Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013

Faínâhind-Arrobauth-Mattai (trích tiểu thuyết)


Nheo mắt nhìn ánh sáng nóng dịu tỏa ra từ đống than âm ỉ cháy có màu gần giống mặt trời mới mọc, Faínâhind nói:
“Bài hát của dân Shwevakenara, có câu gì về đá girin ấy, nó như thế nào, Ăltâhind?”
Ăltâhind nói:
“Là thế này, thưa cô.”
Và cô bắt đầu hát bằng giọng kim lanh lảnh, có một cạnh sắc rõ rệt hơn và một mặt êm, mềm, ẩn kín hơn:

Khi tôi cất cao tiếng hát tràn ngập niềm vui
Tự bên kia bờ chàng nhìn tôi say đắm
Ngực chàng tựa đá girin xanh thẫm.
Chàng không biết tôi, song chàng biết rõ như tôi
Rằng chàng với tôi, ai đã là kẻ mạnh.

Ở đây Ăltâhind dừng lại, như thể luôn luôn biết rõ Faínâhind muốn cô hát đến đâu là vừa, im lặng đến đâu là đủ. Và rồi, giữa chừng quãng lặng nối theo sau câu hát cuối cùng của Ăltâhind, khi dư âm vô thanh của nó đang tiếp tục làm rung động những gờ vách mỏng mảnh của tâm hồn người, Arrobauth cất giọng, bình thản và khô khốc, nói.
“Bài hát của ngươi nghe khá hay đó, bằng tiếng Bongora. Song ngươi có cho rằng nó sẽ hơi rúm ró lại nếu nó phải chuyển sang tiếng Siră Kăntânări của bọn ta, theo lệnh của bọn ta, hay không? Ta e rằng bất cứ bài hát Bongora nào, khi bị chuyển sang tiếng Siră Kăntânări, đều sẽ lộ nguyên hình là quá thừa chất lỏng chất nhầy, thừa mỡ, nhưng lại rất thiếu xương, thiếu cơ bắp rắn, thiếu gân, thiếu máu. Ngươi có nghĩ thế không, tên dân xứ Bongora?”
Ngồi trong một góc xa hơn, tối hơn của tấm thảm dài, Mattai thong thả ngẩng đầu lên, không để một cái gì từ bên trong mình lộ ra trên mặt chàng, khuôn mặt đang làm nền cho trò hoán vị và biến đổi không ngừng của vô số sắc độ khác nhau giữa ánh sáng và bóng tối.
“Arrobauth bạn ta đây là con người quá thừa kiêu hãnh,” Faínâhind nói. “Giữa đêm khuya, nếu lắng tai, ngươi có thể nghe thấy các vì sao thì thầm trong khi kính cẩn đợi lúc chàng ta quyết định lên giường ngủ. Máu trong huyết quản chàng ta chảy chậm gấp đôi máu trong huyết quản ngươi, không phải một cách lờ đờ uể oải, mà một cách đường bệ và cao nhã. Này Mattai, hãy coi chừng chàng ta.”
“Phải, máu người Bongora chảy nhanh hơn và dễ đổ ra ngoài hơn so với máu Siră Kăntânărî,” chậm rãi, sau một hồi lặng im “như quả xoài chín rụng trong vườn”, Mattai nói. “Máu chúng tôi chảy càng nhanh và đổ ra ngoài càng nhiều thì chúng tôi học được càng sâu sắc hơn về niềm tôn kính đối với sự sống. Ngài nói đúng, thưa Arrobauth Rất Mực Tôn Quý. Cơ thể Bongora luôn luôn thiếu máu; máu nó nằm ở bên ngoài nó cũng nhiều ngang với ở bên trong nó. Người Bongora chúng tôi, từ trong bản chất, lớn hơn nhiều so với người Siră Kăntânărî. Chúng tôi có cả vũ trụ này là cơ thể lớn của mình; chúng tôi rướn ra ngoài vũ trụ nhiều hơn, bởi chúng tôi cảm thấy thiếu cái cơ thể lớn hơn kia một cách mạnh mẽ hơn so với các ngài. Với người Siră Kăntânărî, bản thân các ngài là đủ lớn để các ngài mãn nguyện và ngưỡng phục. Người Bongora chúng tôi nhường điều đó cho các ngài. Nó không dành cho chúng tôi.”
“Người Bongora các ngươi không hổ danh là những kẻ hơi quá lớn so với thân phận mình,” Arrobauth nói, cười nhạt. “Ta không lạ rằng các ngươi nằm trong số những giống dân bịa chuyện giỏi nhất trên thế gian. Thêu dệt nên từ trí tưởng tượng giống như loài ngựa hoang của các ngươi những câu chuyện không có thật, hòng mua vui cho đám phàm nhân chẳng biết làm gì hơn để sống qua những giờ những ngày những tháng những năm rảnh rỗi của đời mình và lấp đầy khoảng trống không gì lấp nổi bên trong mình, đó là việc tốt nhất nòi giống các ngươi đủ khả năng làm, niềm tự hào duy nhất của các ngươi, di sản tinh thần độc nhất - độc nhất và hèn mọn - của các ngươi. Các ngươi biết rõ rằng các bậc đế vương và những người quyền thế, những người thuộc dòng dõi tôn quý, họ thích thú câu chuyện của các ngươi chứ không thích thú bản thân các ngươi. Nàng công chúa mê mẩn là mê mẩn tiếng hót con họa mi chứ không mê mẩn đống phân của nó. Ta ưa là ưa trái tim con chim trĩ, ta không cần phải ưa những thứ hạt tầm thường mà con chim trĩ ăn. Bản thân ta, người Siră Kăntânărî, thì khác. Ta có cần phải nói về điều đó không?”
Sau khi Arrobauth dừng lời, có một thoáng im lặng, rồi Faínâhind nói.
“Này Mattai! Ta biết rõ và đánh giá cao khả năng ứng đáp của ngươi. Tuy nhiên ngươi có cho rằng, vào lúc này, thay vì lại nói, ngươi hát một bài thì tốt hơn không? ‘Một đêm nghe anh hát hơn mười năm cùng anh trò chuyện’, người Bongora có câu như thế, theo ta nhớ.”
Nàng ngừng nói, và, sau khi thấy Mattai lặng một thoáng, đồng thời nhận ra một cái gì đó đang tự kìm nén, phập phồng trong im lặng này, nàng quay sang Arrobauth với vẻ điềm nhiên và đường hoàng nhất nàng có, rồi nàng hướng về phía những người còn lại, cao giọng nói.
“Mattai đây là người biết rõ hơn ai hết khi nào thì một bài hát về tình yêu không được đền đáp là đáng được nghe hơn khúc tráng ca của một chiến binh. Những lời đanh thép nhất của chàng ta luôn tự biết khi nào chúng phải nhường chỗ trong khí trời và trong trái tim con người cho tiếng của con chim đầu tiên hót lúc rạng ngày. Ta có nói quá không, Mattai?”
Sau khi một quãng lặng dài hơn vài nhịp tim trôi qua, Mattai ôn tồn và đĩnh đạc nói.
“Những bài hát hay nhất và những lời đẹp nhất trên thế gian đáng được cất lên và đáng được sinh ra dù chỉ vì lý do duy nhất là có cô nương Faínâhind hiện hữu. Nếu ngày tháng của tôi cho phép, tôi chẳng tiếc gì mà không cho bao nhiêu bài hát cùng bao nhiêu lời ấy tuôn hết cả qua tôi mà về với cô nương như trăm sông đổ về biển, chúng không làm biển đầy hơn và biển không làm chúng vơi đi, chẳng qua sông thì đi về biển, âu đó là cơ đồ của vạn vật. Trong cái cơ đồ ấy, tôi là lòng sông đầy bùn, cũng như tôi là bầu không khí qua đó biển ban sức sống và cảm hứng cho sông trong hình dạng những cơn mưa. Kẻ hát những bài hát này và nói những lời này là những cái bóng vô hình không tên, không tồn tại tự thân. Kẻ như tôi tuyệt không có lý do gì để được người đời biết và nhớ tới, đúng như Arrobauth đại nhân nói. Chúng tôi chẳng có lý do gì để đòi tồn tại song song với tinh túy của tâm hồn chứa đựng trong chúng tôi và lưu chuyển qua chúng tôi. Chúng tôi là mạch máu, lý do tồn tại duy nhất của chúng tôi là để máu không đổ tràn trên cỏ.”
Và, ngừng một nhịp, chàng hát.

Và hãy ném cho tôi miếng bánh
Khi máu nóng đổ tràn trên cỏ
Gió qua kẽ núi
Mưa tưới đồng bằng
Ối a!
Kìa hãy ném cho tôi miếng bánh.

Trong im lặng sau đó, Faínâhind bình thản nhìn Arrobauth.
Nghiêm trang vỗ tay ba lần, hai nhặt một khoan, không quá nhẹ và không quá mạnh, Arrobauth lạnh nhạt nói.
“Ta từng nghe bài này. Ta cũng thích nó một chút đó. Ồ, nhưng có thể ta nhớ lầm. Có thể ta vừa định nói tới một bài khác, được coi là khác, dẫu cho nó có gì đấy giống hệt. Giống ở cái gì, để ta nghĩ một chút. Máu. Dĩ nhiên. Giống ở chỗ máu. Những chữ và những cung bậc khiến người ta cảm thấy máu của chính mình đang chảy ra ngoài, như nước bẩn rút ra khỏi lỗ thoát trong bồn tắm. Đó là thứ tinh túy của tâm hồn mà ngươi ám chỉ, phải không Mattai. Cái thứ tinh túy có thể hiện hữu dưới muôn ức triệu dạng thức và điệu thể khác nhau song kỳ cùng ra thì vẫn là nó và chỉ dành cho những con mắt cái tai nào biết nhận ra nó. Các ngươi, dẫu biết muôn triệu bài hát tưởng như khác biệt, các ngươi có khi nào chuyển tải được cái gì khác thế đâu, đúng không, hở tên Bongora. Chẳng lấy gì làm nhiều nhặn cái gọi là tinh túy của tâm hồn mà ngươi nhắc tới với vẻ trang trọng tức cười và ngây thơ kia. Và toàn bộ tài khéo của các ngươi, tất thảy tinh túy của tim óc các ngươi nằm ở chỗ trưng ra cái dúm chả lấy gì làm nhiều nhặn kia dưới nhiều, thật nhiều dạng thức khác nhau, tạo ra bức màn hư ảo trá ngụy về một cõi thế gian phồn phức, muôn mặt. Các ngươi ăn nhờ vào sự thích thú của đám đông - mà vốn dĩ tầm vóc tâm trí chẳng lớn hơn con ngan con vịt - trước cái vẻ ngoài phồn phức đa tạp kia, các ngươi kể một điều và làm mọi cách để làm điều đó có vẻ như mới mẻ, đồng thời giấu đi, bít đi, ỉm đi cái sự thực rằng điều đó từng được nói rồi, cho dù bằng lời lẽ khác hay không. Các ngươi sợ đến phát ốm với ý nghĩ rằng một ai đó, khi nghe những gì từ miệng các ngươi, sẽ cảm thấy những thứ này mình đã nghe đâu đó rồi, đã biết rồi, quen thuộc lắm rồi, tuy rằng từ lúc nào, bằng cách nào thì chưa thể nhớ ra được.” 
“Arrobauth đại nhân của chúng ta là người khó tính và đầy lý tưởng,” Faínâhind nói. “Nghe một khúc nhạc, xem một vở kịch, nhìn một bức tranh, chàng ta dùng đầu nhiều hơn là tai, mắt, ruột và tim. Chàng ta nhận định và phán xét trước khi cười và khóc, thay cho cười và khóc. Cái đó đôi khi ta ngưỡng mộ, có khi ta cũng thích. Còn ngươi, Mattai, hẳn ngươi biết hơn ta ngươi làm gì là tốt nhất lúc này. Ngươi biết cách tạo nên một bầu khí khác, một cõi khác trong giây lát, vậy sao ngươi không làm vậy đi? Nếu không phải là máu tràn trên cỏ và trong làn gió ta nghe nơi vách mũi thì đó sẽ là gì đây?”
Và Mattai, thoáng cười, bắt đầu hát.

Có cô gái kia ra chỗ dòng sông
Mẹ hỡi, xin cho con đôi mắt
Cho con đôi cánh chim ưng
Để con bay đi tìm chàng trai của lòng con
Thế là dòng sông cho cô đôi cánh chim ưng
Cho cô đôi mắt chim ưng
Thế là cô bay đi
Tìm chàng trai yêu dấu của lòng cô.

Lặng một hồi, cho đến khi âm hưởng cuối cùng của bài hát lắng đi như muối tan vào trong máu, Mattai nói.
“Để Arrobauth đại nhân không phải băn khoăn, tôi xin nói rằng bài hát này chắc hẳn đại nhân từng nghe, dẫu là qua quá nhiều con đường và dạng thức trung gian đến nỗi giờ đây đại nhân dẫu có muốn cũng không thể nào nhớ ra nguồn cội nguyên thủy của nó. Đó là bài “Malka Moma” của một nữ nhân tên Neli người xứ Bulgaria ở Terra, cái thế giới mà nghe nói không một ai trong chúng ta từng đặt chân tới và sẽ đặt chân tới song dẫu vậy vẫn hiện diện cùng chúng ta trong từng khoảnh khắc, từng hơi thở, cái bóng của chúng ta đổ vào trong lòng chính mình. Những bài hát của Neli, cũng như bản thân hiện hữu của nàng, chẳng khác gì tia nắng đầu tiên, ngọn gió đầu tiên, làn bụi nước đầu tiên của thế giới vào ngày đầu tiên sau khi thế giới sinh thành; không cách nào và không bao giờ chúng tôi có thể như nàng và hát giống nàng được. Dẫu vậy, không phải vì điều đó mà chúng tôi không hát nàng thông qua chúng tôi, không sống nàng bằng sự sống của chúng tôi. Và cho dẫu khi tôi hát

Khi người ta mang quả táo về
Trên cành con ong treo cổ
Và tôi đứng dựa tường này
Khóc

thì cứ để ai đó nghe ra trong đấy âm vang một cái gì họ từng nghe, có thể trong một cuộc đời khác hoặc trong một giấc mơ hay một giấc mơ trong một giấc mơ; cái mà với ai đó là tiếng vọng hoặc dư âm hoặc im lặng nối liền theo một dư âm thì với chúng tôi là âm thanh nguyên tuyền; tiếng nói nguyên tuyền của một phần nào đó của vũ trụ, một kết hợp khác ngẫu nhiên và không thể khác trong cơ đồ của Tạo hóa, cái cơ đồ mà theo đó tiếng nói nguyên tuyền của một ai đấy rất có thể chỉ là tiếng vọng của một cái gì thân quen đối với chúng tôi, tuy nhiên còn có gì giản dị hơn thế: mỗi chúng ta vừa là máu thịt và tiếng nói nguyên tuyền vừa là hình bóng và tiếng vang của chính mình và của nhau, đối với chính mình và đối với nhau. Việc của chúng tôi không gì hơn là cất lên thành lời, tạo hình hài cho sự xoắn xuýt không rời hòa quyện bất phân này giữa bóng và thân, giữa thanh âm nguyên thủy và tiếng vọng. Chúng tôi tự hào rằng mình hiện hữu, độ lớn của chúng tôi được đo bằng độ dài mối liên thông bất tận ấy giữa mọi vật và mọi sinh thể.”
Trong quãng lặng dài sau đó, chỉ còn nghe tiếng lách tách phát ra từ một cái gì đang chuyển hóa bên trong ngọn lửa mà đám gia nhân chăm chút không để tàn, và một cái gì đó cất lên tiếng nói không thanh âm, không đòi được lắng nghe, song, hoàn toàn tự nhiên, tâm trí con người nghe thấy nó.
Arrobauth nói.
“Kărâdángy, một trong các sư phụ ta ở Börâkhon, chắc chắn sẽ nhận ngươi làm môn sinh mà không cần phải sát hạch ngươi như đã sát hạch ta.” Chàng cười nhạt. “Bằng cái lưỡi sẵn có của ngươi, được mài bén và luyện dẻo đến mức tột cùng nhờ những năm dài siêng năng tập tành dưới sự trông nom của Thầy, ngươi sẽ chỉ cần dùng đôi lời để biến vị anh hùng thành kẻ đớn hèn, người tận trung thành tên phản phúc, đứa con hiếu thảo thành phường phá gia chi tử. Và dĩ nhiên, ngược lại cũng vậy. Ngươi đang khiến ta bắt đầu cảm thấy mình kém cỏi và bé mọn bởi ta không có khả năng nhìn thấy Hình của ngươi ở trong ta và Hình của ta ở trong ngươi. Cái khả năng mà hình như ngươi có, hử. Ta đang tự hỏi liệu ta có cần phải tự hỏi điều đó không. Cái cảm giác tự thấy mình lớn ở mi, nó có đáng để ta phải dành một góc tâm trí ta cho nó trong chốc lát trà dư tửu hậu hay không, hở tên Bongora?”
Tiếng vỗ tay chậm rãi, gồm nhiều nhịp cách đều nhau của Faínâhind như xé rách dần bầu không khí thẳng căng và đáng lẽ đã im lặng.
Faínâhind nói.
“Arrobauth của ta luôn khắc nghiệt với thế giới cho dù chàng ta yêu thế giới, hay là, chà, điều này ta mới nghĩ ra thôi: hay chính vì chàng ta yêu thế giới. Này Mattai tội nghiệp! Nếu ngươi tin chắc hay đinh ninh hay cảm thấy rằng Arrobauth đây không yêu những bài hát đi qua mồm ngươi, không yêu những linh hồn trú ngụ trong các bài hát đó và lưu chuyển thông qua chúng thì ngươi lầm. Arrobauth biết vũ trụ này đủ lớn để chàng ta phải luôn mở rộng mình hứng lấy và ôm chứa nó. Nếu ngươi có cảm thấy chàng ta rẻ rúng ngươi và nghệ thuật của ngươi, hãy coi đó là một biểu hiện của tình yêu. Ngươi chưa bao giờ biết tới gã đàn ông nào rẻ rúng ả đàn bà hắn yêu hơn hết sao? Bản chất của sự luyến ái giữa đàn bà và đàn ông không thể khó lường đến mức ấy ru? Ta không tin rằng những bài hát của ngươi không ôm chứa cả điều đó.”
Im lặng một chút, Mattai nói.
“Tôi chưa bao giờ nói rằng những gì tôi cảm thấy trong lòng mình đối với Arrobauth đại nhân không phải là một biểu hiện của tình yêu. Cũng bằng cách đó tôi yêu vẻ đẹp và sức mạnh của một tia sét khi nó tỏa những cành nhánh ảo diệu và chết chóc của nó trên bầu trời. Có một điều khắc sâu trong tâm trí những người kể chuyện chúng tôi, hay đúng hơn tâm trí chúng tôi được tạo hình dựa trên tinh túy của điều này: mọi hành vi sáng tạo đều là một hành vi của tình yêu. Dù cho tình yêu ấy trộn chung với cái gì đi nữa, và do đó có vẻ ngoài khác với tình yêu đến thế nào đi nữa, song, nếu ta đón nhận nó bằng cái tâm rộng mở, không phân biệt, cách đón nhận mà tự thân nó cũng là một hành vi của tình yêu, thì ta sẽ nhận ra nó.
“Mỗi lần chúng tôi hát một bài hát, và có một người đón nhận nó vào trong tâm khảm mình, là thêm một hành vi của tình yêu được thực hiện và viên thành. Mỗi lần một hành vi của tình yêu đó hiện hữu, chúng ta cảm thấy nó trong xương tủy mình, và ngay khi đó ta ngộ ra rằng bí mật của hiện hữu thật ra là rất giản dị: ngay khi đó cái chết có thể tới, không còn gì ngăn trở giữa nó với sự sống của chúng ta nữa. Cái chúng ta vừa cho ra đời là đủ để chúng ta không cần sống nữa.”
“Phải, toàn bộ sự sống của mi vừa vặn ngang giá với khoảnh khắc mi khiến kẻ khác phải nhỏ lệ, mơ màng hoặc cười ré lên,” Arrobauth nói, với một nụ cười mà chàng muốn người ta phải hiểu là độ lượng. Nói đoạn, chàng nhìn chằm chằm vào đôi mắt bình thản của Mattai, bình thản và sâu như đáy một vịnh kín. “Thôi được,” sau một chốc ngắn chàng nói. “Ta sẽ nói rõ hơn, để mi không hiểu lầm ý ta, với cái đầu nhỏ nhặt và chật hẹp của mi.
“Mi có biết chuyện Oglosméten và ngón đàn thần diệu hoặc quái dị của hắn ta chứ? Rằng từ tiếng đàn của hắn hồn ma các dũng sĩ và chiến binh tử trận lại hiện về sát vai cùng các chiến hữu còn sống đặng tiếp tục cuộc giao tranh kéo dài mãi mãi không dứt với những kẻ thù xứ Kinka hùng mạnh như chính Chúa Trời? Phải nói ngay với mi rằng ta không tin cái khía cạnh huyền hoặc ma mị của câu chuyện đó. Ta, một kẻ đầy lý trí và xây dựng phẩm giá của mình dựa trên lý trí, ta chỉ chấp nhận những sự thật nào không bị che đậy hoặc tự che đậy trước mắt ta. Ta nói thêm như thế để cho mi, kẻ có thể sâu sắc hơn nhưng nhất định là u mê hơn ta, chớ có bị cái bầu khí tối tăm u huyễn của câu chuyện đó lay động hoặc lôi cuốn mi, mà hãy tập trung vào một và chỉ một điểm cốt yếu: phải chăng làm sống lại những kiếp sống đã chấm dứt bằng cách đó, dựng người chết dậy và tiếp tục sử dụng họ, cho đến khi không cần tới họ nữa thì để họ nằm xuống lại và tiếp tục chết, phải chăng đó là điều tốt nhất cái nòi những kẻ như ngươi có thể làm? Linh hồn một ả đàn bà sống cách đây ngàn năm, hay một đứa con gái ở Terra, cái thế giới không-thể-nào-tới-được như mi nói, nó sống dậy, động đậy, làm rung động, làm đắm đuối, làm nức nở. Đúng. Trong một khoảnh khắc. Một khoảnh khắc tương giao với vô tận, như mi nói. Đúng, có thể. Song, khi khoảnh khắc đó đi qua rồi, cái còn lại là tất cả các khoảnh khắc khác, và cuộc đời thực của chúng ta hợp thành từ các khoảnh khắc ấy, dù có cái một-khoảnh-khắc kia hay không. Chẳng phải thế ru? Mi có thể nói gì thì nói, và nói một cách đầy sức mạnh, cao nhã, minh triết, ừ, quả có thế thật. Thế nhưng, một sự thực khác mà mi không nói, ta đây nói, và không một cái gì từ mi mà ra có thể làm thay đổi hay động tới nó đâu: Với thế giới này, cái thế giới  ta, của ta, bởi ta, cho ta, mi và những kẻ như mi không là gì khác ngoài một hạng người chuyên mua vui bằng cách dựng cái chết thành cái sống và buộc người ta nhận đó là cái sống. Làm ra sự sống đích thực là việc quá khó khăn và quá lớn lao so với bọn mi. Ta coi là bạn ta và bằng vai phải lứa với ta những người làm việc để đắp nên từng dặm đường lát đá của Đế quốc, làm ra từng cái cúc áo đẹp mà ta mân mê trong ngón tay ta, đưa tới cho ta những quả nho mà ta chậm rãi, trang trọng cho vào mồm từng quả một, dâng lên ta từng mũi tên mà ta âu yếm cho thoát khỏi cánh cung, lấp loáng dưới nắng rồi tìm đến đúng chỗ thịt mềm của một con chim và hân hoan hối hả ngập sâu vào đó.
“Dĩ nhiên,” chàng giơ một tay lên như để ngăn lại một lời đáp lại trước khi nó được thốt ra, trước khi ai đó kịp nghĩ rằng mình sẽ thốt ra. “Dĩ nhiên ta biết, mi hay ai đó như mi sẽ nói, như ai đó ta không nhớ tên và không cần nhớ tên, từng nói, rằng những bài hát của bọn mi, tiếng cười, giọt nước mắt, giấc mơ ngày, nỗi xáo động, cơn thắt ruột mà bọn mi khơi nên ở những kẻ lắng nghe bọn mi, tất cả đều là những hình thái khác nhau của một vương quốc bị lãng quên, cái vương quốc đã từ lâu không tìm được chỗ cho mình trong cái thế giới của những lo toan tủn mủn thường nhật và lạc thú chóng tàn. Ô hô, ta hiểu mi lắm. Ta hiểu mi hơn mi tưởng nhiều, phải không. A ha, ta rất hiểu mi, mặc dù ta khác mi, chính bởi vì ta khác mi, chính vì vậy mà ta mới khác mi. Ha, chính vậy đó: ta khinh mi, dù biết hay không biết rằng theo nghĩa nào đó mi cũng có thể giàu có và sâu xa hơn ta.  Trong cái thế giới chúng ta đang tồn tại đây, chẳng có điều gì tự nhiên và hợp lẽ hơn thế. Khinh miệt mi và những kẻ cùng nòi giống với mi là một trong những cái làm nên phẩm tính của ta, chẳng khác nào chạy nhanh là phẩm tính của con ngựa và tàn độc là phẩm tính của loài rắn bé tí xinh xẻo mà mi thấy đang cuộn mình ngoan ngoãn và u sầu trong bình rượu này của ta. Ừ đấy, mi nói nữa đi, nói cho đến hơi thở sau bét của mi nếu mi muốn, về những vũ trụ mà dường như mi và bọn như mi có khả năng tạo ra còn ta thì không, vũ trụ của những thứ thực sự sống hoặc vờ sống hoặc chết mà như sống hoặc sống nhưng khó nhận ra đến nỗi chả khác gì không sống, đó là việc của mi. Còn ta, cái vũ trụ thực sự có và thực sự đang sống này, ta đang có nó trong tay ta, trên ta, dưới ta, xung quanh ta, bên trong ta, nó là của ta, nó  ta, và ở trong đó, mi, một thứ ở bên dưới ta, mi không có khả năng gì tác động tới ta được. Cơ đồ của vũ trụ đã được an bài theo cách đó. Mi cựa quậy, vùng vẫy, khua khoắng nhặng xị lên trong cái xó của mi, cái xó khiêm nhường nhất giữa những xó khiêm nhường nhất, cố công làm đẹp làm giàu thêm cái thế gian này theo cách của mi, theo cách hiểu của đầu óc mi về chuyện thế nào là cái đẹp và sự giàu có. Cứ làm thế đi, không ai cấm mi. Song khi nào ta, Arrobauth, công dân đế quốc Siră Kăntânări, ta cất lời với mi về chuyện thực ra mi và cái mi làm ra đang nằm ở đâu trong thế giới này thì mi phải lắng nghe ta và hiểu đúng cái điều ta muốn mi hiểu. Có một khoảng cách thường tồn, không thể vượt qua giữa ta với mi. Dù mi có ở đâu, làm gì, hát gì, nói gì, nghĩ gì, đừng bao giờ quên mất cái khoảng hẹp đó, nơi duy nhất mi được phép đứng.”
Có một quãng lặng ngắn trong đó dường như vạn sự trong vũ trụ đã khép lại thay vì mở ra. Thế rồi, điềm tĩnh, dường như vừa thân mật vừa châm biếm, giọng Faínâhind cất lên.
“Nào Mattai. Miệng lưỡi và thần trí của ngươi đâu rồi?”