Thứ Ba, 30 tháng 10, 2018

Asrimkhan và Mattai (trích từ “Cospolist Nổi Loạn”)

Một trong những tuyến truyện chính của “Cospolist Nổi Loạn”, tiểu thuyết đang gần hoàn tất của tôi, diễn ra trên hành tinh Gurun, một hành tinh vừa rất khác vừa giống một cách lạ lùng với hành tinh Trái đất. Một trong những phần mà tôi viết với nhiều cảm hứng hơn hết. 

... Ngọn gió mang vị mặn của muối từ vịnh Sgîrmyt thổi tới lấp đầy mũi và lưỡi tôi, tuy không quyện với mùi hăng hăng cay cay của rừng thông giống như ngọn gió từ biển Thangali trên bãi biển thời thơ ấu của tôi, song vẫn mang lại cho tôi hoài niệm mơ hồ và khẽ nhói về một chốn quê nhà tôi không biết rõ và không bao giờ đến được. Hoài niệm đó dường như chỉ càng sắc nhọn hơn bởi cái lạnh của biển phương Bắc vẫn chưa thể ấm lên dù đã sang tới tháng thứ hai của mùa hè. Tiếng kêu của lũ mòng biển chao liệng trên những ngọn sóng dồi nghe như cũng lảnh lói hơn so với tiếng mòng biển mà tôi để lại ở quê nhà Bongora; đối với tôi, dường như một chút âm sắc cao hơn đó là kết quả một hành động của Thượng đế, Người đã điểm thêm nó vào tiếng mòng biển Bongora vốn quen thuộc với tôi, như người thợ-nghệ sĩ bồi thêm một nhát dao cuối cùng, cực nhẹ, lên đường cong vốn đã hoàn hảo của một gợn sóng trên bức phù điêu. Bằng cách đó Người thông báo với tôi rằng Người có mặt bên tôi, như Người vẫn hằng có mặt ở mọi nơi, dù con đường tôi chọn không hợp ý Người đi chăng nữa. Cho dù tôi có làm những việc mà trong mắt người đời là vô đạo, Người biết rằng tôi luôn luôn hướng đến Người, đi trên con đường Người đã định sẵn cho riêng tôi, tiến tới cái hạn kỳ để vượt qua Người, cái hạn kỳ mà chính Người không rõ. Chỉ cần cái biết đó của Người là đủ với tôi.

Kẻ nào đó giẫm lạo xạo lên mặt cát sau lưng tôi. Duy chỉ một kẻ vừa luôn luôn e dè vừa luôn luôn khao khát như Mattai thì mới có bước chân vừa âm thầm vừa dằn mạnh như thế. Tôi đợi một hồi, lắng nghe sự im lặng xuất hiện sau khi những tiếng chân đã ngừng, sự im lặng như một dải khói chừng như đã bị gió ù ù thổi nuốt gọn và làm tiêu biến tức thì song kỳ thực vẫn lẩn quất, còn nguyên đó, như một sợi chỉ vô hình căng thẳng giữa hai chúng tôi. Chầm chậm, tôi ngoái lại nhìn hắn, mái tóc dài của hắn rối bời, bay loạn lên trong làn gió đột ngột trở mạnh. Và tôi nhớ lại một câu của Imshawi, đại ý rằng một mái tóc bay trong gió ẩn chứa sự định tĩnh và chiếm ngự của riêng nó.

Asrimkhan nhìn tôi với cái nhìn mà như có kẻ nói “khiến người ta run rẩy” tuy đứng trước nó tôi không run rẩy. Thì vâng, cứ cho là tôi luôn luôn trong thế sẵn sàng rơi vào trạng thái run rẩy thích hợp bất cứ khi nào cảm thấy cái nhìn của Asrimkhan sắp hướng vào tôi. Trạng thái run rẩy đó hợp với tôi và đúng là tôi đến nỗi tôi không tự nhận ra nó, cũng như người ta không bao giờ có thể nhìn thấy mắt của chính mình trừ phi soi xuống nước hay nhìn vào một cái gương. Phải, tôi là hiện thân của trạng thái run rẩy mà thế giới này cảm thấy mỗi khi nó là đối tượng nhìn của Asrimkhan; nếu điều đó là sự thật thì tôi hạnh phúc vì nó.

Thêm chú thích
Asrimkhalan, anh có lạnh không? tôi nói.

Mi, kẻ sinh ra ở xứ Üganlar nơi người ta nghe nói tới tuyết cũng như gã mù bẩm sinh nghe nói tới màu xanh của biển trong mắt người con gái đẹp. Cái lạnh này chưa làm cái củ của mi teo quắt lại như bộ ngực mụ phù thủy già khú đế đó chớ?

Đó là tất cả những gì Asrimkhan nói với tôi trước khi ngoảnh đi, tiếp tục nhìn ra biển, quay lưng lại tôi, như thể tôi không hề có mặt. 

Tôi nói:

Asrimkhan tôn quý! Có nhiều cái ở tôi không bao giờ có thể teo đi được chừng nào tôi còn ở bên anh.

Tôi cảm thấy không cần phải nói thêm rằng mọi cái của tôi là của Asrimkhan bất cứ khi nào chàng cần tới.

Ngừng một chút, tôi nói:

Bữa sáng đã dọn. Ta cần lên đường sớm, Asrimkhan.

Tốt lắm, sau một lát chàng nói, không ngoái lại nhìn tôi. Tôi đã quá quen với việc không thể nhìn thẳng vào mắt Asrimkhan khi nói chuyện với chàng đến nỗi mỗi khi muốn nói điều gì mới là tôi lại tìm gáy của Asrimkhan và hướng lời của tôi vào đó, như thể chàng có một cái tai vô hình ở đấy dành riêng cho tôi. Tôi chưa bao giờ cảm thấy cái gọi là “phẩm giá bị hạ thấp” khi chỉ có thể nói chuyện với tấm lưng của Asrimkhan, mặc dù tôi cũng chưa bao giờ coi đó là dấu hiệu của một thứ đặc ân mà Asrimkhan dành riêng cho tôi. Đơn giản đó là cách duy nhất để tạo thành và duy trì mối tương giao liên kết giữa chúng tôi, cách duy nhất, không giống bất cứ cách nào khác, nó khiến cho hai chúng tôi, khi ở bên nhau, khác biệt với toàn thế giới, tách ra ngoài thế giới.

Tôi càng yên tâm hơn về điều đó bởi biết rằng ở đâu đó trên kia, trong cõi tiên thiên có một cặp sinh thể đang hiện hữu, giống hệt chúng tôi nhưng hoàn hảo hơn chúng tôi, và, bằng cách sống trọn vẹn mỗi ngày trên thế giới này, Asrimkhan và tôi đang nhích dần từng tí một về phía hai sinh thể toàn hảo đó. Con đường hướng thượng với mục tiêu duy nhất này là số phận của chúng tôi.

Do vậy mà, chẳng hạn những khi hai chúng tôi đi trên đường, tôi thường hát những bài hát từ trong đáy lòng tôi, dù Asrimkhan không bao giờ tỏ ra là có để tâm lắng nghe, nhưng tôi biết, một phần cái nghiệp của tôi là làm đầy không gian quanh Asrimkhan bằng những gì được tạo nên từ cảm xúc và tâm hồn tôi; với Asrimkhan, tôi có thể làm được bất cứ điều gì còn hơn thế.

Mẹ ơi, đừng khóc
Con sẽ về đừng khóc mẹ ơi
Dù đi xa bao nhiêu chăng nữa
Con sẽ về
Đùi mẹ đâu, cho con gối, mẹ ơi.

Tôi hát như thế mà nghĩ đến chuyện Asrimkhan không bao giờ biết mẹ chàng là ai.

(còn tiếp)

@Trần Tiễn Cao Đăng

Thứ Ba, 9 tháng 10, 2018

Chuyện Gaucho Bi Bự Khoái Mắm Tôm (một đoạn trích khác)

("Chuyện Gaucho Bi Bự Khoái Mắm Tôm": một truyện lẽ ra được in trong tập "Những gặp gỡ không thể có" của tôi nhưng đã không được in.)

... Những người hỏi cung đám nghi phạm thảy đều mặc thường phục: họ chính là nhân viên tòa soạn - phóng viên, biên tập viên, nhiếp ảnh gia, thợ dàn trang, bảo vệ, kế toán, lái xe, lao công. Khi Lãnh Tụ cần đến họ (họ thì nói là khi Tổ quốc và nhân dân cần đến họ), họ sẵn sàng và ngay lập tức trở thành thẩm vấn viên, mẫn cán và hữu hiệu đến mức vượt ngoài mọi mong đợi của Lãnh Tụ - chẳng phải là Lãnh Tụ từng có lúc nói trực tiếp, cụ thể với họ về những gì Ngài mong đợi ở họ song trên thực tế Ngài chưa hề làm vậy, Ngài không có thì giờ, chỉ là tự họ hình dung ra những mong đợi ấy và tự mình vượt qua nó. Tôi khoái nhất là một tay nhỏ thó điển trai, bê đê, họa sĩ thiết kế, sau khi dùng búa cỡ bự đóng trọn một cây bút chì hai mươi phân vào lỗ tai một ông già để ông già phải trả lời “Có” cho một câu hỏi của cậu ta, liền đi ra ban công, rửa tay cho sạch máu, lau tay thật khô, xong thì ngồi thụp xuống vuốt ve ba con mèo con đang bò lổm ngổm trong cái thùng các tông đặt nơi góc ban công, ba con mèo con bị ai đó vứt nơi bãi rác mà cậu ta lượm đem về. Tôi cũng khoái, ở mức độ gần như thế, tay tổng biên tập, một lão sáu mươi, béo tốt xởi lởi khiến tôi hình dung ra một ông chủ hội chợ lưu động chuyên vòng vòng các tỉnh lẻ, ông này cấm tiệt tất cả nhân viên của mình không được chửi thề trong khi làm phận sự cho dù những người bị thẩm vấn có chửi họ bằng những lời tục tằn đến đâu đi nữa, vì đau hoặc vì phẫn uất hoặc vì điên hoặc vì cả ba. Nhưng thường thì những người bị thẩm vấn - nghi can phản loạn vân vân - không thể chửi thề hay có những cách phát ngôn tương tự được bao lâu; rất nhanh sau đó họ câm tịt, đó là khi ngay cả một tiếng “Có” hoặc “Không” họ cũng gần như không nói nổi, thở cũng thiếu điều không thở nổi. Và không cần phải nói, cùng lúc với những đợt bắt bớ và thẩm vấn đại quy mô này diễn ra, biên chế nữ giới thuộc các Trung tâm Cải huấn dưới quyền điều hành trực tiếp của Lãnh Tụ tăng lên theo cấp số nhân. Cơ hội ngàn năm có một của hàng chục vạn đàn ông tham gia công tác chính quyền! Những người còn lại, những ai không được đưa thẳng từ tòa soạn Nhân dân Tự do hay các địa điểm tương tự đến các trung tâm cải huấn thì sẽ từ đó được chở tới sở cảnh sát trong tư cách là “những phần tử chống đối/phản loạn/lật đổ/khủng bố đã được thẩm vấn sơ bộ và về cơ bản đã thành khẩn cung khai và nhận tội.” Ban đầu cảnh sát còn nhận những người này, song về sau, khi số lượng họ tăng lên chóng mặt thì cảnh sát trả lời: “Chúng tôi nhận bọn này làm gì kia chớ.” “Vậy chúng tôi phải làm gì với tụi nó?” người của tòa soạn hỏi. “Làm sao bọn tôi biết được,” cảnh sát nói. “Tùy mấy anh. Đem vất xuống sông đi.” Tưởng cần nói thêm: tất cả nhân viên tòa soạn, khi tiến hành các cuộc vây ráp bắt giữ, cũng mặc thường phục như khi tiến hành thẩm vấn - họ không tìm đặng khoác lên mình bất cứ thứ sắc phục nào, cũng không mang bất cứ một thứ dấu hiệu nào trên người để phân biệt mình với những kẻ bị tình nghi và với thường dân, và họ lấy đó làm kiêu hãnh: “Chúng tôi là những công dân khiêm tốn đang làm hết sức mình để góp phần duy trì ổn định và trật tự xã hội, tức là lợi ích chung.”

"The seven deadly sins", tranh của Otto Dix (1933)

Tôi đã chứng kiến không dưới một chuyến trút người xuống sông như thế. Một cảnh chả đẹp đẽ gì, đúng vậy, thế nhưng xin hỏi: chỉ thích nhìn thấy những gì đẹp đẽ thì có phải là tính cách của Ricardito không? Và có chi lạ không nếu Ricardito kể tiếp, kể rõ ra rằng nó đã có giúp các nhân viên tòa soạn mẫn cán nọ một tay, khênh mấy cái xác lên (gọi là xác thì không hẳn đúng vì khi chúng tôi sờ vào thì nhiều cái trong số đó còn thở, còn cục cựa, còn rên, thậm chí còn chửi rủa và/hoặc van xin được, tuy nhiên chỉ chút xíu nữa thôi là sẽ thực sự trở thành xác, thành ra ngay lúc này mà gọi là xác thì xét cho cùng chả có chi khác cả), một hai ba đòng đưa thảy lên xe, rồi lát sau khênh xuống một hai ba đòng đưa thảy xuống sông, và khi đã xong xuôi hết cả thì đứng nhìn mặt nước hãy còn chưa hết xao động mà suy tư (thực sự thâm trầm!) về sự nhỏ nhoi vô nghĩa và về sự thảm hại đến cười bể bụng của kiếp người. Đêm đó không trăng. Khúc sông đó không đèn, song tôi có thể hình dung rõ mồn một mấy chục cái xác ấy như mấy chục cái bao ni lông chứa rác lùm lùm đen thủi đen thui lục tục nối nhau theo làn nước đen thủi đen thui tiến về phía hạ lưu, chốc chốc lại châu vào nhau, đụng nhau, miết qua nhau, tách nhau ra rồi lại châu vào nhau lại đụng nhau lại miết qua nhau, quấn quít khó lìa.

(...)

Bản quyền của Trần Tiễn Cao Đăng