Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2014

Họa mi

Viết cách đây mười mấy năm, vừa khai quật lại và đăng ở Một thế giới. Một truyện khá tiêu biểu cho cái thời kỳ có thể tạm gọi là "hiện thực nghiêm ngặt" của tôi. Một thời "trong sáng và thơ dại", hãy còn tin một số thứ mà nay không tin.

- Họa mi ơi, để cho người lính ngủ một chút !
                         (Một bài hát Nga)

- Con người cần hai năm để học nói và cần sáu mươi năm để học cách im lặng.
                        (rút từ “Đaghextan của tôi”)
                                   
                       
Một bận vào một buổi chiều êm ả tôi ngồi cùng Thụ Nhân và chúng tôi trò chuyện với nhau. Gió bỗng đâu rào rạt qua rặng dừa bụi trúc buộc chúng tôi phải ngừng lời để nghe, nhưng chẳng mấy chốc gió lặng, tuy thế đối với tôi đấy là chính những ngọn cây, sau giây lát ngắn ngủi phấn chấn hay bốc đồng, đã dứt khoát quay lại với im lặng. Dù sao đi nữa, im lặng mới này khác với im lặng trước khi gió nổi, và một cảm giác cô tịch lạ lùng khiến chúng tôi còn lặng im thêm hồi lâu. Nắng chếch từ dưới sân lên thềm, và chỉ khi nhận thấy tôi nhìn chàng chăm chú, chàng mới khẽ nói:

Có phải rằng đôi khi, về cuộc sống, sự im lặng có giá trị và chân xác hơn bất kỳ thứ âm thanh nào, dù cho là tiếng nói từ đáy lòng bạn không?

Tôi sẽ kể câu chuyện này, chuyện của chính tôi.

Loan có nhớ Thanh Tâm không ? Tôi đã giới thiệu nàng với bạn trong đám cưới con trai thầy chúng ta, tháng mười một năm 1994... Loan đã trầm trồ: người đâu mà đẹp, mà tinh tế và dịu dàng đến vậy; Loan nhớ không?

Loan đã nói: người như vậy thì ngay phụ nữ như em cũng phải mềm lòng... Tôi không định nói về vẻ đẹp bên ngoài của nàng đâu... Loan hẳn cũng nhận thấy, điều gây ấn tượng mạnh nhất không phải cái nhan sắc mặn mà ấy - dù nó đáng được nói đến lắm -, mà là cái gì đó hoàn mỹ hơn, thuần khiết hơn ẩn chứa bên trong, thu hút mà không khiến bạn sợ, sâu thẳm, mơ hồ nhưng gần gụi và khả giác cũng như ánh sáng mặt trời và không khí, cái ta gọi là tâm hồn.

Hiển nhiên, tôi yêu nàng. Ngay cả khi gặp lại nàng mười mấy năm sau khi tốt nghiệp khóa tại chức, dù biết nàng đã có chồng, ba mặt con, cả trai lẫn gái, tôi vẫn yêu nàng. Loan tự hỏi tại sao bạn chưa bao giờ biết điều đó, phải không ? Đó là điều thiêng liêng với tôi; chính tôi chưa bao giờ đủ can đảm bước hẳn vào đó, dù chỉ nói với nàng trong mơ. Quả thật, dù thường xuyên và lắm lúc da diết nghĩ đến nàng, tôi chưa bao giờ mơ thấy nàng. Tuy thế, tôi tự dành cho mình quyền quan tâm đến sức khỏe, bình an, cha mẹ, đời sống, hạnh phúc riêng của nàng.

Tôi sung sướng dù chỉ đóng vai người quan tâm tới nàng. Tôi quyết gặp bằng được chồng của nàng. Không, tôi chẳng định làm gì đâu... Tôi chỉ muốn biết, làm thế nào một kỹ sư lâm nghiệp mới quen ba tháng có thể trở thành người yêu, hơn thế thành chồng của nàng mà hẳn nàng hết mực yêu thương. Nếu để ý, bạn sẽ thấy tôi cười nhạt mấy lần và làm như không nghe thấy gì trong khi xung quanh người ta lao nhao về anh chồng lẽ ra phải có mặt lúc này, để thêm phần rạng rỡ cho nàng... Mà cũng có thể thực sự tôi không nghe thấy gì; tôi không thể tin bất cứ lời nào, chừng nào chính tôi chưa bị chinh phục bởi con người đó, nếu y đã có thể chinh phục nàng không bằng gì khác ngoài chính con người y.

Nhân một lúc ngẫu nhiên ngồi bên nàng, tôi xin phép đến thăm gia đình, làm quen với chồng nàng ; tôi nhấn mạnh, tôi quan tâm đến anh ta như một người bạn, bởi chồng của nàng không thể không là bạn tôi. Hoàn toàn thoải mái, không giấu niềm tự hào, cả một chút ranh mãnh, một thoáng thú vị và dò xét trong ánh mắt, nàng vui vẻ chấp nhận đề nghị này.

Sau đó tôi gặp anh ta mấy lần nữa, đầu tiên trong những dịp hầu như tình cờ, nhưng về sau do chính anh ta mời tôi. Và rồi, bạn có biết tôi đã học được điều gì không ?

Đó là một nhà thơ.

Vâng, mặc dù không làm thơ, anh thực sự là nhà thơ. Cũng như tôi, nhưng thuần khiết và mạnh mẽ hơn tôi nhiều. Trung không thuộc loại người dễ nhận ra trong đám đông, nhưng ở anh có nụ cười, vâng, chỉ nụ cười ấy thôi, vừa trẻ con vừa bao dung, vừa bí ẩn vừa chân thành làm bạn không thể quên; qua đó ta thấy rõ sự trong sáng, giản dị và nhân hậu - rất hiển nhiên - của tâm hồn anh. Không dễ có thiện cảm với anh ngay từ đầu nếu chỉ nói chuyện, bởi anh hoàn toàn không biết nói chuyện; nhưng có một lần, khi đến nhà hai vợ chồng, tôi thấy anh đang xoay trần đóng kệ sách; chẳng nói gì nhiều, tôi xắn tay áo phụ anh một tay. Dù thật ra chẳng cần đến tôi lắm, anh lặng lẽ nhận sự tiếp sức của tôi, ôn tồn chỉ bảo những khi tôi tỏ ra vụng về. Mãi xế trưa mới tạm gọi đã xong việc; hai chúng tôi - cởi trần ngang thắt lưng - ra bể nước mưa sau nhà mặc sức xối từ đầu xuống chân; chỉ chừng đó anh mới cười ha hả, chúng tôi té nước vào nhau và vật tay với nhau; tuy nhỏ người nhưng anh khỏe hơn tôi.

Nhưng, sự thực là bấy nhiêu hoàn toàn chưa đủ để thuyết phục tôi rằng anh xứng với tình yêu của nàng hơn mọi kẻ khác; mặc cho tất cả thiện cảm có thể có với anh qua mấy lần gặp đó, tôi vẫn không thể nào thấy anh là người mà đáng lẽ đời phải trao cho nàng. Và thế là, thay vì sung sướng cho nàng, một nỗi nuối tiếc khôn tả chẳng những không dịu đi chút nào mà ngày càng lớn lên và làm nhói đau lòng tôi. Tuy nhiên, những lúc hiếm hoi bình tâm lại, tôi cố tỉnh táo và nghiêm khắc tự vấn mà hiểu rằng tôi không tiếc cho nàng hay bất cứ ai khác mà cho tôi, mình tôi mà thôi. Điều đó có xứng đáng với tình yêu không ? Hạnh phúc của nàng có thực sự là quan trọng nhất với tôi không ? Con người đó, củ mỉ và chân thật như cục đất, rắn rỏi chở che nhưng khô khan như vỏ cây, anh đã trọn vẹn thành người nàng yêu chỉ qua một bài hát.

Phải, chỉ một bài hát. “Tình ca”, một bài quá quen thuộc; nhưng khác với trước kia, tôi đã nghe chính anh hát bài ấy. Chẳng biết đã bao giờ trong đời bạn nghe một người hát như vậy không ? Đã bao giờ, khi nghe ai đó hát, tự dưng bạn cảm thấy trong máu thịt mình, tận đáy lòng mình rằng đấy chính là người có thể lạnh nhạt không chào bạn nhưng lúc cùng nguy cực biến sẽ hy sinh mạng sống không chút đắn đo để cứu bạn ? Cũng không hẳn thế nữa... Đó là tiếng hát làm chúng ta đau nhói vì như thể lần đầu tiên rứt ra và vút lên từ phần sâu thẳm nhất của chính chúng ta, tình yêu thuần khiết và lớn lao nhất của chúng ta, toàn bộ vẻ đẹp và sự phong phú của thế giới; trước tiếng hát đó ta cảm thấy bình thường và giản dị xiết bao khi chết cho người ta yêu, cho điều thiện và cái Đẹp mà ta tin, cho cuộc sống dù biết nó xiết bao gần gũi cái chết. Nàng đã nghe anh hát như thế, một lần duy nhất, cũng là bài duy nhất anh có thể hát như thế, trong một nhà khách tuềnh toàng lợp tôn trên cao nguyên, bài hát trong giây lát sống thay cho con người anh, qua đó kẻ chưa bao giờ gặp sẽ hiểu thấu lòng anh và biết cả cuộc đời anh; nỗi khắc khoải, sự cô đơn, những ước mơ cao vời, tình yêu vô hạn đối với bầu trời, những đàn chim bay qua cánh đồng quê anh, những dòng sông, mái nhà, muông thú và rừng núi. Đó chỉ có thể là người trong khoảnh khắc tuyệt vọng nhất hay hạnh phúc nhất, người đang chết và kẻ vừa sống lại lần đầu tiên và cuối cùng tha thiết gọi toàn thế giới; sự im lặng của bao nhiêu tháng năm và miền đất đã qua hay đang chờ trước mặt đều vỡ òa trong tiếng gọi ấy, bạn thấy mình trong tiếng gọi, là kẻ được gọi, là kẻ gọi, là tất cả những gì tiếng gọi hướng tới. Rất hiếm khi anh hát được như vậy, nhưng tối họp mặt bạn cùng khóa ở nhà nàng, anh đã hát, đúng lúc bất ngờ nhất, khi mọi người - chắc hẳn trừ nàng ra - hầu như đã mất hết hy vọng, đã bắt đầu chán cái trò nửa đùa nửa thật nài nỉ anh, tuy vậy nỗi hào hứng và nhiệt tình chờ đợi chưa tắt hẳn trong họ; và chỉ cần anh đứng lên, khẽ hắng giọng trìu mến nhìn mọi người thì như có làn gió từ vùng đất lành nào đột ngột thổi đến vậy; mọi người lặng ngắt, cảm thấy cái gì đó mãnh liệt, xuyên suốt, tràn ngập đang bắt đầu. Tôi sẽ không kể thêm lần nữa anh đã hát ra sao. Nhưng tôi thấy, như giọt mưa đầu tiên mấp mé chực rơi xuống từ mép lá, lệ rân rấn trong mắt nàng qua mấy tiếng nói nhau nghìn lời qua đôi mắt xanh ; khi anh hát xong, nỗi xúc động và nhiệt thành của cử tọa đã lắng xuống, mắt nàng vẫn rơm rớm như thế, nhưng mặt nàng ngời sáng như có nắng hè chiếu qua; một tay chìa cho anh cốc nước, tay kia chậm rãi miết giọt mồ hôi rịn từ thái dương anh như hơi nước tụ trên mặt kính; ta có cảm giác nàng sắp sửa hôn anh một cách nồng thắm và tự nhiên nhất, như một phụ nữ quyết liệt và hướng ngoại hơn sẽ làm, nhưng mọi đường gân thớ thịt nàng như ngưng đọng và căng lên nỗi khao khát vươn tới nụ hôn đó; nàng cố tình nói to bằng giọng hoan hỉ, rành rọt, vui vẻ, nhưng không nén nổi âm sắc run run gần như tiếng rạn khẽ của bóng đèn dầu quá mỏng vậy: “Uống đi, người lính trẻ của em!” - nàng thường gọi anh là “người lính trẻ”, nàng mặc nhiên coi những chuyến công tác lên vùng cao của anh là những cuộc hành quân như bố nàng ngày xưa, và -phải, tôi đã thấy- không biết anh đã nghe nàng gọi thế bao nhiêu lần và có phải lần nào cũng thế chăng: nghe nàng gọi, anh ngẩng nhìn nàng trìu mến và đắm đuối vô hạn, như thể biết nghe nàng gọi thế lần này nữa là hết, cười rạng rỡ nhưng mắt ngấn lệ; bạn như cảm thấy được cái nóng và vị mặn của nước mắt đó, thứ nước mắt đặc sệt của người lính; chính lúc đó tôi mới thực sự hiểu Tình yêu nào kết hợp hai con người này.

Nếu Loan là tôi, bạn sẽ nhớ suốt đời khoảnh khắc đó, khoảnh khắc duy nhất, mãi mãi và cuối cùng tôi được sung sướng thấy họ hạnh phúc, lần cuối cùng tôi thấy họ bên nhau, cả hai người... Ba tháng sau, đúng thế, ba tháng sau, từ Hà Nội nghe tin chồng nàng chết, tôi sững sờ đến mức không còn đủ sức gọi dây nói hay gửi điện chia buồn với nàng.

Tôi không thể bỏ ngang công việc về dự đám tang; hơn nữa quan hệ cá nhân giữa tôi với Trung chưa đủ để tôi làm thế. Nhưng tôi đã sống những ngày nặng nề nhất, thấy mình có lỗi trong bất hạnh này của nàng... Yêu thiên nhiên như chính mình, anh chết khi tay không đương đầu với một bọn vô lại chém người giữa phố, ngã xuống như một người lính, trong bộ thường phục của kẻ đến trường đón con tan học về. Không ai có thể trách anh chết như vậy - không ai có quyền bình phẩm hay tranh biện về cái chết như vậy -; nhưng điều duy nhất đáng kể còn lại, đối với tôi, đó là làm cách nào nàng sẽ sống qua cơn đau này.

Mãi đến lễ thất tuần tôi mới thu xếp được dăm ngày về thăm nàng. Hơn tháng trời dãi nắng trên những cánh đồng miền Nam, trong tôi dần dần thành hình một ước muốn, một quyết định mãnh liệt: tôi sẽ làm hết sức mình để giúp nàng hóa giải dù chỉ một phần nỗi đau đó; tôi sẽ làm việc đó bằng trọn tâm hồn và niềm tin của tôi. Thật ra ban đầu nó chỉ là một ước muốn nung nấu tôi và khiến lòng tôi nặng trĩu như một cái gì tôi phải làm, việc hệ trọng nhất và duy nhất tôi phải làm lúc này, nhưng tôi chưa hề khởi sự và vẫn chưa biết khởi sự như thế nào. Tuy nhiên, hai ngày trước khi lên tàu, một biến cố bất ngờ đã lay chuyển toàn bộ con người tôi.

Bạn tôi, nhân viên kế toán, một người bé nhỏ, cóc cáy, lành như đất, không bao giờ giận ai, chẳng có gì đặc biệt ngoài mấy câu vọng cổ tặng bạn hiền nơi xa về, bạn tôi, vì một va chạm vô lý với tên súc sinh nào đó trong cơ quan, bị hắn đánh dập mũi ngay trong nhà mình, trước mặt vợ con. Ba ngày sau anh tự sát. Anh chết mà dường như chưa kịp để lại gì cho đời ngoài những đứa con suốt đời không quên nỗi nhục của bố chúng, một người vợ chừng nào còn sống còn hổ thẹn và ngao ngán vì cái chết của chồng mỗi khi có ai hoặc điều gì gợi lại nó. Nhưng phải đâu chỉ có thế? Cái còn lại trong tôi từ con người đó là những câu vọng cổ mùi mẫn và buồn tê tái mà anh chỉ bật ra khi đã say mềm rồi sau đó, khi mỗi người góp một lời châm chọc vẻ ngờ nghệch cả tin của anh - bao giờ cũng vậy - thì anh chỉ biết khóc ti tỉ rồi gục đầu xuống bàn ngủ vùi như đứa con nít, như một kẻ kiệt sức vì nỗi nhớ cố hương. Hẳn không cần lý giải điều gì đã đến với tôi; chỉ biết từ sự sống và cái chết của hai người - cả hai là bạn tôi -, tôi thấy một tâm hồn duy nhất trong sáng, nhân hậu và quả cảm; trước đó, ước muốn làm một cái gì cho Thanh Tâm mãnh liệt nhưng vô định hình và nhấn chìm tôi như sóng giữa đại dương, bây giờ nó đã tuôn thành dòng và hướng toàn bộ năng lượng mình vào một đích duy nhất; giờ đây tôi biết đó là việc tôi SẼ làm, SẼ hoàn thành, còn việc đó là gì và hoàn thành như thế nào, với tôi không đáng bận lòng nữa.

Có hình dung được tôi đến với nàng với một tâm nguyện thế nào, bạn mới hiểu cảm xúc của tôi khi chợt nhận ra tất cả điều đó đều vô nghĩa, như ngọn nến thắp ngoài trời giữa trưa vậy. Nàng là người đàn bà kỳ lạ; mà không, nàng chẳng kỳ lạ, chỉ bởi tôi cứ tưởng đã biết hết nàng mà thôi.

Bạn có biết rằng trong mắt tôi, tận đáy lòng tôi, nàng là hiện thân của nữ tính thuần khiết - có thể nàng không hẳn là hiện thân những gì tốt đẹp nhất, như thế là đòi hỏi quá nhiều ở nàng -, nhưng, tôi tin tưởng mãnh liệt rằng nàng đang sống với nỗi đau này bằng mọi đức tính có thể và phải có ở con người; tôi tin nàng đủ sức giữ thái độ bình tĩnh nhất, tôi tin nàng có khả năng định thần và xử sự như một kẻ minh triết có chiều sâu tâm linh và tầm cao của trí huệ, mặc dù, cũng như tình yêu của nàng mênh mông hơn mọi kẻ khác, nỗi đau này đối với nàng dữ dội và lớn lao hơn với bất cứ ai khác, cho nên, để có thể chịu đựng, đứng vững và vượt qua, nàng càng phải nỗ lực lớn lao xiết bao; trong cuộc đấu tranh ấy nàng có cô đơn không, có lúc nào nàng cần sự giúp đỡ của ai đó như tôi không ? Tim tôi thắt lại khi nghĩ tới điều đó, suốt mấy trăm cây số trên tàu trong tôi chỉ có một ý nghĩ đó.

Những vạt nắng cuối cùng đang từ từ dâng lên ngọn cây bạch đàn bên kia đường; và khi chàng ngừng nói, tôi cảm thấy những lá cành bạch đàn nhạy cảm và thanh tao kia đang sung sướng với ánh nắng cuối cùng này mà chúng là một bộ phận. Đồng thời tôi nhận thấy những hồi ức mãnh liệt đang khiến chàng đau đớn; sau một lúc, tôi khẽ nắm bàn tay dài mảnh như tay thiếu nữ của chàng.

Mãi bây giờ, nhiều kẻ tôi gặp vẫn không sao hiểu nổi Thanh Tâm những ngày đó, dẫu họ vẫn một mực yêu quý nàng và không mảy may ngờ vực sự thủy chung của nàng. Còn tôi có thể nói gì với họ về nàng đây ? Bạn có hình dung được người đàn bà không nhỏ lấy một giọt nước mắt cả trong lẫn sau đám tang chồng - người mà ai cũng biết nàng rất yêu thương không ? Nhưng mấy chữ “không nhỏ một giọt nước mắt” chẳng nói được bao nhiêu về những gì ta có thể cảm nhận... Có lẽ tôi phải gọi đó là sự vắng mặt hoàn toàn, tuyệt đối, không thể hiểu khác của bất cứ cái gì ta thường hiểu và gọi là đau đớn, u buồn, phiền não, tuyệt vọng...; nhưng hơn thế, vắng bóng cả cái gọi là sự im lặng dù là do quên đi, chấp nhận hay căng thẳng vượt qua những cái đó. Những ai dự lễ thất tuần không cách nào quên nổi nụ cười bình thản và hoàn toàn tự tin - không, phải nói là ung dung, quá tự tại ung dung - của nàng khi ra tận cửa đón họ, như thể họ đến ăn mừng tân gia hay đầy tháng con đầu lòng của nàng; nụ cười đó - mà nàng nở như hoa trong nắng hè không cần nỗ lực nào hết - thay vì làm họ an lòng rằng nàng vẫn sống vững vàng lại khiến họ đau nhói. Họ tránh nhìn thẳng vào nàng và tự dưng đều có một cớ nào đó để lần lượt ra đi, bỏ lại căn nhà đầy ắp thức ăn không ai đụng tới, còn nàng vẫn tự nhiên bảo tôi cùng ăn với lũ trẻ, như thể tôi với mẹ con nàng đang đi chơi dã ngoại vậy.

Dẫu vậy trong sự bình an của nàng, tôi cảm thấy gì đó bất an, khó nói, khó nhận ra lắm, nhưng có thật, gần như cảm giác về sự bình an của người diễn viên đi dây, sự bình an mong manh, không thật, không gắn với cuộc sống thật; theo lẽ thường người ta không thể hay không nên mạnh mẽ và tự tại đến như vậy. Bạn có thể cứng cỏi, điềm tĩnh, đường hoàng ngay trong những ngày tang tóc bi thương nhất, bạn có thể không nhỏ một giọt nước mắt cho người mình hết mực yêu thương, nhưng dẫu sao... bạn không thể và không có quyền thư thái, kiêu hãnh, cao vời và độ lượng đến thế, với tất cả người xung quanh, tất cả những ai đến bày tỏ lòng thương xót, lân mẫn và cảm thông, dường như họ là những kẻ không thực sự biết, chưa hề biết thật ra con người - trong đó có chồng nàng - sống là hơn hay chết là hơn và đúng ra nên chúc mừng cho cái chết của Trung và sự góa bụa của nàng hơn là tỏ vẻ nghiêm trọng, bi thiết hay tiếc nuối, như bất cứ ai vẫn làm khi đến đọc hoặc nghe bài ai điếu, trong đó dĩ nhiên có tôi.

Tôi không có mặt ở đám tang, dù vậy không hẳn chỉ qua lời người khác tôi mới có thể hình dung người ta không xa lánh nàng, nhưng cũng không ai trong các phụ nữ thực sự thấy cần ôm ấp, vỗ về, an ủi nàng; họ chân thành nhưng rụt rè nắm tay nàng, tuy vậy điều hết sức rõ ràng là sức mạnh của họ chẳng cần thiết chút nào với nàng; ngược lại, chính họ mới yên lòng hơn khi cảm thấy trong nắm tay nàng một tâm hồn chị em như họ đã biết, thân quen và gần gũi với họ, đầy sức mạnh cảm thông, khích lệ và chở che họ. Còn cánh đàn ông nói chung khó nói điều gì với nàng; thậm chí không thể nhìn lâu vào mắt nàng, dù vậy không ai, cả những tay buông tuồng nhất, dám thốt lên dù một cách bóng gió xa xôi nhất chẳng hạn nàng không biết đau khổ bởi chồng nàng chết, nàng không bất ngờ về cái chết đó. Thế nhưng, điều đó không có nghĩa là trong chúng tôi, những người đàn ông, không có cùng một câu hỏi chẳng ai thốt ra.

(còn tiếp)

Thứ Năm, 17 tháng 4, 2014

Máu vãi: Mộng du

Mẹ, con sẽ không ở lại với mẹ chứ? - y nói.

Chúng tôi nghe câu ấy ở khắp nơi. Nó râm ran trong cỏ, âm âm từ đâu đó dâng lên, hình như từ rễ cây. Quý vị biết đó, chúng tôi có trang trại lớn ở Bắc cực, vĩ độ 65. Ở đó rất ấm áp; chúng tôi trồng cỏ, chăn thả bò quanh năm. Ngựa, chúng tôi cũng dẫn đến đó. Mỗi khi cái mõm chúng rứt một búi cỏ, cái câu ấy lại đưa lên cao hơn một chút. Chừng nửa cung, chắc vậy.

Tôi nghe câu ấy ở khắp nơi. Anh biết đấy, mỗi ngày tôi phải lặn qua mười ba lớp bùn. Dường như ở đâu bùn cũng nói vào tai tôi. Giữa vô số những lời vô ngôn của bùn, tôi luôn nghe rõ câu ấy. Tóc tôi thì dài, nhiều lúc tôi bất giác gạt món tóc hai bên má, như để thấy rõ hơn người nói.

Như đã nói, Bắc cực rất ấm. Mỗi năm có ba tháng mặt trời không lặn; mặt đất nóng như gạch nung. Cuối mùa đông, chúng tôi xẻ những núi băng trôi từ xích đạo lên thành từng tảng chừng 15-20 mét khối rồi ủ trong hầm lạnh. Trước khi mặt trời lên thiên đỉnh và đạt mức nóng nhất, chúng tôi xếp những tảng băng đó vào chính giữa những bồn tắm khổng lồ bằng gỗ tuyết tùng đường kính trên 50 mét, bên trong không có nước. Khi mặt trời mọc - vầng mặt trời mở đầu cho ba tháng không đêm -, chúng tôi làm lễ tạ ơn rồi cởi hết áo quần và một, hai, ba – ùa vào bồn. Mặt trời càng lên, nhiệt độ càng tăng, băng bắt đầu chảy, thu nhỏ dần, các bồn bắt đầu có nước. Cảm giác thật thú vị khi nước đá tan lạnh ngắt ấm dần lên quanh ta, nóng dần lên, nóng rẫy, sau một lát thì bốc hơi hết.

Dưới tầng bùn thứ tám là nơi ở của những người trồng cây và sống trên cây. Từ đầu mút những cành cao nhất của cây, tôi thường rơi mất ba tiếng đồng hồ mới xuống tới mặt đất. Trong quãng đường - thời gian này, nắng hoặc gió hoặc cả hai đã kịp làm khô bùn hầu như trên mọi bộ phận của cơ thể tôi. Những con chó nằm sưởi nắng ở đầu cành thường nhạy cảm với sự rơi của tôi nhất: chúng sủa váng lên, có con cong đuôi chạy tót về sân nhà chỗ chạc ba, nơi mấy đứa trẻ đang chơi, vừa chạy vừa ngoái đầu lại và vẫn không ngừng sủa, như muốn nói: Cứ đợi đấy! Dĩ nhiên là tôi không đợi được; tôi đang rơi mà - tuy không nhanh lắm, vì những luồng khí đối lưu từ phía dưới dâng lên rất mãnh liệt. Tôi kịp thấy những đứa trẻ đang chơi kia lớn lên mỗi lần tôi rơi qua: lông ở từng phần trên người chúng dày lên, một số bộ phận trên người chúng to lên và nống ra ngoài, áo quần chúng dài ra, khoảnh sân chúng chơi - với lớp vỏ cây được bào nhẵn và đánh véc ni bóng - ngày một hẹp lại.

Nắng trên bờm ngựa rất chói, nhất là sau khi chúng tắm. Nước chói chang trên bờm chúng bốc hơi quá nhanh, nên chúng tôi thường không bỏ qua khoảnh khắc ấy, như một lằn chớp bị hãm chậm. Chúng tôi dùng bàn chải bằng vàng để chải lông ngựa. Ánh vàng càng làm nổi hơn sắc trắng của lông. Thỉnh thoảng lông ngựa trở nên quá chói, chúng tôi lại xén bớt. Chỗ lông xén ấy, chúng tôi rải đều trong một cái hộp nông, không đậy nắp. Ban đêm, phía trên hộp là một quầng sáng trắng mơ hồ; có thể để đầu giường làm đèn ngủ nếu muốn. Trong 25 phần trăm trường hợp, một thứ khí bí ẩn tỏa ra từ lông sẽ làm bạn ngạt thở mà chết. Cho nên, với những ai dùng lông ngựa làm đèn ngủ, mỗi khi chia tay (đặc biệt là ban đêm), thay vì nói “Hẹn gặp lại” hay “Chúc ngủ ngon”, chúng tôi nói “Vĩnh biệt nhé.” Trước khi đi ngủ, họ thắp nến và là những người đáng yêu.

Dưới tầng bùn thứ sáu, bầu không khí có độ biến thiên rất lớn về mật độ. Có những chỗ ta cảm thấy rõ lực cản của không khí, giống như lực cản của nước khi ta lặn xuống chỗ sâu trong bể bơi. Có những chỗ bầu không khí ấy sền sệt và ta chỉ có thể ngập vào từ từ, xuyên qua một cách chậm chạp như vào một thứ cát lún. Có những chỗ không khí đặc và nhẹ như một tảng bọt xốp, ta có thể dễ dàng dùng tay hoặc vai gạt sang một bên, dù nó rất lớn. Có những chỗ không khí rắn như một khối kim cương, và với tốc độ di chuyển của tôi, va chạm với chúng thật khủng khiếp. Sau mỗi va chạm như vậy, tôi ngất đi. Đúng hơn, tôi chỉ bị choáng trong khoảnh khắc, chừng một giây, hay hơn một chút; tôi không chằc. Nhưng trong mọi trường hợp, tôi hầu như ngay lập tức tỉnh lại và tiếp tục cảm nhận được thế giới, để nhìn thấy hậu quả của cú va chạm này. Dù kiến thức y học và giải phẫu học của tôi chỉ ở mức sơ đẳng, tôi cũng biết rằng với tốc độ bay của tôi vào thời điểm va chạm và độ rắn của vật thể mà tôi va chạm, chí ít tôi cũng phải toác sọ và đáng lẽ đã chết. Nhưng bây giờ tôi nhìn thấy và lập tức hiểu rằng chính tại thời điểm và vị trí chỏm đầu tôi tiếp xúc đầu tiên với bề mặt rắn của không khí, một con người khác giống hệt tôi, hay một phiên bản khác của tôi, hoàn chỉnh, trọn vẹn, liền bắn vọt ra, lao vút vào không trung theo phương vuông góc với hướng bay ban đầu của tôi, về bên trái. Tốc độ bay của người hay vật thể này, như tôi đã nói, chắc chắn rất lớn, bởi khi màn sương che mắt tôi do cơn choáng đã tan hết, tôi chỉ kịp nhận ra rằng cô ta đã mãi tít xa, chỉ còn nhỉnh hơn con ruồi. Tôi chỉ kịp thấy hai bím tóc ngắn của cô ta - như của tôi - giang thẳng hai bên đầu như đôi cánh, mặc lực cản không khí, và cô ấy đang ngoái lại nhìn tôi.

Bao nhiêu lần tôi va chạm với những vùng không khí rắn là bấy nhiêu lần từ đó bắn ra những con người giống hệt tôi. Một số mặc áo quần như tôi hoặc khác tôi, một số trần truồng. Một số tết bím hai bên như tôi, một số tóc cắt ngắn, vài người trọc đầu, một số tóc thật dài, dựng đứng và tỏa rộng trên đầu họ như một cánh buồm hình nan quạt đen nhánh. Một số bay nhanh hơn, số khác chậm hơn, nhưng nhìn chung, càng rời xa tôi, tốc độ họ càng cao; như cưỡi trên những quả tên lửa vô hình.

Một số bay sang phải tôi, số khác sang trái. Một số bay theo hướng ngược lại tôi, về phía sau; số nữa lao thẳng lên phía trên đầu tôi hay đâm tít xuống phía dưới tôi. Trong khi một số nhìn thẳng phía trước, chú mục vào hướng bay của mình, nhiều người lại liên tục ngoái nhìn tôi hoặc không rời mắt khỏi tôi. Họ không biết cái gì đang chờ đợi họ.

Cũng như tôi, trên đường bay của mình, họ sẽ gặp những vùng không khí rắn như những khối kim cương. Tất cả những người ngoái lại nhìn tôi - ít nhất là cho đến khi tôi còn nhìn thấy điều gì xảy ra với họ - đều có chung một kết thúc. Tôi nhìn thấy họ đang lao băng băng thì đột ngột sững lại; không nghe tiếng va chạm, tiếng nứt vỡ khô khốc - xa đến thế thì khó lòng nghe thấy -, nhưng có thể cảm thấy nó; máu bắt đầu túa ra hầu như luôn luôn từ lỗ tai hoặc từ phần gáy sau mang tai, vì điểm va chạm luôn luôn ở đó, trong khi những người này vẫn đang ngoái lại nhìn tôi; máu tuôn quá nhanh so với một vết thương chí mạng từ sâu bên trong như thế. Nương theo đường viền của khối không khí rắn, chẳng mấy chốc máu làm bật lên những hình thể đa dạng từ một không trung vô hình thể: những hình thể ứng với những vùng không khí rắn, với máu tươi là thuốc nhuộm hay chất chỉ thị tuyệt hảo phủ kín xung quanh; tôi thấy hình củ khoai, hình lục lăng, hình con sứa, hình quả trám, hình cái mũi, hình dương vật, và, dĩ nhiên, hình dáng ngẫu nhiên như bất cứ tảng đá nào, với những gờ, những góc cạnh, những mấu lồi, khe lõm. Cơ thể bất động của kẻ (vô tình) làm phát lộ vùng rắn đó lúc này đây vật vờ bên mép những hình thể kia, như con cá chết phơi bụng trắng dật dờ bên thành bể cá. Khuôn mặt vẫn không thôi quay về phía tôi, màu trắng nổi bật giữa tóc đen và nền đỏ. Phải, trái, trước, sau, trên, dưới, gần,xa, đâu đâu tôi cũng thấy cảnh ấy: những chướng ngại mà trước chúng những người này vĩnh viễn dừng lại.

Tôi không biết liệu những người khác - những kẻ không ngoái lại nhìn tôi mà chú mục vào đường bay của họ, những kẻ ngoái lại nhưng (tình cờ) vẫn sống cho đến khi thoát khỏi tầm nhìn của tôi - liệu có sống sót sau cú va chạm thật sự đầu tiên với những vùng khí rắn khác mà tôi biết còn đầy dẫy trong vùng không gian này. Thật ra, tôi chẳng còn tâm trí để chú ý tới họ. Tôi mãi xót xa cho những kẻ đã chết. Đến giờ tôi vẫn không hiểu vì sao tôi lại khác họ, vẫn sống sau cú va chạm.



Thứ Bảy, 12 tháng 4, 2014

Khôi phục vị thế đúng của mình trước thế giới: Nghĩa vụ danh dự của mỗi chúng ta

Trong những năm cuộc chiến chống Mỹ của Việt Nam đang ở cao trào, đã từng có người nước ngoài "ước gì ngủ một đêm thức dậy thấy mình đã thành người Việt Nam".
Nay, nếu nghe một người nào đó nói "Ước gì ngủ một đêm thức dậy thấy mình không còn là người Việt Nam", chúng ta sẽ không ngạc nhiên.
Bởi "là người Việt Nam" càng ngày càng trở thành nguyên nhân cho cảm giác xấu hổ, nếu không nói tủi nhục, bất cứ khi nào chúng ta ở nước ngoài và được người ta hỏi "Bạn là người nước nào?"
Là người Việt đồng nghĩa với là kẻ thô tục, ăn cắp, phạm pháp, tàn nhẫn với cùng loài và với mọi loài.
Có ai trong chúng ta muốn chấp nhận một định nghĩa như thế không?
Nhưng nó đang là một thực tế.
Khắp nơi trên thế giới này, người ta đang dùng định nghĩa đó với chúng ta.
Đương nhiên, phần lớn thiên hạ trên thế giới cũng vô minh; họ chỉ có khả năng phán xét người Việt chúng ta qua cái khuôn mẫu chẳng lấy gì làm đẹp đẽ về người Việt mà những người khác trình ra cho họ. Nhưng, thực tế là, chính chúng ta, người Việt, chứ không ai khác, đã tạo nên cái khuôn mẫu đó bằng hành động của mình.
Hãy làm tất cả những gì trong khả năng mình đễ cho thế giới thấy rằng nước Việt Nam không phải không có những con người có văn hóa, có lương thức, có tự trọng, đầy ý thức về phẩm giá.
Hãy làm tất cả những gì trong khả năng mình để cho thế giới thấy rằng, bất kể ta sinh ra ở đâu, bất kể thế giới này định danh ta như thế nào, song trên hết, và trong sâu thẳm, ta là một cá nhân có văn hóa, có lương thức, có tự trọng, đầy ý thức về phẩm giá.
Nếu, sau khi đã quán xét chính mình một cách tỉnh táo và khiêm nhường nhất có thể, ta tự biết mình ở một tầm cao hơn so với số đông người Việt và có thể số đông loài người - về mặt phẩm tính người và về mặt tinh thần chứ không phải về mặt nào khác -. ta hãy lảm cho điều đó trở nên rõ ràng đến nỗi không ai có thể hiểu lầm, bất cứ khi nào và nơi đâu việc ấy là có thể và/hoặc cần thiết.
Khôi phục phẩm giá của dân tộc Việt và của cá nhân mình trước thế giới, chiếm lại vị thế đúng và xứng đáng của mình trên trái đất này, đó là nghĩa vụ danh dự của mỗi chúng ta.

Về các loại nhà văn