Thứ Năm, 25 tháng 9, 2025

Trungku và Atưl: Tương phùng tri kỷ (trích từ "Cospolist Nổi Loạn")

 (tiếp theo "Kentaro và tôi: Tháp Đôi Hà Nội")

Phòng làm việc của Atưl - Cospolist Bậc Năm, chỉ huy Khu Δ9 (còn gọi là Cánh Kiến Đen, Black Antwing) thuộc vùng Ngực Rừng - Woodchest) - không khác mấy với phòng làm việc của giám đốc một công ty cỡ vừa vào cuối thế kỷ 20 ở Trái Đất Mẹ. Dường như chẳng có gì chung với chủ nhân (gần như luôn mang kính đen, vòng đeo tai kếch sù gợi nhớ Yul Brynner trong “Quân vương và thiếp”, môi mỏng như sắp nở nụ cười của nhà ảo thuật đại tài coi khinh khán giả), nó như phòng riêng của nhà tu khổ hạnh, của một người khô như ngói và nghiệt ngã như sự chết.

Atưl khinh loại ghế tự chuyển di. Atưl thích tự mình dịch ghế. Và mấy cái ghế ấy, nặng ra trò! Ghế ấy, khách đến đây (trong đó có Borju sếp của Atưl) hiếm người nào xê dịch nổi. Atưl ngồi yên, nhìn khách mướt mồ hôi đánh vật với ghế, bằng cái nhìn lạnh lẽo điềm nhiên. Với vài ba khách hiếm hoi, Atưl hạ cố dịch ghế giùm, dáng điệu hao hao như chủ tịch một tập đoàn Nhật Bản giằng lấy cặp từ tay thuộc hạ khi thấy kẻ này sắp xỉu. Cục chặn giấy trên bàn Atưl làm bằng đá ankorit, to hơn trứng ngỗng, nặng 48,9 ký. Atưl hay để nó trên lòng bàn tay, chậm rãi nâng lên hạ xuống theo những đường uốn lượn như sóng. Đó như là một cách để Atưl theo dõi dòng suy nghĩ của mình, phần nào đó hữu hình hóa nó thành những chuyển dịch hình sin của đá. 

Từ ô cửa sổ duy nhất, rộng và cao xứng với kích cỡ của Atưl, có thể thấy một phần thành phố Gilgamesh 9 bên kia vịnh ngập trong màu cam ửng tím chiều buông. Ở một trong các tòa nhà muôn hình muôn vẻ đó, có căn phòng nơi Atưl chờ thấy Marzenna của mình xuất hiện, một sự đợi chờ vô vọng, vô chung. Ở một tòa nhà khác (chính xác hơn là lúc tòa này khi tòa khác, khó lòng đoán trước), có căn phòng, hoặc khoảnh sân, chiếu nghỉ cầu thang, buồng dụng cụ vệ sinh, hoặc ban công có những chậu cảnh lầm bụi khô héo, nơi Trungku có thể hiện ra bất cứ lúc nào như từ trong không khí, sau khi du hành nhiều vạn cây số, triệu cây số qua những đường hầm chóng mặt của pháp Chuyển Di Tức Thời mà chỉ một số hiếm hoi Cospolist Bậc Bốn trở lên, có Trí lực trên 1800 kubi mới có thể vận dụng mà tránh được nguy cơ tự dẫn mình vào cõi hư vô.

Đang đọc bản tin mới trên màn hình treo trong không khí, một tay vuốt vuốt dái tai, Atưl chợt cựa mình nhìn ra đỉnh tháp Khách sạn Shakazulu vươn tít tắp bên trên thành phố “giống như ảo vọng về hạnh phúc vĩnh hằng treo tít tắp bên trên xú uế và nhỏ mọn của nhân gian”. Ruột Atưl cho biết, đâu đó trong không-thời gian, Chuyển Di Tức Thời vừa mới hoàn thành. Trực cảm làm ruột Atưl cơ hồ thắt lại. Một sự thắt ruột tương tự cũng xuất hiện nếu ở đâu đó vừa xảy ra cái chết bất thường cùng lúc của nhiều sinh thể. Khả năng này đối với Trungku là một thế mạnh, một ‘ân sủng Trời ban’, đối với Atưl là một sự rầy rà. Atưl dùng mắt tắt màn hình, thế rồi, thọc ngón tay to gấp đôi người thường vào lỗ mũi, Atưl ngoáy một cách tập trung và trầm tư. Với một số khách, Atưl ngoáy mũi, với một số khác Atưl gại gại viền mép, với số khác nữa Atưl giựt giựt dái tai hoặc xoa xoa cái bớt màu chàm nhạt ở quai hàm trái. Thấy đối phương bị những động tác đó làm phân tâm, Atưl dần dần nở nụ cười mỏng dính, lạnh băng. Với số ít những người từ đầu chí cuối nhìn thẳng vào Atưl, không loạn động, không đánh mất mình, với chánh niệm tỉnh giác, Atưl cũng mỉm cười, một nụ cười dày hơn, ấm hơn đôi chút. Khác với Atưl, Trungku gần như không bao giờ cười. Với Atưl, chuyện đó giống như thể Trungku sinh ra với hai chân lành lặn về mặt vật lý nhưng đầu Trungku tin chắc một trong hai chân mình bị thọt và hệ quả là một chân thực sự thọt. Thật ra chính Atưl chân thọt tuy không ai biết nguyên nhân, không ai biết lý do tại sao Atưl không thay nó bằng chân lành. Có khi Atưl tập tễnh, có khi không, và đôi người có cơ hội tận mắt thấy đoạn xương chân hơi vẹo đó, mà Atưl trình ra trong khối ảnh ba chiều nhìn như thể chìm trong sương.

Atưl không quay lại khi nghe, từ phía bên phải, cách mươi mét, có tiếng xào xạc  khẽ hao hao như khi một vùng cỏ lau rậm rạp được vẹt ra hai bên một cách khéo léo, điềm tĩnh. Ấy là Tường Chắn đang mở ra cho Trungku. Không phải lần nào Tường Chắn cũng đọc được và nhận ra tần số dao động của sinh trường Trungku. Lần này nó đọc được. Vài lần khác, phải có một tổ hợp tần số thích hợp giữa sinh trường của Atưl và của Trungku thì mới mở được Tường. Có một lần kết cấu của Tường bị phá vỡ do cường độ sinh trường của Trungku tại thời điểm đó quá mạnh. Có khi sự ma sát này với sinh trường của Trungku khiến cho Trường phát ra âm thanh như củi nổ trong lò hoặc nùi giẻ lớn, khô cháy sém. Thường thì đó là khi tâm của Trungku đang động, song cũng có khi đó là bởi sự hiện diện của một sinh trường lạ, hẳn là mang ý đồ xâm nhập, tại thời điểm Trungku tiến vào Tường Chắn. Lần này không có âm thanh đó. Atưl không ngoái lại. Thân tâm định tĩnh, Atưl ghi nhận sinh trường của Trungku đang tiến lại gần. Giống như sự tiến lại gần của một khu rừng ẩm mát tầng tầng cây xanh tươi non, chính giữa là một tảng đá lớn, đen, nóng. Dường như có một khối sét tích tụ và dần thành hình bên trong tảng đá, khối sét nén chặt và được kiểm soát.

Khi Trungku còn cách chừng năm mét Atưl xoay ghế lại đối diện Trungku, bày ra trọn vẹn thân hình hộ pháp vận bộ đồ trắng như tuyết. Màu trắng cơ hồ hơi thâm lại trước sự hiện diện của người kia.

Chào người anh em, Atưl nói.

Chào anh, Trungku nói.

Hai người nhìn nhau.

Ngồi đi, Atưl nói.

Trungku nhìn chiếc ghế thứ hai trong phòng, cạnh vách kính cao, cách Trungku năm mét. Thay vì ra lệnh cho nó dịch chuyển, Trungku bước về phía nó, nhấc lên, đem nó tới vị trí đối diện Atưl chừng hai mét, đặt xuống. Đoạn, đứng nhìn nó một chút, như nhìn con ngựa tinh khôn biết thuận theo từng cử chỉ của mình, Trungku nhẹ nhàng ngồi xuống ghế, nhìn thẳng mắt Atưl.

Sau một lát, cặp môi mỏng của Atưl nở thành nụ cười hao hao như của người cha muốn đùa lần cuối với thằng con trước khi giết nó để không phải thấy nó bị người khác giết. Atưl khẽ nghiêng đầu, như để nhìn cho ra dư ảnh của hàng trăm ngàn cây số hành trình cùng với tất cả những bão từ, gió mặt trời, phóng xạ, vẩn thạch, rác vũ trụ mà bờ má, quai hàm, vành tai, mé đầu của Trungku đã kinh qua. Rốt cuộc Atưl nói:

Mệt không, người anh em?

Atưl không chờ câu trả lời. Trungku im lặng. Atưl nhìn Trungku một chặp, dùng Mắt Bên Trong để đo lường cơn mệt mỏi của Trungku nếu có, mức độ chậm lại của các liên kết nơron trong não Trungku.

Sau một hồi Atưl nói:

Đã bao lâu rồi chúng ta không gặp nhau, Trungku?

Điềm tĩnh, Trungku nhìn sâu vào Atưl.

Ba trăm bảy mươi tám năm, mười một tháng, chín ngày, Trungku nói.

Cậu đã về đâu, Trungku?

Gặp lại anh tôi vui, Atưl, sau một hồi Trungku nói.

Atưl cười khẩy nhìn bạn.

Để tôi dò xem cậu đã ở đâu nhé. Miễn là cậu không chặn tôi.

Tôi không chặn anh.

Không đánh lạc hướng tôi, Atưl nói.

Không đánh lạc hướng anh, Trungku nói.

Không tự làm nhòe mình, Atưl nói.

Không tự làm nhòe mình, Trungku nói, với một nụ cười nhẹ, nụ cười đầu tiên từ đầu đến giờ.

Chúng ta trao đổi với nhau những câu này đã bao nhiêu lần rồi, người anh em? nụ cười và mắt của Trungku nói.

Tôi có thể còn nhìn thấy lại cậu được bao nhiêu lần nữa, Trungku, nếu cậu cứ tiếp tục hành động như thế này? Atưl nói.

Trungku hé miệng, song im lặng. Sau một lát, Trungku nói:

Tim tôi đau, Atưl.

Tôi biết tim cậu đau, Atưl nói, nhẹ nhàng.

Sau một lát, Atưl tiếp:

Cậu càng về những thời đó, tim cậu càng đau, Trungku.

Anh không về những thời đó như tôi nhưng không phải vì vậy mà tim anh không đau, Trungku nói.

Tim tôi đã đủ đau vì thời của chúng ta đây rồi. Nó không cần thêm đau, nó cần thêm rắn và mạnh.

Anh chưa đủ rắn và mạnh sao?

Với một đồng sự như cậu thì không, Trungku.

Việc tôi làm liên lụy tới anh. Tôi không muốn như vậy.

Atưl nhìn Trungku một hồi, cười khẩy.

Uống gì, người anh em?

Sẽ đến cái ngày anh phải trả lời trước mặt Borju về tôi. Không dễ dàng cho anh đâu, Atưl.

Uống gì, Trungku?

Trungku nhìn sâu vào mắt Atưl.

Có lẽ chúng ta không còn nhiều thời gian bên nhau, người anh em.

Cậu tin vậy sao?

Ở thế giới này thì không. Vì những gì tôi làm… sẽ làm.

Cái gì đến, sẽ đến. Uống gì, Trungku?

Nước. Tôi cần nước.

Ờ. Dĩ nhiên, Atưl nói, đứng dậy đi tới tủ âm tường, rót nước, mang lại bàn đặt trước mặt Trungku.

Trungku nhìn một hồi chiếc ly bằng gốm đựng nước chưng cất, cầm lấy, chậm rãi uống cạn. Không nghe tiếng nước chảy trong vòm miệng và cuống họng Trungku, như thể nước này ngấm thẳng vào thịt của đất.

Nữa không? nhìn ly rỗng, Atưl nói.

Trungku nhìn Atưl, thoáng cười. Có cái gì tồi tội trong nụ cười này, giống nụ cười của đứa trẻ mồ côi thêm một lần nữa nghe người ta hỏi về mẹ nó.

Không biết nước của cả thế giới có đủ để dập cơn khát của tôi không, Atưl à.

Nghe đoạn, Atưl nhìn Trungku giây lát. Một tia sáng khác lạ lấp lán trong mắt Atưl, mang khí lạnh của tinh thể rắn, của kim loại.

Cậu có biết câu cậu vừa nói nghe giống như của một người muốn thu cả thế giới cho vào túi mình không? 

Điềm tĩnh, Trungku nhìn Atưl.

Điều đó tôi biết, Atưl. Và tôi biết anh đang nghĩ gì. Bản thân tôi có thể trở thành chính thứ mà tôi muốn loại trừ.

Atưl nhìn đăm đăm vào mắt Trungku. Chậm rãi, Atưl cầm ly không đi tới tủ âm tường, rót đầy ly, đem lại bàn. Đặt ly nước trước mặt Trungku, Atưl nói:

Mọi thứ ổn phải không, người anh em?

Trungku im lặng nhìn ly nước.

Ổn đối với anh, nếu anh nghĩ vậy, Atưl.

Ok. Thế giới này là quả trứng mà ta xòe tay ráng giữ cho không rớt xuống bể toang giữa khi đang đứng trên boong con tàu tròng trành trồi hụp như điên giữa bão dữ. Quả trứng đó là cái người ta vẫn gọi là bình an trật tự xã hội. Đến giờ chúng ta chưa làm trứng rơi trứng bể, Trungku. Cố nhiên chúng ta chả mong gì hơn là bão giông ấy hãy dứt đi, biến đi càng sớm càng tốt, nhưng mà cậu cũng biết, hạng bọt bèo như chúng ta sao có thể ra lệnh cho bão được. Việc của chúng ta, phận của chúng ta là làm xiếc với quả trứng bất chấp giông bão. Chấp nhận cuộc chơi, một cách tận tụy và kiêu hãnh, dù đôi khi muốn phát điên. Chúng ta làm việc đó tốt. Cậu làm việc đó tốt.

Có một quãng lặng ngắn trước khi Trungku nói.

Khi nhìn ra xa hơn, tôi không thấy mình làm tốt nữa.

Việc của chúng ta là chỉ nhìn ra xa khi cần thiết. Cậu nhìn ra xa hơi quá nhiều.

Trungku lặng. Và, khi Trungku cất tiếng, có cảm tưởng như cùng lúc, ở đâu đó trong không-thời gian, có một quả xakê chín rơi xuống nền gạch ướt sương.

Anh có muốn biết chuyến trở về gần nhất của tôi là như thế nào không?

Có. Nói đi.

Trungku nhìn Atưl một lát, như thể tì vào người kia làm chỗ dựa cho lời có thể thành hình.

Tôi trở về ngôi nhà có vợ tôi, người tôi yêu. Giữa khuya. Tôi đi nhẹ, sợ làm nàng thức giấc. Tôi về không báo trước, nên nàng không thức đợi tôi.

Trungku lặng.

Atưl (giọng châm biếm):

Từ vườn khuya bước về

Bàn chân ai rất nhẹ

Tựa hồn những năm xưa.

Lại là cái xứ của tay nhạc sĩ đó chớ gì.

Phải. Khi ông ấy còn sống. Những năm đầu sau sự kiện ngày 30 tháng Tư.

Cái thời chả dễ dàng gì.

Phải.

Tiếp đi. Cậu đi nhẹ, sợ làm nàng thức giấc. Nghĩa tình thật tuyệt. Rồi sao nữa?

Tôi ngồi ngoài hiên đợi sáng.

Không ngủ?

Có. Ngủ gục chút rồi sực tỉnh, vài lần. Gần sáng tôi nằm xuống, lấy ba lô làm gối, ngủ như chưa từng được ngủ.

Sáng ra thì sao?

Tôi không nán lại đến sáng. Gà gáy lần thứ hai, tôi rời khỏi thân anh ta, để anh ta và vợ anh ta lại đó, quay về đây, gặp anh.

Tại sao không nán lại lâu hơn? Đã cất công đi xa như thế.

Trungku lặng một lát.

Tôi đã thấy cô ấy chết như thế nào.

Cậu đang nói tới tôi nào? Trungku đang ngồi trước mặt tôi đây hay là cái gã ở thế kỷ 20 có hân hạnh được cậu mượn thân?

Cảnh đó anh ta không thấy. Tôi thấy. Nhưng anh ta sẽ biết. Tôi rút lui để anh ta có thể một mình nhận trọn cái trái đó, cả ngọt lẫn đắng.

Liệu một mình thằng cha có gánh nổi không? Nhiều lần trước cậu nán lại lâu hơn. Có cậu ở đó, tấm linh hồn mong manh của mấy kẻ đó may ra không bị suy sụp, họ không tự tử, không hóa điên, không giết người hàng loạt, có lần cậu nói với tôi thế, hả. Nghĩa cử đẹp phết, Trungku. Chỉ là không thuộc phạm vi nhiệm vụ của Cospolist.

Trungku im lặng.

Tôi gặp Adam Justemann ở đó, Trungku nói.

Atưl chu miệng như sắp huýt sáo.

Vậy sao.

Nhìn sâu vào mắt Atưl, Trungku nói, sau một chặp im lặng:

Người con gái ngồi mơ thanh bình

Yêu quê hương như đã yêu mình

Là cô ấy đó. Adam Justemann là một trong những người giết cô ấy.

À. Không chỉ một.

Một quãng lặng nữa trôi qua trước khi Trungku nói tiếp.

Hiếp và giết cô ấy.

Tuyệt. Rồi sao nữa?

Trungku lặng.

Tôi chỉ mới phân lập được khoảng 40 phần trăm dư chấn của vụ này trong không-thời gian gian. Một mẩu của nó có thể sẽ bùng ra sau đây hai tiếng cách đây từ một ngàn đến một ngàn ba trăm năm mươi cây số theo hướng tây - tây bắc. Tôi đã báo cho mấy người ở đó.

Tôi thấy trong mắt cậu vết thương trong tim cậu, sau một thoáng lặng Atưl nói.

Anh cũng có vết thương trong tim anh, Atưl.

Atưl không tỏ vẻ gì là có nghe thấy câu đó.

Tôi nói gì với cậu ngay từ đầu, cậu nhớ chứ?

Anh nói rằng tôi không thích hợp để làm Cospolist.

Trungku cười nhẹ.

Tôi làm Cospolist được hơn sáu mươi năm rồi, Atưl.

Phải. Và trong ngần ấy năm cậu cười được bao nhiêu lần?

Đó không phải việc của anh.

Bảo đảm rằng thần kinh cậu luôn trong tầm kiểm soát là việc của tôi.

Một thoáng lặng.

Thần kinh tôi luôn trong tầm kiểm soát, vì tôi có việc phải làm, Trungku nói.

Cậu chỉ có chừng đó để nói với tôi hay sao?

Trungku im. Sau đó, giọng và thần khí mềm ra, Trungku nói:

Sẽ đến lúc tôi nương cậy vào anh. Tôi rồi sẽ có lúc cần tới tình yêu thương của anh, Atưl.

Cậu định làm gì? Atưl nói, giọng dường như đanh hơn bình thường, dường như không.

Trungku chợt ngoái đầu về một hướng, giống như người nghe gió thổi mạnh và nghĩ tới những cây non mình trồng đang bắt đầu lớn ở trong vườn.

Cô ấy đang nuôi con mười tháng tuổi, Atưl.

Đứa nhỏ thì sao? sau một quãng lặng Atưl nói.

Trungku ngoái lại, và Atưl thấy trong mắt bạn cái ánh sáng tuyền đen mà Atưl thường thấy ở những người nhất quyết tiến dần vào sự chết.

Chúng giết, Trungku nói. Để yên nó thì nó khóc nó la, bực mình.

Atưl im lặng.

Tôi sẽ không ngừng lại đâu, Trungku nói. (Ngừng một chút, bỗng mỉm một nụ cười lạ lùng.) Với lại, cuộc chơi này kể cũng thú mà, Atưl.

Ha! Phải. Thú. Phải có cái gì đó thú trong công việc chúng ta làm để chúng ta không nổi điên lên. Hẳn rồi. Đương nhiên rồi, người anh em.

Trungku cầm ly lên, ngắm nghía một hồi, đoạn giang thẳng tay ném vào bức tường trước mặt. Cái ly chìm nghỉm vào tường và biến mất vô thanh như chìm vào một vùng sương.

Adam Justemann là con thú điên ngoại hạng mà tôi theo sát và nghênh chiến với niềm hứng thú ngoại hạng và điều này hắn biết rõ cũng như tôi, Trungku nói. Phải, cuộc chơi này lớn, cuộc chơi này thú, và tôi không từ bỏ nó đâu, Atưl. Với một con cá sộp như y, mà đến cả mẩu cứt són ra cũng đấu giá được hàng triệu đô, anh không thể muốn dừng là dừng. Cũng như mối tình lớn của đời anh thôi, Atưl. Anh không thể muốn dừng là dừng.

Atưl như không nghe thấy câu đó.

ATƯL: Tại sao cậu lại mạnh đến như vậy, Trungku? Không cần thiết. Ha. Kể cũng tức cười rằng tôi là cấp trên của cậu. Đáng lẽ ngược lại mới đúng, nhưng tôi vẫn cứ là kẻ phải kìm giữ cậu.

TRUNGKU:

“Một ngày về không / hai tay quy hàng”. Nhiều thế kỷ trước, Trịnh Công Sơn (người mà anh luôn nhắc bằng một cái cười khẩy, Atưl) viết vậy trong một bài hát. Nó là về con người. Nó là về tôi bởi tôi là con người. Sẽ có ngày tôi về không, quy hàng, chẳng để anh phải tốn quá nhiều sức. Hiện thời chưa phải lúc đó, nên anh sẽ tiếp tục phải lên bờ xuống ruộng vì tôi. Tôi rất tiếc, người anh em.

Giờ cậu đi đâu?

Một cơ nhỏ trên má Trungku thoáng động, như thể một mô mềm bên trong Trungku bị lưỡi dao lam vụt khía qua.

Tôi muốn gặp Natai, Trungku nói. Nàng không để tôi gặp đâu, anh biết mà.

Rồi sao?

Trungku nhìn ra đâu đó bên kia vách.

Tôi sẽ quay lại đó. Đó là nơi tôi phải trở về. (lặng) Hiếm có thời nào và nơi nào khác mà con người phải trải qua nhiều thống khổ đến như vậy, có nhiều vấn nạn nhân sinh đến như vậy.

Trungku ngừng, nhìn bạn.

Tôi sẽ về đó lại. Anh có thể gặp tôi ở đó, Atưl.

Tôi có cần nói cậu hay tôi muốn đi đâu, muốn làm gì không nhỉ.

Được thôi, Trungku nói, cười nhẹ. Anh có thể về đó gặp tôi mà tôi không biết. Anh có thể xuất hiện như là người con gái tôi yêu bằng một tình yêu sét đánh, ân nhân của tôi, tay nhà báo lẵng nhẵng quấy rầy tôi hoặc bà già hơi dị dị mà tôi sơ ý hích vào khi chen giữa lối đông. Kiểu của anh là vậy, Atưl. Không biết rồi ra tôi có nhận ra anh không. Mong là tôi sẽ không gây tổn thương cho anh.

Tôi có thể đến thăm cậu như là một con ruồi mà cậu muốn đập chết, Atưl nói, cười nhạt. Hoặc là người đàn bà chẳng lấy gì làm đẹp nhưng cậu mới gặp lần đầu là lập tức thèm phát điên lên, một cơn thèm quái gở chả khác gì bỗng dưng cậu thèm khát đâm đầu xuống vực. Nhưng mà chẳng phải vực sâu chính là cái chỗ cậu luôn luôn đâm đầu xuống hay sao, dù đó là người đàn bà cậu yêu hay là việc cậu muốn làm? Tôi biết nói điều này ra vô ích nhưng tôi vẫn nói: dù cậu đang định làm gì đi nữa, hãy nghĩ một trăm lần. Tôi bất lực với cậu không có nghĩa là Cospol bất lực với cậu, HỌ bất lực với cậu. Họ sẽ cho cậu biết thật ra cậu làm được cái gì.

Trungku nhìn Atưl một chặp, đầy thân ái và dịu dàng.

Cám ơn anh đã nói với tôi như vậy, Atưl. Về phần mình, anh có thể làm gì với tôi thì hãy làm cho bằng hết nhé. Tôi rất tiếc nếu anh và mọi người sẽ còn vất vả nhiều vì tôi.

Ngừng một chút, ngoảnh sang hướng khác, rồi lại nhìn Atưl, Trungku nói:

Thế gian buồn thật, người anh em.

Ha! Atưl bật cười thành tiếng. Cậu có biết rằng tôi rất muốn đánh gãy răng cậu không, Trungku? Vì cậu nói đúng. Người ta biết vậy đã nhiều ngàn năm nay vậy mà cậu thốt ra như thể mãi đến giờ cậu mới biết. Quỷ tha ma bắt cậu, Trungku.

Tôi biết mình đáng ăn đấm, bị một người như anh cho ăn đấm, Atưl. Nhưng tôi sẽ làm việc phải làm. Ít nhất là một vài cái trong những cái đau như thế phải chấm dứt. Bằng cách nào đó.

Cậu biết rõ có những việc gì cậu không thể làm. Cậu không phải Chúa Trời.

Dĩ nhiên tôi không phải Chúa Trời. Tôi chỉ làm hết những gì làm được trong khuôn khổ phận người thôi.

Trungku ngừng, như chợt nhận ra mình đang chìm vào một vùng sương chỉ một mình Trungku thấy.

Anh biết rõ như tôi rằng gia tộc Justemann nằm ở vị thế nào. Họ cao hơn Cospol.

ATƯL (lạnh): Chuyện đó con nít cũng biết. Chúng ta làm những gì Cospol cho phép chúng ta làm, vậy là đủ để không hổ thẹn làm người rồi, Trungku.

Một quãng lặng.

TRUNGKU: Tôi hổ thẹn bởi loài người không thể làm gì được gia tộc Justemann.

ATƯL: Cậu có nhớ trong ‘Bhagavad Gita’ Krishna nói câu gì khét tiếng nhất không?

TRUNGKU: “Ta là Kẻ Hủy Diệt Các Thế Giới.”

ATƯL: Cậu có phải Krishna không?

TRUNGKU: Tôi chỉ muốn hủy diệt một trong nhiều sự ác lớn thôi, Atưl.

ATƯL: (sau một thoáng lặng) Cậu có đủ phẩm cách để tự mình quyết định về chuyện đó sao, Trungku?

TRUNGKU: (từ từ mỉm nụ cười là lạ) Anh không thấy mình đặt câu hỏi thừa hay sao, Atưl? (lặng) Có phẩm cách hay không, là dựa vào tiêu chí và định nghĩa của ai? Nếu tôi không phải Chúa Trời, thì ai đặt định ra tiêu chí và định nghĩa kia cũng không phải Chúa Trời. Nếu là Chúa Trời, có lẽ tôi sẽ lắng nghe. Một mình ngài thôi.

Tôi phải làm, Atưl. Dù thế giới ngoài kia sẽ nói gì làm gì đi chăng nữa.

(lặng)

Lúc này tôi chỉ bận tâm mình có đủ phẩm cách tinh thần để gặp Natai một lần nữa hay không thôi.

ATƯL: Cậu thành thực nghĩ rằng cậu làm việc đó thì cơ hội gặp Natai sẽ nhiều hơn một chút hay sao? Đầu cậu có còn đó không, Trungku?

Trungku nhìn Atưl một lát, mắt có vẻ đầy nước, hình như không. Thế rồi, không nói một lời, thân thể Trungku bắt đầu nhạt dần, mờ dần cho đến khi biến hẳn vào không trung. Atưl điềm nhiên nhìn cảnh đó như nhìn một vạt nắng trên tường dần tắt. Ngay từ đầu Atưl đã ngờ ngợ rằng trước mặt mình không phải Trungku mà là phóng ảnh của Trungku. Tạo ra một phóng ảnh của bản thân mình với mật độ vật chất viên mãn đến mức ngay cả Atưl cũng khó lòng phân định rõ ràng, đó là việc chỉ mình Trungku làm được thôi.

Chậm rãi đưa tay ngoáy mũi, Atưl nói:

Vậy là cậu đang ở đâu, Trungku?

Anh có thể tìm ra tôi mà, có tiếng Trungku nói.

Chậm rãi, Atưl ngả người vào ghế.

Cố nhiên tôi sẽ tìm ra cậu, Trungku. Hai nguyên tử ở hai đầu vũ trụ cũng có thể nhận ra nhau mà.

Giọng Trungku nói:

Tôi sẽ quay về căn nhà đó, gặp cô ấy. Tôi muốn một lần ru cô ấy ngủ. Cùng với anh ta, chồng cô ấy, ru cô ấy ngủ. Cô ấy không còn sống lâu nữa, Atưl.

(Ngừng một chút.)

Những việc khác ở đây, tôi đã làm tròn cả rồi phải không, Atưl? Nếu đúng vậy, hãy để tôi làm tròn việc nhỏ này cho người đàn bà đã một lần chờ tôi về.

Sau một hồi lặng Atưl nói, giọng rền như chiếc chuông lớn vừa bất thần bị rạn, một đường rạn duy nhất mảnh như sợi chỉ:

Chúng tôi sẽ tìm ra cậu và ngăn cậu lại. Đừng quá tin vào bản thân, Trungku.

Sau đó là một hồi lặng dài, càng thêm yên lặng bởi âm thanh duy nhất là tiếng gió lùa qua rặng cây ô liu ở một nơi mà Atưl thỉnh thoảng muốn tìm về nghỉ ngơi chốc lát. Gió lùa rặng cây và sự im lặng làm tâm trí Atưl dần dần dịu lại. Đến một lúc bắt đầu có tiếng mưa, ban đầu rất khẽ, về sau to lên đôi chút. Lẫn trong tiếng mưa, tròn, mềm, trong trẻo, lại đến trong trung khu thần kinh của Atưl giọng của Trungku.

Bài hát này của người Nga, anh có lần nghe cùng tôi, chắc anh đã quên. Nó là về tôi đó.

 

Mùa xuân đến, nào có phải cho tôi

Sông Đông tràn bờ, nào có phải cho tôi

Tim thiếu nữ rộn ràng

Khấp khởi yêu đương, nào có phải cho tôi

Vườn tược nở hoa, nào có phải cho tôi

Rừng trong lũng nở hoa

Họa mi hót đón xuân, nào có phải cho tôi

Tựa kim cương dòng suối thầm thì

Ở đó có nàng con gái mày đen nhanh nhánh

Nàng lớn lên, nào có phải cho tôi.

Dành cho tôi là mẩu đạn chì

Cắm vào thân tôi trắng trẻo.

Lệ đắng tuôn.

Đó, cuộc đời dành để cho tôi.

'Secrets of the Earth' - Ania Tomicka


Thứ Sáu, 12 tháng 9, 2025

Kentaro và tôi - Tháp Đôi Hà Nội (trích từ "Cospolist Nổi Loạn", tiếp theo "Huệ và tôi: Café Brindisi")

Y tên là Onodera Kentaro, Tiểu Dã Tự Kiện Thái Lang. Y 35 tuổi, tóc rối như tổ quạ. Y thấp hơn tôi một chút, tôi thì không cao lắm. Cách đây khoảng hai năm y sang Việt Nam để “chụp ảnh và vẽ tranh”. Y bắt đầu học tiếng Việt cách đây hơn ba năm nhưng nói tiếng Việt như đã sống ở Việt Nam hai mươi năm.

Tôi ngồi nơi bàn dưới bếp trong căn hộ của Kentaro trên căn gác cuối phố Hàng Củi, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Y ngồi trên sàn gạch. Mỗi chúng tôi cầm một lon bia. Trên bàn, đĩa khô bò vắt chanh. Khô bò mặn và cay. Bia đắng và hơi ngọt.
Vậy là tối đó có ban nhạc Mexico chứ? y hỏi.
Không, chỉ có ban từ Colombuela thôi.
À, Colombuela, y nói, rướn người với tay nhón một nhúm khô bò, ngửa cổ, đút từng tí khô bò một vào mồm giống như người ta gặm dần một chùm nho. Nhai nuốt hết dúm khô bò, y chiêu một ngụm bia. Đoạn y nói.
Bọn nó chơi những gì?
Thì quanh đi quẩn lại từng ấy thứ, các ban nhạc Mỹ la-tinh kiểu đó. Dĩ nhiên có nhiều bài tôi chưa nghe bao giờ, nhưng vẫn ngần ấy điệu: mambo, samba, chachacha, bossa nova, lambada, rồi lại tango habanera, bossa antigua... Chẳng biết từ bao giờ tôi không chịu nổi nhạc Mỹ la-tinh nữa, nếu là cái thứ nhạc Mỹ la-tinh đang tràn lan khắp thế giới theo chân các tập đoàn truyền thông mà chủ nhân nói tiếng Anh.
Kentaro lẳng lặng gật đầu. Những gì tôi nói không gây ấn tượng với y. Y lúc nào cũng có vẻ từ lâu đã đến một chỗ tôi muốn đến nhưng chưa đến được, và cả chỗ ấy với y cũng chẳng có gì đặc biệt, tuy nhiên không phải vì vậy mà y nhìn nó với sự thờ ơ.
Huệ của mày thì sao? nhấp một ngụm bia, y hỏi.
Nhảy từ đầu đến cuối, như lên đồng, tôi thốt, bằng tông giọng cao mà tôi không muốn.
Nghĩ một chút, tôi nói:
Thậ ra suốt tối đó tôi cứ có cảm giác cô ấy đang ở một chỗ khác và cái hình dáng sờ sờ trước mắt tôi kia chỉ là dư ảnh xa xăm từ cô ấy thôi. Cũng như ánh sáng đến được mắt ta từ những vì sao cách ta hàng trăm năm ánh sáng vậy.
Điều tôi vừa nói hình như y cũng không cần nghe. Y rướn người nhón một nhúm khô bò, lần này y để trên lòng bàn tay phải, ghé sát vào mồm, vừa gặm dần từng sợi vừa nhìn lên trần nhà.
Bossa antigua là thế nào nhỉ? y hỏi.
Thì cũng tương tự như bossa nova, chỉ khác là thêm đàn sitar, lại còn đàn oud, đàn gayageum, cả đàn nguyệt của Việt Nam nữa, và vài ba thứ đàn chắc của châu Phi, tôi chẳng biết.
Huệ thuộc về cả những thế giới khác nữa đấy, y nói.
Sau một năm rưỡi chơi với nhau, tôi khá quen cái kiểu Kentaro đột ngột nhảy từ chuyện này sang chuyện khác như con chim lao từ chỏm cành này sang chỏm cành kia, song lần này tôi thực sự bất ngờ. Chẳng phải vì tôi không có khả năng nhìn ra sợi dây vô hình nối giữa hai chỏm cành. Đúng hơn, tôi bất ngờ khi nhận ra rằng điều tôi cảm thấy một cách mơ hồ có thể được nói thành lời một cách giản dị như vậy.
Điều bác vừa nói đối với tôi không lạ, tôi nói, mắt hướng vào một con gián vừa xuất hiện ở góc bếp, nơi đặt chiếc bếp ga chẳng biết mấy đời không cọ rửa của Kentaro.
Đã nhiều lần Huệ kể cho tôi về những giấc mơ có thể gọi là giấc mơ tiên tri của cô ấy. Lại có những lúc Huệ nhìn thấy tương lai cả trong lúc đang thức. Tôi có kể cho bác một lần rồi. Cô ấy đi xe buýt, trước mặt cô ấy là hai mẹ con nhà nọ, người mẹ trẻ, thằng con trai năm sáu tuổi gì đó, bụ bẫm. Huệ cười với thằng bé rồi ngoảnh mặt đi, nghĩ chuyện khác. Thế rồi đột nhiên, chỉ trong khoảnh khắc, có lẽ chỉ một phần giây thôi, cô thấy rõ mồn một trước mắt mình thằng bé kía từ đầu đến chân toàn máu là máu. Những chuyện tương tự đã xảy ra không chỉ một lần, và Huệ biết nó nghĩa là gì... nhưng Huệ không thể nói gì với bà mẹ kia. Thử hỏi một kẻ hoàn toàn xa lạ nói với ta một điều kinh khủng như vậy về người thân của ta, ta có tin được không? Không đập vỡ mặt còn là may. Huệ có sung sướng gì về cái khả năng tiên tri ấy đâu.
Con gián giờ đã mon men đến gần chiếc bát nơi cuối gian bếp, có cái đĩa đậy lên, nhưng có lẽ vẫn còn khe hở nên cái gì đó ở trong bát vẫn tỏa mùi.
Đăm đăm nhìn lên trần, Kentaro quờ tay bốc khô bò. Y có vẻ không biết đến sự xuất hiện của con gián. Thế rồi, đột ngột, y vung tay còn lại đập lên mặt bếp, cách chiếc bát và con gián chừng ba mươi phân. Con gián cuống cuồng bỏ chạy, trong nháy mắt đã biến mất. Suốt thời gian đó y không rời mắt khỏi trần nhà.
Tôi nuốt khan. Tôi biết mình cần phải tiếp tục.
Với tôi, Huệ là một dấu hỏi lớn, tôi nói. Tối hôm đó dấu hỏi ấy càng lớn. Ban nãy tôi có nói cô ấy nhảy như lên đồng. Nhưng nói vậy còn xa mới mô tả được thực tế. Có một lúc, giữa chừng một bài hard-rock nào đó, ngay ở đoạn cao trào, không phải cao trào của bài hát mà cao trào của cái gì đó bên trong cô ấy, không nhất thiết trùng với cao trào của bài hát hay cao trào hưng phấn ở đám người tại nơi ấy, khi đến chỗ cao trào của cái đó, tôi không biết gọi là gì, cô ấy bấu chặt tay vào hai bên ve áo và tôi chưa kịp nghĩ ra cô ấy sẽ làm gì thì cô ấy đã giật một cái đứt tung gần hết cúc áo. Từ khi quen Huệ đến giờ, không một cái gì ở cô ấy khiến tôi có thể hình dung rằng sẽ có lúc cô ấy hành động như vậy.
Tôi ngừng nói, cầm lon bia định uống, nhưng nó gần cạn.
Dĩ nhiên tôi biết những gì tôi vẫn hình dung về Huệ có chăng chỉ đúng với phần nào đó của thực tại thôi, tôi nói. Cái tôi thực sự nhìn thấy, đó là thực tại. Song nói gì thì nói, tôi bị bất ngờ trước thực tại mà tôi thấy này, tôi cần có thời gian để quen và điều chỉnh mình theo nó.
Tôi đi lấy lon bia mới, trở lại chỗ ngồi. Kentaro ngồi im lặng nhìn lên trần nhà.
Sau đó thì thế nào?
Kể lại từng chi tiết thì phải đến sáng, tôi nói. Bác gặp Huệ rồi, bác cứ thử hình dung một cô gái như thế gần như tự cởi trần ra trước hàng trăm con mắt, giữa chừng một cơn cuồng hứng... như thế. Đám đàn ông vây quanh cô ấy, vỗ tay huýt sáo hú hét cổ vũ cô ấy cởi nốt xu chiêng ra, cởi hết ra. Tôi gần như phải đánh nhau với tất cả, vâng, cái thằng tôi gầy gò hậu đậu này đây, thằng đàn ông duy nhất đi cùng Huệ. Thật tình là khi đã ra khỏi đó và trên đường về nhà tôi vẫn chưa hiểu nổi làm cách nào tôi vẫn còn sống và lành lặn, lại dẫn được Huệ theo, cũng còn sống và lành lặn như tôi.
Huệ thì thế nào?
Tôi ngoái đầu ra cửa sổ. Từ dưới đường vẳng lên tiếng rủa xả chát chúa của một người đàn bà về mớ rác ai vứt trước cửa nhà bà ta. Kentaro không nhúc nhích, đang quay lưng lại y nhưng tôi biết.
Cái ấn tượng mạnh với tôi suốt buổi tối hôm đó, đúng hơn là từ lúc bọn tôi rời khỏi Café Brindisi, phải, từ lúc đó trở đi cho đến khi bọn tôi vào quán bar, từ quán bar sang vũ trường, đến khi chúng tôi nhảy, và đến khi tôi đưa Huệ về nhà cô ấy, suốt thời gian đó, kể cả khi cô ấy giật tung áo như tôi kể, mắt Huệ như mắt người mộng du, hoặc…sao nhỉ, có thể nói mắt cô ấy thuộc về một kẻ khác chứ không phải kẻ đang làm các động tác kia, nói những lời kia, nhoẻn với đám đàn ông những nụ cười lả lơi đó.
Tôi im. Có tiếng ực nhỏ khi Kentaro hớp bia.
Mấy ngày gần đây, mỗi khi nhớ lại lúc đó, tôi liên tưởng đến chiếc mặt nạ kịch Noh. Nếu để mặt nạ Noh ở vị trí thẳng đứng ngay trước mặt ta, dưới ánh sáng bình thường, bên ngoài không gian một vở Noh, ta thấy nó chỉ là bộ mặt vô hồn, bất động, không có sự sống nào ẩn bên trong và cho ta thấy cảm xúc của nó. Nhưng khi nó nằm trên khuôn mặt một nghệ sĩ bậc thầy, khi nó được dịch chuyển theo những góc độ khác nhau và tốc độ khác nhau thuận theo cử động đầu của nghệ sĩ, kết hợp với những mảng sáng tối thay đổi dưới tác động của ánh sáng, chiếc mặt nạ bỗng hóa thành sống thực và có sức biểu cảm đáng sợ... Bây giờ tôi nhận ra rằng tất cả hành động và cử chỉ của Huệ tối hôm đó, kể cả của miệng và các cơ mặt, là những biểu cảm phong phú khác nhau dưới tài nghệ của nghệ sĩ bậc thầy kia, duy có cặp mắt Huệ thì chính là bộ mặt trơ trơ còn lại khi nghệ sĩ đã đi mất. Thế nhưng điều đáng nói là bên dưới cái mặt nạ trơ trơ kia giờ là khuôn mặt thật của một người khác, không phải của nghệ sĩ mà của Huệ, khuôn mặt thật nhất của Huệ, cái gần hơn cả với bản chất của thực tại, và khuôn mặt đó là cái tôi chưa thể thấy, tôi muốn thấy.
Một lúc sau chúng tôi không nói gì nữa. Chỉ có tiếng hai lon bia của chúng tôi được nhấc lên đặt xuống chạm khẽ vào mặt bàn hay sàn nhà, tiếng nhai chậm rãi của chúng tôi, và âm thanh kèn kẹt khó hiểu nào đó trên trần nhà.

***

Trên đường về nhà Huệ nói gì? Kentaro hỏi.
Đồng hồ đặt trên bàn làm việc chỉ 10 giờ 30.
Nếu muốn thì ngủ lại đây, Kentaro nói.
Có một gã to con đặt tay lên ngực Huệ, tôi nói. Ngay cả khi đó Huệ vẫn có vẻ chưa thực sự nhớ ra mình đang ở đâu. Cũng may là bảo vệ vũ trường xuất hiện đúng lúc, không thì có trời biết sẽ xảy ra chuyện gì.
Huệ biết đấy, Kentaro nói.
Tôi ngoảnh sang y. Y không nhìn tôi.
Khi chia tay đêm đó, Huệ cám ơn tôi vì tôi đã cố gắng hành xử một cách tốt nhất, vì tôi đã ở bên cô và chịu đựng cô. Tôi kể điều đó cho Kentaro nghe.
Khi rời vũ trường tôi cởi sơ mi khoác lên người Huệ. Cô không phản đối, lẳng lặng luồn hai tay vào ống tay áo rồi cài hết cúc. Áo hơi rộng so với Huệ tuy dài thì không vì Huệ cao xấp xỉ tôi. Trên người tôi còn áo thun. Trời se lạnh. Suốt đường về Huệ im lặng. Tôi nghe tiếng Huệ thở đều sau lưng tôi. Ngực Huệ rắn, mềm cọ vào lưng tôi. Tôi cảm thấy chiếc áo của mình đã thành một phần da thịt của Huệ. Điều này tôi không kể cho Kentaro.
Khi chia tay Huệ trước ngõ nhà cô, tôi nhìn thẳng vào mắt cô và nhận thấy cũng vẫn cái vẻ ấy, như thể cô ở bên ngoài mọi thứ xung quanh. Song lần này trong đầu tôi lóe lên một cảm nhận khác: rằng, hơn cả nghệ sĩ bậc thầy, cô là tác giả bậc thầy và tối hậu đằng sau vở diễn này, mà cao trào là lúc cô giật phăng cúc áo giữa vũ trường và mục đích cuối cùng, duy nhất của vở diễn này là đẩy nhanh tới một cái gì đó, mời gọi cái gì đó hay kẻ nào đó đến. Có thể tôi sai, song ý nghĩ đó bắt đầu bám chặt vào tôi như một thứ hồ dán. Điều cuối cùng này tôi kể với Kentaro.
Nói nghe, Kentaro nói. Cậu muốn làm tình với Huệ phải không?
Nghe đoạn, tôi ngoảnh về phía cửa sổ. Ai đó cưỡi xe máy phóng vèo qua dưới phố như kẻ cướp chạy trốn cảnh sát. Mãi lâu sau khi xe qua khỏi, tiếng rú ga chói ráy tiếp tục rạch một đường sâu vào im lặng của đêm và của tôi.
Cậu thường nói chuyện gì với cô ấy? Kentaro nói.
Tôi im lặng một chút, nhìn cái bóng gù gù của Kentaro in trên tường.
Nhiều thứ... Đủ thứ chuyện, tôi nói. Tình hình trong nước. Tình hình thế giới. Tội phạm vị thành niên. Quan to tham nhũng vô độ. Bảo tồn cá voi. Lại chiến tranh. Danh sách Forbes. Thích Nhất Hạnh. Điện ảnh. Văn chương. Salsa...
Về những điều tiên tri của Huệ nữa chứ.
Vâng. Về những điều tiên tri.
Còn về tình yêu? Đàn ông và đàn bà? Sex? Có hay không?
Tôi im lặng.
Có lần tôi nói với Huệ, cô ấy là một trong những phụ nữ hoàn hảo nhất tôi từng biết.
Chỉ có thế, Kentaro nói.
Chỉ có thế.
Kentaro im lặng. Đâu đó sau những bức tường vang lên tiếng búa. Tiếng búa đều đặn theo nhịp ba, đầu tiên hai lần nhẹ liền nhau, ngừng một chút, sau đó là một cú mạnh, đanh, dứt khoát.
Mày đã bao giờ nghe xoài chín rụng trong vườn chưa?
Tôi từng nghe câu hỏi tương tự thế từ một người khác, tôi không nhớ ai. Chưa bao giờ, tôi bảo Kentaro. Căn nhà tôi ở với ba mẹ từ nhỏ đến lớn tại Sài Gòn chỉ có khoảnh sân nhỏ xíu vừa đủ cho dăm chậu cây cảnh và chiếc Vespa của ba tôi vào lọt. Khu vườn nhà ông bà ngoại tôi ở Huế mà thỉnh thoảng tôi về thì rộng song chẳng có cây xoài nào. Thực ra, toàn bộ cây trái trong vườn đã bị đốn sạch sau khi tôi về đó lần đầu tiên hồi năm tuổi, lần ấy, ấn tượng mạnh nhất còn lại với tôi đến giờ về cây cối trong khu vườn là bóng râm mênh mông, ẩm ướt, lạnh toát của chúng.
Lần cuối cùng mày lắng nghe là khi nào?
Tôi hiểu Kentaro muốn dẫn tôi đến đâu. Tôi không hứng thú với điều đó. Nhưng không phải vì vậy mà tôi im lặng. Tôi im lặng do không tìm được câu trả lời.
Nói tớ nghe, mày có muốn nhìn thấy máu chảy từ cặp vú của Huệ không?
Không, tôi buột mồm, ngẩng lên nhìn Kentaro.
Nói lại lần nữa: Có hay không?
Tôi im lặng.
Mày muốn thấy cái đó hơn hay là muốn thấy cái mà Huệ thấy hơn?
Cả hai, sau một thoáng im lặng, tôi nói.
Kentaro không có vẻ đang nghe tôi. Y nhìn lên trần nhà hoặc cái gì đó bên trên mái nhà, song lần này mặt y có một vẻ khác, như thể đang nhớ lại một việc cần làm, một cái gì đó không được quên.
Ta đi thôi, y nói.
Tôi không bất ngờ trước lời mời hay mệnh lệnh đột ngột này. Phần nào đó trong tôi đã biết trước và chuẩn bị sẵn cho điều này.

Tranh của Ricardo Renedo

***

Kentaro gọi taxi. Nơi đến: Tháp Đôi Hà Nội. Xe mang chúng tôi rời khu phố cổ, băng qua Nhà hát Lớn, xuôi phố Lê Thái Tổ về phía vườn hoa Tăng Bạt Hổ, rẽ qua phố nhỏ Nguyễn Huy Tự rồi đổ ra đường trên mặt đê. Đích đến của chúng tôi là khu đô thị mới Việt Thường bên kia cầu Vĩnh Bình nơi có tòa Tháp Đôi nổi tiếng khánh thành năm ngoái.
Tháp Đôi Hà Nội, “công trình xây dựng kỳ vĩ nhất Việt Nam thế kỷ 21”, kém Tháp Đôi Petronas về chiều cao, song, “hơn hẳn về vẻ đẹp tinh tế và cốt cách cao nhã”. Tôi chưa từng leo lên nhà hàng Zenith gần đỉnh tháp, nghe bảo vào những ngày trời quang, ngồi trên đó có thể thấy rõ những bãi cỏ xanh của sân gôn Sóc Sơn hoặc, nếu trời đặc biệt tốt, thấy được cả Nhà thờ Đá Ninh Bình, chỉ có điều phải định hướng tốt thì mới nhận ra được bởi khi đó, Nhà thờ Đá trông như mẩu bánh xốp bị ỉu. Tôi cứ nghĩ Kentaro sẽ kéo tôi lên đó, nhưng y bảo chúng tôi sẽ lên Café Mughal ở quãng giữa Tháp Trái. Cũng như nhà hàng Zenith, tôi có nghe nói đến Café Mughal song vào đó thì chưa. Nó “được bài trí theo phong cách uy nghi sang cả của cung đình Ấn Độ dưới triều Hoàng đế Shah Jahan thuộc đế chế Mughal vào thời đại hoàng kim”.
Giờ tôi đứng bên trong nó, như trong một game ba chiều mới ra lò. Chúng tôi ngồi tại một bàn trống cạnh cửa sổ. Trên tường, bên phải, một bức tranh to bằng người thật mô tả cặp tình nhân lừng danh Radha và Krishna. Những nếp gấp nơi váy Radha cũng có vẻ đầy hơi ấm giống như chiếc ghế bành mềm tôi ngồi. Từng vật quanh tôi, từ cái chân bàn bằng hợp kim đồng thau, cho tới cái ly bằng thứ chất liệu trông như sứ trắng lốp dường như tuyệt đối vô trùng trong tay tôi, đều phô ra một sự hiện diện mãnh liệt và hiển nhiên đến độ chính vì vậy hình như chúng bớt thực hơn và tôi cũng bớt thực hơn. Trong nháy mắt tôi có cảm tưởng mình như hình nhân bằng giấy, không thể che cho ngọn lửa diêm trước gió.
Yên tâm, lát sẽ ổn, Kentaro nói.
Kentaro quen thuộc nơi này hơn tôi, từng có mặt ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới hơn tôi. Với y các thế giới đó đều thực hoặc đều không thực như nhau. Để rứt khỏi trạng thái vừa rồi, tôi nhìn về phía cửa sổ. Từ tầm cao này có thể thấy trọn vẹn đô thị mới Việt Thường và hầu như trọn thành phố Hà Nội về đêm.


Theo yêu cầu của Kentaro, bồi bàn đến đưa cho y một chiếc ống nhòm.
Anh dùng cái này để săn gì vậy? Một kiều nương xinh đẹp à? tôi nói.
Tao thích dùng ống nhòm ngắm thiên hạ, Kentaro nói. Lần đầu tiên y dùng đại từ “tao” khi nói chuyện với tôi. Tuy nhiên giọng y không đổi, cũng như cái nhìn của y hướng vào tôi qua cặp mắt nâu sẫm.
Ai tao cũng nhìn, Kentaro nói. Người đi xe máy trên đường, người đi bộ trên vỉa hè, rẽ vào quán xá cửa hàng. Người ngồi trên ban công căn hộ nhà mình, ở khu chung cư cao cấp Vĩnh Tuy. Người ngồi trong văn phòng, cạnh cửa sổ, làm việc đến tối mịt, chắc là phải hoàn thành gấp bản báo cáo hay thuyết trình nào đó. Những kẻ nhìn từ khoảng cách xa như vậy có cái gì đó khác với những kẻ ta nhìn từ cự ly gần. Theo mày đó là cái gì?
Tôi im lặng.
Tao thấy họ đáng yêu hơn, vì họ mong manh hơn. Khi họ không biết mình đang bị ai đó theo dõi, họ sống thật với chính mình hơn và gần cái chết hơn. Nhiều khi tao tự hỏi tại sao qua ống nhòm lại không thể nhìn thấy những thứ như các đường kinh mạch chẳng hạn, các huyệt đạo, các luân xa bên trong mỗi người. Hoặc cái ánh sáng mà mỗi người đều phát ra không nhiều thì ít. Dĩ nhiên, để thấy được những cái đó thì vấn đề nằm ở cặp mắt chứ không phải ở công cụ. Huệ của mày nhìn thấy được chăng?
Thử xem, y hất cằm về phía chiếc ống nhòm trong tay tôi, đồng thời tay phải y phác một cử chỉ, mơ hồ nhưng chuẩn xác, về hướng nào đó phía sau tôi.
Kia là tòa nhà Talcom, y nói. Còn đằng kia, y trỏ ngược về phía sau, là khu dân cư cao cấp Vĩnh Tuy. Còn kia, y khẽ xoay đầu về bên trái, là chung cư Đền Lừ. Từ cao độ này thì chỉ nhìn xa được đến thế thôi, y nói. Cả một khối người, y dừng một tí, cả một khối người không ngờ vực gì, không hay biết gì, để cho mày nhìn.
Bên trong mỗi tòa tháp trong cặp Tháp Đôi là một giếng trời khổng lồ thông từ tầng hầm để xe dưới cùng trong lòng đất lên tận chóp trên cùng, càng lên cao càng vuốt hẹp, chếch về phía tháp đối diện, giống như lòng một con ốc vặn khổng lồ. Đây đó trên vách giếng trời này, cách nhau những quãng không đều, xếp dọc theo những đường xoáy trôn ốc vô hình chồng chéo nhau một cách có vẻ nhằng nhịt song tất cả đều hướng về điểm mút trên cùng, là những ô thụt vào to nhỏ khác nhau, hình lục giác đều giống như các ô trên mặt tổ ong, hoặc hình tròn như những “nốt rỗ” trên mặt miếng phó mát Emmental, tất cả dệt thành một mạng họa tiết liên hoàn đa tuyến hướng tâm, vừa rối rắm vừa hài hòa, vừa bề bộn vừa tinh tế, vừa phóng túng vừa nhất quán, vừa có vẻ tung tóe như một nắm hạt trai vãi bừa lên mặt đất, vừa có vẻ đầy ý thức về trật tự và tiết điệu như những chấm tròn trang trí trên cơ thể người châu Úc bản địa. Về thực chất, mỗi ô lục giác đều hoặc ô tròn đó là một không gian kín mà diện tích có thể hàng trăm mét vuông. Café Mughal là một trong hàng trăm ô như vậy: một phía của nó là bức tường bằng kính khổng lồ nhìn ra bầu trời, đối diện nó là một bức tường bằng kính khổng lồ hình lục giác đều, cao từ sàn đến chấm trần, trông ra giếng trời kia. Ban nãy, khi cùng Kentaro di chuyển từ tầng trệt lên tầng cao này trong một lồng thang máy hình trụ bốn bề lắp kính màu xám khói, tôi đã băng qua những ô tròn trong đó là cửa hàng thời trang cao cấp, qua những ô lục giác trong đó là quán ăn Nhật, nhà hàng Thái, qua những ô tròn trong đó là quán bar hoặc thẩm mỹ viện hoặc trung tâm gym yoga và zumba, qua những ô hình quả trám trong đó vài chục người ăn mặc chỉnh tề ngồi trước những dãy bàn có vách ngăn thấp, kẻ gõ máy tính, người quát vào điện thoại, người khác đi đi lại lại xoay xoay cây bút trong tay, chẳng hiểu là loại công ty hay tổ chức nào làm việc lúc hơn 11 giờ đêm, có chăng là một tòa soạn báo hay một tiểu ban cảnh sát ngụy trang thành doanh nghiệp, qua một ô tròn trong đó là rất đông người, hình như toàn phụ nữ, ngồi quây tròn quanh một bục nhỏ cao cao kê giữa, trên bục là một cô gái ăn mặc hơi lạ đang há to miệng cất lên một cái gì đó, không hiểu là đang hát, ngâm thơ, đọc thần chú hay đang xướng một đoạn đầy cảm xúc trong một lớp kịch. Bức vách kính màu xám khói của buồng thang máy, bức tường kính của cái ô tròn kia, và khoảng cách lớn giữa hai bên, khiến tôi không thể nhìn rõ hơn xem cô gái mặc gì - hình như có phần giống cô gái Bắc Ninh mặc áo tứ thân, lại cũng hao hao như y phục thường thấy của vũ công flamenco.
Tôi đề nghị Kentaro cùng tôi chuyển sang ngồi dọc bức tường kính nhìn ra giếng trời. Kentaro đồng ý, không hỏi tại sao. Tôi nhìn mãi mà không thấy bàn trống nào như tôi muốn. Ngần ngừ một chút, tôi bảo Kentaro ngồi đợi trong khi tôi lại đằng kia quan sát. Tôi muốn tìm lại cái ô tròn có những phụ nữ ấy. Nếu tôi không lầm, nó nằm dưới ô lục giác nơi chúng tôi ngồi khoảng dăm tầng gì đó, và từ đây, với ống nhòm này, tôi có thể dễ dàng tìm lại nó, nhìn kỹ hơn, bởi, khác với ban nãy, lúc này tôi cũng đứng yên giống như nó. Song tìm ra cái ô tròn đó không dễ như tôi tưởng, bởi có quá nhiều ô tròn cũng như quá nhiều ô lục giác và rất nhiều dạng cấu trúc khác nữa mà ban nãy, đứng trong buồng thang máy, tầm nhìn hẹp, tôi không thể bao quát hết. Lúc này tôi cần phải kiên nhẫn, chia đối tượng ra thành từng mảng, xem xét và loại dần từng mảng một, giống như khi chơi trò đi qua bãi mìn. Một trong những yếu tố giúp cho việc tìm kiếm của tôi, ấy là các ô này khác nhau không chỉ về hình dáng (tròn hay lục giác hay gì khác) mà cả về màu sắc lớp tường kính: màu xanh lơ, màu xanh da trời, màu xanh ngọc, màu vàng mơ, màu cam nhạt, màu phớt tím, màu be, màu khói loãng. Dĩ nhiên ban nãy tôi đã không thể xác định màu của cái ô tròn kia do bị ngăn cách bởi bức vách màu xám khói của buồng thang máy, song bây giờ, qua tường kính trong suốt, tôi có thể phân biệt rõ tất cả các màu và sắc độ khác nhau kia, và có thể gộp nhóm các ô tròn theo màu sắc rồi quan sát và loại dần từng nhóm một. Đó như một trò chơi, một thứ game trực tuyến mà tôi tự dấn vào, song tôi cũng không khỏi cảm thấy có một bàn tay nào đó lớn hơn tôi nhiều đã tạo ra cuộc chơi này, và tôi là một phần tử nhỏ ngẫu nhiên (hoặc không ngẫu nhiên lắm) được sử dụng trong cuộc chơi. Càng tìm tôi càng cảm thấy dường như đang có sự thông đồng nào đó chống lại tôi: cái ô tròn tôi đang tìm kỳ thực là liên tục thay hình đổi dạng, đổi màu sắc, đổi vị trí; nếu không thì chẳng có lý gì tôi đã quan sát kỹ và lâu đến vậy mà vẫn không tìm ra. Song, đúng lúc tưởng như tôi đã mất hết kiên nhẫn hay mất hết hứng thú với trò chơi này thì, rốt cuộc, tôi thấy nó.
Hẳn trước đó tôi đã lướt qua nó song không nhận ra. Không rõ tại sao lúc này tôi nhận ra và cảm thấy đúng là nó, dù căn phòng giờ đây không một bóng người. Không có chiếc ghế nào, dù đặt giữa sàn hay kê sát vào tường - nếu tôi nhớ không lầm thì ban nãy các phụ nữ kia (khoảng hai ba chục người) ngồi trên thứ ghế nhựa thường thấy ở quán cà phê bình dân. Cũng không có chiếc bục nào. Dĩ nhiên, khoảng thời gian tôi ngồi với Kentaro đến giờ đủ lâu để những người kia làm xong việc họ làm, sau đó ra khỏi phòng mang theo cả ghế lẫn bục, nhưng không hiểu tại sao trong tôi dâng lên một linh cảm bồn chồn rằng sự thật không phải như vậy. Sự trống rỗng của căn phòng lúc này có một phẩm tính khác biệt, tuân theo những quy luật khác, theo đó thì ghế kia, bục kia có biến thành không khí cũng hợp lẽ. Hoặc có thể khung cảnh tôi thấy ban nãy thuộc về một thực tại khác, còn sự trống không này là một thực tại khác chăng?
Tôi bỏ ống nhòm, nhìn bằng mắt thường. Tuy nhìn bằng mắt thường ô tròn đó chỉ bằng cỡ trái táo, tôi vẫn có thể thấy bên trong nó cũng một sự trống không đó. Sự chuyển hóa kia chẳng phải là do có hay không có ống nhòm.
Tôi lại nhìn vào ống nhòm. Một cách vô thức, tôi muốn tìm một khác biệt tối thiểu nào đó, chẳng hạn sự khác nhau giữa màu sắc và mật độ bụi giữa những vùng khác nhau trên sàn phòng, khả dĩ gợi ý rằng từng có những đồ vật - đặc biệt là cái bục - đặt lên trên đó cách đây không lâu và mới được cất đi. Một cảm xúc mãnh liệt thắt tim tôi, giống như nỗi nhớ chốn quê nhà tôi không bao giờ quay lại được, thậm chí không thấy được một cái gì gợi nhớ về nó.

***

Sao, có thấy cái mày muốn thấy không, khi tôi ngồi lại vào bàn Kentaro hỏi.
Tôi đặt ống nhòm xuống. Trong một thoáng tôi muốn giữ nguyên bàn tay trên ống nhòm, song tôi bỏ ra, cầm ly đồ uống nãy giờ chưa đụng tới.
Tao quên hỏi mày dùng ống nhòm bao giờ chưa. Nhưng nếu không nhìn thấy thì có lẽ không phải vì ống nhòm, Kentaro nói.
Đúng vậy, tôi nói.
Kentaro xát xát đầu mũi.
Để tao nói xem mày sẽ nghĩ tới điều gì nhé, y nói. Mày sẽ nhớ tới truyện ngắn của một nhà văn Nhật, trong đó có hai tay đàn ông ngồi trên lầu cao dùng ống nhòm quan sát một cô gái trên hè phố.
Edogawa Rampo, tôi nói.
Sau đó thì thế nào?
Đó không phải câu hỏi, vì Kentaro và tôi biết câu trả lời. Tôi có thể hình dung cảnh tôi nhờ người bạn ra đứng cách tôi một quãng, cầm ống nhòm xoay ngược lại và thu tôi vào ống kính, bằng cách đó sẽ xảy ra một sự chuyển hóa và tôi sẽ thu nhỏ lại, lọt vào cái thế giới đang vuột khỏi giác quan của tôi kia, thế giới chứa đựng cô gái mà tôi đã thấy đang đọc, ngâm, hát hoặc xướng hoặc kêu lên gì đó giữa các phụ nữ ngồi quanh, với một biểu cảm khó tả trong tư thế cơ thể khiến tim tôi thắt lại vì một nỗi đau và sự lo mơ hồ.
Anh cho rằng có thể làm vậy à?
Tự mày phải tìm câu trả lời, Kentaro nói. Chẳng phải nhân vật chính trong truyện cũng như vậy sao.
Nói đoạn Kentaro nhìn đi chỗ khác, xát xát đầu mũi. Bỗng tôi ước gì có Huệ ở đây. Không như Kentaro lúc nào cũng nhìn thấu tâm can tôi và đồng thời bỏ mặc tôi trong hoang mang, Huệ sẽ giúp tôi, một cách dịu dàng và bao dung. Huệ có thể giúp tôi. Huệ đã thấy bao nhiêu thứ tôi không thể thấy mà chẳng cần đến ống nhòm… Nhưng chẳng phải chính tôi đã thấy một cái răng heo rừng bằng ánh trăng đó sao?
Kentaro chợt nói:
Nhớ câu này trong phim Tarkovsky không, ‘Loài người tồn tại là để làm ra tác phẩm nghệ thuật’?
Phim nào nhỉ?
“Stalker”.
Phải, hình như có câu ấy.
Cố nhiên là có người nói, chỉ có bọn nghệ sĩ tự cho mình là tinh hoa và trung tâm của nhân loại thì mới nghĩ như vậy. Kể cũng có lý. Tuy nhiên, nghĩ kỹ, mày sẽ thấy ông đạo diễn cự phách kia chỉ là đang phát biểu một sự thật có tính nền tảng. Đúng. Loài người hiện hữu chẳng để làm gì hết nếu như trong tất cả những thứ khá khẩm nhất họ làm ra chẳng có cái nào là tác phẩm nghệ thuật.
Chú mục vào cái ống nhòm trên bàn, Kentaro nói:
Tao để ý, lúc mới thấy cái ống nhòm này lần đầu tiên, mày ngỡ ngàng như gặp một tác phẩm nghệ thuật. Ừ, đúng. Nó đẹp. Những phát minh công nghệ tân kỳ nhất, choáng người nhất cũng chẳng là gì nếu chúng không đồng thời là tác phẩm nghệ thuật, nhất là nếu nó có mặt đó để phục vụ con người bình thường. Cú lao máy bay vào Tháp Đôi New York, nó in sâu vào tâm trí tao không phải vì số người nó giết mà vì nó đạt tới sự hoàn hảo của tác phẩm nghệ thuật. Nếu nhìn từ xa, nhìn từ khoảng cách vũ trụ, thì chẳng phải loài người hiện hữu chẳng để làm gì nếu bản thân sự hiện hữu của họ giống như là một tác phẩm nghệ thuật hay sao? Cố nhiên, làm ra tác phẩm nghệ thuật theo nghĩa hẹp không phải là việc mà bất cứ ai sinh ra làm người đều phải đảm đương. Đại đa số loài người chỉ đóng vai trò chất liệu cho một số ít người làm ra tác phẩm nghệ thuật mà thôi, cố nhiên từ ‘chất liệu’ này cần phải hiểu cho đúng. Rồi thì số ít này, họ không thể thoát khỏi cái phận chung của loài người, không trừ một ai, là có mặt trên đời để làm chất liệu, không hơn.
Chất liệu của cái gì?
Của cái gì à? Của cỗ máy phát triển. Của vận động tiến hóa. Của vực xoáy ngẫu nhiên. Thể xác mày có thể tiêu tán vì cú đâm của một thằng ăn trộm hay dưới bánh xe của một tài xế thiếu ngủ. Tinh thần của mày, nếu nó đủ mạnh, sau hai ngàn năm nữa nó vẫn còn nguyên đó, giống như Ý niệm của Plato. Cuộc hiện tồn của loài người là một lò luyện khổng lồ, hoạt động không ngừng, ngốn vật liệu và năng lượng khôn kể, để cho ra mỗi lần dăm ba tinh thể kim cương vũ trụ giống như vậy. Nói gì thì nói, tao sắp chết.
Y đang chăm chú nhai, mắt tập trung vào điểm nào đó trên dĩa xà lách cá hồi ăn đã gần hết. Dáng vẻ y có thể khiến tôi cho rằng, 1) tôi vừa nghe nhầm, hoặc 2) tôi tưởng tượng mình đã nghe gì đó như vậy. Rồi tôi nhớ lại các tử tù trước khi ra dựa cột hoặc lên ghế điện cũng có thể ăn bữa cuối cùng của mình một cách chú tâm, ngon lành và thản nhiên như vậy. Hitler, trong một bộ phim về những ngày cuối cùng của ông ta và nước Đức quốc xã, đã ngốn sạch bữa cuối cùng trước khi chết như thể cả đời chưa bao giờ được ăn.
Chính xác là khi nào?
Tao không biết. Điều đó tùy thuộc nhiều nhân tố ngoài tầm kiểm soát của tao.
Anh biết điều đó từ bao giờ? nuốt xong muỗng xúp và chiêu ngụm nước, tôi hỏi.
Gò má trái Kentaro giật một cái. Y im lặng lâu trước khi trả lời.
Tao không biết phải bắt đầu từ đâu. Song nếu sau này có lúc nào đấy mày nhớ lại về tao, tao mong mày hãy nhớ rằng tao đã luôn luôn muốn nói toàn bộ sự thật... cho mày… cho ai đó… về …
Và y nói ra một từ hoàn toàn xa lạ với tôi. Nó có hai âm tiết ya và gan khá rõ, tuy nhiên trước đó là một âm tiết i mà tôi không biết có ý nghĩa gì, viết như thế nào.
Xin lỗi? tôi nói.
Kentaro lại chú mục vào một điểm trước mặt, lần này hình như ở trên ly nước đã uống gần hết, và một lần nữa tôi có cảm giác Kentaro đang phân vân không biết dùng tay phải hay tay trái để cầm lấy ly.
Anh có thể nhắc lại từ anh vừa nói không? Nó là cái gì?
Y nhúng ngón tay vào chén nước xốt, viết lên khăn trải bàn. Tôi nhìn. Nó là mấy âm tiết y vừa nói. e-Yaghan. Từ bề mặt khăn trải bàn trắng lốp, nó nhìn lên tôi, như một con vật lạ đến từ thế giới khác, nhìn tôi như muốn nói rằng lẽ ra tôi phải nhận ra nó ngay.
Khi tới lúc thì mày sẽ biết những gì cần biết về nó... Kentaro nói.
Tôi nghĩ một chút về điều y vừa nói.
Vậy, tại sao anh nói ra đúng lúc này?
Lỡ như tao không còn cơ hội nào khác thì sao? Y ngừng, như hơi bị nghẹn họng. Nếu bây giờ tao không nói mà năm phút nữa tao chết thì có phải mày sẽ không bao giờ biết tao đang muốn nói chuyện đó với mày, phải không? Đừng nhìn tao như thể mày không biết rằng ở trong cái thế giới này bất cứ phút nào tao hay mày cũng đều có thể chết.
e-Yaghan, tôi nói, nhìn xuống cái tên Kentaro viết bằng nước xốt trên mặt bàn. Nó là cái gì đó tác động rất lớn đến anh hiện giờ, kể cả là chuyện sống chết, phải không?.. Và chắc hẳn liên quan đến tôi… không thì tôi không việc gì phải biết tới nó.
Đương nhiên mày phải biết tới nó, Kentaro nói to, cáu kỉnh bất ngờ. Hai ba người ở bàn khác quay lại nhìn. Mắt Kentaro đột ngột rời xa tôi, mặt y sẫm lại như lọt vào vùng khuất ánh đèn. Trong nháy mắt dường như linh hồn Kentaro cũng lùi vào vùng khuất, nhập vào bóng tối, và cái thể xác đang thở, động, nói trước mặt tôi chỉ là con rối điều khiển từ xa bởi cái gì khác, không phải bởi linh hồn này. Chữ e-Yaghan màu đỏ y viết trên mặt bàn trông như hình ảnh thị hiện của cánh cửa không bao giờ mở ngăn giữa y và tôi. Tôi nín thở, làm như bằng cách này tôi có thể ghìm lại khoảng cách giữa chúng tôi. Giống như dùng tay không ghìm lại sự giãn nở ngược hướng nhau của hai thiên hà.
Tại sao anh chết? Cái gì làm anh chết? tôi nói. Và, sau một thoáng dừng: Có phải do e-Yaghan?
Y nhìn tôi, mắt vằn đỏ. Một người đi ngang sau lưng y, gần như hích vào lưng ghế, cùi chỏ thiếu chút nữa va vào mé đầu của Kentaro. Y quay lại nhìn, với vẻ mặt của kẻ liệt toàn thân, nằm lẻ loi, nhìn con bọ cạp bò lên người mình. Tôi chợt nhớ một cuốn sách từng đọc trong đó có người tử tù, trên đường ra bãi xử bắn, để ý đến màu sắc một con thạch sùng trên cây, như thể đây là lần đầu anh ta thấy nó.
Tao muốn nói với mày về vô số thứ khác… Kentaro nói. Tao biết tao có thể nói với mày về vô số thứ… Mày lắng nghe, sẵn sàng cảm thông, nỗ lực để hiểu và không phán xét. Có người như mày trên đời thì cũng đáng cho tao có những thứ để nói. Nhưng tao buộc phải nói với mày về e-Yaghan. Thay vì nói với mày về cái đẹp và tình yêu, tao nói với mày về e-Yaghan, buộc phải nói về nó, về căm hận, phải, tao căm hận nó. Tao…
Sau chữ ‘tao’ này Kentaro chết. Tôi đỡ lấy y, áp tay lên ngực y, kề ngón tay dưới lỗ mũi y, nhận ra y đã tắt thở, tim đã ngừng đập. Mắt y đứng tròng, môi thâm lại như thịt thối. Sức nặng của một cái gì thật lớn, không thể hiểu, không thể cưỡng, thông qua thân thể bất động của y đè lên thân thể tôi.
Nay nhìn lại, một trong những câu hỏi chưa có lời đáp là, liệu ngay trước khi Kentaro và tôi lên đường đến Tháp Đôi Hà Nội, y có biết rằng không quá hai tiếng đồng hồ sau y sẽ chết không? “Tao sắp chết”, y có nói. Nhưng phải chăng từ “sắp” đó cũng có thể hàm ý một thời hạn dài hơn, một ngày, một tuần, hai tuần? Có phải chỉ là ngẫu nhiên khi kết cục đó xảy ra lúc y đang ở cùng tôi? Có phải y cố tình ràng buộc tôi vào đoạn kết số phận y? Hay đó là do một cái gì đó lớn hơn y định đoạt, và cả y lẫn tôi chỉ đang diễn vai mình trong một phần nhỏ cuộc chơi của nó?


Tôi không nói gì về e-Yaghan khi trả lời thẩm vấn của cảnh sát quanh cái chết của Kentaro. Khám nghiệm pháp y không phát hiện bất cứ độc tố nào, căn bệnh nan y nào, tác nhân gây chết người cấp kỳ nào ở Kentaro, và tôi biết mình trả lời như vậy là đúng. Vụ việc nhanh chóng được khép lại với kết luận: “Đột tử vì lý do chưa thể xác định, loại trừ khả năng bị ám sát”. Chỉ sau khi y chết tôi mới biết những đồn đại rằng Kentaro xuất thân từ một gia đình giàu có và thế lực không phải là đồn suông. Một quan tài bằng thép, một chuyên cơ và một đoàn hộ tống khoảng bốn mươi người được cử sang để đưa thi hài y về Nhật. Tôi không có mặt tại chỗ khi người ta đưa y lên chuyên cơ, nhưng theo lời một người bạn phóng viên, cái chết của Kentaro giống như cú vung đũa của nhà ảo thuật, khiến cho từ trong mũ của anh ta tuôn ra kìn kìn cả một bầu đoàn đông đảo những nhân vật mà thường người ta chỉ thấy trên báo đài và trong phim: chính trị gia, minh tinh điện ảnh, doanh nhân cỡ bự, yakuza, tất cả chen vai thích cánh bên nhau như một đoạn băng ghép ngộ nghĩnh và đáng ngờ về các phần tử đang cầm chịch thế giới. Và bằng cách nào đó tôi dự cảm rằng chuyện giữa Kentaro và tôi chưa kết thúc.

Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2025

Huệ và tôi: Café Brindisi (Trich từ tiểu thuyết "Cospolist Nổi Loạn")


Em hỏi anh điều này nhé. Lần gần đây nhất anh ngạc nhiên là khi nào?
Tôi im lặng, nhìn mắt Huệ. Cặp mắt như vùng nước sâu, tối, tuy nhiên từ bên dưới có gì đó tỏa sáng, như nắng tràn ra quanh bức rèm dày.
Tiếp đi. Em hỏi không phải để anh trả lời, tôi nói.
Lần này thì anh lầm, Huệ nói Anh tránh né một câu hỏi trong khi chính anh luôn thích đặt câu hỏi. Thế không công bằng.
Chắc anh không hay ngạc nhiên như em, tôi nói. Có thể anh không còn khả năng ngạc nhiên như em chăng? Hay anh ngạc nhiên đủ nhiều rồi? Liệu có phải nếu anh ít ngạc nhiên hơn thì anh mạnh hơn?
Có thể chính vì anh ít ngạc nhiên hơn nên anh cảm thấy mình mạnh hơn. Em thì không. Có lẽ đúng là vì em trẻ hơn anh… Nhưng có thật vậy không? Em thì thường xuyên thấy lạ về nhiều thứ quanh mình, nhiều thứ… Chẳng hạn có lần em gặp chuyện thế này. Em vào quán cùng mấy đứa bạn. Bàn gần đó có một bà ngồi một mình... bà ấy chả có gì đặc biệt nên bọn em chẳng để ý… bọn trẻ như em thiếu gì chuyện đáng quan tâm hơn đúng không. Thế rồi đến một lúc bà ấy rút khăn mùi soa lau miệng. Tình cờ khi đó em hướng mắt về phía bà ấy, bỗng em cảm thấy có gì đó không bình thường... có gì đó vừa xảy ra… cảm giác khó tả lắm, nó như… một cơn choáng nhẹ... hoặc như khi ta ở trong phòng tối một hồi lâu rồi đột ngột bước ra ngoài trời nắng gắt ấy… mất một lúc sau em mới nhận ra mình vừa thấy cái gì... cái gì khiến mình bị “sốc” như vậy. Anh có đoán được là gì không?
Huệ ngừng một chút, đẩy cốc nước cam ra xa rồi kéo lại gần.
Cái khăn mùi soa của bà ta… nó chói sáng, như… như gương phản chiếu ánh nắng giữa trưa vậy... hay như khi mình bị đèn flash rọi thẳng vào mặt. Phải mất một lát mới nhìn mọi vật xung quanh như bình thường trở lại được.
Phản ứng đầu tiên của em là trấn tĩnh càng nhanh càng tốt, rồi lý giải xem chuyện gì vừa xảy ra. Liệu mình có ảo giác không? Hay là một hiệu ứng quang học ngẫu nhiên nào đó? Nhìn kỹ lại thì khả năng thứ hai khó xảy ra lắm. Lúc đó xế chiều, không còn nắng nữa... bà ấy thì ngồi trong góc khuất, dưới một ngọn đèn mờ tím tím... bà ta không rút ra tấm gương hay chiếc kính lúp nào hết, em nhớ như thế, em tin mình không lầm, bởi trước đó em nhìn bà ta dù không có chủ định gì, em vốn vậy, đã nhìn là quan sát, ghi nhận, không nhất thiết là để làm gì.
Vâng, ngoài chiếc khăn tay bà ấy không cầm trong tay cái gì khác cả. Ban nãy em vừa nói rằng cái ánh sáng chói lòa đó giống như ánh mặt trời buổi trưa hội tụ trong kính lúp hay ánh đèn flash anh hiểu không. Thật ra đó chỉ là nói cho dễ hình dung, chứ nó rất tương đối, không thật chính xác... cái ánh sáng chói lòa em thấy đó… nó không cho cảm giác rắn, sắc cạnh của kim loại, nó không phát ra từ một nguồn đều đặn, cơ giới… em thấy, đúng hơn là cảm thấy rằng cái ánh sáng đó, nó có… bề mặt… trải rộng… có những nếp gấp và cũng mềm mại như chiếc khăn mùi soa kia, nó có kiểu như những hõm tối, tức là đáy những nếp gấp sâu, quanh đó là những gờ sáng hơn, đấy là những sống cuộn nhô lên… Anh có thể khó hình dung làm thế nào chỉ trong vòng không quá một tích tắc mà em có thể có một hình ảnh rõ ràng chi tiết đến thế… Anh đừng hỏi gặng, đừng vặn vẹo gì em hết... em cũng như anh, không biết chắc được điều gì, em cảm thấy như vậy có lẽ bằng trực giác.
Đó là ánh sáng mềm mại, sống động, hữu cơ, ánh sáng như của một sinh vật, nó khác với thứ ánh sáng đều đặn, cơ giới của một nguồn vô tri như ngọn đèn. Bản thân em ban đầu cũng lấy làm lạ về cảm nhận của mình, về kết luận này từ quan sát của chính mình. Nhưng anh thử hình dung sự khác nhau giữa bóng tối nơi đồng trống vào một đêm không trăng và bóng tối ở trên núi vào một đêm không trăng xem. Hai bóng tối ấy khác nhau, phải không? Sự khác nhau giữa hai ánh sáng này cũng như vậy.
Em đã quay lại nhìn các bạn… Chẳng phải để xem họ có thấy cái em vừa thấy hay không đâu… không hiểu sao em biết chắc rằng cái ánh sáng ấy chỉ một mình em thấy và chỉ trong nháy mắt thôi. Với các bạn em thì chẳng có gì xảy ra hết. Chúng nó vẫn đang hoàn toàn vô tư thoải mái trong thế giới của chính mình. Lúc ấy em rơi vào một trạng thái hụt hẫng, bàng hoàng, gần như nuối tiếc nữa. Khi em hoàn hồn nhìn lại thì bà kia không còn ở đó. Đến giờ em vẫn không chắc đó không phải là ảo giác hay một cơn mơ kéo dài chỉ mấy giây thôi… song cũng có thể không phải là ảo giác hay mơ lúc đang thức chứ, phải không? Em không thể nào hết ngạc nhiên vì điều đó.
Huệ ngừng nói, gại gại mặt bàn.
Em có kể với ai khác về chuyện chiếc khăn mùi soa không?
Không, Huệ nói.
Ngừng một lát, cô nhìn ra nơi khác, nheo mắt, đưa tay sửa kính. Rồi cô quay lại, nhìn tôi một chút và nhắc lại.
Không. Đó đâu phải là loại chuyện có thể dễ dàng chia sẻ với người khác.
Sau đó em thấy gì nữa?
Cũng như với câu hỏi trước Huệ lộ vẻ căng thẳng, di di ngón tay dọc mép ly. Nhưng rồi một làn sóng ánh sáng dâng lên trong cô.
Điều làm em ngạc nhiên nhất là bản thân sự có mặt của mình trên đời này. Có một người như em chứ không phải ai khác và một người như anh chứ không phải ai khác cùng ngồi đây nói về chuyện đó. Anh thấy có đáng ngạc nhiên không? Như em đây, em đang định trả lời câu hỏi của anh, cảm thấy mình biết rõ điều mình sắp nói, thậm chí cảm thấy mình biết nhiều hơn thế nữa, nhưng bỗng nhiên lại nhận ra rằng mình chẳng biết gì hết. Em định nói với anh về những gì khiến em ngạc nhiên, tức những gì mình chưa biết, nhưng khi nói như vậy thì dù muốn em cũng phải quy chiếu về những gì mình biết... biết hoặc tin là biết... mà càng nghĩ lại càng thấy những gì mình gọi là biết chắc thật ra là càng ít ỏi, nhỏ nhoi biết bao. Nhỏ nhoi, vô nghĩa... Ngay khi em đang nói đây, hàng triệu triệu điều ta không biết đang diễn ra quanh ta, bên trong ta, ngoài phố kia, bên kia dãy nhà kia, bên kia biển, dưới lòng đất, trong lòng biển, trong vũ trụ này, ngoài vũ trụ này... ta không biết chúng là gì, ta không biết là có chúng và gần như chắc chắn chẳng bao giờ ta biết được cả. Ngạc nhiên trước mọi sự, luôn luôn ngạc nhiên, lẽ ra đó phải được coi là trạng thái bình thường, lành mạnh của con người mới đúng... trạng thái tự nhiên nhất... Lẽ ra đó là điều đầu tiên không có gì đáng ngạc nhiên khi nói về con người… anh có đồng ý với em không?
Huệ nhìn tôi bằng ánh mắt là lạ.
Em muốn kể với anh về những nỗi ngạc nhiên còn lớn hơn của em, nhưng em cứ phải tự hỏi mình mãi, liệu anh có thuộc số những người thường xuyên mang câu đó trong đầu không.
Em uống thêm gì nhé? tôi nói.
Huệ nhìn thẳng vào mắt tôi như không hiểu tôi nói gì. Nước khoáng, gì cũng được, cô nói. Tôi gọi bồi, bảo cho nước khoáng. Vừa hay lúc đó một nhóm thanh niên lục tục kéo vào ngồi xuống bàn cách chúng tôi dăm mét. Một người trong bọn cao lớn đến nỗi chiếc bàn và không gian xung quanh như bị bùa chú làm cho thu nhỏ lại. Chiều cao, những tảng thịt cuồn cuộn, sức nặng áp đảo của y tưởng như chỉ có thể nhìn thấy trong một trận wrestling giữa các đô vật hạng nặng hay cuộc thi Người khỏe nhất thế giới. Khó hình dung y là người Việt, tuy nhiên vừa kéo ghế y vừa nói oang oang gì đó với các bạn bằng giọng đặc Hà Nội. Ngồi chưa yên chỗ trên chiếc ghế quá nhỏ so với y, mắt y đã bị hút về phía Huệ. Một bên tai y đeo toòng teng chiếc vòng bạc có hình dạng kỳ khu dài cỡ hai đốt tay, trông hao hao như Yul Brynner trong “Quân vương và thiếp”.
Huệ không bận tâm tới sự xuất hiện của y. Cô nhìn ra ngoài cửa sổ. Hai bàn tay cô đặt trên bàn, tay này úp chéo tay kia. Hai bàn tay thon dài, ngón khỏe, dường như thấy được làn da phập phồng theo từng hơi thở đều. Tuy nhiên, dưới da có gì đó căng lên, như sự căng thẳng của con thú rình mồi trước khoảnh khắc tung mình vào cuộc săn đuổi.
Bồi mang nước khoáng lên. Tôi mở nắp, rót cho Huệ. Đoạn tôi nhìn gã khổng lồ. Y mặc pull trắng, gi lê đen. Hai cánh tay y, cuồn cuộn bắp, trông như gò bằng đồng thau, to cỡ bắp vế tôi. Y nhìn lại tôi, đưa mắt từ chân lên đầu tôi như để ước lượng xem có thể nhấc tôi lên cao bao nhiêu bằng một tay.
Em đang nhìn thấy gì vậy? tôi hỏi.
Huệ nhìn tôi một chút rồi mới đáp, miệng hơi mỉm cười.
Sao anh không hỏi em đang nhìn gì?
Tôi chưa biết trả lời sao thì Huệ lại ngoảnh ra cửa sổ. Huệ đeo vòng cổ gồm những mẩu đá màu hồng như san hô gọt khéo thành hình ngói lưỡi hài. Chiếc vòng có vẻ hiện diện “ở đây-lúc này” một cách trọn vẹn hơn, vật chất hơn so với chủ nhân của nó. Gã hộ pháp không nhìn tôi nữa. Lúc này y cùng mấy người bạn y chú mục vào Huệ, chốc chốc trao đổi với nhau những cái nháy mắt, nụ cười, những bình phẩm không giấu giếm. Không rõ có phải do sắp xếp hay chăng mà cả ba người kia ngồi ở một phía bàn, đối diện gã khổng lồ ngồi phía bên kia, như chùm vệ tinh châu về hành tinh lớn nhất và mạnh nhất.
Anh có biết chuyện nàng Sirin không? Huệ hỏi tôi.
Sirin, hay Shirin? Có phải Shirin trong câu chuyện chàng Husrev và nàng Shirin không?
Không, không phải. Thật ra em chỉ mới đọc được về nàng Sirin cách đây không lâu thôi. Nàng Sirin này, Si chứ không phải Shi, nàng ấy là nhân vật trong thần thoại Nga, có họ hàng xa với nàng tiên cá trong thần thoại Hy Lạp, nhưng không phải tiên cá mà là một sinh vật có đầu và ngực đàn bà, mình chim. Nàng ấy biết tất cả mọi bí mật của thế gian này, tường tận mọi điều, nhưng nàng không có miệng, vì vậy dù có muốn đến đâu nàng cũng không thể tiết lộ với ai những gì nàng biết, không thể tâm sự với ai về những lo âu của nàng… lo âu vì chính những gì nàng biết. Nàng là kẻ thông tuệ nhất mà cũng là kẻ cô đơn nhất. Có một nữ họa sĩ người Ukraina vẽ tranh khắc về Sirin, rất đẹp, em tìm thấy ở trên mạng...
Cô ngừng một chút.
Anh thử nghĩ xem tại sao em lại nghĩ đến nàng Sirin vào lúc này? Huệ nhấp nước khoáng rồi nói, khẽ gạt lọn tóc bên má.
Nhóm thanh niên kia bắt đầu nói chuyện khác. Miệng nói, mắt thỉnh thoảng hướng về Huệ. Trong mắt họ tôi không khác chiếc ghế trống.
Em nói đi, anh nghe, tôi nói.
Huệ nhìn tôi rồi ngoảnh ra cửa sổ. Cô không cần câu trả lời của tôi. Có cảm giác Huệ và tôi đang đi cùng một hướng trên hai xe khác nhau, cô đi nhanh hơn tôi, càng lúc càng vượt trước tôi và chốc chốc ngoái đầu lại nói to gì đó mà không chắc tôi nghe được hay không. Tuy nhiên, giữa xe cô với xe tôi luôn có một sợi dây vô hình, không trọng lượng, không bao giờ đứt, giữ cho chúng tôi không lạc nhau.
Mấy người kia không thôi nhìn Huệ. Cái nhìn của họ làm tôi cảm thấy không khí đầy bụi kim loại nóng. Tôi muốn cùng Huệ rời chỗ này càng sớm càng tốt.
Mình đi ăn gì đi, tôi nói với Huệ.
Em chưa đói, cô nhìn thẳng mắt tôi.
Tôi đang nhìn cô, chưa biết nói gì, thì cô đã nhẹ nhàng tiếp:
Anh không nên dị ứng với họ như vậy. Họ không khác anh nhiều như anh nghĩ đâu.
Tôi mỉm cười, hẳn khá gượng gạo.
Có một người sẽ đến, Huệ chợt nói.
Tôi ngoảnh lại nhìn cô. Dường như khi nói câu ấy Huệ nhìn tôi, song khi tôi ngoảnh sang thì Huệ đã lại quay ra cửa sổ.
Một người? Là ai? im lặng một chút, tôi nói.
Huệ quay lại nhìn tôi. Lần đầu tiên tôi thấy trong mắt cô một thoáng xao động, như thể có một sinh vật mà ta không kịp nhận ra vừa lướt nhanh qua dưới tầng nước sâu.
Em không biết, cô nói.


Huệ từng kể với tôi, có lần cô nằm mơ thấy mẹ mình chết đuối, hôm sau thì nhận được tin mẹ bị đắm đò, nhưng vẫn sống. Trong số hơn chục người trên đò, bà là một trong ba người sống sót gần như nhờ một phép màu - bà không biết bơi.
Một người? Là ai?
Em không biết.
Câu trả lời của Huệ hơi quá nhanh, không hợp với bản tính cô. Có gì đó hẫng đi trong thân tâm tôi, như thể thời gian vừa nhảy cóc về phía trước vài giây, vài phút.
Nhưng em biết người đó sẽ đến?
Em biết.
Bằng cách nào?
Huệ lại nhìn ra cửa sổ. Có chấm sáng đỏ của một chiếc máy bay đang bay qua.
Anh không thật sự chờ đợi một câu trả lời rõ ràng, phải không?
Tôi nhìn cái ly đang uống.
Anh hiểu. Tự em không biết tại sao mình biết như vậy. Em biết, vậy thôi, im một lát Huệ khẽ nói.
Cô im lặng thêm một lát, khuấy khuấy ly nước cam kỳ thực không còn gì để khuấy.
Làm sao em biết điều ấy thì em cũng chẳng biết hơn anh. Em không biết liệu mình có phải một trong những kẻ người ta gọi là có giác quan thứ sáu, khả năng ngoại cảm không. Với người như em, có một khả năng như thế là điều tự nhiên. Ngay từ khi biết nhận thức về thế giới, những người như em đã thấy mình có cái đó rồi, nó là một phần hiển nhiên của mình, chẳng khác gì mình có hai tay, muốn lấy vật gì thì vươn tay về phía vật đó mà nắm lấy vậy... Phần đông người ta không có khả năng đó, cũng không có cách nào để biết một cách trực tiếp nó là như thế nào, thì họ nghĩ về nó cũng giống như người mù bẩm sinh nghĩ về đôi mắt của kẻ sáng vậy. Em nghĩ vậy đó... Em không phải người mù bẩm sinh, cũng không thuộc cái số đông kia nên em không thể nói thay ai, em chỉ có thể nói thay cho em thôi... chỉ nói về chính em, cảm nhận và trải nghiệm của bản thân em, bằng không thì hãy im lặng.
Huệ im lặng.
Nhưng ít nhất hẳn em cũng cảm nhận được, nếu không nói là biết được rằng kẻ sắp đến đó là một người rất đặc biệt... rất khác biệt phải không? tôi nói.
Trên mặt Huệ thoáng qua một vẻ là lạ, như làn gió bất chợt làm những vồng lúa gợn sóng trong khoảnh khắc rồi biến mất đột ngột như khi xuất hiện. Tôi không biết vẻ mặt đó nói lên cái gì. Huệ dường như bất giác liếc sang bàn của nhóm thanh niên - lần đầu tiên. Cả bốn cặp mắt gần như lập tức hướng về phía cô, như theo một mệnh lệnh sẵn sàng cho một pha mới, nhiều kịch tính hơn, của sự sống.


Liền sau đó gã hộ pháp đứng dậy bước lại bàn chúng tôi. Không gian xung quanh lập tức tối đi như khi có tảng mây khổng lồ che khuất mặt trời. Y kéo ghế trống đối diện tôi và cạnh Huệ, ngồi xuống.
Ban đầu Huệ có vẻ không biết tới sự hiện hữu của y. Nhưng rồi cô ngoảnh sang nhìn y, và mắt cô ánh lên một tia sáng tôi chưa từng thấy ở cô.
Tôi cảm thấy một cách mãnh liệt rằng mình muốn rứt khỏi vòng xoáy này. Tôi bất giác ngả người ra phía sau, ép mình vào lưng ghế, bấu chặt hai quai tựa. Trong khoảnh khắc tôi tưởng như mình quả thật đang đẩy xa y ra, nhưng đấy chỉ là một cảm giác.
Tôi ngồi được chứ, y hỏi, khi đã yên vị.
Trái ngược với thân hình y, giọng y cao và sắc, mảnh như tấm thép cán.
Mời anh, Huệ nói, trên môi thoáng qua gì đó có thể gọi là nụ cười.
Anh cho phép chứ? y hỏi, mắt nhìn tôi. Thật ra, câu hỏi đầu tiên y chỉ hướng đến Huệ.
Nếu anh tự thấy không làm phiền chúng tôi, tôi nói.
Bỗng tôi cảm thấy dâng lên trong mình một cảm giác chán ngán ghê gớm, như thể mình đang buộc phải đóng một màn kịch tồi mà hàng triệu người từng diễn hàng triệu lần trên khắp thế giới ở mọi thời. Cảm giác đó bắt đầu đeo lấy tôi một cách khó chịu, như kẹo dừa chảy nhão dính bết vào tay.
Y nói, bình thản, chuyển cái nhìn từ Huệ sang tôi rồi sang Huệ, lộ rõ phong thái của người quen cầm chịch mọi cuộc nói chuyện.
Nếu không có tôi, cuộc nói chuyện của anh chị có thể vẫn rất thú vị, như là nó đang thú vị. Điều đó không ai biết chắc được. Còn nếu có tôi, cuộc nói chuyện chắc chắn sẽ chuyển sang một hướng khác, có thể rất thú vị. Dĩ nhiên là cũng có thể không thú vị, ai biết được. Chừng nào nó chưa xảy ra thì không ai biết cả. Ta không thể biết nếu ta không thử. Không biết anh chị thế nào, còn tôi, tôi rất thích thử các khả năng, nói tới đây thì mắt y chuyển từ tôi sang Huệ và dừng lại ở Huệ.
Ba người còn lại ở bàn bên kia theo dõi những gì đang diễn ra. Tay bé nhỏ có cái đầu như quả trứng giơ một ngón cái lên.
Chúng tôi cũng thích thử các khả năng, Huệ nói. Cô đã đổi tư thế, chống cùi chỏ lên bàn, tựa cằm lên hai lòng bàn tay. Miệng cô vẫn vậy, giữ khẩu hình giống nụ cười, nụ cười khó lý giải, đầy ẩn nghĩa.
Còn những gì không do ta chọn và không tránh được thì ta thích ứng với chúng. Tùy cơ ứng biến. Dĩ bất biến ứng vạn biến, như người ta nói. Anh chị thấy chưa, câu chuyện giữa chúng ta bắt đầu thú vị rồi đó. Ít nhất là hứa hẹn sẽ thú vị.
Có thể, tôi nói, giọng không tự nhiên lắm. Nhưng nếu anh cho rằng đây là một thứ mà chúng tôi không tránh được thì anh lầm. Chúng tôi có thể tránh nó dễ dàng, ngay bây giờ, bằng cách đi khỏi đây. Đúng không em?
Tôi quay sang Huệ chờ cô đồng tình. Nhưng cô không đổi tư thế, không gật đầu, không nháy mắt, không gạt tóc, không gật đầu, chỉ khẽ nhún vai - và cái nhún vai ấy không nhằm vào gã kia mà nhằm vào tôi.
Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ - tôi không biết nên để cái nhìn vào đâu khác.
Dĩ nhiên là anh có thể tránh bằng cách đó, gã hộ pháp nói, bình thản. Hình như có âm sắc chế giễu trong giọng y, nhưng có thể chỉ là tôi có cảm giác thế. Nhưng chắc chắn anh sẽ không bỏ đi một mình mà không có bạn anh, y nói.
Dĩ nhiên anh ấy sẽ không đi, Huệ lên tiếng, với một nụ cười mà tôi không thể ngờ cô có thể có trong tình huống này.
Một trang mã thượng như anh ấy sẽ không bao giờ làm vậy đâu, Huệ vừa nói vừa ngửa bàn tay trái hướng về phía tôi, một trong những động tác trang nhã quen thuộc của cô. Nếu không thì tôi đã chẳng ngồi với anh ấy, Huệ tiếp.
Cái ấy thì rõ, y nói, miệng cười, đầu gật. Đoạn y nhìn sang tôi, nheo nheo mắt phải, đồng thời bàn tay phải giơ lên, khum khum dưới lông mày phải, như người ta hay làm khi nhìn những vật ở xa giữa trời nắng. Và dĩ nhiên giữa hai anh chị đã từng có những cuộc trò chuyện thú vị, rất thú vị, y nói, cuộc trò chuyện của anh chị mới rồi mà tôi đã mạo phạm cắt ngang chắc chắn là cũng rất thú vị. Chỉ có điều, theo tôi quan sát thấy thì cuộc trò chuyện của anh chị vẫn thiếu một cái gì đó, cái gì đó tí ti thôi nhưng không có không được, như mẻ phó mát chỉ còn thiếu tí enzym là lên men tới độ vậy. Cứ thử hình dung phó mát Roquefort tới độ thì ngon đến thế nào. Y chúm môi, đầu nghiêng nghiêng, như đang đắm mình thưởng thức thứ phó mát Roquefort ngon tuyệt kia.
Có phải đây chính là kẻ mà Huệ nói?
Có vẻ anh rất thích phó mát Roquefort, Huệ mỉm cười nói.
Không chỉ Roquefort mà nhiều loại phó mát Pháp khác nữa, y nói, giang rộng hai tay ra. Và không chỉ phó mát Pháp mà cả rượu vang Pháp. Ẩm thực Pháp. Thời trang Pháp. Quán cà phê Pháp. Bài hát Pháp. Ga lăng kiểu Pháp. Thông minh kiểu Pháp. Và dĩ nhiên, cả tiếng Pháp nữa. Anh chị hẳn cũng biết. Ngôn ngữ Pháp, chà... cái thứ tiếng sang cả... sạch sẽ... Sang cả và sạch sẽ đến mức, mỗi khi người ta chêm cái gì đó không phải tiếng Pháp vào giữa một đoạn tiếng Pháp, tỉ như “Je viens de Hà Nội et j’aime Paris”, ý tôi là phát âm Hà Nội theo kiểu an-na-mít ấy, thì tôi sẽ thấy như bị xúc phạm, phải, người ta không phải đang xúc phạm tiếng Pháp mà là xúc phạm tôi. Đã nghe tôi nói vậy thì anh chị có cho rằng tôi yêu nước Pháp không? Ấy, câu hỏi nghiêm túc đó. Thì đây, tôi trả lời luôn: tôi ghét nước Pháp. Phải, y nhắc lại, dằn rõ từng chữ, Tôi-ghét-Pháp. Tôi thích rất nhiều thứ của Pháp, nhưng tôi không chịu nổi bản thân cái concept “Pháp”, không ngửi được cái sang cả, sạch sẽ kiểu Pháp. Nghịch lý quá phải không? Nhưng xin hỏi anh chị, còn gì ngao ngán cho bằng sống trong một thế giới toàn những cái thuận lý?
Ba người ở bàn bên từ lúc nào chẳng rõ không còn nhìn Huệ mà dán mắt vào tay hộ pháp, uống từng chữ của y. Có lẽ cảnh này diễn ra khá thường xuyên: y nói, ba người kia ngồi nghe.
Anh nói khá hay về những nghịch lý, tôi nói. Phải, tôi có thể thích những điều anh nói nhưng không thích anh. Dĩ nhiên đó chỉ là ví dụ. Nghĩ cho kỹ thì đó vị tất đã là nghịch lý.
Huệ lắng nghe gã kia nói, mắt không chớp, nhoẻn cười, nụ cười tràn ánh sáng. Hình như cô không đợi ai nữa, không cần phải đợi ai nữa. Chỉ có một lần cô ngoảnh nhìn ra cửa sổ, động tác hơi đột ngột, khiến diềm mái tóc dày lay động, vắt qua vai, choàng lên cánh tay trên.
Một tay bồi đi qua, tôi gọi thêm nước. Đợi bồi đi khỏi, gã hộ pháp nhìn tôi mỉm cười. Mãi bây giờ tôi mới nhận ra một điều: từ nãy tới giờ tôi không nhìn thấy răng y. Y thuộc típ người nói chuyện hầu như hoàn toàn không hở răng.
Y nói.
Rất cám ơn anh nói thẳng điều anh nghĩ. Điều đó chứng tỏ anh đúng là một trang mã thượng, chính nhân quân tử. Chỉ có điều cho tôi làm rõ hộ anh hai điểm. Thứ nhất, anh đã nói: đây chỉ là ví dụ thôi. Anh có cần phải thòng thêm như vậy không? Anh không thật sự tin ở mình, đấy là kết luận từ quan sát của tôi. Thứ hai, anh bảo vị tất đó đã là nghịch lý. Anh có thể thích những điều tôi nói song không ưa tôi, và theo anh đó có thể là thuận lý. Dĩ nhiên anh thoải mái với cái thuận lý đó, anh gò nó thành thuận lý, bởi nếu không làm vậy thì anh không thoải mái với nó được. Về điểm đó, bạn anh mạnh hơn anh. Cô ấy thừa sức đón nhận những nghịch lý, một cách điềm nhiên, ung dung, vô ngại, vô úy. Anh nên thừa nhận điều đó. Và tôi biết, là một trang mã thượng, đương nhiên anh thừa nhận điều đó.
Huệ lên tiếng, vẫn giữ nguyên nụ cười ngời sáng.
Anh ấy cũng như bất cứ ai, anh ấy không phải là người hoàn hảo, cũng không có ảo tưởng mình hoàn hảo. Anh ấy biết thừa nhận tất cả những gì còn khuyết thiếu của mình và luôn nỗ lực để vượt qua. Về điểm đó anh ấy hơn khá nhiều người khác đấy. Có thể tôi còn trông đợi nhiều điều khác ở anh ấy, nhưng như anh ấy bây giờ là đủ để tôi ngồi với anh ấy rồi.
Chị nói rất hay về bạn mình, điều đó nói lên những điều còn hay hơn về bản thân chị, gã hộ pháp nói. Nghe y, tôi thấy thôn thốn thế nào đó. Định thần một chút, tôi nhận ra rằng ấy là do y không gọi Huệ là “em” như tôi hình dung lúc đầu. Dĩ nhiên, y nói (gạt tay, một động tác dứt khoát), tôi có thể hình dung bạn của chị là người thế nào. Anh ấy là người luôn luôn nghiêm túc trước mọi vấn đề. Anh ấy dĩ nhiên là người nghiêm túc, suy nghĩ nghiêm túc về những điểm yếu của mình, hành động nghiêm túc để khắc chế, hóa giải điểm yếu. Rất đáng quý, đáng trọng. Chỉ có điều hình như anh ấy hơi quá nghiêm túc. Anh ấy có thể biết tự cười chính mình, nhưng điều đó không đủ để tạo thành cái cười. Anh ấy hơi thiếu tính khôi hài, đáng tiếc là vậy.
Trong tôi nảy ra câu hỏi: gã này từ đâu ra? Người đàn ông nào và người đàn bà nào đã sinh ra y, ấy là nếu y xuất hiện trên đời theo cách giống như mọi người? Y đã học những cái gì? Thường thì có những cái gì trong đầu y? Có bao nhiêu người giống như y, sở hữu một núi thịt và một núi sức mạnh như thế và đồng thời dẻo lưỡi đến thế? Y có bao giờ tự hỏi mình một điều gì đó khi chỉ có một mình y, trong bóng tối? Có cái gì với y là thực sự quan trọng? Y sẵn sàng làm gì khi cảm thấy buồn chán? Điều gì xui khiến y sang bàn chúng tôi? Y muốn cái gì?
Những câu hỏi đó như lưỡi xẻng xắn vào óc tôi, càng làm thốn lên cái cảm giác rằng mình đang ở nhầm chỗ, lẽ ra tôi phải ở một chỗ khác. Tuy nhiên ở đâu đó trong tôi, như một dòng chảy ngầm, râm ran một cảm thức khác rằng, đúng, lẽ ra tôi phải ở một chỗ khác, nhưng để được vậy thì tôi nhất thiết phải có mặt chính ở đây, chính lúc này. Có lẽ, để trở về được cái chỗ khác kia, nơi chắc hẳn có chiếc răng lợn lòi bằng ánh trăng thời thơ ấu của tôi, nơi nó sẽ không biến mất và người ta sẽ không cười cợt hay hạ nhục hay nện tôi khi tôi nói về nó, mơ đến nó và tin ở nó, thì tôi phải tồn tại đến cùng chính ở chỗ này, tôi cần phải để bản thân bị đào xới đến tận cùng và lật ngược từ trong ra, từ dưới lên. Song biết đâu tôi cũng có thể cùng một lúc ở hai nơi chăng?
Khác với tôi chờ đợi, Huệ không đáp lại nhận xét vừa rồi của gã hộ pháp. Cô ngả người vào ghế, tay khoanh trước ngực, mỉm cười nhìn y. Khó mà nói được nụ cười biểu hiện cái gì. Nhưng một điều chắc chắn: cô không khó chịu, cô đang thấy thú vị. Và những cặp mắt từ bàn bên kia lại dán vào cô, bởi vì thật khó cưỡng lại nụ cười ấy. Nó là ánh sáng ẩn trong cô: xuyên qua ngần ấy vật chất - xương, thịt, da, quần áo - ta cảm nhận được sự thuần khiết của nó, hồi quang của một miền ánh sáng khác.
Trong giây lát, im lặng bao trùm. Y cầm chai Heineken, ấp mấy ngón tay to gấp đôi người thường quanh thân chai, giữ vài giây, như để kiểm tra xem bia lạnh đủ chưa, hoặc để dùng thân nhiệt của mình điều chỉnh độ lạnh của bia thêm chút, hoặc để cảm nhận, thưởng thức cái lạnh. Sau nghi thức này y nhấc chai lên, ngửa cổ tu một hơi rồi đặt chai xuống bằng động tác quyết đoán, nhẹ không, như tay cao bồi đặt súng xuống bàn sau khi đột ngột cầm lên nã một phát trúng boong. Bia trong chai còn chưa tới nửa.
Chắc anh chị đang tự hỏi thằng cha này là ai? Hắn phá đám chúng mình nhằm mục đích gì? Những câu hỏi tự nhiên, chính đáng. Nhưng chắc anh đồng ý với tôi rằng có những lúc ta nên đặt câu hỏi khác, có những lúc ta nên quên tất tật những gì gọi là “tự nhiên, chính đáng” kia đi. Sao không đặt câu hỏi như: Gã này có thể mang lại cái gì? Gã có cái gì mà ta không có? Cuộc gặp gỡ không ngờ trước này có thể kéo theo cái gì, mở ra cái gì? Một nhân vật mới mẻ xuất hiện trong đời ta liệu có khả năng làm ta có một cái nhìn mới mẻ về thế giới chăng? Ấy là câu hỏi nên đặt ra hơn.
Dĩ nhiên, y nhướn mày, giang rộng hai tay, khi tôi nói vậy thì chính tôi cũng thường xuyên kiểm nghiệm những câu hỏi tôi tự đặt cho mình. Một số câu tầm thường, a dua, không xứng đáng thì loại đi. Một số câu đặc sắc, không theo lối mòn, không giống ai, tôi đào sâu thêm. Tự đặt cho mình những câu hỏi hay, là cả một nghệ thuật. Trả lời câu hỏi của người khác, và đồng thời, nhiều khi từ câu trả lời của chính mình đó, tự đặt cho mình những câu hỏi khác. Đó là một việc mà tôi say mê, xứng đáng để ta say mê.
Suốt thời gian nói hầu như y chỉ nhìn tôi, dù y dùng chữ “anh chị”. Tôi không hoàn toàn tập trung vào việc đáp lại cái nhìn của y. Hơn nửa thời gian y nói, tôi quan sát những người khác. Khi chuyển sự chú ý ra khỏi tay hộ pháp, tôi có cảm giác mơ hồ mình sẽ thấy một cái gì đó thuộc về thế giới của tôi - như thể là ở đâu đó đằng kia, trong góc xa của quán, nơi mắt tôi không nhìn thấy nhưng tim tôi cảm nhận rõ, có cái răng lợn lòi bằng ánh trăng của tôi nằm trên bàn hoặc dưới gầm ghế, không ai để ý. Nhưng không. Đó không thật là cái tôi đang cảm thấy lúc này. Thật ra tôi không định tìm một cõi khác, mà đúng hơn, tôi đang cố nhìn rõ hơn thế giới này, thấy những gì trước nay không thấy được. Có phải tôi đang cố nhìn thấy những gì trước đây không thấy được ở ngay trong thế giới này, trong khi vẫn giữ trong tầm mắt và ý thức mình sự hiện diện của gã hộ pháp và tất cả những gì giống y, từ y, liên quan đến y?
Tôi cũng là người thích đặt câu hỏi và không mấy tin ở câu trả lời, Huệ nói. Chẳng hạn những câu như thế này nhé. Tại sao cái tay này, tức là anh đấy, lại quyết định mò sang bàn mình chứ không phải bàn ai khác? Một số câu trả lời sẽ tự bật ra trong đầu, đương nhiên rồi, chẳng hạn những câu gì thì anh tự biết, nhưng liệu câu trả lời đúng có nằm trong số đó không? Tôi từng hỏi nhiều người một số câu hỏi nghiêm trọng (trong ngoặc ấy nhé!) đại loại như “Ý nghĩa tồn tại của con người là gì?” và bất cứ khi nào người ta trả lời bằng những câu có cánh trơn tru, đẹp đẽ, như đọc từ trong sách ra, thì tôi cho vào tai này rồi cho ra tai kia. Vậy thì bây giờ anh có thể cho tôi câu trả lời nào đối với câu hỏi này?
Lý do là vì tôi thích anh chị, tay hộ pháp nói, đầy nhiệt thành, hai tay vung rộng hai bên. Phải, đơn giản thế. Câu trả lời ấy ai mà chẳng nghĩ ra được, phải không? Nhưng tại sao chẳng mấy ai nói ra điều đó một cách giản dị, tự nhiên như tôi? Nói thẳng ra rằng mình thích ai đó, ngay từ lần gặp đầu tiên, không che chắn, không màu mè, không vòng vo úp mở, đó là cái tạo nên sự khác biệt, ít nhất là trong nền văn hóa thiếu máu của chúng ta. Tôi yêu sự khác biệt. Dĩ nhiên tôi cũng là kẻ đầu tiên vứt bỏ sự khác biệt ngay khi nhận ra nó không còn là khác biệt nữa, ngay khi đường mới mở đã thành ra đường cái. Nhưng riêng trường hợp này, tôi nghĩ sự thẳng thắn và chân thành là có giá trị trường cửu, nó sẽ luôn luôn là thế, không có gì mới, đồng thời nó chính là sự khác biệt, và nếu ta đi theo nó một cách khiêm nhường, vô niệm, vô sở cầu, thì sự thẳng thắn và chân thành của ta rồi sẽ có lúc được đền đáp. Liệu tôi có lầm không?
Sau khi Hộ Pháp ngừng nói, im lặng lại trùm xuống. Phải, trùm xuống, bởi đó không phải là im lặng đầy sức căng giữa hai lời đối đáp đầy hứng khởi và liền mạch - có cảm giác như đầu bên kia của những quãng lặng đó, mà từ nãy tới giờ do Huệ nắm giữ, lần này đã bị buông ra, hay cánh tay nãy giờ giữ nó ở tư thế căng giờ đã chùng xuống. Trong khoảnh khắc Huệ không còn chú ý đến lời gã nói, không còn quan tâm tới gã. Mặt cô vẫn hướng về gã, nhưng mắt cô chuyển sang cánh cửa đằng sau lưng gã.
Tôi cũng bất giác nhìn ra cửa. Chẳng ai vào. Có thể Huệ đang thấy cái mà tôi không thấy? Có phải cô đang hấy trước sự xuất hiện của kẻ cô chờ đợi nãy giờ? Dù đó là một kẻ không ai thấy ngoài Huệ, kẻ rất có thể chẳng là gì hơn một bóng ma, tôi mong kẻ đó hãy tới.
Huệ chợt ngoảnh lại nhìn chúng tôi. Thần thái cô có gì đó thật lạ; dường như cô mới trở về từ một nơi rất xa và chưa hoàn toàn nhận thức được mình đang ở đâu.
Em đang đợi ai à? một giọng lên tiếng. Tôi quay lại nhìn. Đó là một trong ba người còn lại ở bàn của Hộ Pháp. Một giọng trầm, chắc, mạnh.
Huệ không bỏ qua giọng đó. Cô nhìn thẳng vào mắt y. Một thoáng bỡ ngỡ trong mắt cô - dường như y là thực thể đầu tiên cô nhận thức trở lại trong thực tại này. Tuy nhiên, cái bỡ ngỡ nhanh chóng biến mất, như một ánh mờ quét qua làn nước rồi mất hút không dấu vết. Một cái gì đó dịu đi trong mắt cô, một chỗ nào đó tối lại. Chính khi đó dường như cô đã hoàn toàn nắm lại được cảm thức về thực tại. Trong cái dịu đi và ánh tối này Huệ như muốn nói: “Vâng, tôi đang đợi một người” hoặc “Không, tôi không đợi ai cả”. Dù câu trả lời là gì, nó không hướng vào Hộ Pháp.
Cô ấy không phải đợi ai đó mà đợi cái gì đó, Hộ Pháp khoanh tay trước ngực nói, bình thản. Hình như có thoáng giễu cợt nơi môi y. Cô ấy muốn sự thay đổi, nhưng mà các cậu đừng tưởng bở, không phải vì sự xuất hiện của bọn ta đâu. Cô ấy bất cứ lúc nào cũng muốn sự thay đổi, y nói.
Phải, cô ấy luôn muốn sự thay đổi, tôi nói. Đúng hơn không phải luôn muốn sự thay đổi, mà là luôn sẵn sàng đến với nó. Tôi không biết các anh học được gì ở cuộc đời, còn tôi, tôi đang học điều đó ở cô ấy.
Ta đi đi, Huệ nói.
Trong một thoáng mọi người nhìn cô, không ai nói gì. “Ta” là ai? Khi nói câu ấy Huệ không nhìn ai, mắt cô chuyển sang một điểm không xác định trong khoảng không đằng sau tôi và Hộ Pháp.
Vậy là người đẹp rốt cuộc cũng quyết định rời khỏi nơi này, Hộ Pháp nói với vẻ trầm tư. Đúng như tôi hình dung về bạn của anh, khi nói câu này y không nhìn sang tôi, cô ấy luôn là người đầu tiên nói lên điều mọi người đều nghĩ. Xin mạn phép hỏi, nếu tôi không tỏ ra quá tò mò, các vị sẽ đi đâu?
Sao ta không đến Apocalypse? một trong ba người kia hét lên. Nhảy đi! Vận động đi! Quậy tá lả tình đời đi! Nói nhiều quá rồi, nhức đầu lắm!
Hộ Pháp không tỏ ra nghe thấy gã nói.
Ừ, mình đi, tôi nói với Huệ, đặng ngoái đầu tìm bồi bàn, nhưng ngay trước đó Hộ Pháp đã búng ngón tay đánh tách về phía quầy.
Huệ đứng dậy đi về phía cửa, không nhìn ai. Tôi cũng đứng dậy, nhưng lập tức nhận ra mình chưa thể đi ngay. Còn phải trả tiền.
Đợi anh! tôi gọi theo Huệ, suýt nữa đã bật ra tên cô.
Đi theo cô ấy đi, đừng lo, gã hộ pháp nói, hất cằm về phía cửa, mắt nhìn tôi - từ đầu đến giờ chẳng mấy lúc y nhìn tôi, lần này trong mắt y có cái gì đó gần như dịu dàng, tôi buộc phải thừa nhận điều này.
Huệ đi thẳng, không ngoái lại. Dường như cô đang bước về phía một sức hút mãnh liệt mà cô không cưỡng lại được, không, không phải không cưỡng lại được, chính cô đang tìm kiếm nó, muốn nhập vào nó.
Kìa, ở đây chết hết cả rồi sao? Chê tiền à? một trong ba người kia rướn cổ về phía quầy thét lên, dáng như chỉ chực đứng dậy.
Tôi rút ví lấy tiền đặt lên bàn rồi đẩy ghế đuổi theo Huệ. Đi được vài bước tôi nghe sau lưng tiếng gã hộ pháp.
Chúc vui vẻ! Chúng ta sẽ còn gặp nhau nhiều đấy. Và đừng quên rằng đời anh sẽ thay đổi không ngờ từ khi anh gặp chúng tôi.
Huệ đã ra khỏi cửa và rẽ về bên trái.
Anh đừng theo em nữa được không? Em muốn ở một mình, không ngoái lại nhìn tôi, Huệ nói.
Thế ban nãy em nói “Ta đi đi” là với ai? tôi thốt lên, và chợt thấy mình thật ngu xuẩn.
Như thể nhớ ra, Huệ quay lại nhìn tôi.
Em xin lỗi. Thực tình em không muốn...
Tôi bất giác ngoái lại đằng sau. Không có ai sau lưng chúng tôi. Hai thằng bé mặc đồng phục học sinh đang dợm băng qua đường.
Thôi được, tôi nói. Em có cần anh...
Huệ nhìn trước, nhìn sau, hẳn để tìm chiếc tắc xi nào đó. Rồi đột nhiên cô ngoảnh lại, bước nhanh đến gần tôi và vuốt má tôi.
Lúc nào đó em sẽ nói với anh. Bây giờ thì em không thể...
Tôi nhìn sâu vào mắt cô và nhận thấy, tuy cô đang đứng đó nhìn tôi, song dường như thật ra cô đang ở một nơi khác, thậm chí một thế giới khác, và cô đang nhòm qua một khoảng mở từ thế giới kia mà nhìn tôi ở thế giới này, như qua cửa sổ. Và tôi chợt lờ mờ hiểu, chừng nào tôi chưa có nổi một ý niệm về thế giới đó thì tôi chưa thể đi cùng cô được.
Thôi được, tôi nói. Bất cứ lúc nào có thể nói được, hoặc thấy cần anh thì gọi cho anh, ngừng một chút, tôi nói thêm.
Huệ rút di động, hẳn là gọi xe công nghệ, nhưng sau một hai động tác đầu tiên thì ngón tay chậm dần, dừng lại. Vẫn cầm di động trong tay, cô nheo mắt nhìn vào khoảng không. Một chiếc tắc xi sơn màu trắng và da cam trờ tới, giảm tốc, rà sát vào vệ đường. Lái xe hơi nhoài qua cửa sổ, nhìn chúng tôi, đúng hơn là nhìn Huệ, có ý dò hỏi, nhưng cô khẽ lắc đầu, không nhìn anh ta.
Tài xế làu bàu gì đó rồi dấn ga chồm lên, song xe vừa tiến được dăm mét y lại ngoái nhìn Huệ. Chính trong khoảnh khắc đó tôi có cảm giác thật kỳ lạ: Huệ đang đứng cạnh tôi, quanh chúng tôi có người qua kẻ lại, ô tô xe máy vẫn dòng qua dòng tới trước mặt, nhưng tôi thấy Huệ đang đứng hoàn toàn đơn độc ở một nơi tuyệt không có gì chung với thế giới này, một chốn không có gì gợi nhớ đến thực tại của nhân loại, như một vệ tinh toàn bằng đá hoặc tinh thể băng của một hành tinh xa đến mức con người không thể hình dung. Lại nữa, tôi thấy Huệ đứng kia, trong khoảnh khắc hiện tại này, nhưng điều đó chẳng có gì khác so với nếu Huệ đang đứng đó, cũng trong tư thế đó song ở một thời điểm trước hoặc sau đây ngàn năm. Trong nháy mắt, như trong một lằn chớp, Huệ như đã bật ra khỏi tọa độ không-thời gian này, chuyển tức thời sang một tầng không gian khác nơi thời gian vận động theo cả hai hướng mà cũng có thể không còn cái mà ta thường quan niệm là thời gian. Siêu không gian và phi thời gian, cái thực thể đó dẫu vậy vừa thoáng hiện trong một phần giây trước mắt tôi. Trong khoảnh khắc cực tiểu ấy, toàn bộ cái thực tại kia ập vào tôi như một tia sét. Và sau đó, nhìn cô đứng trước mặt, tôi có cảm giác như tia sét đó vừa mang trả cô từ nơi khác về - đúng là cô đấy nhưng cũng không còn là cô như trước khoảnh khắc đó.
Mình đến Apocalypse đi, nhìn thẳng vào tôi, Huệ nói.
Tôi nhìn cô, rồi ngoảnh đầu lại. Không, bốn người kia vẫn không xuất hiện phía sau chúng tôi. Nhưng dính chặt vào tôi, như miếng cao dán vào lưng, cái cảm giác rằng họ vẫn đang hiện diện ở chỗ nào đó không xa chúng tôi, và từ nay trở đi, trong cái thế giới của mình, tôi không thể không tính tới họ.
Không, không phải họ. Thật ra, người duy nhất tôi đang nghĩ tới là Hộ Pháp.
Đến đó ta có thể gặp lại gã kia đấy, tôi lưu ý cô.
Ai cơ? cô buột miệng. Nhưng rồi, nhận ra cái gì đó trong mắt tôi, cô nói: Thì đã sao? Chúng ta đến đó không phải để gặp ai hết. Chỉ là em... đang cần một sự đổi khác, anh hiểu không?
Hay ta tới Grand Hyatt đi. Nghe nói tối nay có ban nhạc từ Colombuela tới diễn ở đó, chỗ quán bar ấy...
Em không biết, cô nói. Nhưng ngồi một chỗ thì em không thích. Em muốn vận động. Em cần chuyển động. Một cái gì đó trong em đang đòi sự chuyển động.
Tới đó ta có thể vừa nghe nhạc vừa nhảy. Người ta làm vậy được mà.
Thôi được, im lặng một chút, cô nói. Nhưng vậy thì ta đi nhanh lên.
Ước gì anh là Fred Astair bên cạnh em, tôi bất giác nói khẽ.
Không cần vậy đâu. Anh chỉ cần là chính mình và hơn vậy một chút là được.
Không, không được, tôi nói, sau một thoáng lặng.
Tại sao?
Huệ im lặng một lát, nhìn tôi.
Em luôn luôn cảm thấy anh là một người đặc biệt... Đặc biệt như thế nào em không biết, mà chắc anh cũng không tự biết.

Tranh của Rafał Olbiński