Thứ Năm, 9 tháng 8, 2018

Nghĩ về nghề.

Có hàng trăm nhà văn tài ba mà bạn không thể và không cần đọc, cũng như có hàng vạn người đặc sắc mà bạn không thể và không cần gặp, hàng ngàn nơi hay ho mà bạn không thể và không cần đến. Bạn chỉ cần đọc một số nhà văn có hạn, gặp một số người có hạn và đến một số nơi có hạn. Quan trọng không phải số lượng; quan trọng là chất lượng và chiều sâu của các nhà văn/con người/nơi chốn đó, của sự tương giao hay cộng thông giữa bạn và các nhà văn ấy, người ấy, chốn ấy.

-----------

Ai đó nói rằng có thể chia nhà văn thành hai loại: loại viết cho những người đọc đã có sẵn, và loại tạo ra những người đọc cho riêng mình. 

Tôi thuộc loại thứ hai.

Cố nhiên, "tạo ra" ở đây chỉ là một cách nói. Nó không có nghĩa là tạo ra từ chỗ không có gì. Văn của những người viết của tôi là nhắm tới một số người đọc đang có trong thực tại, tuy nhiên họ chỉ mới là người đọc "tiềm năng", là "nguyên liệu thô" để từ đó tạo ra những người đọc cần có. Để họ trở thành người đọc cần có cho loại văn này, cần xảy ra một quá trình chuyển hóa. Quá trình chuyển hóa này sẽ thành công nếu 1) bản thân tác phẩm đủ giàu có và đủ mạnh; và 2) nếu bản thân những người đọc tiềm năng này có đủ sự cởi mở và quả cảm cần thiết để dấn vào và kinh qua sự chuyển hóa này.

Tranh của Joseph Zbukvic
----------

Một điều hiển nhiên và đơn giản: Nếu bạn viết không phải nhằm có được bất cứ cái gì, không phải để chạy theo bất cứ cái gì; không phải nhằm làm hài lòng riêng một ai; thì sự viết của bạn là trong một cõi phi thời gian. Tác phẩm của bạn, cái tạo vật nảy sinh từ bên trong bạn, được bạn cưu mang, lớn lên cùng với bạn, nó sẽ hình thành trọn vẹn và ra đời khi nó phải ra đời, theo quy luật của riêng nó.

Để ra đời được một tác phẩm nghệ thuật đúng nghĩa, một năm hay hai mươi năm chẳng có gì khác nhau: đằng nào thì cũng chỉ là một chặng thời gian. 

-----------

Ngẫm hai câu này:

"Nếu một con lừa nhìn vào một tấm gương, thì không thể có một thiên sứ từ trong gương nhìn ra được."
(Ngạn ngữ cổ)

"A great film/book gives back to you whatever it is you invest to it."
"Bạn đầu tư cái gì vào một bộ phim/cuốn sách lớn thì nó sẽ trao lại cho bằng chừng nấy."
(không nhớ của ai)

==> Một bộ phim/cuốn sách lớn giống như một tấm gương mà ẩn trong đó là một "thiên sứ". Thiên sứ này chỉ hiện ra khi người đến soi gương là một người cởi mở, thành tâm, không định kiến, vô ngã.

-----------

Tự dịch tác phẩm của mình (nếu ta thu xếp được thời gian) là một việc đầy thử thách, cần thiết và đẹp. Nếu trong khi làm việc ta đừng quên rằng, khác với khi dịch tác phẩm của người khác, dịch tác phẩm của chính mình, ta có quyền thực sự viết lại nó theo nghĩa đen, làm nó gần với ý ta muốn hơn, bằng một hệ phương tiện khác, trong một hình hài khác, với một tông giọng khác, vừa là tác phẩm gốc vừa không phải là nó, có thể không hoàn thiện hơn, nhưng khác biệt, có vẻ đẹp và sức mạnh riêng của mình.

-----------

Những dòng sau đây cũng có thể dùng để nói về tôi:

“[I write] in order to become greater than I am, for I am so little. I write because I have nothing better to do in this world: I am superfluous and last in the world of men. I write because I am desperate and weary. I can no longer bear the routine of my existence and, were it not for the constant novelty of writing, I should die symbolically each day. [...] Now I only wish to possess what might have been but never was.”

“Tôi viết để trở nên lớn hơn tôi trong thực tại, vì tôi quá nhỏ bé. Tôi viết vì tôi không có gì hay hơn để làm trên thế giới này: tôi thừa thãi và hạng bét trong thế giới người. Tôi viết vì tôi kiệt quệ và tuyệt vọng. Tôi không chịu nổi nữa sự đều đều lặp lại trong cuộc sống của tôi, và giá không có sự tươi mới thường xuyên của việc viết văn thì ngày nào tôi cũng chết theo nghĩa tượng trưng. [...] Giờ tôi chỉ muốn sở hữu những gì lẽ ra đã có thể có nhưng chưa bao giờ có.”

 - Clarice Lispector

Thứ Ba, 17 tháng 7, 2018

Về sự viết.

"Cospolist Nổi Loạn" của tôi: một dự đồ tiểu thuyết lớn hơn nhiều - về độ dày, quy mô, trữ lượng, tham vọng... - so với "Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian".

 Tôi đã dành cho nó nhiều năm - từ đầu năm 2006 (khi tôi bắt đầu thực sự viết như một nhà văn) cho tới cuối năm 2010 - khi tôi tạm ngừng "Cospolist..." để dành trọn thời gian và tâm trí cho "Life Navigator..." mà những dòng/hình ảnh đầu đến với tôi một cách bất ngờ vào giữa năm 2010.

Trong một buổi tọa đàm giữa Thuận, Nguyễn Thúy Hằng và tôi về sự viết.

Quay trở lại với "Cospolist..." và hoàn thành nó là một quá trình không dễ dàng. Có một thời gian tương đối dài - từ 2014 cho đến 2016 - tôi cảm thấy một thứ lực cản nào đó khó lý giải được, mà đến giờ tôi mới có thể tạm gọi tên nó ra: đó là sự mất tự tin, do cảm thấy bản thân mình, đến lúc này, vẫn chưa thực sự sẵn sàng cho tầm cỡ mà "Cospolist Nổi Loạn" cần và xứng đáng có.

Giờ thì, tôi vẫn đang tiếp tục tiến lên cùng "Cospolist...", thận trọng, từng bước một, không kỳ vọng, không vội vã. Tôi có lẽ như người leo núi, sau một cuộc tạm dừng khá lâu ở lưng chừng núi vì kiệt sức hoặc vì lý do nào đó, giờ đây, hiểu núi hơn và hiểu mình hơn, lại tiếp tục leo, bình tĩnh, vui với mỗi bước lên được cao hơn, đồng thời đủ khiêm nhường để biết rằng một lúc nào đó có thể mình lại sẽ phải dừng lại. Để rồi lại tiếp tục, có thể.

Thứ Ba, 3 tháng 7, 2018

Trần Tiễn Cao Đăng: Tôi là thành viên bộ tộc những người 'đau đời'

Bài đã đăng trên zing.vn ngày 23/06/2018
https://news.zing.vn/tran-tien-cao-dang-toi-la-thanh-vien-bo-toc-nhung-nguoi-dau-doi-post853913.html

--------------------------

Bốn truyện ngắn trong “Những gặp gỡ không thể có” đều có dung lượng khá dài so với mặt bằng truyện ngắn thông thường và đều có thể phát triển tiếp thành tiểu thuyết. Như vậy, nếu không xét đến yếu tố dung lượng, theo anh điều gì là điểm khác biệt giữa truyện ngắn và tiểu thuyết?

Nếu nhất định cần một sự phân định về hình thức các truyện này thì tôi nghĩ chúng là truyện vừa (novella) chứ không phải truyện ngắn.

Nhà văn đôi khi có thể biết, trước hoặc trong khi viết, rằng ý tưởng đang có trong đầu mình là phù hợp với một truyện ngắn, truyện vừa hay tiểu thuyết. Tuy nhiên, ở một số trường hợp khác thì không. Chẳng hạn, các tiểu thuyết “Cuộc săn cừu hoang” và “Biên niên ký Chim vặn dây cót” của Murakami là được triển khai từ những truyện ngắn trước đó. Ta có thể hình dung rằng, một thời gian sau khi viết các truyện ngắn đó, có thể nhiều năm, nhà văn “đột nhiên” nhận ra rằng ý tưởng ấy, câu chuyện ấy có tiềm năng của một tiểu thuyết. Mặt khác, có những truyện vừa toàn bích, tự nó là quá đủ, chẳng hạn “Hóa thân” của Kafka. Hẳn bản thân tác giả biết hơn ai hết rằng không cần triển khai nó thành tiểu thuyết.

Trên thực tế, ranh giới giữa truyện ngắn, truyện vừa và tiểu thuyết không phải bao giờ cũng rõ ràng, và không phải là điều trọng yếu.

Được biết anh rất yêu thích nghệ thuật múa, và cả âm nhạc, điện ảnh, vậy khi viết tập truyện ngắn “Những gặp gỡ không thể có”, ba bộ môn nghệ thuật ấy có tác động gì đến quá trình sáng tác của anh không, có gợi mở những phương thức viết mới cho anh không?

Tôi yêu mọi cái đẹp đích thực dưới mọi dạng thức, do tự nhiên hoặc con người tạo ra. Những cái đẹp trong các thể loại nghệ thuật hoặc loại hình hoạt động khác của con người đều có thể tác động đến văn của tôi, bằng cách này hay cách khác. Chẳng hạn, “Chika Choắt”, một chương trong “Life Navigator…”, hiển nhiên là “chịu ơn” từ cái đẹp của võ thuật. Về việc “gợi mở những phương thức viết mới” như bạn gợi ý, bản thân tôi không rõ. Cũng có thể như vậy trong tương lai. Một trong những niềm vui không gì thay được của việc sáng tạo là bản thân ta, trong phần lớn trường hợp, không thể mường tượng trước một cách chính xác hình hài cái thành quả sau cùng của mình.

Có phải “Những gặp gỡ không thể có” là một tiền truyện hay hậu truyện cho “Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian”, vì ở truyện ngắn cuối cùng “Tập kích nhà băng: Quan điểm của nhà thơ”, cho người đọc cảm giác nhân vật người phụ nữ được tôi mời kể chuyện chính là “nàng” trong cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh?

Thật ra, bốn truyện trong tập này được viết vào những thời gian khác nhau - có truyện viết cùng lúc với “Life Navigator…”, có truyện trước đó, có truyện ít lâu sau đó. Nhưng bạn đã có một nhận xét tinh tế. Bên trong các truyện này và trong “Life Navigator…” có một âm vọng chung, một cái nền chung nào đó, như thể tất cả chúng là những tiểu truyện bên trong một đại truyện mà cho đến giờ (và có thể sẽ mãi mãi) ẩn kín, chỉ phát lộ mỗi lúc một phần. Theo nghĩa này, rất có thể người phụ nữ được mời kể chuyện kia chính là “nàng” trong “Life Navigator…”, mặc dù trên thực tế “Tập kích nhà băng…” được hoàn thành sau “Life Navigator…” và tôi không có chủ ý như thế khi viết.

Trong tác phẩm của anh, ngoài đề tài tận thế, có thể thấy một đề tài cũng thường xuyên xuất hiện là về động vật, cụ thể hơn là việc động vật bị ngược đãi. Anh bắt đầu nuôi dưỡng tình yêu, sự quan tâm dành cho động vật từ khi nào và vì sao anh cảm thấy bản thân có trách nhiệm phải lên tiếng về việc bạo hành động vật thông qua tác phẩm của mình?

Tôi yêu thương loài vật - chó, mèo, chim… - từ nhỏ, như một tình yêu thương hoàn toàn tự nhiên. Tuy nhiên, chỉ đến khoảng 10-15 năm trở lại đây, tôi mới ngày càng bắt đầu thường xuyên suy nghĩ về cái gọi là “nhân tính” của loài người nói chung một khi chúng ta vẫn đang tiếp tục cư xử với mọi loài khác với sự kiêu ngạo và vô cảm như trong hiện tại.



Câu văn của anh thường rất dài và anh miêu tả chi tiết rất kĩ, anh có sợ sự tập trung quá nhiều vào chi tiết sẽ khiến người đọc bị lạc vào mê cung chữ nghĩa của anh và khó nắm bắt nội dung, tinh thần chính yếu của câu chuyện không? Hay chính sự lạc lõng giữa bộn bề chi tiết ấy là cảm giác anh có chủ đích đem lại cho người đọc khi sáng tác?

Viết câu văn dài, tập trung vào chi tiết không phải là lựa chọn của tôi - điều đó đến một cách tự nhiên. Mặt khác, tôi cũng không muốn tự giam mình trong lối viết đó. Ở một số truyện khác, tôi dùng chủ yếu những câu ngắn - tuy nhiên, điều đó là do bản thân nội dung câu chuyện quyết định.

Tuy vậy, đúng là câu dài hợp với tạng của tôi hơn. Đó có lẽ là do một đặc tính nào đó của phương thức tư duy, hay đúng hơn là hình thái của tâm thức. Không phải vô cớ mà đa phần các nhà văn tôi đặc biệt yêu thích là những người “chuyên trị” câu dài, như José Saramago, Laszlo Krasznahorkai, Bohumil Hrabal, Thomas Bernhard. Cái chung của những người này: họ không chỉ là nhà văn tài hoa, trí thức đích thực, mà còn là những tâm hồn lớn thường xuyên bận tâm đến những vấn đề lớn của loài người, của sự tồn tại - những người thường xuyên mang một nỗi lo âu lớn (Angst) nào đó về thế giới. Tôi là một thành viên trong bộ tộc những người “đau đời” này.

Bổ sung một chút: Tôi không nói rằng câu văn dài “hay” hơn hoặc “cao” hơn câu văn ngắn. Mỗi loại câu, mỗi phương thức kể chuyện đều có sức mạnh của nó, vẻ đẹp của nó.

Cái đẹp xuất hiện trong “Những gặp gỡ không thể” có hầu hết đều bị hủy diệt, vì sao anh thường chọn những kết thúc rất khốc liệt cho truyện của mình như thế? Phải chăng anh đã mất niềm tin vào việc con người ngày nay biết cách giữ gìn, nâng niu cái đẹp?

Một người bạn của tôi, là người có khả năng thẩm định nghệ thuật tinh tế mà tôi quý trọng, có nhận xét rằng truyện của tôi thường khởi đầu với một sự êm đềm, bình an, như thể sẽ không có chuyện gì xảy ra, nhưng, nếu tinh ý, người đọc có thể dần dần nhận ra một dòng chảy ngầm ở bên dưới báo hiệu sự bất an nào đó. Và rồi, ở một thời điểm tưởng như bất ngờ, bất an phát lộ và bùng ra. Theo anh ấy, đó là phong cách riêng của tôi.

Cũng có thể đúng như anh ấy nói, nhưng nếu vậy, tôi nghĩ nguyên nhân không đơn giản là mất niềm tin vào việc con người biết giữ gìn cái đẹp. Mất niềm tin vào việc con người có khả năng giữ gìn giới tự nhiên đã sinh ra mình và kể cả giữ gìn chính mình, đó mới là dòng chảy ngầm lớn và sâu nhất trong mọi thứ tôi viết.

Không phải không có niềm hy vọng nào vào con người. Chỉ là, tôi không tin vào loài người với tư cách như một toàn thể, mà chỉ tin vào một số ít con người.

Những tác phẩm của anh đều có chất fantasy, sci-fi, hiện thực huyền ảo và câu chuyện thường diễn ra ở thì tương lai giả định. Các nhân tố này tạo ra nét riêng trong sáng tác của anh. Đây có phải là phong cách anh sẽ theo đuổi lâu dài trong thời gian sắp tới hay anh sẽ có những điều chỉnh, thay đổi, chẳng hạn một tác phẩm hiện thực đặt trong bối cảnh hiện tại?

Bên cạnh nhiều thể loại khác, tôi thích văn chương và phim ảnh scifi từ nhỏ. Hồi những năm đầu đại học, tôi viết một tiểu thuyết khoa học viễn tưởng mà tôi đặt cái nhan đề đầy tham vọng là “Vũ trụ loài người”. Dự đồ đó sớm bị bỏ dở, nhưng qua đó tôi biết mình sẽ đi con đường nào.

Mặt khác, tôi không phải típ nhà văn scifi “thuần túy”, theo nghĩa là tôi không bận tâm nhiều đến các vấn đề kỹ thuật, những phát kiến khoa học hoặc phát minh công nghệ trong tương lai. Điều tôi bận tâm hơn là số phận của con người cá nhân trong tương lai xa; vì vậy, trong truyện của tôi, scifi là một thành tố quan trọng thì đúng hơn là một đặc trưng mang tính thể loại.

Vũ Lập Nhật thực hiện

Thứ Năm, 28 tháng 6, 2018

“Tôi là con người được nhào nặn bằng nỗi buồn”

Trả lời phỏng vấn của Style Republik xung quanh tập truyện "Những gặp gỡ không thể có" của tôi vừa được xuất bản
https://style-republik.com/tran-tien-cao-dang-toi-la-con-nguoi-duoc-nhao-nan-bang-noi-buon/

-----------------

Vì sao anh đặt tiêu đề tập truyện ngắn mới nhất là “Những gặp gỡ không thể có”? Đây có phải là tựa đề đầu tiên anh nghĩ ra cho tập truyện này hay trước đó còn có những lựa chọn khác, anh có thể chia sẻ vì sao cuối cùng anh lại chọn tiêu đề này?

Nhan đề này đến một cách tự nhiên, và khi nó đến, tôi cảm thấy không thể khác được. Bởi vì các truyện trong tập, không truyện nào có cái nhan đề đủ “sức nặng” như thế.

Được biết ban đầu “Những gặp gỡ không thể có” còn có thêm một tiêu đề phụ là “Chuyện kể lúc cận kề tận thế”, vì sao cuối cùng anh quyết định bỏ tiêu đề này?

Tôi bỏ nó đi bởi vì xét thấy, với khuôn khổ các truyện trong tập này, “Chuyện kể lúc cận kề tận thế” là một cái áo hơi quá rộng. Thật ra, “Chuyện kể lúc cận kề tận thế” là một tiêu đề liên quan đến một dự đồ lớn hơn của tôi. Có thể tôi sẽ dùng lại nó ở một chỗ khác - có thể là nhan đề cho một tập truyện khác hoặc một tiểu thuyết.

Bốn truyện trong “Những gặp gỡ không thể có” đều có chung bầu không khí buồn khi cái đẹp bị đối xử thô bạo, một dự cảm về tận thế; khi viết, anh có ý thức ngay từ đầu là sẽ xây dựng một bầu không khí chung như thế để tạo sự thống nhất cho toàn tập truyện hay đây là một sự ngẫu nhiên do tiềm thức chi phối?

Chỉ đến khi tập hợp các truyện viết rải rác vào những lúc khác nhau vào cùng một tập dựa trên vài cái chung giữa chúng, tôi mới dần dần nhận ra rằng, bên cạnh những cái chung khác, chúng đều bao hàm một dự cảm về tận thế. Đó là do tâm thế xuyên suốt của tôi, hay là do “tiềm thức chi phối” như bạn nói. Giả như tôi làm vậy một cách chủ ý, tỉnh táo, có tính toán, tôi không chắc rằng hiệu quả cuối cùng sẽ mạnh hơn.

Có người xếp tập truyện mới này vào dòng fantasy, có phải thể loại này cũng là dòng truyện anh nhắm đến cho “Những gặp gỡ không thể có” ngay từ khi viết?

Viết ra tác phẩm là việc của nhà văn, xếp loại tác phẩm là việc của nhà làm sách và nhà phê bình. Tuy nhiên, nhìn lại tác phẩm của mình với con mắt của người ngoài, tôi không cảm thấy gọi chúng bằng cái tên “fantasy” là phù hợp - hẳn cũng giống như bạn không thể dùng từ fantasy để phân loại “Hóa thân” của Kafka vậy. Nhưng dù sao đi nữa, điều đó chẳng quan trọng - quan trọng là niềm tin của người viết vào tính chân thực của câu chuyện anh kể, bất kể nó “phi thực” đến đâu.

Các truyện trong “Những gặp gỡ không thể có” đều kết thúc bằng cái chết - khi thì cái chết được nói rõ, khi thì được ám gợi, nhưng nhìn chung đều là sự kết thúc. Có phải anh đang quá bi quan về thế giới?

Chingiz Aitmatov, nhà văn người Kyrgystan thuộc Liên Xô cũ mà nhiều người thuộc thế hệ 6x-7x hẳn từng đọc và yêu mến, có nói (đại ý): “Tôi là con người được nhào nặn bằng nỗi buồn”. Câu ấy hẳn tôi có thể dùng để nói về mình.

Chẳng phải là tôi không thích vui cười - tôi rất thích truyện tiếu lâm và thỉnh thoảng xem các show hài trên truyền hình. Tuy nhiên, với tôi, cái hài không bao giờ có nổi chiều sâu như cái bi - trừ khi đó là cái hài để tự giễu mình. Bên cạnh đó, có lẽ là tôi hay suy nghĩ nhiều hơn người khác về bản chất phù du của mọi vật và mọi sự.

Nếu có người nói văn của anh toàn thoát ly hiện thực, hình như anh là người dùng văn chương để trốn tránh những vấn đề gai góc của cuộc sống thực tế, thì anh sẽ nói gì?

Chúng ta đã qua từ lâu cái thời nhà văn chỉ được khuyến khích viết về thành tích và đời sống của quần chúng công nông binh, và chúng ta nên chóng vượt qua cái thời nhà văn chỉ được thừa nhận nếu họ viết về “những vấn đề gai góc của đời sống thực tế”. Những nền văn chương thực sự trưởng thành là những nền văn chương phong phú, phồn phức giống như bản thân loài người.

Mặt khác, điều thú vị là khá nhiều người mặc nhiên cho rằng nếu tác phẩm của nhà văn “toàn là chuyện ở đâu đâu” thì trong cuộc sống hằng ngày ông/bà ta cũng là một người luôn ở trên mây. Dường như theo họ trên đời không thể có một người chỉ viết những truyện tình đẹp đẽ ở một xứ tưởng tượng nào đó và đồng thời là một nhà hoạt động xã hội tích cực.

Max Ernst- Nature at Dawn Evensong

Văn của anh có cảm giác như văn Tây - anh chịu ảnh hưởng phương Tây nhiều quá, nên người đọc Việt khó tìm thấy sự đồng cảm. Điều này có phải xuất phát từ việc các tác phẩm anh dịch hầu hết đều là văn học phương Tây? Ngay cả một tác giả phương Đông mà anh từng dịch là Murakami Haruki cũng là một người viết rất Tây. Anh có bao giờ nảy ra ý định dịch một tác phẩm văn học phương Đông thuần túy hoặc làm cách nào đó để văn của anh có sự pha trộn tỉ lệ Đông – Tây hài hòa hơn không?

Hồi đang học đại học, tôi dịch “Cố đô” của Kawabata từ bản tiếng Nga (một bản dịch thuần túy vì yêu tác phẩm, chưa từng được xuất bản). Khi tôi bắt đầu thực sự đến với văn chương vào khoảng 7-8 tuổi, một trong những nhà văn đầu tiên tôi đọc và “phải lòng” cho đến tận bây giờ là Akutagawa. Hẳn bạn sẽ đồng ý với tôi rằng đó là hai trong số những nhà văn “Nhật Bản” nhất.

Nếu bạn đã đọc hết “Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian”, chắc hẳn bạn có gặp ở đó những đoạn, những chương khiến bạn có cảm giác mạnh mẽ rằng người viết ra chúng không thể nào là một người Mỹ hoặc người Pháp; y chỉ có thể là một người Việt.

Mặt khác, nghĩ kỹ bạn sẽ thấy, quan niệm cho rằng “nhà văn Việt thì phải viết thứ văn gần gũi với người Việt” chính là một trong rất nhiều vòng kim cô trói chặt nhà văn Việt từ trước tới nay.

Kể cả nếu tôi đồng ý với ai đó rằng văn của một tác giả Việt nhất thiết phải có ít nhiều “tính Việt”, thì chúng ta vẫn phải nhìn thấu một điều rằng “tính Việt” hay “dân tộc tính” không phải là cái gì đó nhất thành bất biến. Nếu nó thực sự có sức sống, nó sẽ như một sinh thể, trường tồn, phát triển, mở rộng, tự làm mới, tiến hóa. Những tác phẩm như của tôi là một phần của sự mở rộng, tự làm mới, tiến hóa đó.

Được biết, anh rất thích phim kinh dị. Những cảnh bạo lực trong truyện của anh, đặc biệt là cảnh hồn ma xuất hiện trong truyện “Nhớ mãi một giờ yêu đương nàng đã trao tôi”, có phải là ảnh hưởng hay được gợi cảm hứng từ phim kinh dị? Cùng với trinh thám, kinh dị vẫn là một thể loại thường bị đánh giá thấp trong địa hạt văn chương, vậy anh đã từng có ý định viết truyện kinh dị thuần túy chưa? Hoặc là nảy ra ý định làm một cuộc cải tiến khiến mọi người có cái nhìn mới về thể loại kinh dị như cách Paul Auster đã làm với thể loại trinh thám?

Tôi không chắc rằng Tibor trong “Nhớ mãi một giờ yêu đương nàng đã trao tôi” là một hồn ma (cười). Đó cũng có thể là một người (sống) có tài phá khóa như thần chứ. Đúng là y có nói đến “nằm dưới mộ”, nhưng có thể đó chỉ là một cách nói.

Tuy nhiên, đúng là tôi thích phim kinh dị, cũng như thích phim khoa học giả tưởng và phim hành động võ thuật. Tôi chưa từng nghĩ đến chuyện viết truyện kinh dị “thuần túy” hoặc kinh dị “cách tân”, tuy nhiên, bất cứ cái gì thuộc về con người đều có thể là chất liệu văn chương của tôi vào một lúc nào đó. Và cái kinh dị, nỗi sợ và đồng thời sự háo hức muốn biết cái kinh dị, nó là một thứ “xưa như Trái đất” thuộc về con người.

Có người cho rằng nhà văn chỉ nên viết về những gì mình biết rõ. Văn của anh thì bao quát những bối cảnh trải rộng nhiều nước, nhiều thực tại khác nhau. Anh nghĩ sao về điều này? Và khi viết về những nơi chưa từng đặt chân đến, anh sử dụng phương pháp nào để tưởng tượng và miêu tả chi tiết? Chẳng hạn, khi James Hadley Chase. một nhà văn Anh, viết tiểu thuyết hình sự “You've Got It Coming” (đã dịch sang tiếng Việt với tiêu đề “Dã tràng xe cát”) với bối cảnh đặt tại Mỹ, ông đã dựa vào những công cụ như từ điển bách khoa, bản đồ du lịch chi tiết, du ký nước Mỹ, từ điển tiếng lóng Mỹ... Anh có dùng những công cụ tương tự như thế không khi viết truyện có bối cảnh nước ngoài?

Margaret Mitchell, tác giả tiểu thuyết “Cuốn theo chiều gió”, sinh năm 1900, mất năm 1949. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của bà có bối cảnh cuộc Nội chiến Mỹ từ 1861 đến 1865. Liev Tostoy sinh năm 1828, mất năm 1910. Tiểu thuyết “Chiến tranh và hòa bình” của ông diễn ra trong thời kỳ cuộc kháng chiến của nước Nga chống quân đội Napoléon vào các năm 1805 và 1812. Nếu như quan niệm “nhà văn chỉ nên viết về những gì mình đã trực tiếp nhìn thấy/kinh qua và bởi vậy biết rõ” là thước đo vàng cho chất lượng văn chương, thì hai cuốn tiểu thuyết nói trên là đồ bỏ - vì chúng chỉ là chuyện bịa tạc vô giá trị.

“Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian” (xuất bản 2016) là tiểu thuyết đầu tay của anh nhưng tập truyện ngắn đầu tay của anh không phải là “Những gặp gỡ không thể có” mà là “Baroque và ẩn hoa” (xuất bản 2005). Như vậy là có sự gián đoạn khá dài nếu tính từ tập truyện ngắn đầu tiên đến tiểu thuyết đầu tiên, và nếu tính khoảng cách giữa hai tập truyện ngắn thì thời gian gián đoạn lên đến 13 năm. Vì sao anh lại có sự gián đoạn này?

Từ 2005 đến 2006 là khoảng thời gian tôi tạm ngưng viết, để tìm đường đi đúng nhất cho mình. “Baroque và ẩn hoa” về cơ bản là tập truyện “hiện thực” thuần khiết, và tôi sớm nhận ra rằng đó không phải là chỗ mạnh của tôi. Cuối 2006, tôi bắt tay viết cuốn tiểu thuyết “thực sự” đầu tiên của mình, với nhan đề (tạm đặt) là “Cospolist Nổi Loạn” mà đến nay chưa hoàn tất vì một số lý do. Có thể coi đó là mốc đánh dấu “bước ngoặt” trong đời văn của tôi – từ đó trở đi, tôi không còn hoài nghi về con đường của mình.

“Life Navigator 25…” thật ra được khởi đầu muộn hơn “Cospolist Nổi Loạn”, vào năm 2010, và hoàn tất vào năm 2014. “Những gặp gỡ…” thì gồm những truyện được viết rải rác trong một thời gian dài, từ trước 2010 cho đến sau 2014. Như vậy, thật ra, sự gián đoạn của tôi không phải trong 13 năm mà ngắn hơn nhiều. Về cơ bản, suốt trong nhiều năm qua, tôi không ngừng viết.

Kodaki thực hiện