Thứ Hai, 24 tháng 7, 2017

Heo và virút (hay Tự sự của một di dân III)

Trong số những phần mà bản thân tôi tâm đắc nhất ở tiểu thuyết “Life Navigator 25: người tình của cả thế gian” của tôi có các Phụ lục về những Di dân.

Di dân ở đây là những người Trái đất (không nhiều) có được cơ may thoát khỏi Trái đất, vốn đã trở thành một nơi không thể ở được, để tìm cuộc sống mới ở các thuộc địa mà con người đã kịp lập ra bên ngoài Trái đất. Một tương lai đáng buồn cho loài người, dĩ nhiên. Tuy vậy, những phần này sẽ không thực sự đáng đọc nếu như trong đó người ta chỉ thấy vấn đề từ một điểm nhìn, chỉ nghe các giọng nói từ một phía.

Phần dưới đây, và một số phần khác, là nỗ lực của tôi để hình dung - để nắm bắt - vấn đề từ một điểm nhìn khác, qua giọng nói từ một phía khác. Không phải từ điểm nhìn và qua giọng nói của những người thấp cổ bé họng, những kẻ thua thiệt - vốn là những người mà tôi, với tư cách tác giả và như một cá nhân, đồng cảm một cách tự nhiên. Mà từ điểm nhìn và qua giọng nói của một người thuộc “phe chiến thắng”, một thành viên của tầng lớp thiểu số nắm phần lớn của cải của thế giới và, do đó thực sự cầm chịch thế giới - kể cả và nhất là khi thế giới đó trong một cơn khủng hoảng tối hậu như là Tận thế.


Tôi sinh ra trong một gia đình thuộc tầng lớp cao nhất, không chỉ của nước tôi mà của cả nhân loại. Nhờ có điều này mà, ngay từ khi bắt đầu nhận thức được về thế giới, tôi đã biết một điều hiển nhiên. Rằng quyền lực, thứ quyền lực cao nhất có thể có trên thế giới, là thuộc về tôi. Như không khí và ánh mặt trời đương nhiên thuộc về tôi. Và tôi biết tôi xứng đáng với nó - kẻ nào không biết giá trị thực của mình thì không thích hợp để tồn tại lâu dài trên thế giới này. Không một giây nào trong đời tôi, kể cả trong giấc mơ, mà tôi không nhớ rằng tôi tồn tại là để làm những việc nhân loại chưa ai làm được, đến những nơi nhân loại chưa ai đến được theo nghĩa đen và nghĩa bóng, làm chủ những thứ mà nhân loại chưa ai làm chủ được.

Đó là vận mệnh của tôi. Bản mệnh của tôi.

Tôi kế thừa và học hỏi điều đó từ cha mẹ tôi. Cha tôi - những người sống cùng thời với tôi chắc chắn biết ông là ai, là người như thế nào, còn kẻ nào sống trước thời của tôi thì đương nhiên không thể biết ông và điều đó là đáng tiếc cho họ. Có lẽ tôi chỉ cần nói thế này. Cha tôi nằm trong số ít, rất ít những người mà, bằng tài trí và ý chí của mình, làm thay đổi thế giới theo ý ông muốn. Cha tôi là người đã góp phần quyết định để cho Mạng Tâm trí Toàn cầu (Global Mind Network, GMN) trở nên khả thi và năng sản về mặt thương mại. Những ai sống trước thời của chúng tôi sẽ không có khả năng biết GMN là gì. Cùng lắm họ chỉ có thể hình dung một cách thô thiển rằng nó là cái gì đó giống như mạng máy tính toàn cầu, tuy nhiên thay vì các máy tính và các thiết bị đi cùng (hub, switch, vân vân) thì là các bộ óc người (có thể là óc theo nghĩa đen hoặc có thể là óc đã được tối ưu hóa bằng công nghệ, song, để cho đơn giản, hãy hình dung đó là óc theo nghĩa đen mà thôi) và thiết bị đi cùng. Thật ra, bất cứ ai đủ nhạy cảm và tinh tế thì sẽ hiểu đây chỉ là một phép so sánh hết sức tương đối. Nó tương đối chẳng khác gì so sánh một virtual human (người ảo) vốn chỉ tồn tại trong GMN với một hồn ma. Nhưng điều này thì nhất định ai cũng có thể hiểu: sự ra đời của máy vi tính, của hệ điều hành Windows cùng các hệ tương đương và của mạng internet toàn cầu đã làm thế giới vào cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 thay đổi triệt để như thế nào, thì sự ra đời Mạng Tâm trí Toàn cầu vào giữa thế kỷ của chúng tôi cũng làm thế giới thay đổi triệt để như thế ấy. Nó chứng tỏ rằng năng lực tự đổi mới mình của loài người là vô tận. Nó chứng tỏ rằng khả năng của trí tuệ con người là vô hạn. Khoa học giả tưởng của hôm qua là thực tại ngày hôm nay. Mục đích tối hậu của sự hiện hữu của loài người trong vũ trụ là đạt tới chỗ làm Chúa Trời của chính mình, làm ra những thứ mà Chúa Trời kia chưa bao giờ làm ra, và kể cả quyết định những chuyện mà Chúa Trời kia không tự mình quyết định. Chẳng hạn, về sự tồn vong của Trái đất. Sinh mệnh của Trái đất. Con người chỉ thật sự là mình khi họ có khả năng quyết định số phận trái đất của mình, cho sống là sống, cho chết là chết. Như Thượng đế từng làm khi quyết định gây ra Hồng thủy. Khi quyết định thiêu hủy Sodom và Gomorrah. Con người chỉ thật sự là con người khi họ đã vượt qua được cái rào cản tâm lý luôn luôn tự buộc mình phải mang một nghĩa vụ bất di bất dịch nào đó. Tỉ như nghĩa vụ giữ gìn cái nôi sinh ra họ, trái đất. Nếu cái nôi ấy trở nên quá chật hẹp đối với họ, không còn đủ cho họ nữa cho dù họ đã cố sức thu gọn chính mình lại đến mấy, và một khi họ đã ý thức được đầy đủ về điều đó rồi, thì họ sẽ chỉ là chính mình nếu như họ đủ dũng khí và đủ sáng suốt để nhìn nhận và chấp nhận rằng nghĩa vụ đúng đắn nhất và duy nhất của họ trong trường hợp hay hoàn cảnh ấy là phá tung cái nôi ấy, một lần một, dứt khoát, và chuyển sang chốn ở khác phù hợp hơn. Chốn ở khác đó là do họ tìm ra hay do họ tự làm ra, đó không phải điều quan trọng nhất. Chỉ cần có một chốn ở khác, loài người vẫn tiếp tục tồn tại, thế là đủ. Và đó, đó chính là điều thiện.

Và khi tôi nói loài người vẫn tiếp tục tồn tại, tôi muốn nói một phần nhất định của loài người, chứ không phải toàn bộ loài người. Thời nào chẳng vậy, và giống loài nào chẳng vậy: sau một cơn đại biến, chỉ một phần của loài là sống sót, tiếp tục tồn tại. Dĩ nhiên, đó là bộ phận có khả năng thích nghi và sinh tồn lớn nhất. Nói cách khác, bộ phận ưu tú nhất, mạnh nhất. Và chẳng lẽ vì đó chỉ là một phần của cái loài từng có trước kia - một phần rất nhỏ của nó - mà người ta có thể nói rằng về cơ bản loài đó không còn tồn tại sao? Chỉ cần còn lại một cặp nam nữ duy nhất của loài người, loài người vẫn còn. Như thế là ít sao? Chúng tôi không phải chính là loài người sao?

Chúng tôi còn sống, thế là không đủ để nói rằng loài người vẫn đang còn đó sao?
Cần phải có mấy tỷ người kia vẫn đang còn sống cùng với chúng tôi thì chúng tôi mới có quyền tự coi mình là loài người sao?

Hồi tôi nhỏ xíu, bốn tuổi gì đó, cha tôi bắt đầu cho tôi dự các cuộc họp giữa cha và cấp dưới của ông bàn về các kế hoạch cứu trợ người nghèo trên khắp thế giới. Tôi vẫn nhớ rõ, như mới hôm qua, rằng ngay từ lần đầu tiên có mặt ở một cuộc họp như thế tôi đã có thể hiểu ngay lập tức người ta đang nói chuyện gì. Vấn đề đó từ đâu ra. Bản chất của nó. Tầm quan trọng của nó. Tại sao phải giải quyết nó. Tại sao không thể không giải quyết nó. Cách gì để giải quyết nó tốt hơn là những cách khác. Giải quyết nó sao cho không phương hại đến một số thứ khác. Nói gọn, tôi hiểu tất cả những gì cần phải hiểu liên quan đến các cuộc họp đó, mà không phải đợi người lớn giải thích. Cha tôi không cần giải thích với tôi một câu. Ông chỉ cần cho tôi ngồi đó, có mặt và nghe, thế là tôi hiểu cả, và ông biết trước như thế. Và tôi chỉ mới bốn tuổi lúc đó. Có thể ai đó thấy khó tin, nhưng sự thật là vậy. Tôi không phải thiên tài. Tôi không phải người có thiên tư đặc biệt hay trí thông minh hơn người. Tôi là một cá nhân bình thường tiêu biểu cho dòng giống của tôi. Cái đó, nó mặc nhiên là của tôi, cũng như vóc người, hệ cơ, hệ xương, hệ nội tiết, nhóm máu, màu tóc, màu mắt, màu da của tôi. Việc của tôi là đón nhận nó và đến lượt mình làm tất cả những gì mình có thể làm để nó phát triển được đến tận cùng tiềm năng của nó. Bảy tuổi, tôi bắt đầu thực sự và chính thức tham gia các cuộc họp đó. Tôi tranh cãi với mọi người về chuyện rốt cuộc thì có nhất thiết phải giữ vẹn trái đất và giữ vẹn loài người như hiện tại bằng mọi giá hay không.

Tới giờ tôi vẫn nhớ rõ mồn một quang cảnh cuộc họp đó. Cứ như nó đang diễn ra ngay trước mắt tôi và tôi chỉ việc mô tả nó thay vì nhớ lại. Cha tôi nằm trên cái giường bằng nước lơ lửng cách mặt sàn 1,5 mét, tuyền một màu vàng chói, như thể chất liệu làm nên nó không phải nước thường mà là vàng ròng, vàng ở dạng lỏng trong điều kiện 24 độ C. Ngăn giữa mặt giường và thân thể ông là tấm đệm bằng lụa màu tím than, một thứ lụa không thấm nước và mềm mại êm mướt như da nàng thiếu nữ đương thì. Cái áo choàng mặc trong nhà cũng bằng lụa màu cam sẫm, mép viền nhung màu ngọc lục bảo, quấn từ cổ đến gót chân ông, che kín toàn thân ông, như cái kén bọc kín con nhộng, song mặc dù vậy hay đúng hơn chính vì vậy tôi thấy ông gần như trần trụi, một thân thể còm nhom đến mức kinh rợn, hằn rõ dấu ấn tàn bạo của cái chết như người ta nói, khiến tôi dù không muốn vẫn không thể không nhớ tới hình ảnh Steve Jobs vào một trong những ngày cuối đời ông ta. Tuy nhiên, khác với Steve Jobs, cha tôi không mắc căn bệnh hiểm nghèo nào tại thời điểm đó. Ngược lại, với cái cơ thể thoạt trông chết nhiều hơn sống đó, ông thừa sức một mình ngốn sạch một con gà tây tướng trong một bữa ăn. Ông thừa sức làm vậy, nhưng ông không làm. Tuy nhiên, cái hằn trong ký ức tôi sâu hơn thế nhiều là ánh mắt ông khi nghe tôi trình bày luận điểm của mình. Không, trình bày không phải từ đúng. Nói bô bô điều tôi nghĩ, vậy mới đúng. Khi đó tôi bảy tuổi, cần nhớ như vậy. Tôi nói: Nếu tôi lên thuyền Nôê (mọi người đang nhắc đến và sử dụng hình tượng thuyền Nôê), tôi sẽ đem theo một mình Hachikô, còn lại tôi giết hết. Tôi và Hachikô là đủ một cặp. (Hachikô là một trong mười con chó mà cha mẹ tôi cho tôi nuôi, ngay từ bé tôi đã đặc biệt yêu loài vật, nhất là chó.) Vừa nghe tôi nói hai ba chữ đầu tiên, cha tôi đã nhìn sang tôi bằng ánh mắt khiến cho tất cả những người khác cũng đồng loạt lắng nghe và nhìn tôi tựa hồ thằng oắt bảy tuổi này đang phát ngôn bằng giọng sấm rền của Hitler. Ngay khi đó, chính trong những giây đó, tôi trải nghiệm cái mà người ta gọi là mặc khải hay đốn ngộ rằng tôi sẽ nằm trong số những người dẫn dắt loài người, nói đúng hơn là dẫn dắt loài người tối hậu, cái loài người đã vĩnh viễn rứt mình khỏi cái nôi nơi mình ra, Trái đất Mẹ. Tại sao không để cho khí độc, phóng xạ, dung nham và tro núi lửa, sóng thần, bệnh dịch hay cái đói giết chúng, mà phải tự tay giết chúng? sau một thoáng có người hỏi. Tôi không trả lời ông ta. Không nhìn ông ta. Và tôi nhớ sau đó họ nói về chuyện, Cứ để cho cái gì phải xảy ra hãy xảy ra. Cứ để Thế chiến Thứ tư xảy ra, rồi tự nhiên sẽ làm nốt những gì cần làm. Về sau tôi mới hiểu rõ, còn ngay khi đó tôi không thật sự hiểu tuy nhiên cũng cảm nhận được bằng trực giác rằng một phát ngôn như thế, chính xác hơn là cái tư duy làm nảy sinh một phát ngôn như thế, nó là bước khởi đầu dẫn tới một sự thay đổi về chất, triệt để, trong quá trình ra những quyết định liên quan tới vận mệnh nhân loại. Có mặt ở cuộc họp ngày hôm đó cùng với cha tôi là những người thuộc hàng có quyền lực lớn nhất trên hành tinh tại thời điểm đó. Và như tôi nói, ngay từ lúc đó tôi đã biết chắc điều hiển nhiên rằng tôi rồi cũng sẽ là một trong những người tham gia vào việc ra những quyết định liên quan tới số phận nhân loại. Không phải vì tôi là con của cha tôi - tuy điều này cũng có đóng vai trò nhất định trong chuyện này -, mà bởi tôi là tôi. Cùng với sự lớn dần lên của thể xác tôi trong thời thơ ấu và thời thiếu niên, cũng lớn dần lên và vững chắc dần lên cái ý thức sáng rõ như pha lê rằng một người như tôi thì không thể không sẽ là kẻ định đoạt số phận nhân loại.



Một ví dụ. Một trong các bạn thân của tôi (tên ông ta là gì, những người cùng thời với tôi chắc chắn sẽ nhận ra dù tôi không nói, còn với những ai sống trước thời tôi thì có nói cũng vô ích), ông ta là chủ sở hữu một trong ba tập đoàn sản xuất tàu vũ trụ thương mại lớn nhất thế giới. Đón trước họa Tận thế, nhiều chính phủ đã (bí mật hoặc không bí mật mấy) đặt hàng ông ta sản xuất hàng loạt tàu vũ trụ cỡ lớn và siêu lớn dành riêng cho việc di dân khẩn cấp khi cần thiết (khi cơn dầu sôi lửa bỏng đến thì số tàu sẵn có dù bao nhiêu cũng sẽ không đủ). Và ông ta, mau mắn, tự tin, đã sản xuất nhiều hơn thế. Ngăn chặn Thế chiến Thứ tư của Trái đất vào phút chót cũng có nghĩa là lượng tàu vũ trụ khổng lồ mới ra lò hoặc đang trong lò của ông ta sẽ không có dịp được dùng (ít nhất là không có dịp nào trong tương lai gần có thể hình dung được) và nếu vậy ông ta bán chúng cho ai? Tống chúng đi đâu? Đáp lại cái nhìn đầy lo âu, mất hướng, thậm chí hoảng sợ của ông ta, tuy rằng, bình thường ra, những chữ như ‘hoảng sợ’ dùng với loại người như ông ta là hoàn toàn không thích hợp (hãy nhớ: ông ta và tôi là bạn thân của nhau, hay có lẽ phải nói là bạn chí thiết), tôi nhỏ nhẹ nói với ông rằng nhu cầu đối với những con tàu đó lớn đến đâu là tùy ở chúng ta. Qua cái ánh sáng lóe lên ngay tức thì trong đáy mắt ông khi tôi nói xong, tôi biết rằng ý tôi vừa nói cũng là ý của ông nhưng ông thà chết còn hơn để cho thế gian này (chứ không nhất thiết là tôi) nhận thấy rằng ý đó đã có sẵn trong đầu ông trước khi tôi nói nó ra và cái vẻ lo âu, mất hướng, hoảng sợ vừa mới đó của ông có thể hiểu là nằm sâu ở trong ông cũng được mà hiểu là chỉ nông vừa đúng bằng bộ da ông (bộ ngoài cùng trong số nhiều bộ da khác nhau của ông) cũng được, Tuy nhiên điều đó hoàn toàn không nằm trong diện quan tâm của tôi và của ông. Điều quan trọng là, cái ý vừa được tôi nói ra ấy, nó là sự thật tối hậu về thế giới, cái thế giới nằm trong tay chúng tôi. Tôi khẽ cười, nhìn ông. Những con tàu vũ trụ cỡ lớn, siêu lớn ấy - có thể chứa hàng ngàn người, vạn người, và di chuyển nhiều tháng nhiều năm liền trong không gian không cần tiếp tế -, chúng không phải thứ duy nhất đang khiến ông ta bận tâm. Ông ta còn nắm một lượng cổ phần lớn trong một tập đoàn chuyên xây các công trình bán quân sự và dân dụng ở các khu thuộc địa ngoài Trái đất - Mặt trăng, Sao Hỏa, các Đảo Vũ trụ. Các khu dân cư đã được xây sẵn ở đó, cùng mọi thứ tiện ích đi kèm, sẵn sàng đợi người Trái đất di cư lên với số lượng lớn, đó là một mối bận tâm khác, lớn không kém, đang đeo nặng ông ta. Và một lời giản dị của tôi khiến cho bất cứ cái gì đang đeo nặng ông ta không còn nặng nữa. Nó vẫn còn đó, cái bận tâm ấy, song bây giờ nó vừa nặng vừa nhẹ như một tấm hợp kim đuy-ra. Và sự thực là tuy tôi nói rằng nó nặng song nó không nặng đến nỗi như ai đó có thể tưởng nếu nhìn bề ngoài ông ta. Một phần của ông ta, chắc chắn là phần lớn của ông ta, đã biết chắc từ trước rằng tôi sẽ nói thế. Bởi, xét cho cùng, đâu phải vô cớ và đâu phải là chẳng để làm gì mà ông ta với tôi là bạn nhau.

Dĩ nhiên đó chỉ là một trong các nhân tố đóng vai trò nhất định trong tiến trình tư duy và ra quyết định của tôi. Nhiều nhân tố khác cũng đóng vai trò quan trọng không kém, hoặc hơn. Tình yêu đối với Trái đất Mẹ, chẳng hạn. Tôi hy vọng không phải tất cả những ai đang đọc những dòng này đều mặc nhiên cho rằng một tình yêu như thế không tồn tại ở tôi. Những người đọc các dòng này ắt hẳn có cái đầu khá hơn thế. Tôi tin mình có cơ sở để hy vọng như vậy. Chắc chắn phải vậy. Tôi là người. Tôi khác hầu hết những người khác, đúng. Tôi có quá nhiều thứ mà họ không có, đúng. Nhưng tôi là người. Người, như họ. Người, không kém họ. Và có thể hơn họ. Bao nhiêu kẻ trong số họ từng nhìn thấy các phần khác nhau của Trái đất Mẹ được nhiều hơn tôi và mang chúng trong óc trong tim nhiều hơn tôi? Số người đó nhiều không? Nếu bạn bảo nhiều, tôi sẵn sàng tha thứ cho bạn dù bạn đang có chủ ý đùa dai hay không. Tôi hay nằm mơ thấy sa mạc Sahara. Như một người Tuareg. Thấy đại dương đóng băng. Như một người Inuit. Thấy rừng già Amazôn. Như một người Yanomami. Thấy thảo nguyên. Như một người Mông Cổ. Thấy rừng già nhiệt đới. Như một người Papua New Guinea. Hoặc như bản thân tôi, một công dân của thế giới. Một đứa con của Trái đất. Tôi yêu Trái đất này, đơn giản vậy. Tôi yêu Trái đất, nếu không nhiều hơn họ thì ít nhất cũng không ít hơn họ. Thế mà tôi đã góp phần vào cái quyết định tối hậu để loài người rời bỏ Trái đất. Mặc dù, xét cho cùng, đó đã chắc gì là quyết định của bản thân chúng tôi, quyết định xuất phát từ ý muốn của chúng tôi. Việc của chúng tôi làm chẳng qua là: Có một con bò đang đứng trên bờ vực, sắp sửa rơi xuống đó và tự nó biết thế song nó không thể làm gì khác ngoài cứ dấn tới trước. Và chúng tôi quất cho nó một phát rõ đau, cực đau, khiến nó tê điếng toàn thân, không còn tiến thêm được một ly nào nữa, sau đó thì nắm cổ nó giật sang phía khác, giật mạnh, không thì nó sẽ không đời nào tự mình chuyển sang đường khác được. Chỉ có vậy. Đương nhiên, ta có thể thay hình ảnh con bò bằng đàn bò hay đàn heo điên, thực chất vấn đề không thay đổi tuy nếu nói đằng thẳng ra và chuẩn xác hơn thì tôi có để mặc cho đàn heo ấy cứ thế đâm đầu xuống vực, chỉ có điều, khác với Thượng đế trong Kinh Thánh, tôi có giữ lại vài con trong đàn heo đó, không cho chúng đâm đầu xuống vực - đấy là những con duy nhất đủ sức mạnh tinh thần hay ít nhất đủ sạch về tinh thần để không bị nhiễm chứng điên như lũ còn lại. Chúng là vài con heo tôi đã chọn từ trước, những cá thể được lựa chọn.

Đó là một quá trình lâu dài và không dễ dàng. Nếu tiếp tục dùng ẩn dụ đàn heo, những con heo được lựa chọn - hay được đánh dấu, có thể nói vậy - được tách khỏi bầy không phải chỉ trong một lần duy nhất mà theo nhiều đợt, mỗi đợt vài con, một con, suốt một thời gian dài. Giữa khi cả bầy, trong cơn điên, vẫn tiếp tục lao tới vực và rơi xuống vực (bầy đủ lớn để đến khi con cuối cùng lao xuống vực phải mất hàng trăm năm với điều kiện là trong khi chờ đến lượt mình những con ở đoạn giữa và đoạn cuối không được đẻ đái gì). Đó là việc cần làm. Cứu lần lượt từng con heo đã lựa chọn, từng con một, đưa chúng đến nơi an toàn, đến vùng Đất Hứa, các vùng Đất Mới đã được biến cải cho phù hợp với chúng và dành sẵn cho chúng. Làm thế trong một thời gian dài, trước khi quá muộn, trước khi mọi sự trở thành một mớ hỗn loạn khó bề kiểm soát và không thể kiểm soát. Cứ thế, cho đến khi sự biến chung cuộc xảy ra thì số heo được đánh dấu còn sót lại cần phải cứu và di tản là không nhiều hoặc không quá nhiều, và công cuộc di tản cuối cùng này là một chiến dịch tuy thực sự là đại quy mô song hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của chúng tôi, luôn luôn mấp mé bờ vực hỗn loạn và vô kiểm soát song luôn luôn được ghìm chắc lại kịp thời nhờ bàn tay mạnh và cái đầu tỉnh, sáng của chúng tôi. Phải, đó là toàn bộ những gì cấu tạo nên sự ưu việt thuộc về bản thể của chúng tôi, phẩm chất vô song của chúng tôi với tư cách những cá thể định đoạt số phận của cả loài: bàn tay mạnh và cái đầu tỉnh, sáng. Và một trái tim đủ nóng, dĩ nhiên, như ai đó hẳn đang muốn nhắc tôi.

Ông già José Saramago - nếu quý vị còn nhớ đó là ai - từng nói rất hay về loài người. “Đôi khi tôi tự nhủ, tôi hy vọng chúng ta không bao giờ có thể rời khỏi hành tinh này bởi nếu ta bành trướng ra vũ trụ thì rồi ắt hẳn ở đó chúng ta cũng sẽ hành xử chẳng khác gì ở đây. Nếu chúng ta có thể thực sự di cư vào vũ trụ - mà tôi thì không tin rằng chúng ta sẽ có thể -, thì chúng ta sẽ làm vũ trụ bị lây bệnh. Có lẽ chúng ta là một loài virút nào đó mà thật may mắn là chỉ tập trung trên hành tinh này thôi.” Nay, trên cơ sở tất cả những gì đã và đang xảy ra, với toàn bộ lòng kính trọng dành cho một trong những nhân vật mà không nghi ngờ gì nữa là thuộc hàng sáng láng và khả kính nhất của loài người, tôi, hay chúng ta, có thể nói ngay rằng ông ta đã lầm ở ít nhất hai điểm. Thứ nhất, loài người đã có thể di cư lên vũ trụ, dù có phải nói chính xác hơn rằng đó chỉ là một phần rất nhỏ, vô cùng nhỏ của loài người. Thứ hai, điều này quan trọng hơn: phải, loài người không phải có thể là mà chính xác là một loài virút, cực độc, đã nảy nòi và sinh sôi trên hành tinh trái đất và cuối cùng ăn ruỗng hay phá nát cái hang ổ đầu tiên của nó, tuy nhiên đó là một loài virút có khả năng tự tiến hóa thành một loài cao hơn chính nó, khá hơn cái loài virút vốn là bản thân nó trước kia, và một lần nữa chỉ một phần rất nhỏ, vô cùng nhỏ của loài virút này có khả năng làm được việc đó. Và nhiệm vụ của tôi, của những người như chúng tôi là làm tất cả những gì làm được hầu bảo đảm rằng những ai được lên tàu đều thuộc về cái thiểu số cực nhỏ ấy. Đương nhiên, cũng như mọi virút, cái thiểu số này, bên cạnh khả năng vượt lên cao hơn phận virút như đã nói, còn có khả năng tự biến dị thành một chủng virút mới độc hơn, tàn hại hơn, nguy hiểm hơn. Khả năng đó có. Chuyện gì cũng có thể. Chỉ khi nào cái quần thể nhỏ này được đặt vào hoàn cảnh và môi trường thích hợp và được cho một quãng thời gian đủ dài thì mới có thể biết được từ đó sẽ nảy ra một giống loài gì. Chừng nào chuyện đó chưa diễn ra, những tuyên ngôn như của ông Saramago chỉ là một thứ sấm truyền kiểu Nostradamus, một thứ bột nặn thế nào cũng được, không hơn, tức là không có giá trị gì. Đó chẳng qua là những lời lèm bèm cẳn nhẳn cằn nhằn bất lực của một lão già lý tưởng chủ nghĩa ưu uất, yếm thế, đi khật khưỡng qua một thế giới mà lão tưởng mình hiểu song về thực chất là không hiểu, và do vậy là những lời rất ít giá trị hoặc không có giá trị gì.

(...)

------------

Minh họa: Hình dung của Tsunehisa Kimura, nghệ sĩ Nhật chuyên ghép ảnh (photomontage), về Tận thế.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét