Chủ Nhật, 13 tháng 2, 2022

Thư tình gửi cả thế gian

Đặc biệt dành cho những phụ nữ tôi yêu đơn phương, và cho Em, người phụ nữ duy nhất của tôi, mà tôi tin rằng có thật trên đời, kể cả dù tôi không bao giờ gặp được em hoặc em không nhận ra tôi.

----

Anh muốn là gốc cây rắn, vững ở ngay gần em, mà em có thể vịn vào đứng dậy nếu không may em vấp ngã.

Anh muốn là con chim duy nhất bay ngang trời đúng lúc em ngã lòng nhất và đang nghĩ: chẳng còn gì đáng cho mình mong muốn trên đời. Nhìn cánh chim, em chợt nhận ra mới vài giây trước mình ngu ngốc ra sao.

Anh muốn là vách tường gần bếp lò hơn hết, mà em có thể tựa lưng thiu thiu ngủ sau một ngày vất vả.

Anh muốn là làn gió làm se mát những giọt mồ hôi trên hõm ngực em.

Anh muốn là tấm gương mà em tình cờ soi vào và phát hiện rằng một bên vai áo em lấm chút bụi.

Anh muốn là bài hát đẹp mà em chợt nghe giữa đêm khuya và, lòng tràn ngập một cảm xúc lạ lùng, chưa từng có, em nhận ra rằng dẫu thế nào đi chăng nữa mình vẫn không thôi tương tư những vẻ đẹp của thế gian.

Anh muốn là chàng trai Tây Ban Nha trong mấy câu thơ:

Quisiera ser el sepulero
Donde a ti te han de enterrar.
Para tenerte en mis brazos
Por toda la eternidad.

Anh muốn là nấm mồ
Nơi người ta sẽ chôn em.
Để ôm em trong tay anh
Mãi mãi không rời.

Anh muốn là ánh ngời tỏa ra từ em vào khoảnh khắc em nảy ra một ý tưởng đẹp và hữu hiệu nhằm cứu chữa thế giới.



Thứ Ba, 8 tháng 2, 2022

Một chút từ "Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian"

... Những buổi sớm đầu tiên của chàng ở khu Albayzín, Granada, những giây phút vừa tỉnh giấc ẩn chứa kỷ niệm về thời thơ ấu của chàng. Một buổi chiều, trên căn gác xép, chàng - đứa trẻ lên ba - ngồi bệt giữa sàn ván, khóc ngằn ngặt tưởng không bao giờ dứt, mồm nhắc lui nhắc tới, “Me đi mô rồi, me đi mô rồi”, làm như toàn bộ nội dung sự tồn tại của nó chỉ còn quy lại nội trong chừng đó, và cảm thấy tận trong gan ruột rằng mình sẽ vĩnh viễn không bao giờ còn biết đến niềm vui - niềm vui ở bên mẹ và qua đó niềm vui thấy mình đang sống trong thế giới, cùng thế giới. Chàng cảm thấy mình đang khóc thút thít, nhận ra rằng sự khóc tại thời khắc đó bằng cách nào đấy vẫn tiếp tục đến bây giờ, không dứt ở trong chàng, nơi tầng sâu nào đó của chàng, tầng có từ sớm nhất và mong manh nhất, bị những tầng xuất hiện sau, dày nặng hơn chồng chất lên đè nghẹt. Ở đây, nơi chàng cảm thấy từng là quê xứ mình tại một quãng nào đó trong thời gian, chàng lại nghe ra ở đâu đó trong mình tiếng khóc của linh hồn luôn luôn xa mẹ ấy.

Và chàng cảm thấy mình hiểu rằng sự hoài vọng này là một thứ mãi mãi ở trong con người chừng nào còn sống. Hoài vọng nằm trong hoài vọng, hoài vọng kéo theo hoài vọng, hoài vọng cái thời mình từng có khả năng hoài vọng, hoài vọng về đứa trẻ không bao giờ đặt câu hỏi về cái mình hoài vọng và tại sao mình hoài vọng. Chàng biết rằng ở Albayzín, Granada này, nơi mà cuối cùng chàng cũng có thể trở về, ở đó, sau niềm vui đầu tiên không quá dài cũng không quá ngắn, chàng sẽ lại bắt đầu cảm thấy cái đau đó, nó nhắc chàng nhớ mình vẫn còn cách xa những chốn quê nhà khác nữa, còn những người mẹ khác lớn hơn và già hơn bất cứ người mẹ nào chàng từng biết và gần gũi, người mẹ mà tinh chất của bà trong nội thể chàng nằm sâu đến nỗi chàng vĩnh viễn không bao giờ có thể nhìn ra và nhận thức được.

Nhưng chàng cảm thấy Người, và do vậy một phần của chàng vĩnh viễn là đứa trẻ ấy.

***

Trong một giấc mơ chàng thấy mình đọc một cuốn sách chưa bao giờ đọc, và ngay khi đang đọc chàng chợt nhớ lại rằng mình từng quen biết người đó, người mà cái tên đang nằm kia, giữa những dòng in bằng một thứ font chữ ngày nay hầu như không còn thấy nữa: “Phan Thái Công, từng một dạo làm ký lục cho một tòa báo ở thành Nhã Điển…”

Đọc tới đó, trong giấc mơ, chàng dừng lại, mắt vẫn nhìn vào những dòng chữ song không thấy, đắm mình hình dung về chuyện một buổi chiều dài chờ đợi ở một nhà ga tỉnh lẻ châu Âu dưới cơn mưa dầm dề không dứt thì có thể gieo và làm kéo dài thứ tâm trạng gì nơi chàng. Chuyện chàng đợi ai không góp phần vào đó nhiều bằng việc chàng đang ở đó trong cơn mưa ấy, dưới bầu trời ấy, hít thở mùi của nó, hòa vào màu của nó, nghe nó ở trong máu mình và mình trong máu nó, và không phải tại một nhà ga lớn ở Paris hay Madrid hay Roma hay Amsterdam mà ở sân ga tỉnh lẻ này, với sự nhỏ bé, bên rìa của nó, lịch sự, tao nhã, hiện đại, sạch bong, thơm lừng, đúng vậy, song bên rìa và nhỏ bé. Tuy nhiên chính sự bên rìa, nhỏ bé này, như một hồi sau chàng nhận ra, mới là cái mà chàng đang nhớ về với chút ngậm ngùi: chàng đang đứng ở một sân ga tỉnh lẻ châu Âu mà nhớ tiếc một sân ga tỉnh lẻ khác ở trong chàng dẫu chàng chưa biết tới, hay cũng có thể sự bên rìa và nhỏ bé của một con chim non rơi từ tổ trên cây xuống đất khi mẹ nó đã bị bắn, hay một búp hoa không đủ nước âm thầm chết trong bóng tối.

(trích từ "Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian")

-----

"Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian" có thể không phải là cuốn sách thành công nhất của tôi, nhưng, trong đời văn của tôi nó là cuốn sách quan trọng nhất. Nó là cuốn tiểu thuyết "thực sự" đầu tiên mà tôi hoàn thành, với dung lượng ít nhiều gần với dự định và "tham vọng" của tôi. Tôi đang tiếp tục tự dịch một số phần của nó, để có thể "chào hàng" một số nhà xuất bản nước ngoài khi có cơ hội, và, trong quá trình ấy, tự biên tập lại, cải thiện một số điểm yếu hiện có, để chuẩn bị cho lần tái bản - khi có đủ điều kiện, khi "hội đủ cơ duyên".



Thứ Hai, 31 tháng 1, 2022

Một ký ức, nhân những ngày cận tết.

Một đêm đầu năm 2003 (ngày 4 hoặc 5 tháng Hai, tôi không nhớ chính xác, cách nay gần tròn 19 năm, ít lâu sau tết âm lịch), tôi từ biệt Mẹ, xách túi lên xe lửa Bắc Nam, ngồi toa cứng, đi ra Đà Nẵng nơi đã hẹn gặp Nguyễn Hữu Hồng Minh từ trước. Sau vài ngày ở Đà Nẵng, tôi cùng Hồng Minh đi xe máy vượt đèo Hải Vân ra Huế, lưu lại Huế hai ngày, rồi thì Hồng Minh quay lại Đà Nẵng còn tôi trực chỉ Hà Nội, nơi mà một tương lai mờ mịt đang chờ đợi tôi. Phải, mờ mịt: tôi hãy còn chưa biết mình sẽ trụ lại - theo nghĩa đen: cái ăn, cái mặc hằng ngày - bằng cách nào. Chỉ một thứ duy nhất sáng rõ: con đường tôi đi. Tôi đã lầm đường suốt thời gian trước đó, mất trọn những năm đẹp nhất của tuổi trẻ vào một lĩnh vực vốn không phải là thế giới của mình. Ra Hà Nội, tôi dấn vào tương lai mờ mịt, bất định về mặt vật chất, song, về mặt tinh thần, sáng rõ: đây là con đường mà tôi sinh ra để đi. Văn chương. Một dạng đầu tư rồ dại: anh có thể đầu tư cả cuộc đời vào nó và kết quả là số không tròn trĩnh. Một cuộc chơi rồ dại: anh có thể suốt đời mê mẩn chơi với nó như một đứa trẻ, và, chết đi, vẫn hồn nhiên và ngây ngô trước thế gian như một đứa trẻ.

Tôi bước từ xe lửa xuống ga Đà Nẵng lúc khoảng 3 giờ sáng. Từ đó đến nay tôi chưa một lần sống lại những giờ như thế: ngồi nơi một quán cóc đối diện nhà ga, uống hết chén trà này tới chén trà khác (có lẽ hơn chục chén?), đợi trời sáng, để có thể gọi điện cho Minh nhắn anh ra đón. Ngồi uống trà, đợi sáng, quan sát sự sống diễn ra nơi một quán cóc nhà ga vào những giờ trước khi trời sáng, và viết nốt những dòng cuối của truyện ngắn “Tâm sự của Khảm Sống”. Bên cạnh chân tôi là cái túi xách duy nhất tôi mang, trong đó có vài bộ quần áo, vài cuốn vở, cái mũ bảo hiểm. (Tôi không nhớ có cuốn sách nào không, hình như không.)

Mẹ để tôi đi mà ruột như cắt. Tôi biết như thế, dù Mẹ không nói nhiều. Mẹ là con người tuyệt vời. Mẹ biết tôi đang bắt đầu đi trên con đường mà, nhiều năm về trước, lẽ ra Mẹ cần phải đủ dứt khoát, gan góc, lì lợm để đi. Từ bỏ tất cả những ổn định và an toàn vốn có, bởi sự thật là, chúng không phải của con người mình. Những ổn định và an toàn đó là thuộc về một người khác, chứ không thuộc về một người bị “đày vào nghiệp văn” như tôi.

Lúc đó tôi không có một cô gái nào để chia tay trước khi lên đường giống như trong các phim lãng mạn. Không có cô gái nào để tôi hẹn ngày trở về. Có Mẹ tôi. Tôi hẹn Mẹ sẽ trở về. Khi tôi bắt đầu tìm lại được chính mình.

Tranh của Kaii Higashiyama


Thứ Bảy, 1 tháng 1, 2022

Về Bolaño, thơ, tôi

Năm 2022, hy vọng bản dịch “Trinh thám hoang dại” của tôi (từ “Los detectives salvajes” của Roberto Bolaño) sẽ được Nhã Nam xuất bản.

Giống như với mọi tác phẩm lớn, có nhiều cách khác nhau để nói về “Trinh thám hoang dại”. Về phần mình, tôi gọi nó là khúc tụng ca ngời chói và bi tráng, có thể là cuối cùng, về các nhà thơ.

Trong một lần trả lời phỏng vấn, khi được hỏi, đại ý, “Người ta có thể hiện hữu một cách đầy tính thơ (existir poeticamente) trong thời hiện đại hay không”, Bolaño, người vốn tự coi mình là nhà thơ nhiều hơn nhà văn, trả lời, đại ý: “Có thể. Nhưng đó là một cách hiện hữu hiểm nghèo.”

“Trinh thám hoang dại” là vậy: Câu chuyện về sự hiện hữu hiểm nghèo, ngây ngô, hoang dại, nực cười, và tuyệt đẹp, của các nhà thơ, một giống nòi ngày càng lạc lõng giữa thế giới hiện đại.

May thay (hoặc không hẳn vậy), tôi về cơ bản là người viết văn xuôi, không phải người làm thơ. Mặt khác, có phải là không may chăng, tôi lại cũng lâu lâu “trở chứng” làm thơ. Thơ là “nghiệp tay trái” của tôi, phải chăng do vậy tôi được miễn phần lớn sự hiểm nghèo mà kiếp nhà thơ “thứ thiệt” khó lòng tránh khỏi?

Dù sao đi nữa, trong những phút thảng hoặc làm thơ, tôi cảm thấy mình ít nhiều “cùng bọn” với các nhà thơ lạc lõng, lơ ngơ, điên điên, thuần khiết của Bolaño. Tôi có phải bạn “bằng vai phải lứa” với họ hay không, đó không phải điều quan trọng. Điều quan trọng là, có những lúc, một cái nhìn là đủ để kết nối những tâm hồn tri kỷ mà số phận chỉ cho giao nhau trong khoảnh khắc - một khoảnh khắc ngoài không gian và thời gian.

Năm 2022, trong số các đầu sách của mình mà tôi dự định đưa ra công chúng, có triển vọng thực tế hơn hết là một tập thơ tôi in chung với một nhóm bạn. Tôi không nghĩ rằng sau đó tôi - cũng như các bạn đồng hành - sẽ có thể tự gọi mình là “nhà thơ”. Có chăng, tôi ao ước một lúc nào đó có thể tự gọi mình và các bạn đồng hành là thi nhân. “Người thơ”. Người mang tính thơ ở bên trong mình, hiện hữu một cách đầy tính thơ, và thơ, những bài thơ theo nghĩa đen, chỉ là một trong nhiều biểu hiện hữu hình của tính thơ này.

Ta có thể hiện hữu một cách có tính thơ khi ta lặng ngắm rừng hoa nở. Tính thơ này triệt tiêu ngay khi ta khởi lên ý định hái một cành hoa.