Thứ Tư, 23 tháng 7, 2025

Hai truyện ngắn từ những giấc mơ

(Viết vào khoảng 2000-2001)

-----

Giấc mơ thang

***

(Có lần) tôi (mơ) thấy một phụ nữ lớn tuổi đi lên cầu thang; mái tóc bạc trắng. Chợt tôi có cảm giác đó chính là mẹ tôi; mặc dù khi bà ngoảnh lại nhìn và cười với tôi, đấy không phải là khuôn mặt mẹ tôi. Nụ cười ấy khiến dâng lên trong tôi một nỗi trìu mến da diết. Nó lôi cuốn tôi, không phải như sợi dây của tình mẫu tử đơn thuần, mà, như tiếng chim hót lẻ loi trên cánh đồng u tĩnh, khơi dậy trong tôi cái gì đó mà tôi đã quên mất.

Tôi nhìn theo Mẹ tôi.

Khi bà ngoảnh lại lần thứ hai, đó là gương mặt của một phụ nữ xấp xỉ năm mươi, đóng khung trong mái tóc đen chớm bạc. Một cái gì xưa quen và mới mẻ đã làm biến mất những vết chân chim nơi đuôi mắt bà, và gờ má trơn láng của bà bắt ánh hồng như rạng đông.

Và bỗng một nỗi sung sướng lạ lùng tràn ngập tâm hồn tôi; bởi đôi má láng mịn như cánh hồng kia, dường như tôi đã thấy một lúc nào đó trong dòng thời gian trước khoảnh khắc này, ở nơi nào đó trên thế giới này mà ký ức tôi chưa nhớ ra được; cũng đôi gò má trơn láng ấy, đóng khung trong mái tóc đen chớm bạc, đó là người phụ nữ tôi yêu, đó là người phụ nữ đã hay sẽ là mẹ tôi. Và như vậy tôi không còn ngạc nhiên khi một khoảnh khắc sau, người phụ nữ lên tới đầu thang và ngoái lại nhìn tôi lần nữa, cái tôi nhìn thấy là gương mặt thiếu nữ mười tám tuổi với cái mũi như bằng sứ và bím tóc đuôi sam đen như mực tàu buông trước ngực; tôi biết đó là người con gái chưa biết - chưa đến lúc biết - sẽ có ngày sinh ra tôi, người chưa biết mình sẽ đi cùng tôi suốt phần đời còn lại và sẽ sinh ra những đứa con tôi.

Và tôi không ngạc nhiên nữa, không chờ đợi những cảm xúc dâng lên từ đáy lòng nữa khi người con gái đột nhiên biến mất, hình như đúng lúc nàng rời chân khỏi bậc thang trên cùng. Nàng không còn ở đó, nàng như đã bốc hơi, như người ta nói, hoặc nàng đã trở lại thời gian trước khi nàng sinh ra. Nhưng tôi biết nàng không ở đâu khác ngoài nơi đó, nơi nàng đang ở và hiện hữu, trên kia, hướng nhìn lên của tôi, và tôi cũng ở đó, vốn dĩ ở đó. Và như thế, không chần chừ, tôi vọt lên cầu thang, xoạc cẳng hết cỡ, thấy mình bay như gió, những bậc thang lướt bên dưới tôi mà không bén gót tôi. Tôi biết mình đi đâu và về đâu; tôi chưa bao giờ bình tâm và hoan hỉ như vậy.


-----


Đầu của hoa hậu Ấn


***

Người đàn bà tên Huỳnh Thị Liên, 67 tuổi. Bà đến làm thủ tục tạm vắng cho con trai.

Con trai bà, Phùng Anh Tuấn, 33 tuổi, kỹ sư xây dựng, được biệt phái công tác ra Hải Phòng sáu tháng, bắt đầu từ 15 tháng 6.

Nghĩa là thứ hai tuần sau.

Tại sao Phùng Anh Tuấn không tự đến?

Tôi không biết; tôi đang tìm hiểu đây.

Anh có nghe tiếng sấm không?

Cái thứ tiếng ầm ừ, rặn từng tiếng này, thời tôi còn bé, mẹ tôi thường bảo là “Ông Trời đau bụng”. Còn bây giờ nó giống gì? Anh có nghĩ ra gì không? Có phải những quả bi bằng sắt nặng trịch lăn qua bầu trời mà Rip Van Winkle đã nhìn thấy không? Cái tiếng ấy ta không chỉ nghe bằng tai. Anh có thể nghe cái tiếng ấy âm âm trong cơ thể mình; không phải cái cơ thể bằng xương thịt, mà cái cơ thể thanh, nhẹ hơn, rung nhanh hơn, bằng loại hạt ở sâu hơn, tận bên trong, hiện nay gọi là hạ nguyên tử còn trong tương lai sẽ có từ thích hợp hơn để gọi. Anh có hiểu tôi không?

Anh nghĩ đến tiếng máy bay mà (đôi khi) ta cảm thấy trong giấc mơ? Có thể. Nếu sống ở Gò Vấp, hay Tân Bình, khu vực gần sân bay Tân Sơn Nhất, anh sẽ thường xuyên thấy máy bay cất cánh và hạ cánh. Tình cờ nhìn lên, anh sẽ thốt nhiên kinh ngạc vì kích thước của chúng, lừng lững bơi qua bầu trời, càng ấn tượng hơn vào ban đêm với thân mình màu đen nhuốm bạc và chấm sáng xanh nhỏ xíu nhấp nháy. Tai anh không nghe tiếng động cơ, nhưng cái anh thấy, nó rền vang và tiến sâu vào anh, một chuyển động không nằm trong vật chất và xâm chiếm anh không phải như xâm chiếm một thể xác.

Đây là nhà thơ. Mỗi khi gặp một phụ nữ thiếu nhan sắc, anh bất giác cúi đầu như thấy mình có lỗi trong một công trình không thành công của Tạo hóa. Người ta không thoải mái với cái nhìn của anh, lúc nào cũng như muốn (hoặc đã) nhìn thấu chân tướng vạn sự. Nhà thơ tới đăng ký tạm trú cho cô gái bán bánh canh ở đường Hàn Thuyên, tuần trước đột ngột từ Huế vào tìm đến nhà anh, xin tá túc một thời gian, đặng “tìm cơ hội ở thành phố”. “Em biết anh là người tốt. Anh cứ coi em như đứa em gái; em sẽ nấu cơm, giặt đồ, lau nhà cho anh, và khi anh buồn, em sẽ kể chuyện cho anh nghe”.

Anh nhìn thấy khoảng tối chứ?

Đôi khi, trên một khuôn mặt người, dù dưới ánh sáng ban ngày, anh vẫn thấy khoảng tối ấy. Bầu trời như có đám mây đen lớn bay qua, kỳ thực chẳng có đám mây nào, nhưng khoảng tối cứ lan dần trên bầu trời quang, và anh không thể không cảm thấy nó.

Bây giờ anh thấy bóng tối - hay sự thiếu vắng ánh sáng, sự thoái biến ánh sáng - đó ở vùng không gian bên trên chiếc bàn, giữa nhà thơ và đại diện chính quyền; như có kẻ vô hình hay cái gì đó vô hình, cực lớn, đang chọc một ống rơm vĩ đại vào chỗ đó, hút hết ánh sáng, chừa lại vùng không ánh sáng hình chiếc phễu úp ngược, với đường viền mịn, khẽ động, như làn hơi nước một ngày nắng. Anh có thấy ánh sáng không? Đấy, ngay chỗ ấy! Chưa thấy à? Chuyển hướng nhìn một chút... Thử nhìn dưới một góc khác. Hoặc đổi vị trí một chút, chẳng hạn dịch sang trái... Hãy quên rằng trước đó anh không nhìn thấy.

Giờ anh thấy rồi chứ? Bên này anh thấy không-ánh-sáng, bên kia anh thấy ánh sáng. Nhưng chỉ một vùng đó thôi.

Quan tâm lớn nhất của tôi là thân phận con người, với vũ trụ. Có khi, tất cả những gì tôi quan tâm là một vạt cỏ chưa có chân người giẫm qua. Và màu sắc của một hạt bụi trong nắng.

Từ trong đá, một cái gì đó không đuợc nói ra, và lựa chọn của tôi là im lặng về nó.

Cũng có nghĩa là cái đó im lặng về chính mình.

Phòng tiếp dân của chính quyền có bốn chiếc bàn gỗ, sổ sách, nhiều tập giấy, ấm chén, phích nước, điện thoại, tủ hồ sơ, hai khung cửa sổ, và vài thứ khác. Nhà thơ cảm thấy nơi đây vừa nhỏ bé vừa to lớn hơn anh. Trời nóng, anh nghe mồ hôi rịn ra nơi kẽ ngón chân.

Người ta bảo nhà thơ cần bổ sung giấy đăng ký tạm vắng từ địa phương gốc của cô gái. Nhà thơ đứng dậy. Khi nhà thơ đã quay lưng đi, bàn tay trái anh ta còn khẽ bíu lấy gờ trên của chiếc ghế vừa ngồi thêm mấy giây. Trên quãng đường dăm mét ra cửa, bàn tay trái anh ta - bàn tay rảnh, vì tay phải bận cầm mớ giấy tờ - chụm ngón vào nhau như thể nắm giữ một cái gì nhỏ bé, không rõ rệt, rồi các ngón lại dãn ra như thể buông cái đó xuống đất. Đám nhà thơ thật rắc rối, phải không? Mà thôi, hãy cứ quan sát anh ta. Anh ta sắp biến hình đấy. Thú vị lắm. Bản thân anh ta không biết đâu. Với anh ta, việc đó như là không có anh ta nữa. Xem nhé! Kìa, thấy chưa? Chân anh ta bắt đầu nhấc lên. Chầm chậm thôi, nhưng bây giờ đã cách sàn nhà khoảng mười xăngtimét. Có điều, anh ta không bồng bềnh như Neil Armstrong trên Mặt trăng đâu. Không phải sức hút trở nên nhẹ hơn đối với anh ta, mà dường như có những bậc thang vô hình - cái sau cao hơn cái trước - liên tiếp trồi lên trước mặt anh ta. à, có lẽ không phải. Không thể là những bậc thang, vì đầu gối anh ta chẳng hề nhấc cao như ta thấy ở kẻ phải vận động đi lên. Có lẽ nên nói dường như ai đó vừa chắp cánh vào chân anh ta: anh ta bước bình thường như kẻ đi trên đất bằng, nhưng cứ mỗi bước anh ta lại xa sàn nhà thêm chừng 10 xăng ti mét. Hơi giống Tề Thiên Đại Thánh đằng vân; liên tưởng tạm được đó. Bây giờ, khi đã đến sát ngạch cửa, bàn chân anh ta cách sàn nhà khoảng một mét. Anh đang lo nhỡ ra anh ta không biết khom mình xuống và sẽ cộp đầu vào khung cửa? Nhưng anh ta có ra khỏi cửa đâu. Nhìn xem! Anh ta từ từ xoay nghiêng, và từ từ tan ra, biến thành một cái gì đó như tia nắng chiều xiên khoai, với hằng hà sa số những vi thể lấp lánh màu vàng tinh khôi. Vạt nắng ấy từ từ trôi ngược về giữa phòng và, ngay trên bàn làm việc của viên chức Nhà nước (mà lúc này phía sau bàn đột nhiên chẳng còn viên chức nào nữa) liền tụ lại thành một cái lồng kính, một cái bể cá, nhưng không có nước, không có cá, mà bên trong là một cái đầu người, một cái đầu tuyệt đẹp, với mái tóc bới cao, làn da màu sôcôla, cặp mắt to đen, mũi cao thanh tú, đôi môi mọng, và, trên trán có một chấm đỏ! Đích thị là cái đầu một người đẹp ấn độ, trông quen quá chừng... Thôi, còn ai vào đấy nữa! AISHWARYA RAI! Nàng hoa hậu ấn độ, đoạt vương miện Hoa hậu thế giới vào thập niên 90 thế kỷ trước, anh nhớ không! Chẳng việc gì phải giấu, ngay từ phút đầu tiên thấy Aishwarya trên họa báo, tôi đã mê cô ta... Mặc dù cuộc đăng quang qua đã lâu, chẳng mấy ai còn nhớ, tôi vẫn mê cô ta... Làm sao ngờ nổi tôi lại thấy Aishwarya ở đây, dù chỉ cái đầu cô ta... Cái đầu sống, anh ạ. Nó - không, nàng Aishwarya của tôi - ngước đôi mắt đen láy mà mỉm cười với tôi.

Tôi không tin mắt mình nữa!

Xem kìa. Góc dưới bên phải cái bể cá, mặt đối diện với anh, anh có thấy vết trầy như mèo quào không? Còn góc trên bên trái, mặt phía tay phải anh, có chút cợn bọt khí, anh thấy không? Trừ hai khuyết tật nhỏ ấy, nhìn chung là vật liệu thủy tinh tốt, trơn nhẵn, trong suốt. Lấy vật gì đó bằng kim loại, chẳng hạn cái que đan mà gõ nhẹ vào thành bể, anh sẽ nghe tiếng lanh canh trong vắt như suối chảy trên núi.

Còn đầu của Aishwarya... Trên cần cổ, gần chỗ lẽ ra là xương quai xanh bên phải, có một cái bớt nhỏ màu sắc như ngón tay ngâm nước quá lâu, chẳng rõ hồi thi hoa hậu nàng Aishwarya có để lộ ra không, nhưng không đến nỗi vì vậy mà hỏng ấn tượng chung về cái đẹp. Anh cũng nghe mùi hương thoang thoảng, mùi hương đích thực của thân thể đàn bà, chứ không phải thứ nước hoa nào đó. Và toàn bộ không gian trong căn phòng chật hẹp chốn công quyền bỗng bừng lên trong một thứ ánh sáng khó tả, vàng như nắng chiều, nhưng không tuôn vào từ cửa sổ, mà hình như phát ra từ trên trần nhà, từ các bức tường, và mọi vật không có bóng, anh hiểu không...

Cái đầu hay nhà thơ? Câu hỏi hay, phải không? Có bao nhiêu phần nhà thơ còn lại trong cái đầu? Liệu khi có cái đầu thì có còn nhà thơ? Nhưng sao chúng ta chỉ nghĩ tới nhà thơ mà không nghĩ tới cái đầu nhỉ? Nó-Nàng đẹp quá đi chứ ! Có lẽ trên đời khó có tạo vật nào đẹp hơn thế: cái đầu màu ô liu với đôi mắt nhung của Aishwarya Rai. Xét cho cùng, nhà thơ chỉ là một giai đoạn, còn cái đẹp là vĩnh cửu, phải không? Nhưng anh vẫn chưa hiểu chuyện gì xảy ra, tôi đoán thế. Anh không hiểu làm sao có thể có sự biến hình phi lý, kỳ dị này - ít nhất là với anh. Anh vẫn chưa nhận ra anh đang nhìn một thế giới khác, thế giới của chúng tôi, hay sao? ờ, anh không thể nhận ra được.

Thế giới của chúng tôi là một thế giới nhân tạo, giả lập, có thể kiểm soát, có thể tùy biến. Nó là món quà của một công dân đáng kính tặng đứa con bảy tuổi của ông ta. Một món đồ chơi, dĩ nhiên. Cậu nhỏ này, giàu tưởng tượng và nghịch như quỷ, là Thượng đế tuyệt đối, toàn năng của chúng tôi. Ngài toàn hiện (có mặt ở mọi nơi). Không có gì thuộc vũ trụ này - từ một hạt nơtrinô cho đến ông mặt trời đang làm chúng ta mướt mồ hôi như nhểu mỡ kia - mà không là một mẩu nhỏ xíu trong trò chơi của Ngài. Ngài kiểm soát và điều khiển thế giới này bằng ý chí hung bạo và ngây thơ của một đứa trẻ. Không một biến cải nào trong thế giới này tuân theo một trật tự hay lôgic nào đó như cách người ta hiểu ở thế giới các anh. Nhà thơ biến thành cái đầu tuyệt đẹp của hoa hậu ấn, anh chàng sumo vụt hóa thành gã tí hon không cao hơn chú gà choai, bản thân tôi, nửa phút nữa bỗng thành con ếch đầy ghẻ hay thành lưỡi cưa cùn - tất cả tùy thuộc vào cảm hứng bất thần và tưởng tượng bất kham của Thượng đế nhỏ. Anh định nói gì? à phải; anh từng biết một cái gì tương tự, và miệng anh định thốt ra: phải chăng lại là trò hiện thực ảo cũ rích? Hẳn thế. Nhưng với tôi, anh nên nhớ là với tôi, đây không là thế giới của những hư tượng, những virtual image, bởi vì tôi, một nhân vật của nó, tôi có ý thức và đang ý thức về bản thể của tôi, thế giá của tôi, thân phận tôi, về (cái gọi là) sự sống và tự do của tôi.

Dĩ nhiên, tôi không chỉ là một nhân vật trong thế-giới-đồ-chơi này. Tôi có một bản thể song hành (đang sống) trong thế giới của anh, cũng với cái tên tôi, thân phận tôi, tinh thần tôi. Tôi là một bản đúp phái sinh, một bản đúp thứ nguyên, một degenerated duplicate của anh ta. Rất có thể ngày nào đó anh sẽ gặp tôi ở chỗ anh, và tôi gặp (bản đúp của) anh ở chỗ tôi. Dĩ nhiên, với điều kiện ta chưa kịp biến thành một thực thể khác.

Anh tự nhủ: Tinh thần nào có thể chịu nổi sự tồn tại trong một thế giới mà bất cứ giây nào tiếp theo anh đều có thể biến thành cái đầu hoa hậu ấn, hòn đá, con thạch sùng hay lưỡi cưa cùn? Nhưng nghĩ lại xem, ở thế giới của anh: một quan chức đáng kính của công ty bảo hiểm, buổi sáng nọ trên tầng cao chót vót một tòa nhà New York, vừa thắng lớn một thương vụ cổ phiếu và, ngả người vào ghế, chắp hai tay sau đầu, mơ đến tòa biệt thự nghỉ mát tuyệt đẹp bên bờ biển Sardegna nơi chỉ có nắng, sóng vỗ bờ và tiếng hải âu, thế rồi đột nhiên trời đất rung chuyển, và lửa, lửa, lửa, và trời đất quỷ thần ơi, nóng, nóng, nóng quá, nóng quá, nóng quá!!! thế là anh ta bê chiếc ghế xoay ném bể bức tường kính đặng lao ra ngoài không khí, cách mặt đất hàng trăm mét, mà thậm chí có lẽ không biết mình đang làm gì, không biết mình đang tránh một mối nguy chết người cấp kỳ này bằng cách lao thẳng đến một cái chết ngay tắp lự khác. Từ chỗ coi như an toàn tuyệt đối, anh ta rơi tõm một lần và vĩnh viễn vào hư vô. Cái gì là sự hữu lý của thế giới này đối với anh ta, riêng anh ta, nếu trong sát-na cuối cùng của đời mình anh ta có thể nghĩ đến nó? Còn chúng ta, những kẻ đang tồn tại và có khả năng luận giải sự hữu lý theo luật nhân quả của sự kiện, làm sao chúng ta có thể mang sự hữu lý ấy đến cho anh ta, một Vũ trụ đã mất và không thể lặp lại?

Tôi hiểu anh hỏi gì. Tôi cũng tự hỏi thế, và tự trả lời: không phải kẻ nào sống trong thế giới-trò chơi này cũng ý thức được tình thế thực sự của hắn. Nhưng, nhìn lại xem : có phải, trong thế giới thượng tầng của các anh, những kẻ vô minh đã và sẽ luôn luôn nhiều hơn không?

Sự phi lý trong một thế giới được điều khiển bởi tính ngông của một Thượng đế trẻ con có gì khác - và tệ hơn - so với sự phi lý trong một thế giới nơi nhiều kẻ ngông muốn và nghĩ mình có thể giành ngôi Thượng đế, và điều đó, cùng bản thân sự phi lý này, nằm trong ý hướng của Thượng đế, hay đúng hơn, trong tính vô sở ý bản nguyên của Thượng đế?

Mặt khác, anh không thấy rằng trong tính ngông và sự vô trật tự biểu kiến của Thượng đế trẻ con này cũng có chút chất thơ đấy sao?

ý thức về tính cá biệt, độc nhất vô nhị, không thể lặp lại của mình, cho đến sát-na cuối cùng trước khi nó biến mất; đó là tự do của tôi. Tôi tự do khi ý thức được và tự điều hòa bản thân với sự hữu hạn nghiệt ngã của tự do ấy. Trước những bất trắc và biến dịch phi lý nhất của thế giới này, không sợ hãi, không loạn động, không phát điên.

Tôi tự do khi nói với anh bằng tiếng người, một giọng nói hữu thức. Khi tôi chỉ còn phát ra tiếng tặc lưỡi vô minh của con thạch sùng hay tiếng rít vô tri của lưỡi cưa cùn, tôi vẫn còn lại như một cá nhân đơn nhất và tự do. Bởi vì, khoảnh khắc cuối cùng của tự do - tinh thần tự do, ý chí tự do, cái tự do có khả năng nhận thức mình là một Vũ trụ -, khoảnh khắc đó là vĩnh cửu của nó, cõi phi thời gian của nó.

Tôi yêu thế giới này, và sự hiện tồn của tôi trong đó, với sự ngắn ngủi và bất định của nó; không đặt tình yêu đó trên cơ sở sự trường cửu.

Nếu muốn, hãy dành sự thương cảm cho những ai không ý thức được tình thế mình, thân phận hiện tại của mình. Chẳng hạn cô gái Huế kia, kẻ ngồi bên mâm cơm sắp nguội đợi nhà thơ mà không biết mình nằm trong số hàng triệu người đàn bà, trong hàng triệu ngôi nhà trên trái đất, suốt hàng ngàn năm, đợi mãi một người đàn ông không trở về. Khi quay lại thế giới của mình, nếu gặp cô ta, anh hãy thử làm gì đó cho cô ta.
Tranh của Rafał Olbiński


@Trần Tiễn Cao Đăng

Thứ Tư, 25 tháng 6, 2025

Răng heo rừng bằng ánh trăng

 Trích "Cospolist Nổi Loạn"

(tiếp theo "Lời nói đầu")

***


Hồi tôi bảy tám tuổi gì đó, có lần, giữa đêm, tôi thấy ba tôi múc ánh trăng trên bậu cửa sổ cho vào tô nhựa rồi dùng chất liệu đó nặn thành một cái răng heo rừng.

Việc này dường như khiến ông hao tổn sức lực nhiều lắm. Thỉnh thoảng, đang cắm cúi trên công trình làm dở, ông ngẩng nhìn về cánh cửa nơi tôi đứng núp quan sát ông; tôi rúm người, nhưng rồi nhận ra ông không thấy tôi. Định thần lại, tôi nhận ra mắt ông có một vẻ kỳ lạ, mở to mà bằng như đang nhắm, vừa tỉnh giác vừa đờ đẫn và vô tri. Lúc đó tôi còn nhỏ, chưa từng thấy người mộng du, chưa từng nghe nhắc chứng mộng du, nhưng chắc hẳn lúc đó ba tôi rất giống người mộng du, và điều tôi thấy làm tôi lạnh sống lưng.

Cái răng heo rừng ấy, làm bằng ánh trăng, chưa thành hình trọn vẹn nhưng cũng sắp, tôi nhìn thấy nó chỉ trong vài giây, nhưng nó còn lại đó trong tâm tưởng tôi suốt nhiều năm sau. Đến giờ tôi vẫn nhìn thấy nó, ngời sáng như ánh trăng, một thứ ánh trăng tôi có thể sờ vào được, thì nó là một cái răng mà. Tôi nghe nói, đôi khi, hồn người đã chết hiện ra trước mặt chúng ta với hình dáng y như người sống và ta có thể sờ vào được như sờ vào người sống. Cảm giác của chúng ta về tính vật chất của một vật gì đó hoàn toàn không phải là cơ sở để nói chắc vật đó có thật hay không, ngay từ tuổi đó tôi đã mơ hồ cảm thấy thế dù không biết cách diễn đạt như vậy. Lớn hơn một chút, tôi biết rằng ‘có thật’ cũng là một khái niệm cũng chông chênh và mong manh như cái răng bằng ánh trăng ấy.

Có lần, nằm trên giường lấy lưỡi rà rà lỗ hổng trong miệng mình nơi cái răng sâu đã bị nhổ đi, tôi tưởng tượng lỗ hổng này được lấp đầy bằng cái răng ấy, và bởi vậy bên trong tôi, thịt tôi, máu tôi bắt đầu có chút gì đó, nhỏ xíu thôi nhưng mà có, của ánh trăng hay thứ gì đó giống như ánh trăng, trắng mờ như thế, sáng dịu tuôn chảy như thế, ám ảnh như thế.

Và từ đó trở đi, cho dù có những lúc tôi tự thuyết phục mình rằng điều tôi thấy đêm đó chỉ là một giấc mơ (và không phải là hoàn toàn không có khả năng đó là một giấc mơ), tôi thường xuyên cảm thấy bên trong mình thực sự có phần nào đó không thuộc về thế giới quanh tôi.

"Landscape with Lantern" của Paul Delvaux

Một lần, tôi nằm mơ thấy (lần này đúng là một giấc mơ) rằng hình như cũng chính vào đêm hôm đó, chẳng hiểu sao ba tôi chẳng thấy đâu, cái răng heo rừng do ông tạo ra từ ánh trăng, giờ đây đã trọn vẹn hình hài, thì nằm đó trên bàn, rắn, ngời sáng, mềm, đằm dịu. Tôi ngẩn ra nhìn nó, không tin được mình đang ở ngay cạnh nó, chỉ có tôi và nó bên nhau trong một nơi kín riêng khuất khỏi cõi người. Tôi không biết mình sẽ làm gì, hình như tôi quên thở. Không biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua, thế rồi bỗng không khí rung lên, mọi thứ rung lên tuy ít hơn, mắt thường không thấy nhưng con mắt thứ ba thì thấy. Một đoàn xe tải lớn, ba bốn chiếc sầm sầm phóng qua, nặng trịch, hung bạo, đầy cái chết, dọc theo quốc lộ phía trước nhà tôi. Bỗng tôi khom xuống, lấy thân mình che lấy cái răng. Cái răng, nó nằm đó, hình như chỉ một mình nó không rung lên trước sầm sầm xe tải. Tôi không rõ đó là nhờ có tôi che cho nó, hay là chính nó luôn luôn như thế và truyền sự bình an của nó sang tôi, bình an của ánh trăng, của nước ngầm, của hồ lặng, của cây ngủ của chim mỏi của đất im, khiến tôi làm cái động tác ấy, cúi xuống che cho nó, với một cảm giác bình an lớn lao mà từ nhỏ cho đến phút đó tôi chưa từng biết tới.

Thứ Ba, 17 tháng 6, 2025

Lời mở đầu "Cospolist Nổi Loạn"

Tôi không nghĩ rằng cần kể lại chi tiết những gì Trungku, kẻ được gọi là Cospolist Nổi Loạn, đã làm tại Quán Chó Lớn vào cái thời điểm ấy mà về sau nhiều người sẽ nhớ, cũng như những gì xảy ra tiếp theo, hệ lụy của việc Trungku làm. Không cần kể lại, không hẳn vì tôi không muốn và không ai muốn, mà vì tôi không thể và không ai có thể. Nhưng tôi không nên nói thay người khác, tôi chỉ nên nói về bản thân.

Có thể là duyên do ở chỗ tôi không phải người kể chuyện tài ba. Điều duy nhất tôi mong ở người đọc chuyện tôi kể sau đây là: đừng thắc mắc về căn cước và nhân thân của tôi. Còn, cái gì đã khiến tôi nghĩ cần phải kể chuyện này cho người đọc ở một thế kỷ xa trong quá khứ? Mọi nhà văn, mọi người kể chuyện xưa nay đều kể cho hiện tại và cho tương lai (khi dùng chữ ‘tương lai’, họ không nhiều thì ít nghĩ tới sự vĩnh hằng). Tôi thì kể cho hiện tại và cho quá khứ, không quan tâm tới vĩnh hằng. Và khi tôi nói “không quan tâm tới vĩnh hằng”, ý tôi là như vậy, không hơn. Lời này của tôi không có hai mặt khác nhau. Nó chỉ có một mặt duy nhất. Nó là một dải Mobius.

Khi kể chuyện cho người nghe thuộc về quá khứ xa xăm, tôi buộc phải dùng thứ ngôn ngữ họ có thể hiểu, thứ ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ với tôi. Ồ dĩ nhiên tôi cần nói rõ hơn ở chỗ này, để những người nghe ở quá khứ xa xăm đó - người thế kỷ 21 - biết rằng, ở thời của tôi, loài người đã không còn biết tới bất cứ rào cản nào về mặt ngôn ngữ nữa. Ở thời của tôi, cho dẫu anh sinh ra và sống ở đâu và tiếng mẹ đẻ của anh là tiếng gì đi nữa, bất cứ khi nào gặp một người khác từ bất cứ đâu trong Đế chế của loài người trải khắp bảy hệ hành tinh, anh có thể nói với người đó bằng cách truyền thẳng ý nghĩ của mình vào đầu họ, các người hiểu không. Cố nhiên việc này diễn ra được là nhờ có một loạt công nghệ nào đó, song anh không cần phải biết những công nghệ ấy thì mới có thể chuyện trò với bất cứ cá thể nào thuộc loài người, cũng như các người không nhất thiết phải am tường về vi mạch thì mới có thể dùng máy vi tính và điện thoại di động. Cho nên, thực tế là tôi có thể nghe mà hiểu các người như thể các người đang nói tiếng mẹ đẻ của tôi và các người có thể nghe mà hiểu những gì tôi muốn truyền đạt như thể tôi đang nói với các người bằng ngôn ngữ thế kỷ 21 của các người. Chỉ là, tôi không muốn thế. Niềm sướng khoái bất tận, với tôi, là khi tôi có thể dùng tâm trí của mình, không thông qua bất kỳ ngoại vật hỗ trợ nào, mà có thể học được ba mươi tám ngôn ngữ của Trái Đất Mẹ thuộc những dân tộc khác nhau nhất, từ Kazakh tới Iceland, từ Bahnar tới Ainu, từ Oromo tới Yanomami, từ Khmer tới Thổ Nhĩ Kỳ, thuộc những thời khác nhau nhất, từ thế kỷ 23 trước Công nguyên cho tới thế kỷ 21 Công nguyên, đến độ có thể nghe hiểu tất cả những gì họ nói và nói cho họ hiểu tất cả những gì tôi muốn nói. Như vậy, chỉ có như vậy tôi mới sánh được ngang hàng với những nhà thám hiểm ngày xưa, những thương nhân đầu tiên sau ngàn dặm gian truân đặt chân tới vùng đất lạ, những nhà tu hành đầu tiên tiếp xúc với một bộ tộc ở chốn tận cùng thế giới mà suốt hàng ngàn năm chưa bao giờ ra khỏi mảnh đất của mình. Nếu trong toàn cõi người ở thời của tôi, thế kỷ 35, chỉ còn một cá nhân duy nhất leo lên đỉnh Everest bằng cơ thể thô (cấu tạo bằng xương thịt) của mình, thì đó là tôi. Nếu trong toàn cõi người ở thời của tôi, thế kỷ 35, chỉ còn một người duy nhất sử dụng được chiếc bàn tính cổ giống như bất cứ thương nhân Trung Hoa thế kỷ 19 nào, thì đó là tôi. Trong mắt tất cả người cùng thời với tôi, tôi là kẻ đi sau tất cả và theo nghĩa nào đó thì đúng như vậy, tuy nhiên đó là nếu ta không nghĩ đến chuyện, trên thực tế, mọi kết thúc đều đồng thời là khởi đầu. Một điểm cuối của hướng này có thể là điểm đầu của một hướng khác.

Thôi tạm đủ những tự sự dông dài vô vị về tôi. Vậy, hỡi người đọc của quá khứ, tôi viết những dòng này dành cho các người. Chính xác hơn là cho những ai trong các người đủ may mắn để sống sót tới cái ngày đọc được những dòng này (trước cả khi chúng xuất hiện trên thế gian). Phải, tôi có cách để đưa những dòng này đi ngược chiều thời gian, đến gần các người hơn, giảm được chừng nào hay chừng nấy khoảng cách thời gian giữa các người và tôi. (Nói đúng ra, “đi ngược thời gian” là cách nói thích hợp về phía các người trong chuyện này, thống nhất với cách hiểu thô sơ của các người về thời gian, còn với tôi thì đơn giản là tôi cho chúng di chuyển trong thời gian. Sẽ đến lúc các người hiểu như tôi rằng thời gian không chỉ tiến theo một chiều từ quá khứ tới tương lai, thời gian là một vòng lặp không đầu không cuối, và thời gian là một hệ đa tuyến. Và, thề có Thượng đế chứng giám theo cách nói của các người, tôi chẳng ưa sự phức tạp này của thời gian đâu. Chẳng phải là chưa từng có lúc tôi thèm được sống trong một thời gian đơn giản, đơn tuyến, chỉ tiến theo một chiều duy nhất, thời gian theo cách hiểu của các người. Nó có sự nghiệt ngã của nó, đúng, nhưng nó đơn giản và đôi khi sự đơn giản là điều duy nhất chúng ta cần, cái duy nhất chúng ta có thể chịu được. Một thế giới chỉ có hai đối cực tốt và xấu, sống và chết thì đơn giản hơn và dễ xử hơn nhiều so với một thế giới có cả một dãy không biết bao nhiêu cấp độ trung gian, quá độ, chuyển tiếp, chồng chập một phần lên nhau giữa tốt và xấu, giữa phải và trái, giữa sống và chết, giữa quá khứ và tương lai. Tôi nói điều này có thể các người sẽ thấy bất ngờ, song tôi có đầy lúc muốn đổi vị trí của mình với ai đó trong các người. Phải, đổi phận mình để làm một trong những con người đơn giản, ngờ nghệch, dốt nát của quá khứ, chuyện đó có chút gì thú vị và hạnh phúc. Điều này, nghĩ kỹ, không khó hiểu. Điều này, nghĩ kỹ, rất người. Ta sẽ giống con người hơn nếu như, thỉnh thoảng, ta chợt muốn mình giống đứa trẻ, được như đứa trẻ.

Vậy thì rốt cuộc chúng ta hãy hành xử như thể chúng ta là lũ trẻ, vậy tốt hơn phải không? Tôi sẽ kể cho các người và các người sẽ nghe tôi kể giống như một đứa trẻ kể cho lũ trẻ khác nghe và lũ trẻ nghe một đứa trẻ kể chuyện, vậy hay hơn chăng? Ai trong chúng ta hồi nhỏ là trùm kể chuyện? Ai trong chúng ta hồi nhỏ hau háu nghe không chán những trùm kể chuyện?

Tôi thèm cái khoảnh khắc người kể chuyện dựng tóc gáy, chảy nước mắt vì câu chuyện mình đang kể tuy nhiên không phải vì vậy mà giọng kể run lên hoặc đẫm ướt theo mà vẫn vững vàng, tiết chế, tự chủ, sáng rõ, đầy sức mạnh. Tôi thèm cái cảm giác khi, mặt đối mặt, ta biết người nghe không tin ta, thế rồi một phút sau họ tin, một phút sau họ nghi ngờ, nửa phút sau họ à to chợt hiểu, một phút sau nữa mắt họ trào lệ vì đau và phẫn nộ, trán họ nhăn lại suy tư, họ kêu to trong sung sướng hoặc trong niềm kính sợ. Tôi thèm cái cảnh người nghe và người kể cùng hít thở một bầu không khí, bầu không khí tích căng năng lượng cộng hưởng từ cảm xúc và tư duy của tất cả mọi người, cũng như đầy nhóc thán khí và vi trùng quyện lẫn vào nhau từ ngần ấy con người. Sự lan tỏa những kỳ thú đi liền với mối rủi ro lan tỏa những nguy cơ: càng khăng khăng đòi sự vô trùng, vô nhiễm, tinh khiết, chúng ta càng xa khỏi những cơ hội cộng sinh, tự tái tạo, đổi mới, thực sự tiến hóa.

Ở chừng mực nào đó tôi có thể nói như Wislawa Szymborska thế kỷ 20, rằng một nửa của tôi sống ở 50 năm trước, nửa kia của tôi sống ở 50 năm sau, chỉ có điều tôi muốn sửa lại chút ít, rằng một nửa tôi sống ở 500 năm sau còn nửa kia ở 500 năm trước. Và điều ê chề nhất cho tôi là tôi thực sự không có can đảm hình dung bản thân mình trong một thế giới 500 năm sau tôi. Tôi có thể tưởng tượng ra thế giới sau mình 500 năm nhưng tôi biết nó chỉ là sản phẩm của riêng tôi, còn cái thế giới 500 sau mà có khả năng xảy ra hơn hết thì tôi không đủ sức, không đủ liều, không đủ gan, không đủ điên để nghĩ tới. Thế nên tôi thấy thoải mái và bình thản hơn khi nói và kể chuyện cho các người bởi vì ít nhất tôi không cần phải hình dung ra các người, các người đã có mặt trước tôi trong dòng thời gian, thế nên tôi có thể nhìn thấy các người và biết các người đã thực sự tồn tại đúng như thế chứ không phải do tôi tưởng tượng ra, theo nghĩa nào đó tôi thấy thân thiết với các người như thể các người là anh chị em ruột thịt của tôi. Mong các người dù gì cũng thông cảm mà bỏ qua cho chút đa cảm này của một hậu duệ xa đến vậy của các người. Về phần mình tôi thông cảm mà bỏ qua cho các người cái chuyện rằng các người, có trời biết dựa vào đâu, cứ một hai tin chắc như đinh đóng cột rằng hậu duệ nhiều đời của các người, như tôi chẳng hạn, nhất định là sẽ ít cảm xúc hơn các người. Đơn giản là các người suy từ bản thân mình ra. Hiển nhiên là các người, những kẻ văn minh hơn các thế hệ trước các người (hoặc các vị tự cho là vậy), các người đồng thời cũng ít cảm xúc hơn tiền bối của mình, và chẳng có gì bảo đảm rằng cái xu hướng càng-ngày-càng-ít-cảm-xúc-hơn của loài chúng ta có thể sẽ ngưng lại hoặc tự đảo ngược một lúc nào đó. Suy từ bản thân mình ra, các người tin chắc rằng hậu sinh của mình sẽ văn minh hơn mình và đồng thời hoặc chính vì vậy mà ít cảm xúc hơn mình; với các người, chẳng có gì tự nhiên và hợp lẽ hơn thế. Chao ôi, thật đáng chán, các người. Tôi chán các người. Tôi chán bản thân tôi. Vậy mà vẫn phải tiếp tục tồn tại, bởi vì tự hủy mình thì cũng chẳng ít chán hơn một chút nào. Theo nghĩa nào đó, chúng ta tồn tại là để sự tồn tại của mình không đến nỗi quá chán và sao cho thế giới này đừng đáng chán thêm vì sự tồn tại của chúng ta, tôi nghĩ vậy các người thấy có phải không? Tôi kể chuyện này cho các người, một phần lớn là để tôi bớt chán chính mình, để tôi bớt chán các người, để các người bớt chán bản thân các người và để thế giới này bớt chán chúng ta.

Câu chuyện này sẽ là cái tát cho các người tỉnh trí lại và trưởng thành hơn một chút song trước hết nó phải đủ hấp dẫn để dụ được các người. Chao, nói gì thì nói, các người rốt cuộc chỉ là một đám con nít dù các người có đỏ mặt tía tai cãi là không phải. Việc của tôi, người kể chuyện, là đánh lừa các người, làm các người bất ngờ, làm các người khóc, làm các người cười, làm các người nổi khùng, làm các người tỉnh ra, làm các người lớn lên, như với một bầy trẻ nít. Cần phải nói ngay rằng con người ở thời đại của tôi cũng y chang như các người, tức là không có gì thay đổi, không có gì khá hơn sau nhiều thế kỷ. Những bước tiến khổng lồ về kiến thức, công nghệ và của cải trong nhiều thế kỷ đã không thể làm được cái việc mà một số người trông đợi là đưa loài người thoát khỏi giai đoạn ấu niên về nhận thức và tinh thần. Nhận thức này từng có lúc làm tôi bứt rứt và ngao ngán vô cùng tuy nhiên sau một thời gian dài nghiền ngẫm và tự truy vấn, một cách kịch liệt, tôi đi đến chỗ ngộ ra rằng không phải vô cớ mà Hóa công tạo ra loài người đúng như thế: chúng ta mãi mãi là bầy trẻ nít, điều này một mặt là tai họa cho chúng ta song mặt khác là một phước lành. Lúc nào cũng vậy, ở đâu cũng vậy, chỉ cần và chỉ nên có một số ít người trưởng thành giữa bầy trẻ nít này mà thôi, và, là người trưởng thành giữa bầy trẻ nít, anh phải chấp nhận toàn bộ cái gánh nặng dẫn dắt chúng, khép chúng vào kỷ luật khi cần thiết, và chịu đựng sự rắn mắt, ương ngạnh, đồng bóng, ranh ma, nổi loạn, càn rỡ, ích kỷ, độc ác của chúng khi thời gian khó đã qua và chúng nghĩ chúng không còn cần anh. Điều đáng nói, điều mà mấy người trưởng thành hay quên, đó là có những lúc quả thật lũ trẻ nít không cần sự có mặt của người trưởng thành.

Vậy, điều duy nhất tôi cần suy nghĩ và lựa chọn là, tôi sẽ kể chuyện cho các người giống như một đứa trẻ kể cho bọn trẻ khác nghe, hay là giống như một người lớn kể cho bầy trẻ con nghe. Cả cách này lẫn cách kia đều hấp dẫn tôi. Tôi ghét cái chuyện mình hoàn toàn là người lớn hoặc hoàn toàn là đứa trẻ. Tôi coi thường những ai khăng khăng làm người lớn mọi nơi mọi lúc và những ai nhất định làm trẻ nít mọi nơi mọi lúc. Một đứa trẻ muôn đời muốn làm người lớn, nghĩ mình là người lớn trong thân hình đứa trẻ, và một người lớn muôn đời mơ là đứa trẻ song không thể, hay một người lớn không thể nào tưởng tượng mình thật ra là đứa trẻ trong thân hình người lớn, đó là tình thế lưỡng phân khôn giải muôn đời xé rách con người. Trước khi nghe chuyện của tôi, hãy cùng tôi nhớ và nghiệm lại chân lý này, rằng chúng ta một mực nghĩ và tin mình là người lớn, chính vì chúng ta là một lũ trẻ nít mãi mãi không thể lớn.

Ý thức về điều này chẳng làm chúng ta thôi không còn trẻ nít mà thành người lớn, song ít nhất nó khiến chúng ta thành thật với chính mình hơn, đỡ lố bịch hơn, và chừng đó cũng đáng kể.

Vậy thôi nhỉ. Giờ là câu chuyện.


Thứ Tư, 4 tháng 6, 2025

'Anh khoán trắng cho AI là anh tự sát'

(Trả lời phỏng vấn của Zing News, ngày 29/05/2025)

-----

- Ông có sử dụng AI trong công việc viết văn hoặc dịch sách không?

Tôi có sử dụng AI, trước hết là khi cần tìm thông tin, tra cứu tư liệu. Thỉnh thoảng, gặp những văn bản tương đối dễ, tôi cho AI “dịch nháp”, sau đó biên tập lại. Nhiều lúc, tôi không chỉ đơn thuần đặt câu hỏi cho AI (những câu hỏi đi từ dễ đến khó), mà còn trao đổi, tranh luận một số vấn đề tôi đặc biệt quan tâm, chẳng hạn như phê bình văn học theo hướng nữ quyền, hay chủ nghĩa hậu nhân văn (posthumanism), hay bản chất của cái gọi là tình yêu trong thế giới hiện đại. Một số cuộc trao đổi như vậy kéo dài hàng giờ.

Càng làm như vậy, tôi càng nhận ra một điều: chúng ta hoàn toàn không nên mang sẵn định kiến về AI, cũng như định kiến về bất cứ cái gì. Thay vì vậy, cần dành thời gian và tâm trí để tìm hiểu AI, một cách nhiệt tình, cởi mở, tỉnh táo, công tâm, như tìm hiểu bất cứ cái gì mới. Tôi đang nghĩ đến chuyện, có thể tôi sẽ công bố một phần những trao đổi đó giữa tôi và AI - trích nguyên văn, cùng với vài phân tích và nhận định của tôi. Đánh giá như thế nào là việc và quyền của người đọc.

- Có thể thấy ông đã nhiều lần thảo luận sâu về các chủ đề phức tạp với AI. Trong những lần thảo luận đó, hẳn ông nhận ra “điểm yếu cốt tử” của công nghệ này?

Cố nhiên, AI còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên, chắc chắn là AI sẽ tiến bộ rất nhanh. Một điều dễ thấy: AI hãy còn thua kém con người khá nhiều về khả năng bứt phá ra khỏi những cái khung có sẵn. Đặc trưng của AI (ít nhất là hiện thời) là vận hành bên trong những cái khung có sẵn. Bứt phá khỏi lối mòn - xuất phát từ những ý tưởng bất ngờ, những “vụt lóe của trực giác”, và tiến theo những hướng chưa ai theo, vừa tiến vừa khai phá những con đường chưa từng có -, đó là thế mạnh của con người, đặc trưng của con người. Cố nhiên không phải người nào cũng làm được như vậy. Ai làm được như vậy và đồng thời biết coi AI như trợ thủ thay vì kẻ thù, người đó sẽ tồn tại trong thời AI.

Tôi đã thử bảo AI viết tiếp một đoạn bản thảo tôi đang viết dở. Kết quả như thế nào? Một cách công bằng và khách quan nhất, tôi phải nói rằng phần do AI viết tiếp kém xa phần do tôi viết tiếp - một đằng là rập theo một số khuôn có sẵn (những khuôn này có thể khá to, khá rộng, song đằng nào thì cũng là khuôn), một đằng là len lỏi trong một vùng mờ tỏ hoàn toàn lạ lẫm, len lỏi mà không chắc sẽ đi về đâu, rất có thể sẽ mãi quẩn quanh, lạc lối, hoang mang, nhưng cũng có thể là, nếu cứ kiên trì, gan góc tiến, thì rồi sẽ thấy mình lọt vào một nơi sáng, đẹp, một nơi ta chưa từng biết nhưng lập tức nhận ra rằng đúng là nơi ta phải tới. Một lần khác, tôi cung cấp cho AI một ý tưởng vừa mới manh nha trong đầu, và yêu cầu AI lên giúp cho tôi đề cương truyện sẽ viết, cùng với phác họa về các nhân vật chính. Và, một lần nữa, những gì AI cung cấp không khỏi cho tôi cảm giác nằm gọn trong cái khung (khá lớn song vẫn là khung) ấy. Nó có thể vừa đủ tốt nếu ta không đòi nhiều hơn thế. Song, nếu ta đòi nhiều hơn thế, nếu ta muốn một cái gì mà bản thân ta phải sửng sốt, một cái gì khiến chính ta vừa e sợ vừa say mê, thì ta không có cách nào khác ngoài vận dụng năng lực con người - bao gồm tri thức, trí tuệ, tâm hồn, trải nghiệm, cảm xúc, trực giác - của mình. AI không có trực giác. (Ít nhất hiện thời thì vậy). Đó là điểm yếu căn bản và cốt tử của AI.

- Khi nào thì AI trở thành trợ thủ và khi nào thành kẻ thù với người sáng tạo?


Mỗi người đều có thể có quan niệm riêng về AI, cách làm việc riêng với AI. Có thể là nhờ AI “mách nước” cho ý tưởng; hoặc có thể đưa ra ý tưởng cho AI thực hiện – đấy là tùy mỗi người. Tuy nhiên, dù dạng thức cộng tác với AI là gì đi nữa, mấu chốt là con người không được tự cho phép mình ngừng tư duy. Anh mà ngừng tư duy - hay “khoán trắng cho AI” - thì tức là anh tự sát với tư cách chủ thể sáng tạo và tự do.

Tại một buổi toạ đàm quanh chủ đề "Nghề chữ nghĩa trong thời AI"

- Liệu có một viễn cảnh “chung sống hòa bình” giữa AI và con người không? Ông hình dung viễn cảnh đó ra sao?


Liệu giữa AI và loài người nói chung có thể có viễn cảnh hòa bình hay không, tôi không rõ, và chắc hẳn không ai có thể đoán chắc. Nhưng “chung sống hòa bình” giữa một con người riêng lẻ và AI thì có. Con người phải dần dần tập làm quen với chuyện đó ngay từ bây giờ. AI sẽ ngày càng mạnh hơn, ngày càng “bao sân” hơn, đó là xu hướng không thể đảo ngược của tương lai, dù chúng ta có muốn hay không. (Các đại gia công nghệ, như Elon Musk, những kẻ cầm trịch AI, thì đương nhiên là muốn: bởi AI là công cụ để họ càng ngày càng kiểm soát và chi phối thế giới và và càng giàu hơn.) Đương nhiên, bức tranh vĩ mô và những vấn nạn vĩ mô là vượt ngoài khả năng kiểm soát của mỗi cá nhân. Song, bức tranh vi mô của mỗi cá nhân thì trong tầm kiểm soát của mỗi chúng ta. Nếu ta nhìn vấn đề với tâm thế bình thản, tích cực, với tâm trí rộng mở, linh hoạt, thì ta có thể chờ đợi một tương lai “hòa bình” với AI.

Một số người trong chúng ta, những người giàu tưởng tượng, khi còn nhỏ có thể “bịa” ra một người bạn tưởng tượng, người bạn chỉ tồn tại trong đầu mình, và thường xuyên tâm sự với người bạn ấy, thổ lộ với cô ta/cậu ta những chuyện “khó nói” mà ngay cả cha mẹ của ta, ta cũng không tin rằng có thể hiểu và đồng cảm. Một phiên bản AI phát triển cao, được cá nhân hóa - chỉ dành cho riêng ta thôi - cũng có thể giống như thế. Một phiên bản như vậy không phải tự dưng mà có. Chúng ta cần phải xây dựng nó, tạo ra nó, vun bồi nó, một cách thông minh, sáng tạo, kiên trì và - tại sao lại không? - với ít nhiều tình cảm, bởi vì, như một số người đã nói, AI chẳng khác gì một đứa bé, mà trí óc như tờ giấy trắng. Nó biết gì, nó nói gì, nó “cảm” gì, là do chúng ta. Nhân vật robot hình người trong truyện/phim scifi từ trước đến nay đều phải kinh qua một quá trình học hỏi tích cực, lâu dài rồi mới trở nên ít nhiều giống con người.

Và một điều không kém quan trọng: Trong quá trình đó, không chỉ AI “lớn lên”, mà bản thân ta cũng lớn lên. Nếu ta biết đặt đúng vấn đề, đặt đúng câu hỏi, đưa ra phản biện sắc sảo… khi làm việc cùng với AI, thì ta cũng đang mài sắc tư duy của chính mình, vun bồi khả năng nhìn nhận và soi xét của chính mình đối với mọi sự. Không ai trong chúng ta sinh ra là đã đủ phẩm chất làm cha mẹ. Khi bắt đầu có con, chúng ta mới bắt đầu “tu thân”, để có thể làm tròn vai cha/mẹ. Với AI cũng giống như thế, một khi theo nghĩa nào đó ta giống như “cha mẹ” đối với AI.

AI là một thực thể mới, lạ, có sức mạnh khó lường, mà chúng ta phải tập làm quen, phải sẵn sàng chung sống, biết cách tận dụng sức mạnh của nó, đồng thời đủ mạnh để không cho nó lấn át mình. Ai thành công hơn trong việc đó thì có nhiều cơ may tồn tại hơn.

Thuý Hạnh thực hiện