Ở chừng mực nào đó, sự ít thời gian của anh ta cũng giống như sự ít thời gian của một nhà văn chết sớm vì bệnh nan y - và biết điều ấy từ lâu trước khi chết.

Vẻ đẹp của đóa hoa sớm nở sớm tàn, và của đóa hoa muộn nở chóng tàn, là vẻ đẹp mà, về thực chất, như nhau: vẻ đẹp của sự ngắn ngủi, của sự nôn nả, của sự trân quý hơn nhiều lần từng khoảnh khắc sống, từng khoảnh khắc sáng tạo. Một cuộc sáng tạo, một đời hoa - mà hương thơm có đó là để tồn tại đời đời - gắn liền với bóng của sự chết.

Thứ Hai, 24 tháng 10, 2016

Về ngôn ngữ và sức mạnh.

Không ít nhà văn trên thế giới đã chọn thôi không viết bằng tiếng mẹ đẻ (Trung, Nhật, v.v.) để viết bằng một ngôn ngữ phương Tây mạnh hơn (Anh, Pháp...), một lựa chọn hoàn toàn có ý thức, và không hối tiếc vì quyết định đó. Yoko Tawada viết song song Nhật/Đức và tìm thấy ở việc đó một vị trí/thế đứng/cảnh giới riêng cho mình. Exophony - chủ động học cách sử dụng một ngôn ngữ khác cho đến khi đạt mức điêu luyện, có thể dùng nó để viết những gì mình muốn - là một trong những thực tế sống động của văn chương thế giới. So với nó, nhà văn Việt đang ở đâu?

Tôi không tin rằng người Việt, bất cứ người Việt nào, cũng bị trói chặt trong tiếng Việt giống như mỗi con người bị trói chặt trong cuộc đời/thể xác hữu hạn. Nếu con người đủ mạnh, y có thể chọn ngôn ngữ khác. Anh không đủ mạnh để làm vậy, đó không phải lý do để anh có quyền khẳng định rằng sẽ không có ai khác mạnh hơn anh.



Đương nhiên, sẽ là quái gở và ngu xuẩn/điên rồ nếu anh kêu gọi/dụ hoặc/khích lệ/bắt buộc (trong trường hợp anh có quyền) tất cả nhà văn Việt từ bỏ tiếng Việt mà chỉ viết bằng ngoại ngữ.

Quái gở và ngu xuẩn/điên rồ chẳng kém gì nếu anh cấm (trong trường hợp anh có quyền) tất cả nhà văn Việt không được viết bằng thứ tiếng nào khác ngoài tiếng Việt.

Anh viết bằng thứ ngôn ngữ mà anh dùng tốt, bất luận đó là ngôn ngữ do cha mẹ anh truyền lại hay do anh tự thu nạp được. Đơn giản có vậy.

Thứ Ba, 18 tháng 10, 2016

Cô đơn của nhà văn.

Đương nhiên nhà văn đích thực thì phải cô đơn, song đó không đơn thuần là cô đơn của nhà văn. Đó trước hết và trong sâu xa là cô đơn của kẻ có tư duy độc lập và tinh thần tự do, của một cá nhân đủ mạnh để vừa ở trong cộng đồng vừa ở ngoài cộng đồng và khác với cộng đồng.

Sự cô đơn của những cá nhân không chấp nhận sự tha hóa.

Sự cô đơn của những người thường xuyên đặt câu hỏi về những thứ mà đám đông chấp nhận không suy nghĩ.

Tác phẩm của Igor Mitoraj (1944-2014)

Sự cô đơn của kẻ luôn luôn giữ cho mình là một cá nhân suy nghĩ, giữa đám đông những người sợ suy nghĩ và/hoặc không có khả năng suy nghĩ.

Sự cô đơn của kẻ hiểu điều đám đông không hiểu, cảm những gì đám đông không cảm, thấy những gì đám đông không thấy.

Sự cô đơn của kẻ đau những thứ mà đám đông không đau.

Sự cô đơn của những kẻ có nhiều sự sống khác nhau và sống nhiều sự sống khác nhau, giữa đám đông những người chỉ có một sự sống duy nhất để sống và thậm chí không có khả năng sống cho ra hồn một sự sống duy nhất ấy.

Sự cô đơn đó không phải chỉ của nhà văn; song, không có nó, nhà văn chỉ là giả-nhà-văn, nửa-nhà-văn, nhà văn hiểu theo nghĩa quy ước của đám đông, chớ không phải nhà văn theo nghĩa tối hậu.

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2016

Nghĩ về văn chương.


(Nhặt lại trong sổ tay cũ) 

Về viết văn:

- Văn chương (fiction) là một trong những cách tối hảo và tối hậu để đối trị cá nhân với thế giới. 

- Văn chương là một trong những cách chính trực nhất để khẳng định thế giá và phẩm cách của con người, bản lai diện mục của con người trong thế giới hiện đại.

- The dharma of fiction is not to subjugate itself to limits, but to defy, deny and reset limits.
Cái pháp của văn chương không phải là tự quy phục các giới hạn, mà là thách thức, bác bỏ và đặt lại các giới hạn.

Tranh của Joan Miro

Về người đọc và văn chương:

- If you think too high and too much of youself, you end up depriving yourself of the ability to lose yourself in the alternative worlds/realities created by, or originating from, other people.
Nếu bạn nghĩ quá nhiều và quá cao về bản thân mình, thì rốt cuộc bạn tự tước mất của mình cái khả năng hòa mình vào những thế giới/thực tại khác do người khác tạo ra hoặc khởi sinh từ người khác.

- In fact, you write fiction to fight against the extreme egocentrism induced/imposed/inspired by the false interpretations of the so-called postmodern condition.
Trên thực tế, bạn viết văn là để chiến đấu chống lại thói duy ngã cực đoan được dẫn dụ/áp đặt/khích gợi bởi những cách diễn giải sai lạc về cái gọi là hoàn cảnh hậu hiện đại. 

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2016

Một ý nghĩ.

A story I wrote in English:

Một đoạn văn ngắn viết chơi bằng tiếng Anh, mới "tìm thấy" lại trong một sổ tay từ vài năm trước.
Qua đây, có thể thấy điều mà một số nhà văn đã nói, rằng khi bạn chuyển sang viết bằng một ngôn ngữ khác, bạn không hoàn toàn là một với khi bạn viết bằng tiếng mẹ đẻ của bạn.



.. And they’re really big, big guys, she said, her raspy voice now muted, now jagged and/or perforated by the undulating, piercing, jerking, throbbing, shattering trumpet sound emanating, flowing, trickling, oozing, boiling out from the smoke-laden, half-hypnotized, beast-like tamed bar, and again she immersed herself in the ethereal, strikingly playful, self-absorbed, well-planned dancing improvization of her milky, slender, obsessively tapered fingers. Yeah, and surely you’ve had a good good time, I said, my eyes intensely, relentlessly drilling into hers, her eyes a distracting, disturbing wash of deep lacquer the color of a thickened, condensed, jelly-like moonless night, who’d said so before me I don’t know and don’t care, I don’t care what she’s saying to me what I’m saying to her, oh yes I don’t care, I don’t care what you think about me, the foolish way I’m saying, the dubious and ruthless way I’m looking at things, I don’t care how you find my being unable to get through to all of you the fucking message that I deadly want to be more than what I am, yeah whatever you think makes no difference to me is a cipher to me so say it in your words as you like or listen to it in my words. Yes of course now she returns her own eye-drilling to me with the same intensity with which I’ve just done mine to her how I can say about it it contains both more vigor and more venom a nexus of shapeless desires boiling devouring maelstroming hers is a far better drilling force or device than mine could ever be

Yes you’re still far from opening the deeper layers of what you have, rip yourself off and let these burst out or shut your mouth lift your ass and be gone, man

(...)

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2016

On a writer (like myself)


... Thus out he played into the bottomless abyss of the countless multitudes of his different selves, recognizing and recalling them, re-repelling and re-accepting them, refamiliarizing and re-unifying himself with them, remultiplying them, reconsolidating them, recreating them, redeconstructing them, re-generating them, re-crossbreeding them, re-dissipating them, re-ramificating them, recasting them, rekilling them, being born and reborn by them, giving and regiving birth to them, being reshaped by them and reshaping them, learning again and again to hate and again and again to love, again and again to live and again and again to die, to destroy and to mould and to smash and to care, to give and hold, to create from nothingness and deliver to nothingness.

(written in 2007)

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2016

Về Tình yêu (hay Cảm tác từ Siddhartha)*

(đã in trong "Baroque và ần hoa". Dành cho những ai chưa đọc).

I.

Tất cả các nàng cùng đến một lần: Loan cười nói luôn miệng, ngực áo jacket đầy vun như thể bên dưới có hai búp sen to đang nở; Thương mặc áo dài tím than kín cổ, mày bán nguyệt, môi đỏ như vừa nếm mứt dâu; Hương tóc vấn cao, uyển chuyển đến từng nếp chiếc áo váy màu hồng phấn; Vân mặc áo vét, mềm mại và mỡ màng đến tận ngón chân; Cúc sơ mi trắng đơn sơ, không bao giờ bối rối nhưng lúc nào cũng có vẻ xúc động; Mai rất cao trắng hồng, cái nhìn sáng lạnh như ánh nước buổi trưa mùa đông; Trân mong manh như dải lụa, vừa đi vừa nhìn xuống như đếm bước bỗng ngẩng nhìn trời bằng đôi mắt rực sáng; Dung bầu bĩnh đeo kính dày, tay đong đưa yểu điệu và uể oải; Phương vận áo váy đen, nhìn từng ngôi sao, từng góc tường, ngọn cây với ánh nhìn thông suốt và hình như u uất.  

Họ ngồi quanh đống lửa, đợi nhà thơ. 

Trong thanh vắng, tiếng chuyện trò của họ như có thể nghe từ những tầng trời. 

Từ chỗ họ không thể thấy gì trên những triền núi nơi chân trời, nhưng từ những triền núi đó có thể dễ dàng thấy họ và tìm đường đến với họ. 

Bình thản và chăm chú, họ nói với nhau về tình bạn, tình yêu, đất đai và sông ngòi, hạt giống và cây cỏ, con cái và ba lê, nỗi đau và niềm vui, bạo lực và khoan dung, tắm biển và tàu lượn, quần áo và thiên tai. Bồi hồi và mơ màng, vui vẻ và kiêu hãnh, hồi hộp và hờ hững, nghiêm trang và thầm lặng, họ chờ nhà thơ. 

Thật ra nhà thơ là người thế nào? Và người đã gặp nhà thơ trả lời mãi vẫn không thỏa được cơn thèm biết của người chưa gặp nhà thơ. Càng hỏi, càng suy nghĩ về câu hỏi, càng trả lời, càng nghe trả lời, họ càng muốn nhiều hơn những lời đó, cái gì khác ngoài những lời đó, ngoài mọi lời lẽ. Cuối cùng, khi Cúc thốt lên: 

“Đừng nói gì nữa. Hãy để chàng đến; câu trả lời ở chính chàng đó...” 

thì mọi người thảy im lặng. Nhưng, như khu vườn đang rì rào bỗng nhiên đứng gió, ta vẫn cảm thấy chút rung động âm thầm lan khắp các nhành cây.


II.

Vâng, chàng là nguời tình tuyệt vời. Dẫu đã bao nhiêu lần nhập mình làm một với chàng, chị em chúng tôi chưa bao giờ hết kinh ngạc trước năng lực yêu vô tận của chàng.  

Mỗi chúng tôi - không trừ ai - đều được chàng yêu bằng nhiều hơn tình yêu cho tất cả chúng tôi gộp lại. Mỗi chúng tôi biết mình là Tất cả với chàng. Mỗi chúng tôi là Một với chàng. Mỗi chúng tôi yêu chàng bằng tình yêu của tất cả chúng tôi. 

Chúng tôi yêu chàng bởi qua chàng tình yêu chúng tôi thực sự hòa hội với Tình yêu của tất cả Trời đất. 

Chàng yêu tất cả chúng tôi như yêu tất cả làng quê ở đất nước mình, như yêu hết thảy những nền văn hóa của Nhân Loại.  

"Danae", của Gustav Klimt.

Chàng yêu tất cả chúng tôi như Tạo hóa yêu tất cả những tác phẩm dù lớn lao hay nhỏ bé của Người, như nhà thơ yêu mỗi một vầng trăng bắt gặp trên đường đi. 

Chàng yêu mỗi chúng tôi như yêu một bài hát đẹp chàng nghe lần đầu từ thế gian; như âm giai, độ rung và sức mạnh của một chiếc đàn mà mãi phút này mới lên tiếng trong dàn nhạc vô biên của vũ trụ. 

Chàng yêu chúng tôi như yêu bài hát thân quen được cất lên từ hàng bao nhiêu đôi môi, dưới bao nhiêu mái nhà, trên bao nhiêu cánh đồng hay nẻo đường, bằng bao nhiêu thứ tiếng mà mỗi lần cất lên đều khiến chàng xao xuyến vì những đôi môi đó lấy xung động không chỉ từ thanh quản và rút sinh lực không chỉ từ buồng phổi mà còn là - và đúng hơn là - từ thẳm sâu tâm hồn. 

Và chàng yêu tất cả chúng tôi như yêu một bài hát đó trong mọi lần hiện hữu ngắn ngủi của nó, mỗi một tâm hồn trong những tâm hồn đó, những buồng phổi và thanh quản đó, những đôi môi đó. 

Chàng tỏa ra một không khí, hay ánh sáng, hay một trường nào đó như những gì ta không thể lý giải nhưng cảm thấy một cách mãnh liệt trên đỉnh Himalaya hay Kilimandjaro, trên những ngọn núi thiêng, làm ta thanh khiết và lớn lên từ bên trong.  

Song chàng nhìn chúng tôi thành kính và âu yếm như thể chàng là người lớn lên từ bên trong qua những ngọn núi đó còn chúng tôi là những ngọn núi đó.  

III.

Bệnh án ghi: triệu chứng đặc thù của bệnh độc tưởng (monomania).

Thưa cha, một lần nữa con cám ơn cha, nhưng mọi lời an ủi của cha không thể cất đi nỗi đau trong lòng con. 

(Chàng nói vậy, rồi với trái tim nặng trĩu chàng rời ngôi nhà nơi chàng đã chào đời, ngôi nhà chàng xiết bao yêu thương, nhưng giờ đây đã thành một thứ nhà tù không thể chịu nổi đối với tâm hồn chàng).

Thưa cha, con phải ra đi thôi. Một nơi nào đó, một lúc nào đó, hẳn có người con gái nào đó đang chờ con, người con gái bắt gặp giữa đường mà con sẽ bảo vệ nàng bằng toàn bộ máu trong người con, bằng cách xả toang thân này. 

Thưa cha, con không còn muốn ngồi đây lặng lẽ ngắm đoàn tàu cuộc đời qua. Con muốn là tài công lái đoàn tàu đó, là người lính bình thường nửa đêm đổi gác trên đoàn tàu đó, là gã ca sĩ nửa mùa hét vào loa những bản tình ca cũ mèm bằng cái giọng ngỗng đực làm nổ tung những tràng cười nôn ruột dọc suốt các toa của đoàn tàu đó. Thưa cha, vạn nhất tàu có lao xuống vực thì con muốn ở bên mọi người bởi trong cái chết của họ có một phần của con. 

Thưa cha, con không còn muốn động đến sách vở vì từ lâu đôi bờ từ ngữ đã bị tràn lấp bởi dòng lũ cảm xúc và tâm tưởng con. Con không còn muốn cầm bút vì nó chẳng làm được gì hơn cây sậy khoắng vào đại dương trần thế. Con chỉ muốn làm một người bình thường biết sống và biết chết cho người khác bằng chính thân thể con, thưa cha. 

Thưa cha, con còn hiến dâng được gì cho cõi đời này nếu không đủ sức giúp dù chỉ một lần và chỉ một người giống như người con gái đó? Con tàu đã vụt qua, vĩnh viễn vụt qua, và con không cứu được nàng, mãi mãi không còn cứu được nàng. 

Vâng, mãi mãi không còn cứu được nàng, mặc dù khát vọng làm điều đó xéo tim con, đốt gan ruột con. Con đã không đủ sức mở cửa quăng mình xuống mặc cho đất đang lao nhanh hơn gió về Nam dưới chân con; con đã mất hết trí khôn để hiểu rằng có thể lập tức kéo phanh hãm, tàu sẽ khựng lại và con sẽ an toàn nhảy xuống. Thưa cha, con đã đủ đê tiện để ngồi chết dí trên ghế, ngó sững người con gái vô danh đó lướt một lần qua mắt rồi ở lại mãi mãi trong tâm khảm con, bị vùi kín nghịt dưới một bầy đàn ông nhấp nhổm và hào hển giữa đồng hoang dọc theo đường ray. Thưa cha, con đã chỉ ngồi nhìn, chỉ ngồi nhìn thôi. Còn bây giờ, con phải đi, con phải đi, con phải đi, phải đi, thưa cha. Con phải đi. Vì chắc chắn ở nơi nào đó trên đời này, chặng nào đó trên đời con, con sẽ gặp người con gái nào đó, một người nào đó mà cuộc sống phụ thuộc hoàn toàn vào cái chết của con. Con đã sẵn sàng chết cho người, thưa cha.  

Thưa cha, con đang sẵn sàng chết đây; thế cũng có nghĩa là con đang sẵn sàng sống và sẽ sống đời đời, phải không cha? Cha đã từng dạy con cách sống; giờ con tự dạy mình cách chết. Có vậy con mới là kẻ trưởng thành, mới đáng là con người đứng giữa Trời Đất và nối liền Trời Đất, phải không cha?  

Đừng bao giờ lo lắng cho con, thưa cha. Hãy lấy làm vui rằng con đã bắt đầu học sống bằng trọn vẹn bản thân con và nhiều hơn bản thân con. Chính khi con rời bỏ cuộc sống mà con hằng xiết bao yêu thương là con yêu cõi đời này hơn bao giờ hết. Hãy hiểu và cầu phúc cho con, thưa cha.

------------

*Siddhartha:
1) Siddhartha, hay Weg nach Innen, tiểu thuyết của Hermann Hesse, bản dịch tiếng Việt Câu chuyện của dòng sông của Phùng Khánh và Phùng Thăng.
2) Siddhartha, trong phim The Little Buddha (Vị Tiểu Phật), với Keanu Reeve trong vai Thái tử Tất Đạt Đa.

Thứ Ba, 27 tháng 9, 2016

Samskara (hay Năm cô gái và người đàn ông)

(Một bước thử viết “tiểu thuyết huê tình” (erotic novel) của tôi, cách đây đã lâu, khi mới tốt nghiệp đại học. Bị bỏ dở nửa chừng, vì không đủ tự tin. 

Có nên viết tiếp chăng? Nếu có, tôi viết sẽ không như thế này. Vừa giống, vừa khác.)


Cuối cùng Ánh, Dung, Cúc, Hà và Hương đã đến nơi đó.

Họ dừng lại, do dự, trước cánh cửa mở.

- Sao ? Rốt cuộc chúng ta vẫn làm điều đó sao? - Hà nói.

- Phải, chúng ta sẽ làm.- Mặt đỏ bừng, Dung quay phắt lại một cách dữ dội, tóc đổ xòa xuống đôi bầu ngực căng tròn. - Chị còn hoài nghi điều đó sao?

Ánh lặng lẽ lần tay dọc những phiến tre mỏng manh ghép nên hàng rào khu vườn nhỏ của Chàng. Nàng không cười và không định pha trò hay trêu ghẹo ai, nhưng đôi má hây hây bầu bĩnh của nàng, ngọt mát và mềm như hai trái hồng chín lự, là hình ảnh một nụ cười đê mê đến nỗi người ta chợt khao khát đến lượt mình được hưởng niềm vui thần thánh đã nở hoa thành nụ cười đó. Áo bà ba mới chật căng, đôi bầu vú nàng chắc lẳn và tròn, cúc áo giữa chốc chốc bật tung vì sức căng tràn trề và mãnh liệt của chúng, và chốc chốc, má đỏ bừng, nàng quờ tay len lén cài nó lại, và động tác đó lặp đi lặp lại không dứt với tần số ngày càng tăng đến nỗi người ta lấy làm lạ sao nàng lại tự bắt mình khổ sở như thế ; hay nàng chịu đựng điều đó để mang lại cái gì dễ chịu và sung sướng cho những người nàng yêu?..

- Nhưng tại sao? tại sao chính là chúng ta? - Hà lại nói.

- Tại sao chính chúng ta - chứ không ai khác - phải làm điều đó? Thú thật tôi chưa hiểu các chị. Các chị thực sự tin mình có thể mang lại cái gì cho người đàn ông đó ư?

- Này, mày nói nhiều quá. - Hương đột ngột cắt ngang. Rất cao, mảnh dẻ, yêu kiều, đầy ánh sáng, nàng là hình mẫu tuyệt đẹp nhất mà ta có thể ao ước về tấm lưng thon dài thắt đáy mềm mại như dây bìm và uyển chuyển như rắn. Nụ cười nàng làm chết lặng trái tim vị Thiền sư minh triết nhất; giọng nói nàng hút cạn tâm hồn người nghe.

- Mày nói nhiều quá, - Hương lặp lại, má đỏ bừng như có lửa tự bên trong, và khoảnh khắc đó vẻ đẹp của nàng làm người ta đau nhói vì hiểu rằng thực ra nó mong manh và phù du biết bao! - Mày không thấy đơn giản là người ta lẳng lặng ra đi, âm thầm đến nơi này để tận tụy làm điều đó, không một lời băn khoăn, không một câu vòi vĩnh, không một tiếng thở dài. Mày làm chúng ta thất vọng quá. Rốt cuộc mày muốn gì?

- Tôi cũng không hiểu mình muốn gì. Nhưng... (Má Hà đỏ bừng)... tôi sợ. Giá như các chị đừng nói quá nhiều điều không tin nổi về người đàn ông đó!..

Tranh của Serge Marshennikov.

- Chị tưởng chúng tôi cũng tin được tất cả những điều đó sao? - Tầm thước, tròn trặn, đậm đà, làn da mịn đến mức nghe rõ máu chạy bên trong, hai bầu vú cao, nặng như cặp dừa và chắc như u trán con voi, hai bầu vú giết đàn ông, Cúc lên tiếng với giọng trầm từ trong ngực, đầy thuyết phục và dịu dàng. - Nhưng có điều gì ngăn cản chúng tôi - chúng tôi và chị - tự chứng nghiệm điều đó, bằng chính bản thân chúng ta? Tự dằn vặt với những thiên chấp và hoài nghi đó ích gì? Tâm hồn chúng ta (cũng như thể xác chúng ta) hãy trống rỗng, như lòng đại dương thuở Trái đất mới sinh thành, chưa có một giọt nước, không mong đợi gì, không ao ước gì. Hãy đón chàng và tất cả những gì chàng trao chúng ta như đón mặt trời; một cách thanh thản, hồn nhiên, một cách thành tâm. Tôi nói vậy rõ không?

- Chị không việc gì phải lên lớp tôi! Những gì chị nói đó, chính chị cũng hiểu không gì hơn là những lời nói. Trong chuyện này thì chị, tất cả các chị và tôi, chúng ta bình đẳng như nhau: chúng ta phải vượt qua chính mình, vượt qua tính vị ngã của bản thân chúng ta. Nhưng liệu kẻ đó, người đàn ông đó, chàng ta có hiểu, có cảm thông được cơn giằng xé, cuộc chấn động trong lòng chúng ta? Đó là điều tôi tha thiết muốn biết.

- Nhưng này, Hà yêu quý ơi, Hà muôn-vàn-cao-quý-của-tôi ơi! - Dung kéo dài giọng mơn trớn và ngọt ngào thế, rồi đột ngột nổ bùng lên, hất phũ phàng mái tóc nặng trĩu ra sau lưng khiến bộ ngực vĩ đại giật mình nẩy thót lên như hai con thú nhỏ trước động tĩnh báo hiệu kẻ thù. - Sự cảm thông và biết ơn của chàng là hệ trọng và thiêng liêng với cô đến thế kia à?! Một người mẹ thực sự có bao giờ hết yêu thương đứa con vô tâm và hư hỏng của mình không?

- Nói chi nhiều hở các chị! - mặt vẫn đỏ bừng như lửa cháy tự bên trong, Hương quắc mắt nhìn mọi người với ánh phẫn nộ như một làn roi điện khiến các cô gái hầu như rùng mình. - Cớ sao mày chưa xéo đi? - ngoảnh về Hà, mặt nàng vụt lạnh như đá và lời nàng buông ra như một gáo băng vừa lổn nhổn tan buốt đến đứt lìa ngón tay bạn. - Chọc tức và phá bĩnh chúng ta, mục đích duy nhất của mày đấy phỏng?

Hà (tái mặt) : Kìa, sao các chị giận dữ đến thế!!!

- Giận dữ ư! - Hương rít qua kẽ răng. - Giá tao thiêu cháy mày được bằng cái nhìn của tao...

- Sao không đánh tôi? Bạt tai tôi đi! Nắm tóc tôi, dập đầu tôi vào tường đi!

- Nào các chị, - Hương quay ngoắt đi, giọng bình thản một cách đáng sợ như khi lặng gió trước cơn giông. - Các chị vẫn tin mình sẽ vào chứ ?

- Thế còn nó ? - Dung hất hàm về phía Hà.

- Các chị ơi, đừng bỏ tôi! - Hà chợt rơm rớm nước mắt.

- Thế cơ à? - Hương dài giọng. - Những câu hỏi bất tận của mày đâu cả rồi?

- Vào đi, ta vào đi... - mãi bây giờ Ánh mới lên tiếng, giọng nàng êm dịu đến nỗi người ta phải bất giác nín thở sợ mình làm tan biến giấc mộng thiên giới đầy hoan lạc và siêu thực đó. Nút ngực nàng bung ra lần nữa, và mãi bây giờ Ánh mới không lặp lại cái động tác có vẻ thừa lạ lùng là cài nó lại.

(...)

Thứ Hai, 22 tháng 8, 2016

Huệ và tôi

(trích tiểu thuyết đang hoàn thành “Cospolist Nổi Loạn”)

Lần đầu tiên Huệ và tôi nói chuyện về các thế giới tưởng tượng hay hư cấu của tôi là vào một tối đầu đông ở Hà Nội.  
Tôi đang đánh răng, chuẩn bị đi ngủ thì cô gọi điện. Đi bar với em, cô nói. Tôi nhìn đồng hồ. Đã gần 11 giờ đêm, tuy nhiên sau một thời gian quen biết tôi đã bắt đầu quen với tính cô. Mỗi lần ta cố cưỡng lại cô là một lần ta bớt hiểu cô hơn một chút. OK, tôi nói, thầm vui vì đã kìm được thôi thúc muốn từ chối. Chúng tôi hẹn nhau ở quán bar Agorapolis, một nơi đã trở nên quen thuộc với tôi. Dĩ nhiên nếu không kể đến chuyện tôi chưa bao giờ quen được với khoảnh khắc thấy cô bước vào qua khung cửa chìm trong ánh sán màu tím nhạt ấy, cái khoảnh khắc đánh dấu bước chuyển của tôi sang một thế giới khác mà ở đó chuyện trụ vững được là khó khăn hơn nhiều.
Có lẽ tôi sẽ khó nhớ được lúc đó cuộc chuyện trò giữa chúng tôi đã bắt đầu như thế nào. Tôi chỉ có thể hồi tưởng rằng đến một lúc nào đó, hẳn là từ quãng một phần ba câu chuyện trở đi, Huệ đang nói về việc cha mẹ cô sợ nhất là sợ mình khác người. Họ là tiêu bản điển hình cho cái mà người ta hay mô tả là một phẩm tính đặc trưng của người Việt. Sợ sự khác biệt.
Tuy nhiên đó không phải là một trong các chủ đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của chúng tôi. Thực tế là, sau một chốc cả hai chúng tôi đã lại bị cuốn vào một trong vài chủ đề quen thuộc giữa chúng tôi: những giấc mơ và ảo giác hay linh thị của cô. Phải, bây giờ thì tôi có thể nói mình đã nhớ lại thực sự rõ. Chủ đề đầu tiên thực sự buộc hai chúng tôi phải đắm mình vào, dù chẳng phải vì nó thú vị hay gì, là chủ đề cha mẹ tôi và quan hệ hiện thời giữa tôi với mẹ tôi. Chúng tôi nói về cha tôi, người đã thất lạc/mất tích từ nhiều năm trước ở một vùng hoang mạc khó gọi tên gần biên giới Trung Quốc-Mông Cổ. Tôi nói về mẹ tôi và cái nhà hàng Việt Nam toàn món Huế ở thành phố Reykjavik xa xôi của bà, cái thành phố tôi luôn nghĩ mình sẽ tới nhưng trong thâm tâm biết mình sẽ không bao giờ tới, bởi cái khối thân xác to cao lừng lững của một lão già Thụy Điển dường như sẽ chắn giữa con đường từ tôi đến mẹ tôi cho đến muôn kiếp. Tôi nhớ Huệ đã tỏ ra chân thành quan tâm và cảm thông với nỗi cô đơn mà cô cho rằng chắc hẳn tôi phải kéo lê trong lòng một khi tôi là con của một người cha như thế và một người mẹ như thế. Tôi nhớ tôi đã phủ nhận sự tồn tại của một nỗi cô đơn như thế, nói rằng tôi không cô đơn, ít nhất là không cô đơn theo cách cô nghĩ. Đúng hơn, tôi đã học được cách rút dưỡng chất nuôi sự tồn tại của mình từ chính sự cô đơn đó, tình trạng không buộc ràng, không cội rễ đó, mặc dù điều này nói ra nghe có vẻ giả tạo và lên gân đến đâu. 
Về phần mình, đến một lúc Huệ lại bắt đầu nói về những giấc mơ của cô. Tôi không còn nhớ đích xác mối liên tưởng hay sự chuyển mạch nào đã làm cuộc trò chuyện của chúng tôi đi từ sự cô đơn - hoặc không cô đơn - của tôi sang những giấc mơ ấy, những giấc mơ mà ngay từ lần gặp thứ hai giữa chúng tôi cô đã bắt đầu hé lộ cho tôi, một cách hoàn toàn giản dị và tự nhiên, như thể cô đã sớm biết tôi vốn dĩ có dự phần trong đó. Cứ mỗi lần mơ như vậy rồi giật mình thức dậy, em lại cảm thấy như toàn bộ sức lực đã bị tháo sạch ra khỏi người mình qua một cái lỗ vô hình ở nửa thân dưới mình, Huệ nói. Và trong khi cô nói, tay trái cô vung lên phác một cử chỉ duyên dáng và mơ hồ, không dứt khoát, về phía chỗ nào đó quãng giữa rốn và chỗ kín của cô.
Lạ lắm anh à, Huệ nói. Cảm giác cứ như là sức sống của em, hay đúng hơn là sự sống của em, gần như toàn bộ sự sống của em đã ở lại với giấc mơ, làm như chính giấc mơ mới đúng là thực tại, còn cái thực tại nơi em vừa thức dậy này chẳng qua là một trạng thái không thật… ở đó em chẳng là gì hơn một cái vỏ rỗng, chỉ là một chuỗi đường viền ngoài không có bề dày, không trọng lượng, không thực chất… Thành thử theo nghĩa nào đó chắc là không thể nói rằng những giấc mơ ấy rút mất sức sống hay sự sống của em, mà đúng hơn là các giấc mơ ấy nhắc em rằng sự sống của em thật ra còn nằm ở những nơi khác, hoặc sự sống của em vừa ở nơi này vừa ở nơi kia, ranh giới giữa các giấc mơ đó với thực tại của em (cái nơi mà em nghĩ là thực tại của em) chẳng khác gì mấy so với ranh giới giữa nơi sương mù loãng hơn với nơi sương mù dày hơn, em cảm thấy thế, nói lại bằng lời thật là khó, em chỉ mong rằng những gì em vừa nói đủ giúp anh hình dung được phần nào đó những gì em cảm thấy.
Khi đó chúng tôi đã rời quán, quyết định tản bộ một hồi loanh quanh các phố trước khi vào lại một quán khác nếu thích. Chúng tôi lên ngay chiếc xe buýt đầu tiên ngẫu nhiên dừng lại chỗ chúng tôi đang đi tới, đó là một chiếc thuộc tuyến chạy về phía đông thành phố. Xe khá đông nên chúng tôi phải đứng. Tôi cố kìm nỗi thôi thúc trong vô thức muốn dịch chân mình ra một chút để không tiếp tục cọ vào lớp vải chiếc quần cô mặc thấm đẫm hơi ấm và sự mềm mại của da thịt cô.
Có lần em thấy em đi trên xe buýt như thế này, cô chợt nói, gió lùa qua cửa kính xe mở hé làm cho một món tóc cô lay động, hết che khuất gần trọn một bên má thì lại để lộ nó ra như để lộ một vầng sáng lạ. Tôi chú ý rằng cô không dùng chữ “nằm mơ”. Em đang đứng ở một chỗ gần như thế này, hoặc cũng có thể… (cô tỏ vẻ hơi do dự) cách đây hai ba dãy ghế, đằng kia… Em đang nhìn về phía cuối xe, chắc là ngẫu nhiên thôi, không nghĩ gì cả, thì bỗng nhiên thấy một khuôn mặt mà em nhận ra là mẹ em. Tuy rằng ngay lúc đó em đã tự nhủ đây không thực sự là khuôn mặt mẹ em, không phải là mẹ em trong thực tế, nhưng đồng thời em lại cảm thấy không thể nghi ngờ gì nữa, đó là mẹ em.
Lúc đó xe buýt đang đi trên một con đường khá rộng men theo bờ biển, chỉ cách mép nước chừng mươi mười lăm mét. Thoạt tiên em lấy làm lạ rằng Hà Nội làm gì có đoạn đường cao tốc chạy dọc bờ biển, nhưng rồi em quên ngay điều đó mà nhìn kỹ hơn quang cảnh biển đang mở ra trước mắt em. Phần lớn biển hoàn toàn tối thẫm, hình như lúc ấy đang đêm không trăng, cũng không có nhiều mây và sao trên trời, tuy nhiên, từng quãng, trong khi xe tiếp tục chạy, em thấy dường như khoảng biển ngay trước cửa sổ chỗ em ngồi sáng lóa lên một cách kỳ lạ… Kỳ dị.
Huệ đổi tay cầm dây đai, hồ như việc chuyển tay và chuyển trọng tâm cơ thể giúp cô có cảm giác bám chắc được hơn vào điều cô đang nói. Ánh sáng từ các tòa nhà và những ngọn đèn đường dọc theo vỉa hè tuôn vào qua cửa kính xe liên tục làm cho màu sắc và những mảng sáng tối trên mặt cô biến đổi; khuôn mặt cô, như ai đó có thể viết, “là/trở thành sân chơi cho một tấn tuồng ảo hóa vi diệu và khôn lường giữa ẩn và hiện, có và không”. Huệ đưa bàn tay đang rảnh lên vuốt món tóc đổ xuống hơi che khuất một bên mắt, trong khi bàn tay nắm dây đai có phần bất giác thả lỏng ra.
Ngay khi đó em không nghĩ ra được, không thể hình dung ánh sáng đó giống cái gì. Chỉ khi thức dậy được một hồi, khi đã trở về thực tại được đủ lâu để cảm thấy cái mình vừa trải qua thực sự là giấc mơ, em mới chợt liên tưởng tới những ngọn lửa bom napan mà có lần em thấy trên ti vi - chỉ có một chút lửa vàng rực, còn thì toàn khói trắng ngùn ngụt cuộn lên, không ra hình cái nấm và trông như tán một loài cây kỳ dị, loài cây ấy nó không có lá mà toàn bộ là bằng một thứ gì giống như cháo đặc. Em cũng không thật chắc bom napan cháy thực ra có giống thế không, chỉ là cái gì đó tỏa sáng từ trong lòng biển khiến trong đầu em hiện ra hình ảnh… mối liên tưởng như vậy.
Rồi sao nữa? tôi hỏi.
Nếu chỉ nghe kể như vừa rồi thì anh có thể có cảm giác như em rất chú ý đến cái ánh sáng lạ đó ở trong nước biển, Huệ tiếp, khẽ đưa mắt sang phía tôi. Nhưng thật ra suốt cả thời gian đó em vẫn quan tâm nhiều hơn đến người đàn bà mà em nhận ra là mẹ em, à, nhân thể, em quên chưa nói với anh, ấy là mẹ em lúc bà còn trẻ, chắc hẳn là chưa lấy chồng và chắc chắn chưa sinh ra em. Trông bà không quá hai mươi hai mốt tuổi, trẻ hơn cả em bây giờ.
Một ông béo ngồi cạnh Huệ lắng nghe chúng tôi - chủ yếu là Huệ - một cách lộ liễu, mặc dù rõ là ông ta không hiểu lắm những gì Huệ nói, không nắm bắt được cái mạch vô hình chạy bên dưới các lời lẽ, tình tiết, hình ảnh. Song hiển nhiên cái cuốn hút ông ta mạnh hơn hết mà không cần sự rõ ràng nào là bản thân Huệ.
Như em vừa nói, em chú ý chủ yếu là tới bà đó, nhất là từ lúc bỗng nhiên em nhận ra bà ấy dường như đang cười với em, không, bà ấy cười với em bằng ánh mắt, bằng cái gì đó tỏa ra từ bên trong bà thì đúng hơn, bởi vì đường nét miệng bà thì không thay đổi, không một cơ nào trên mặt bà cử động một cách rõ rệt cả.
Huệ lại đổi tay nắm dây đai. Mắt cô chớp chớp, đoạn cô khẽ nhíu mày, môi tự dưng dẩu ra. Tôi thích những lúc gương mặt cô có những biến đổi như vậy.
Thế rồi đúng vào thời điểm em cảm thấy mình nhận thức được nụ cười của bà ấy một cách rõ rệt hơn hết, rõ đến không thể nhầm được thì xe chạy qua một chặng khác ở đó biển đột ngột sáng lòa lên một cách khác hẳn trước đó, rực cả trời đất giống như là ánh chớp vậy. Như kiểu một ánh chớp không phải từ trên trời xuống mà từ dưới biển lên. Ánh chớp lóe lên trong nháy mắt thôi, nhưng sao nó lại gây ra nhiều thay đổi đến thế cơ chứ…
Huệ ngừng nói, nhìn đăm đăm vào một điểm khó xác định ngoài cửa sổ xe. Chúng tôi đang chui qua dưới cầu vượt chỗ giao nhau dẫn tới đường cao tốc đi Nội Bài, những dãy đèn đường cùng đèn pha các dòng xe sáng rực và uốn lượn như rắn. Tôi căng óc cố hình dung phần nào sự khác biệt giữa những ánh sáng đó với cái ánh sáng Huệ đang nhìn thấy.
Ánh sáng đó, nó… nói sao nhỉ, nó dường như nuốt chửng hết thảy sự vật, làm mọi thứ biến mất, tan hòa vào nó, chắc thế. Có thể đấy chỉ là ảo giác của em thôi, bởi sau khi nó tắt đi, mặc dù em vẫn còn như bị lóa mắt mất một lúc, song dần dần mọi vật quanh em lại hiện ra, giống như cũ, cái nào ở đâu thì ở đấy, những hàng lưng ghế, những cây cột, những khung cửa sổ, rồi thì những con người… khuôn mặt họ, gò má họ, vùng gáy họ, cánh tay họ, bả vai, lưng… Dường như không có gì thay đổi. Duy chỉ có…
Mẹ em, tôi nhẹ nhàng nói.
Bà không còn đó nữa, Huệ nói sau khi khẽ nuốt nước bọt, điều tôi cảm thấy hơn là nhìn thấy. Cô ngừng một chút, như băn khoăn không biết liệu mình có đủ sức nói ra được điều muốn nói không. Nhưng có lẽ đúng hơn phải nói là chỉ có mắt em mới không còn nhìn thấy bà… những đường nét, hình khối, màu sắc, những mảng sáng tối của thân thể hay là khuôn mặt bà thì không… Còn thì bằng cách nào đó em vẫn tiếp tục cảm thấy khá rõ sự hiện diện của bà ở ngay chỗ bà vừa biến mất, anh hiểu không? Cứ như thể đúng là bà đã biến thành không khí, nhưng là một thứ không khí hơi khác với không khí thường xung quanh, nó trong hơn, sáng hơn… có ý thức hơn, có lẽ là thế.
Người Anh có cách nói rằng một cái gì đó không sinh ra “từ không khí loãng” (from thin air), ý nói không phải tự dưng từ chỗ không thành có, tôi nói. Tuy nhiên vấn đề có lẽ không phải ở chỗ cái gì đó có thể hay không thể sinh ra, mà ở cách hiểu của chúng ta về cái gọi là không khí loãng ấy.
Nói đoạn, tôi vô tình chuyển cái nhìn sang ông béo và nhận thấy ông ta đang nhìn chòng chọc vào tôi bằng ánh mắt khó tả, như thể ông ta vừa muốn ngăn tôi làm gì đó vừa chờ đợi tôi làm gì đó. Với một ả đàn bà như thế này mà chú em cứ lảm nhảm những chuyện mông lung xa vời thế kia thì thật là…, tôi có thể diễn dịch nét mặt và cái nhìn của ông ta theo cách như vậy, dĩ nhiên là nếu như tôi muốn.
Chính tại khoảnh khắc đó, trong bầu khí quyển của những gì Huệ vừa nói tới hoặc đang hoài công gợi tới, và dưới cái nhìn của người đàn ông kia, sự xa lạ và không khoan nhượng sừng sững, có thật của nó, tôi đã bật ra với Huệ những lời đầu tiên về giấc mơ của tôi, những kẽ nứt và khe hở đầu tiên qua đó Huệ có thể bắt đầu thoáng thấy cái thế giới ẩn kín đằng sau lớp vỏ hay bức tường vốn là bề ngoài của tôi.
Trong cái ánh sáng không thể nhìn thấy đó của thứ mà hai chúng tôi chỉ có thể nhìn thấy trong tâm tưởng, tôi cố vẽ ra cho Huệ thấy những đường nét đầu tiên - ban đầu hãy còn gần như vô hình - của cái thế giới mà tôi vừa quyết định rằng mình nên và cần chia sẻ với cô. Tôi nói về cái thế giới mà những gì đầu tiên tôi nghe được, biết được là những ngôn ngữ người ta dùng để gọi tên nó và nói về nó. Xe đang tiếp tục bon tới những trạm dừng cuối, càng lúc càng nhanh bởi càng lúc dòng xe càng bớt dày đặc. Trên nền cái cảm giác chuyển động trong không gian này, sự chuyển động càng lúc càng dễ dàng và càng lúc càng tích tụ hủy diệt cũng như tự hủy diệt này, tôi nói với Huệ về việc tôi không bao giờ thực sự có cảm giác chính mình đã nghĩ ra - tạo ra - cái thế giới ấy. Đúng hơn là tự nó, theo một ý đồ tinh vi có sẵn từ trước mà cũng có thể hoàn toàn ngẫu hứng bốc đồng, nó đã tự hé lộ dần dần từng chút một cho tôi, và việc của tôi là nhận ra, nhớ ra nó.
Bàn tay tôi nắm dây đai nãy giờ đã bắt đầu mỏi, tôi đổi sang tay kia, tay trái. Tôi nhận thấy rằng trong thâm tâm tôi đang tự hỏi những gì mình vừa nói có hoàn toàn đúng như điều tôi thực sự cảm thấy không, hay liệu, bằng ngôn từ, tôi vừa mới sáng tạo ra một dị bản mới vừa giống lại vừa khác nó. Tôi đã không nói với Huệ rằng, trên thực tế, tôi không chỉ ghi lại những gì tôi nhớ ra về cái thế giới đó, những gì nó hé lộ nay một phần mai một mẩu cho tôi, mà đồng thời tôi cũng sửa đổi nó, bổ sung nó, tạo ra những mảng hoàn toàn của chính tôi đặng thế vào chỗ những phần tôi không nhớ ra, không nhìn ra được rõ ràng hoặc biết ngay từ đầu rằng mình sẽ không bao giờ truy xuất lại được. Trong khi tôi đắm mình trong suy nghĩ này, về sự bất lực của ngôn ngữ trong việc làm trung gian giữa cái ở trong tôi với cái ở ngoài tôi, Huệ đăm đăm nhìn tôi trong khi ông béo bắt đầu ngó chệch sang hướng khác, vẻ vừa lơ đãng vừa sốt ruột. Cuối cùng, không rõ có phải là một cách vô thức hay không, Huệ hơi nhích lại gần tôi, vừa đủ để bàn tay không nắm dây đai của cô chạm khẽ vào vai tôi.
Nếu anh từng làm mẹ, hoặc nếu anh có tình yêu thương sâu nặng đối với mẹ anh, thì chắc anh sẽ làm chủ tốt hơn cái trạng thái tâm thức ấy, cô nói.
Phải, lặng một thoáng tôi nói, tránh nhìn mắt cô, một cách vô thức, chắc vậy, không chỉ mắt cô mà cả mắt của ai đó, cái gì đó, tôi không thể nói được.
Nếu anh có thể cảm nhận được tâm trạng của một người mẹ có đứa con không bao giờ muốn thấy mặt mẹ mình, cảm thấy như thể đó tâm trạng của chính anh, thì em nghĩ anh sẽ thấy được gần hơn, rõ hơn cái anh đang có ở trong anh, Huệ nói tiếp.
Bất chợt tôi cảm thấy như có giọt nước lạnh giá vừa từ đâu đó lọt vào phần mỏng nhất bên trong tôi khiến chỗ đó lập tức se lại, trong khi ánh mắt Huệ hướng vào tôi - trong khoảnh khắc tôi bất giác nhìn lại cô - chừng như có chút thay đổi về sắc độ, tựa hồ trên đường đi của nó bây giờ có một chút nước.

*


Xe vào đến bến cuối, hầu như chỉ còn hai chúng tôi. Gã béo đã xuống từ một trạm trước, tôi biết rõ cái thời điểm đó, bởi vì như thể sức ép từ phía một trong các thực tại mà tôi sống vừa tạm thời thoái lui. Hai chúng tôi xuống xe, đứng lặng thinh đối diện trong chốc lát với cái mênh mông hoang vắng của quảng trường trước mặt Sân Vận động Quốc gia. Sự nguy hiểm khét tiếng ở khu vực này của thành phố khiến cho sự hoang vắng và trống lộng này nhuốm một sự khác biệt, có lẽ gần như một phần trăm giây cuối cùng được hãm chậm lại, kéo giãn ra thành vài phút cuối cùng trước khi một viên đạn từ nòng súng nào đó gặp phải trán ta và xuyên vào não ta, vài phút vô tận khi ta ngắm viên đạn nhích dần từng nanômét lại gần ta mà ta tuyệt không cưỡng lại được. Trong một thoáng tôi hối tiếc cái quyết định chọn chính tuyến xe này mà lên cùng Huệ, và như vậy tôi đứng đó, mười lăm hai mươi giây, nửa phút, một phút hoặc lâu hơn nhiều đối với tôi, trong khi tim tôi chuyển sang một nhịp khác hẳn, chậm hơn nhiều, có những thời điểm chậm đến mức tưởng như tim đã ngừng đập, trước và trong sự hoang vắng lừa mị và hung hiểm này, bên cạnh một trong những cô gái đáng cho anh sống nhất và đáng cho anh chết nhất, với một thực thể đang lớn lên không ngừng bên trong tôi, tạm thời hãy còn sơ khai và chưa thật rõ hình hài song càng lúc càng chắc chắn là lúc nào đó không xa sẽ làm nứt căng tôi, vỡ toác tôi ra nếu tôi không làm ngay một cái gì đó.
Chẳng cần phải nói về những bất trắc, hiểm họa, tai ương vân vân có thể xảy ra với tôi và Huệ, trước hết và chủ yếu là Huệ, tại nơi đó vào giờ phút ấy. Tôi cũng sẽ không nói nhiều về vết rách của tôi, vết rách giữa cái ở ngoài tôi mà tôi muốn ôm trọn, gồm thâu vào trong mình, và cái ở trong tôi mà tôi muốn mở ra, muốn giải phóng ra. Cho đến bây giờ, nhớ lại đêm đó, tôi vẫn tiếp tục cảm thấy nó không có thật. Nhưng có lẽ điều đó cũng là thích đáng, sao cho sức nặng của nó bên trong tôi vừa đủ để tôi có thể chịu được. Tôi đã định còn quanh co nữa trước khi cảm thấy mình có thể nói ra điều mà trước sau gì tôi cũng phải nói, cho dẫu đó là điều không thể nói, cho dẫu nó thực sự là thế, cho dẫu nói xong thì tôi cũng không còn sức để tiếp tục thở trên đời này. Tuy nhiên tôi biết câu tôi vừa nói xong là dối trá, một cách vô ích và vô lối, bởi không ai khác biết rõ hơn tôi rằng dẫu nói đi nói lại chuyện này đến trăm lần ngàn lần - nếu nhất thiết phải thế - thì tôi cũng chẳng chết được: tôi sẽ sống, bởi chỉ những gì tôi sẽ làm, những gì sẽ diễn ra sau khi tôi nói ra chuyện đó mới thực sự đáng kể.
Tôi không nói với Huệ điều tôi đang nhìn thấy hay cảm nhận trước, điều mà tôi hiểu Huệ cũng đang thấy hay cảm nhận, hiểu qua ánh mắt cô, qua vẻ bình thản không thể lay chuyển của cô, qua mái tóc dày phủ kín lưng cô ánh lên một ánh sáng đen ngời rạng trong bóng tối. Tôi đề nghị với cô bằng giọng giản dị, điềm tĩnh, dứt khoát, giọng tốt nhất tôi có thể có lúc đó: Mình đi khỏi đây thôi, Huệ.
Trong khi nói thế, tôi nhìn vào mắt Huệ mà hiểu rằng chúng tôi sẽ chẳng đi đâu hết. Trong ánh nhìn của cô có cái gì đó, mạnh như hai cánh tay đàn ông rắn chắc nhất, giữ tôi lại. Sự quyết liệt, hòa lẫn với một nỗi mệt mỏi sâu xa mà hẳn cô không giấu nổi dù muốn giấu, khiến cho mắt cô giống như mắt một người đàn bà chấp nhận chết vì việc mình sẽ làm. Nhưng khi cô nói, giọng cô khẽ và điềm nhiên, như khi chúng tôi ngồi trong thư viện trường cô giữa bốn bề toàn sách, ánh sáng dịu mắt và sự yên tĩnh.
Thư thả nào. Anh đã bao giờ đứng nơi đây, vào giờ này, trước cảnh vắng ngắt không một bóng người như thế này chưa? Đúng ở mấy từ “như thế này chưa” giọng cô bắt đầu nhuốm một âm sắc sinh động, phấn khích, giống như đứa trẻ bắt đầu thực sự tiết lộ về một cuộc phiêu lưu bí mật của mình.
Và cô càng nói, một nụ cười càng bắt đầu nở ra, lộ rõ trên môi cô, giống như cái nháy mắt và bàn tay khẽ vẫy đầy vẻ đồng lõa với ai đó hoặc gì đó vô hình trong không khí, tuy có chút ưu tư, như thể mãi đến giờ cô mới nhớ ra sự hiện hữu của người hoặc vật này. Trong nháy mắt tôi lại có cái cảm giác quen thuộc là mới nhìn thấy cô lần đầu tiên, một con người tôi chưa từng thấy ở cô, nhưng ngay sau đó trong tâm trí tôi trở lại hình ảnh Huệ tự rứt tung mấy cúc áo mình trên sàn nhảy Nihil Grande, với khuôn mặt vừa biểu cảm một cách khó tả thành lời vừa bất động đến ghê người như một cái mặt nạ kịch Noh, và tôi hiểu rằng con người này, giống như bản thân thế giới, bao hàm nhiều tầng thực tại không ngừng vượt ra khỏi tầm thu nhận của tôi. Rồi thì một cái đau, không quá đột ngột nhưng buốt nhói, bừng lên trong ngực tôi, nó liên quan tới một điều mà tôi biết mình có thể hiểu được nếu muốn.
Anh chưa tận mắt thấy cảnh này bao giờ phải không? cô nói, liếc sang tôi, rồi lập tức lại xoay cái nhìn ra phía trước. Xem kìa, khẽ chớp mắt cô nói, như đứa trẻ vừa sợ vừa muốn đánh thức một cái chưa biết song hoàn toàn có thể dự cảm được. Vắng thế này mới thực là vắng chứ! cô tiếp. Nghe cô nói vậy, tự dưng tôi ngứa ngáy muốn nói gì đó, và chưa kịp nhận ra thì nó đã bật khỏi miệng tôi, “Chắc đối với em thì nó không vắng thế đâu”. Đồng thời tôi cảm thấy như có luồng gió lạnh quét qua người tôi, giữa khi trong đầu tôi lóe lên cái gì đó như dự cảm về những gì chỉ mình Huệ thấy được trong khoảng không này dù tối hay không tối.
Để chặn lại cái gì đó mà tôi không ý thức được, tôi lập tức nói tiếp,
Dù sao đi nữa theo anh mình nên đi khỏi đây. Anh không sợ những gì anh không nhìn thấy, ít nhất là không sợ chừng nào có em. Anh chỉ không muốn có bất trắc nào xảy ra với hai đứa mình, trước hết là với em, từ những sinh vật bằng xương bằng thịt mà ta dễ dàng nhìn thấy. Cảnh vắng vẻ này - tôi ngừng một thoáng, khoát tay một vòng ra trước mặt - thật bất thường quá. Câu nói này rõ là để che giấu nỗi bứt rứt mà tôi đột ngột cảm thấy: tôi biết mình vừa nói dối. Bóng tối rỗng không, khoảng không gian mà tôi không chắc có phải là nơi sự sống và sau-sự-sống hòa lẫn vào nhau hay chăng, nếu có thì như thế nào và ở mức độ nào, tôi không thể nói về nó một cách dễ dàng và ít suy nghĩ như vậy.
Thế anh vẫn cho rằng em thì không sợ những cái chỉ mình em thấy sao, Huệ nói. Nếu là một người khác thì câu đó hẳn đã được thốt ra bằng giọng gay gắt, hoặc đanh lạnh khô khan hoặc tấm tức thế nào đó, nhưng với bản tính của mình Huệ nói ra một cách điềm tĩnh và nhu mì. Trong đáy cặp mắt rất đen của cô, tôi nhìn thấy cái bóng tối mà tôi chưa bao giờ cảm thấy mình đủ sức bước qua. Mép tôi bắt đầu khẽ giật. Tôi không nghĩ đến việc kìm nó lại, trong khi tôi tiếp tục nhìn sâu vào mắt cô khoảng hai, ba giây, cố chuyển thành lời những ý nghĩ đang xoay tít mù trong tâm trí tôi. Nhưng tôi quyết định im lặng. Tôi hít một hơi dài, kìm giữ tâm trạng mình, và nói giản dị, Sẽ không đáng sợ đến thế đâu, chúng ta có hai người.
Có những điều chúng ta không thể làm gì để thay đổi cả dù chúng ta có bao nhiêu người đi chăng nữa, Huệ nói khẽ, thôi không nhìn tôi.
Em đang thấy gì? tôi hỏi, gần như thì thầm. Và rồi, trong nháy mắt, một cái gì đó đanh rắn, tối tăm vụt hiện ngang qua mặt cô, như có một cánh cửa chắn sáng vừa sập xuống giữa tôi với cô rồi lập tức giật lên hoặc biến mất. Sao lúc nào anh cũng ở bên em vậy? Anh về đi, cô nói, bằng giọng vừa phải song hơi gắt, một chút gay gắt mà tôi nghe thấy lần đầu ở cô. Và ngay sau đó, như ngạc nhiên và bối rối về chính mình, cô chìa tay trái, khẽ chạm mấy đầu ngón lên mu bàn tay tôi.
Không, anh cứ ở đây với em, cô nói, và lúc đó tôi nhận thấy mắt cô, khác với trước đây vài mươi giây, bắt đầu rân rấn ướt.

*

Không lời đáp nào theo sau câu hỏi này của tôi. Huệ lại quay ra nhìn phía trước bằng cặp mắt rân rấn ướt ấy, dường như không còn biết có tôi ở đó. Nhìn cô, một ý nghĩ bóp chặt tim tôi, rằng một trong những việc tôi cần làm nhất trên cõi đời là làm sao cho những điều trông thấy đừng khiến con người này quá đau đớn. Đồng thời, đâu đó sâu bên trong tôi dậy lên cái gì đó như một nỗi xót xa dằng dặc, giống nỗi cồn cào khi nhớ lại thân thể người yêu dấu vừa mới khuất - chưa bao giờ tôi muốn ghì lấy người đứng trước mặt tôi đến như vậy, ghì cho đến từng lỗ chân lông ở những nơi gần như chưa bao giờ lộ ra dưới ánh mặt trời của thân thể cô, từng góc khuất và nếp gấp hay khúc cuộn khó dò của tâm trí cô.
Dù em thấy gì đi nữa thì cũng hãy nhìn thấy anh, nhớ rằng có anh đây, tôi nói. Đồng thời, một cách tự nhiên, tôi nắm lấy tay Huệ.
Bàn tay Huệ vừa ấm vừa lạnh, ẩm, chắc và mềm, gần gụi và xa cách trong tay tôi. Cảm giác nắm bàn tay ấy trong tâm trí tôi có lẽ cũng giống như cảm giác nắm tay một người thân đã mất từ lâu của mình trong thứ dịch vụ hiện thực ảo nào đó mà một người bạn tôi từng nếm qua và kể cho tôi. Con người mà ta xiết bao yêu thương đang đứng trước mặt ta, bàn tay vật chất của họ ta đang riết chặt trong năm đầu ngón tay vật chất của mình, mũi ta nghe thấy - như nghe thấy - mùi mồ hôi, mùi dầu gội, mùi nước hoa, mùi tóc quen thuộc của người ấy, không khí trên da ta thấm đượm hơi ấm của thân xác người ấy, tuy nhiên ở góc nào đó thuộc phần phía sau của tâm trí ta vẫn thường trực cái điểm ý thức chói sáng, dai dẳng, không thể dập tắt, tỉnh giác một cách vô lối, nhắc nhở ta không ngừng rằng cái giấc mơ ban ngày do con người tạo dựng ra này, cái thực tại giả mà chúng ta đang khao khát gấp nhiều lần thực tại “có thật” này, nó có thể biến mất trong nháy mắt ngay lúc này, tuyệt không lưu vết, nếu có một người khác muốn như thế, bằng một cử động nhỏ của ngón tay, hoặc bằng một câu khẽ với cái hệ phần mềm đã được lập trình để hiểu lập tức các lệnh bằng giọng nói con người.
Tôi siết mạnh hơn tay Huệ, đến nỗi bình thường ra hẳn cô đã phải kêu lên vì đau. Nhưng cái cô đang nhìn mạnh hơn tôi. Tôi nghe thấy tim cô như đang thắt lại thông qua bàn tay mà tôi đang siết chặt. Và từ trong cô, một cái gì đó vô hình đang phóng chiếu ra sự hiện hữu của nó, sự hiện hữu mà tôi sờ thấy được qua xúc giác và cảm nhận được bằng chỗ nào đó ở phần sau cơ thể tôi.
Và như vậy, trong tâm thế đó, dưới thứ ánh sáng dữ dội ập xuống từ những ngọn đèn cao áp treo cao đến phi lý và mạnh đến phi lý xung quanh Sân Vận động Quốc gia, tôi nhìn thấy Huệ mà dần dần cảm thấy mình đang nhìn một người khác, một thực thể khác vừa hé lộ từ một vùng của thực tại mà cho tới giờ vẫn ngoài phạm vi tiếp nhận của tôi. Những đường cong cặp má bầu của cô chuyển thành cái gì đó sâu và lừa mị hơn nhiều so với nó trước kia, và tôi nhận ra rằng nếu ngay bây giờ Huệ biến mất trước mắt tôi như thể từ đầu đến giờ thật ra cô chỉ là một ảo ảnh, hoặc nếu cô đột ngột chuyển hóa thành một hình dạng khác mà tôi không thể hình dung, tôi sẽ không ngạc nhiên. Tôi quan sát cô một hồi, không nghĩ gì, không chờ đợi gì. Huệ không chuyển hóa, không biến mất, chỉ có hai dòng nước mắt bắt đầu chảy xuống dọc hai má cô.
(...)