Thứ Năm, 31 tháng 10, 2019

Mùi

Em có nghe trong thơ
mùi nước hoa mùi nước tiểu mùi
mỡ cháy?

Không phải mỡ lợn đâu! 
Mỡ bụng đàn bà đó. 

Em có thấy trong trăng
một bóng roi vung lên?

Chát! 

Trong gió mùi mồ hôi.


Thứ Hai, 9 tháng 9, 2019

Một cuộc thư hùng (trích "Cospolist Nổi Loạn")

Trích từ "Gurun Ngoại truyện" đi cùng với "Cospolist Nổi Loạn", tiểu thuyết đang hoàn tất của tôi.

Hai tiếng cồng. Đây không còn chỉ là lời cảnh cáo. Một lần nữa bao nhiêu con người thảy im bặt, dường như bị choáng bởi dư âm của hai tiếng cồng, như một loài đỉa nhỏ, vô hình, len lỏi vào trong thân thể. Sau một hồi có vẻ lâu đến cả ngày trời, Hăldúk Êstimbăn bắt đầu cử động, như sực nhớ ra không phải mình đang mơ. Và rồi hắn làm một việc không ai ngờ tới. Hắn buông vũ khí xuống, cả hai bên, tiếng thịch vừa đùng đục vừa sũng nước khi chúng chạm mặt đất lầy bùn dường như khiến rừng người khẽ gợn, như có một làn gió đặc và lạnh vừa từ dưới đất phả lên xuyên từ bàn chân đến đỉnh đầu và gáy họ. Chậm, thật chậm, hắn quỳ xuống cạnh Tengan Duwat lúc này vẫn đang vận hết sức cùng lực kiệt để ngẩng nhìn. Hắn choàng hai tay quanh thân mình đối thủ bị đánh bại nhưng không bị khuất phục, và, như thể kẻ kia là chiến hữu của hắn bị trọng thương, với sự cẩn trọng và gần như với tình yêu thương, gần như một người anh trai, một người cha, một người anh hay người cha vốn không quen hành xử dịu dàng tuy đôi khi muốn hành xử dịu dàng, hắn tìm cách nâng Tengan Duwat dậy, giữ cho gã đừng ngã, làm trụ đỡ cho gã, vừa gượng nhẹ, tránh làm gã thêm đau đớn, vừa cương quyết, buộc gã phải nhớ rằng chỉ cần gã muốn đứng dậy, muốn từ trong gan ruột, như thể đó là điều độc nhất gã muốn làm trước khi thở hơi cuối cùng, thì gã vẫn còn có khả năng đứng dậy.


Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2019

Zänsürdén (trích từ "Cospolist Nổi Loạn")

Trích từ "Gurun Ngoại truyện" đi kèm với "Cospolist Nổi Loạn", tiểu thuyết đang hoàn tất của tôi. Đế quốc Siră Kantânări là một phần của Gurun, một nền văn minh thuộc một hành tinh mà thoạt nhìn có vẻ ở ngoài trái đất song trên thực tế hình như không hẳn vậy.

Zänsürdén: thủ đô của đế quốc Siră Kantânări, thành phố đông dân nhất - trên 1.400.000 người vào thời điểm cực thịnh -, quan trọng nhất về mọi mặt của nước này, một trong những thành phố có vai trò và ảnh hưởng lớn nhất trên toàn lục địa Eonga. Vào khoảng năm 600 trước Năm 0, khi đế quốc Bongora Mande-Bandora ở phía nam đang cường thịnh, Zänsürdén hãy còn là một làng chài nhỏ nơi hai con sông Agynŏtlî và Ŏrü hợp lưu và đổ ra vịnh Sigérmarăt (hay Sgyrmît). Từ khi chinh phục được đế quốc Bongora Mande-Bandora vào đầu thế kỷ 4 trước Năm 0, người Siră Kantânări làm tất cả những gì cần làm để kinh đô Kadoakona của người Bongora - mà từ nay chỉ là thủ phủ của một đơn vị hành chính lớn của đế quốc Siră Kantânări gọi là spirthon - trở nên khiêm nhường so với kinh thành Zänsürdén, Mặt Trời của Đế Quốc Siră Vĩ Đại. Họ có làm được điều đó không, ngay cả với một số người Siră Kantânări vẫn là một dấu hỏi.

Dĩ nhiên những khác biệt giữa hai thành phố thì thật nổi bật. Trong thâm tâm biết rõ mình không thể đọ với cái tráng lệ, tinh tế, phóng túng và có thể gọi là ưu nhã ở người Bongora và ở Kadoakona - trong bố cục của thành phố dựa trên vô vàn biến thể của đường tròn, trong danh mục những chất liệu và màu sắc hết sức khác nhau của các công trình kiến trúc, trong những cách xử lý táo bạo và kỳ khu đối với trang trí nội thất và thiết kế không gian mở của nó -, người Siră Kantânări tự khẳng định mình bằng một phong cách tối giản nghiêm ngặt.


Về kích thước vật lý, Zänsürdén quả thật lớn hơn Kadoakona về tất cả mọi chiều. Quảng trường trung tâm Zänsürdén là quảng trường rộng nhất, tháp trung tâm Zänsürdén là ngọn tháp cao nhất, hồ trung tâm Zänsürdén là hồ nhân tạo sâu nhất, cung điện hoàng đế Siră Kantânări là cung điện có nhiều phòng nhất, vườn thượng uyển rộng nhất với những loài cây, chim và thú quý nhất, đài phun nước cao nhất và hai bức tượng chầu hai bên cổng vào chính điện là hai bức tượng khổng lồ nhất trên toàn lục địa Eonga. Thiết kế chủ đạo của thành phố là dạng bàn cờ dựa trên sự giao nhau vuông vức giữa các đường thẳng. Ba màu duy nhất được cho phép đối với vật liệu kiến trúc và các bề mặt trang trí là trắng, xám và lục, ba màu trên lá cờ và quốc huy của đế quốc. Người Siră Kantânări thiếu cái khả năng vừa tô đậm mình vừa tự xóa mình của người Bongora Mande-Bandora, và họ chấp nhận rằng, Zänsürdén, thành phố tiêu biểu nhất của họ, tốt nhất hãy cứ để nó như thế: vĩ đại và đầy sức nặng đến mức hằn dấu ấn vĩnh viễn lên ký ức bất cứ kẻ nào thấy nó chỉ trong chốc lát, lành lạnh, vuông chằn chặn, hơi đơn điệu, song hiện diện sừng sững, ngự trị trên trái đất và trên thời gian.

@Trần Tiễn Cao Đăng

Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2019

Faínâhind và Ăltâhind (trích từ "Cospolist Nổi Loạn")

Đoạn dưới đây trích từ "Ngoại truyện Gurun" trong tiểu thuyết "Cospolist Nổi Loạn" sắp hoàn thành của tôi.

 I
Mùa đông đã trở lại. Cũng như phần lớn người Siră Kăntânări, Faínâhind yêu cái lạnh của mùa đông. Nhưng có lẽ không nhiều người giống như Faínâhind, kẻ luôn cảm thấy rằng, trên tất cả, duy chỉ mùa đông mới là mùa “của nàng”. Nàng biết điều đó là vì chẳng hạn nếu vào mùa đông nàng tựa lưng vào một cây cột nhà bằng gỗ ăphn’gálun trong chừng một canh giờ, thì sau đó một người không mặc quần áo ấm có thể ôm cột này mà sống được qua đêm khi trời lạnh đến nỗi nước đựng trong vò đông cứng nứt cả vò.
Vào mùa đông, những khi trời đặc biệt rét, nàng sưởi ấm cho một số người có mặt ở Lâu đài Trắng của nàng bằng cách đó. Đôi lúc nàng yêu cầu họ cởi giày, đi chân trần trên mặt hồ Otsinowen đóng băng, nếu họ muốn tới Lâu đài Trắng nằm giữa hồ. Nàng yêu cầu họ cứ chân trần như vậy đi quanh Lâu đài từ ba đến mười lần lần, nhiều hay ít lần tùy thuộc họ là ai; nàng đặc biệt thích làm vậy khi tuyết rơi và sẽ không làm vậy nếu đang bão tuyết. Sau đó nàng thích ngắm những bàn chân tím tái của họ kề sát vào những cây cột nàng vừa ôm trước đó không lâu, nàng thích nhìn khuôn mặt họ đỏ bừng vì khoan khoái, vì hưng phấn, vì biết ơn, vì phẫn nộ. Những cốc rượu tmísik đun nóng sẽ được đám nữ tì mang ra, và trước khi tự tay trao cho từng người một, nàng sẽ kề môi vào vành cốc, không quá lâu khiến họ sốt ruột hoặc hiểu lầm rằng nàng thiên vị một ai đó, vừa đủ lâu để hơi ấm và mùi hương môi nàng sẽ vào trong tất cả bọn họ như nhau cùng với rượu. Có người bảo rằng trong khi môi nàng chạm vành cốc, nàng có thể đọc thầm một câu nào đó, một thông điệp, một lời khiêu khích, sự hứa hẹn, một câu bí hiểm, một lời nguyền…, mà chỉ riêng người nhận cốc sẽ nghe thấy, không phải bằng tai mà bằng nước bọt và máu y, bằng tâm can y.
Tuy nhiên, mùa đông năm nay, 214 trước Năm 0, đến với một phẩm chất khác. Nàng cảm thấy ở góc sâu nào đó trong tim mình, từ khá lâu trước khi những bông tuyết đầu tiên rơi xuống, rằng sẽ có những điều, nhiều điều không bình thường xảy ra. Dự cảm đó làm chậm lại những động tác quen thuộc của nàng sau khi thức dậy vào buổi sáng. Chiếc khăn mặt dừng lại lâu hơn trên mặt nàng; cái chậu đồng phải đợi lâu hơn để hứng những ngụm nước nàng nhổ xuống; các đầu ngón chân nàng ngọ nguậy trong mũi giày lâu hơn bình thường một chút - giống như bầy trẻ đang phấp phỏng chờ đợi điều gì đó - trước khi nàng quyết định đứng dậy. “Này em,” nàng chợt thốt lên với Ăltâhind trong lúc cô này vừa bê chậu nước quay đi.
Ăltâhind đứng lại, ngoái đầu nhìn nàng.
“Hôm nay ta thấy khang khác,” nàng nói.
Vâng, Ăltâhind nói nhỏ nhẹ.
Em thử nhìn mây xem, rồi nói cho ta nghe.
Vâng, Ăltâhind đáp, đoạn ra khỏi phòng như một cái bóng.
*** 
Snêkhânúngblăth, nhìn trời đất mà đoán định tương lai, là một trong những truyền thống lớn của huyền học nước ta, các vị biết đó. Tukwanamúk Đại đế xứ Phnŏdhílur là một trong những đấng quân vương tin tưởng ở nền minh triết này với lòng nhiệt thành sâu xa nhất; bản thân Ngài có thể nhìn hình dáng, màu sắc những đám mây, tương quan giữa chúng với nhau, giữa chúng với nền trời và với mặt đất, mà đoán trước vị tướng nào dưới trướng Ngài sẽ bị thương vì ngã ngựa trong trận đánh diễn ra sau đó hai canh giờ ở một nơi cách Ngài hơn nửa ngày ruổi ngựa. Sự linh diệu đến rợn người trong một số lời tiên báo của Ngài khiến người ta gọi Ngài, trong số nhiều biệt danh khác, bằng cái tên Tukwanamúk Tösüdkhâlun - Tukwanamúk Kẻ Truyền Tin Định Mệnh.
Bản thân tôi chưa bao giờ dám cả gan có ý nghĩ mình sở hữu dù chỉ một phần nhỏ cái năng lực phi phàm giống như của Ngài. Là đấng quân vương, Ngài sinh ra đã mang sẵn nó như mang sẵn con ngươi trong cặp mắt Ngài; cũng như, là một phụ nữ, thì từ khi nằm trong bụng mẹ tôi mang sẵn mầm mống của bộ ngực này, bộ ngực hoàn hảo mà mẹ tôi trao lại cho tôi, một trong những truyền thống huy hoàng nhất của gia tộc tôi và thành quả viên mãn nhất của con người trên mặt đất. Mỗi chúng ta, mỗi sinh thể trên thế giới đều là sự nối dài một số những gì tồn tại trong thời gian. Có lẽ những vật vô tri vô hình cũng vậy. Ăltâhind chẳng hạn. Nó không phải là sự nối dài một thứ thân thể khả dĩ so sánh được với thân thể của mẹ con tôi, song mặt khác nó là sự tương tục của một huyền thuật Snêkhânúngblăth tồn tại tự nhiều, rất nhiều đời trước nó. Cũng lạ rằng một thứ thần năng như thế lại là sở hữu chung của một đấng quân vương và một dòng họ chưa bao giờ thoát kiếp tiện dân, song có lẽ đó chỉ là một trong rất nhiều những bí ẩn nằm trong ý đồ của Thượng đế. Tội nghiệp Ăltâhind, hai tay vầy trong nước cọ sàn, khuôn mặt mang cái mũi và cặp lông mày của một bậc công nương. Nếu đó không phải là chút dư ảnh cuối cùng sót lại của một thứ cội rễ vương giả bị lấp dưới hàng trăm thước đất và vùi dập bởi hàng trăm năm bị truy bức hoặc lãng quên, thì chỉ có thể hiểu rằng đó là do một thứ lời nguyền tàn nghiệt đã áp triện lên số phận nó. Theo tôi biết, tất cả những ai nắm được ít nhiều huyền nhiệm của Snêkhânúngblăth đều có một số phận mà kẻ khác không mong muốn. Điều đó không loại trừ ngay cả Tukwanamúk Đại đế, dẫu rằng tất cả những gì xảy ra trong đời Ngài đều xứng hợp với số phận của một bậc vua chúa.
Sáng nay thật sự có gì đó khang khác. Thật thế. Mặc dù tôi có không có khả năng đọc bầu trời và mặt đất như đọc một trang sách viết bằng một ngôn ngữ huyền bí và thứ mẫu tự huyền bí giống như Ăltâhind có thể làm, nhưng tôi nghe được trang sách ấy, nó có một âm vang mà tôi cảm nhận được, giống như sự thay đổi trong cái im lặng của một rặng núi sâu hút khi có một thân người rơi xuống vực, hay cái âm hưởng vi tế, mảnh hơn hơi thở, từ nơi nào đó bên trong tôi khi có bước chuyển từ bậc thứ ba ăgdusíth sang bậc thứ tư igtébdăsíth của nỗi khoái lạc khi tôi múa. Thân thể tôi, cũng như bầu trời, có ngôn ngữ của riêng nó, và những đàn ông đáng kể đối với tôi là những người đã cố gắng đọc được dù chỉ bập bõm những câu từ dễ nhận ra hơn của thứ ngôn ngữ này - cái đáng yêu của họ là nỗi khao khát thấu hiểu không chỉ tầng thứ nhất mà cả tầng thứ hai, thứ ba, thứ tư ý nghĩa đằng sau những câu chữ đó. Chẳng hạn, cánh tay trái tôi úp xuống, nhưng lòng bàn tay xòe ngửa, đầu các ngón tay hơi chếch lên trên, dưới ánh mặt trời khi sáng khi tối của một ngày mây phủ, nghĩa của nó là gì? Một chàng trai xứ Ko-Yo đã đọc được nó, và bởi vậy chàng đã không vượt ngàn dặm trường đến gặp tôi một cách vô ích.
Tranh của Michael Parkes
Lúc này thì tôi, với một nỗ lực và khao khát tương tự như ở những đàn ông của tôi, cố nắm bắt và thấu hiểu hàm nghĩa ẩn mật của bầu trời. Dĩ nhiên Ăltâhind sẽ giúp tôi. Nhưng không lẽ điều bí ẩn và mới mẻ này, mà tôi tin chắc xuất hiện trên trời dành riêng cho tôi, lại không tự nói với tôi dù chỉ một phần những gì tôi cần hiểu bằng cách của nó? Dĩ nhiên là tôi nhờ Ăltâhind giúp, duy có điều nó biết rõ rằng nó chỉ đóng vai trò kẻ nhắc tôi một điều tôi đã quên song một khi tôi nhớ ra thì điều đó là của tôi, nó thuộc về một tầng bậc khác mà, ngoài Faínâhind, không kẻ nào tiếp cận được. Điều ấy khác với khi tôi nhắc Ăltâhind nhớ lại một điều gì đó, bởi lúc này thì tôi là kẻ nắm giữ điều đó ở tầm cao hơn nó.
Những con tàu nào sẽ cập cảng Sgöntăsíd ngày hôm nay? Chừng nào nước chưa đóng băng, những con tàu còn đến. Tại sao bỗng dưng tôi nghĩ đến điều đó? Liệu có phải vì cái gì đó tương tự như khi cây săgdétai cuối cùng còn sót lại nở hoa khiến hẻm núi trở nên khác biệt đến nỗi cách hàng dặm người ta cũng nhận ra? Một cái gì đó khác đang được những con tàu mang tới cho tôi. Sao tôi tin chắc như vậy? Đó là bởi quyền năng của Đấng Tối cao: quan trọng không phải là thông điệp được gửi cho tôi bằng cách nào, qua mật ngữ gì. Quan trọng là tôi cảm nghiệm được yếu nghĩa của nó từ trong tim tôi.
Đây là Ăltâhind: lúc nào cũng khiêm cung, không ngẩng cao đầu trước mặt ai, mắt nhìn xuống luôn luôn, như thể trên mặt đất có ghi sẵn những chỉ thị dẫn dắt từng khoảnh khắc kế tiếp của cuộc đời nó. Có những lúc tôi bắt gặp nó đột ngột ngẩng lên nhìn trời. Những lúc đó, dù đang cách một quãng xa đi nữa tôi vẫn cảm thấy mắt nó sáng rực, như thể nó nghe thấy một tiếng nói từ trên trời, có thể dưới dạng một tiếng sấm vọng xuống, tôi thì không nghe thấy bởi giọng này dành riêng cho nó. Ấy là một cảm giác khó chịu, mặc dù tôi không buồn hỏi nó rằng thực ra thì cái gì, trong khoảnh khắc đột khởi ấy, đã nối liền nó với bầu trời, và liệu trong khoảnh khắc ấy mặt đất có tiếp tục buộc chặt lấy nó không. Kia, nó đã trở lại từ lúc nào, lặng lẽ như cái bóng, một cái bóng mà tôi đã quen cảm thấy hiện diện dù không nhìn thấy. Tựa lưng vào khung cửa, đầu cúi, hai tay duỗi dài, bàn tay xếp lên nhau đặt trên bụng dưới, ngay phía trên gò Sügel, vừa sẵn sàng hành động vừa sẵn sàng thụ nhận, đúng như thân phận nó đòi hỏi, song cũng tương hợp với một cái gì đó khác mà tôi không biết. Ăltâhind, tôi có yêu nó, phải, như yêu đứa em gái lớn lên bên tôi từ thuở thơ ấu. Đồng thời, nhiều lúc tôi nhận thấy, trong thâm tâm, tôi ước phải chi nó không phải là nó như thế này.
- Nào, nói ta nghe em thấy gì.
Im lặng một lát, mắt nhìn xuống, như để quen dần với tầm vóc và sự hiện hữu uy nghiêm của điều mình sắp nói, Ăltâhind cất lời.
- Sắp xuất hiện ở đây người đàn ông sẽ làm thay đổi số phận cô. Trong vòng ba ngày kể từ hôm nay, cô phải nhận ra người đó. Nếu cô không nhận ra được, người đó sẽ chết, và cô sẽ không bao giờ tha thứ cho mình đã vừa mù vừa điếc cả bên ngoài lẫn bên trong đúng vào giây phút một trong những hiện thể của Đấng Tối cao trực tiếp đến với cô. Nỗi ân hận sẽ khiến cô thật sự mù vào một lúc nào đó trong đời cô, và từ đó trở đi người ta sẽ biết đến cô như một người mù, tuy là người mù đẹp nhất.
Khi nói gần hết câu cuối, đột ngột Ăltâhind ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt tôi, và trong khoảnh khắc tôi cảm thấy mình đang đối diện ánh mắt Ăltâhind - hay không còn hoàn toàn là Ăltâhind - những khi nó đột ngột hướng về tia sét vô hình và tiếng sấm vô thanh của bầu trời. Ăltâhind, bầu trời và tôi, trong khoảnh khắc dường như không còn sự chia cách và khác biệt giữa ba cái đó: bầu trời nhìn tôi qua Ăltâhind, Ăltâhind nhìn tôi mà thấy bầu trời, tôi thấy bầu trời qua Ăltâhind và thấy đó là tôi.
- Em vừa nói điều em biết. Ta hỏi em thấy những gì?
- Mép trời phía Tây Nam có màu cánh vạc. Chếch lên một chút về phía chòm sao Bò Tót nền trời có màu giống như lá cây ăgtâki vào tiết sương giá, chừng như đã mất hết sự sống nhưng nếu nhìn bằng con mắt bên trong thì sẽ nhận ra ở nó dáng tươi nhuần của một cái cây sắp trổ hoa… Đó là những gì em thấy, thưa cô, song thông điệp của Đấng Tối cao không phải đến với cô qua những gì thấy được bằng mắt thịt.
- Ta biết, - tôi đáp, giọng hơi gắt, tôi không muốn thế. - Ngôn ngữ của bầu trời không dễ giải đối với ta, nhưng ta có những cách khác chẳng kém hiệu quả hơn để thấu hiểu ý đồ kẻ sử dụng nó. - Miệng tôi nói, nhưng Ăltâhind không còn tồn tại trong tâm trí tôi. Lời tôi như hướng đến chính tôi, hoặc tới kẻ duy nhất có thể và cần phải nghe nó. Đồng thời, trong thâm tâm, tôi nhìn thấy những gì tôi sẽ làm ngày hôm nay, những gì tôi sẽ làm trước khi điều đó tới, chuẩn bị bản thân mình cho giây phút cánh tay vươn dài của Đấng Tối cao chạm vào số phận tôi.
- Ăltâhind, kiểm tra tất cả các loại rượu có trong nhà ta, - tôi nói. - Ta muốn bảo đảm rằng các mỹ tửu dành riêng cho tri kỷ của ta sẽ có khi thời điểm đến, sao cho giọt cuối cùng của chúng thấu vào trong tim người ấy, như giọt máu cuối cùng trong huyết quản ta.
Những mỏm núi lởm chởm của rặng ŏystúrêu - có thể nhìn thấy từ bất cứ chỗ nào trong Hương Viên của tôi, song rõ nhất là từ cửa sổ phòng tôi, chính vị trí này - dường như se mình lại và lùi xa hơn một chút vì cái lạnh; ánh mặt trời làm cho những mép rìa của chúng trở nên vàng ươm hơi ươn ướt, như mật. Đó vẫn là ánh sáng của mùa thu; những cạnh sắc vô hình của mùa đông còn chưa xuất hiện ở cuối tầm nhìn làm đau cặp mắt kẻ nhìn, nhưng môi tôi và hõm ngực tôi, bằng cách nào đó, đã dự cảm được chúng.
- Vâng, em biết phải làm gì, - Ăltâhind nói. - Xin cô yên tâm. Em sẽ làm tất cả và trông nom tất cả, với trái tim như trái tim cô và đôi mắt như Đấng Tối cao, bởi em là một phần không thể tách rời của số mệnh cô.
Nào, liệu bạn có hiểu được tâm trạng khi nghe những lời như nó vừa nói không? Quay lưng đi khỏi ngay nửa chừng chữ cuối cùng, nó dường như biết rõ, không, chắc chắn nó biết rõ, rằng cái gì đó vô hình ẩn trong điều nó nói lẫn sự hiện diện của bản thân nó vẫn còn đó hồi lâu trong tâm trí tôi, và tôi hơi ngạc nhiên, thậm chí hơi khó chịu khi nhận ra rằng tâm trí tôi vẫn còn chỗ cho điều đó. Thôi được, tôi sẽ không nói thêm với các bạn về Ăltâhind. Nếu đúng như nó nói, thì sớm muộn gì tôi cùng các bạn sẽ còn gặp lại nó.
@Trần Tiễn Cao Đăng