Thứ Hai, 8 tháng 12, 2025

Faínâhind-Arrobauth-Mattai (trích từ "Ngoại truyện Gurun" đi kèm tiểu thuyết "Cospolist Nổi Loạn" của tôi)

Nheo mắt nhìn ánh sáng nóng dịu tỏa ra từ đống than âm ỉ cháy có màu gần giống mặt trời mới mọc, Faínâhind nói:

“Bài hát của dân Shwevakenara, có câu gì về đá girin ấy, nó như thế nào, Ăltâhind?”

Ăltâhind nói:

“Là thế này, thưa cô.”

Và cô bắt đầu hát bằng giọng kim lanh lảnh, có một cạnh sắc rõ rệt hơn và một mặt êm, mềm, ẩn kín hơn: 

Khi tôi cất cao tiếng hát tràn ngập niềm vui

Tự bên kia bờ chàng nhìn tôi say đắm

Ngực chàng tựa đá girin xanh thẫm.

Chàng không biết tôi, song chàng biết rõ như tôi

Rằng chàng với tôi, ai đã là kẻ mạnh.

Ở đây Ăltâhind dừng lại, như thể luôn luôn biết rõ Faínâhind muốn cô hát đến đâu là vừa, im lặng đến đâu là đủ. Và rồi, giữa chừng quãng lặng nối theo sau câu hát cuối cùng của Ăltâhind, khi dư âm vô thanh của nó đang tiếp tục làm rung động những gờ vách mỏng mảnh của tâm hồn người, Arrobauth cất giọng, bình thản và khô khốc, nói.

“Bài hát của ngươi nghe khá hay đó, bằng tiếng Bongora. Song ngươi có cho rằng nó sẽ hơi rúm ró lại nếu nó phải chuyển sang tiếng Siră Kăntânări của bọn ta, theo lệnh của bọn ta, hay không? Ta e rằng bất cứ bài hát Bongora nào, khi bị chuyển sang tiếng Siră Kăntânări, đều sẽ lộ nguyên hình là quá thừa chất lỏng chất nhầy, thừa mỡ, nhưng lại rất thiếu xương, thiếu cơ bắp rắn, thiếu gân, thiếu máu. Ngươi có nghĩ thế không, tên dân xứ Bongora?”

Ngồi trong một góc xa hơn, tối hơn của tấm thảm dài, Mattai thong thả ngẩng đầu lên, không để một cái gì từ bên trong mình lộ ra trên mặt chàng, khuôn mặt đang làm nền cho trò hoán vị và biến đổi không ngừng của vô số sắc độ khác nhau giữa ánh sáng và bóng tối.

“Arrobauth bạn ta đây là con người quá thừa kiêu hãnh,” Faínâhind nói. “Giữa đêm khuya, nếu lắng tai, ngươi có thể nghe thấy các vì sao thì thầm trong khi kính cẩn đợi lúc chàng ta quyết định lên giường ngủ. Máu trong huyết quản chàng ta chảy chậm gấp đôi máu trong huyết quản ngươi, không phải một cách lờ đờ uể oải, mà một cách đường bệ và cao nhã. Này Mattai, hãy coi chừng chàng ta.”

“Phải, máu người Bongora chảy nhanh hơn và dễ đổ ra ngoài hơn so với máu Siră Kăntânărî,” chậm rãi, sau một hồi lặng im “như quả xoài chín rụng trong vườn”, Mattai nói. “Máu chúng tôi chảy càng nhanh và đổ ra ngoài càng nhiều thì chúng tôi học được càng sâu sắc hơn về niềm tôn kính đối với sự sống. Ngài nói đúng, thưa Arrobauth Rất Mực Tôn Quý. Cơ thể Bongora luôn luôn thiếu máu; máu nó nằm ở bên ngoài nó cũng nhiều ngang với ở bên trong nó. Người Bongora chúng tôi, từ trong bản chất, lớn hơn nhiều so với người Siră Kăntânărî. Chúng tôi có cả vũ trụ này là cơ thể lớn của mình; chúng tôi rướn ra ngoài vũ trụ nhiều hơn, bởi chúng tôi cảm thấy thiếu cái cơ thể lớn hơn kia một cách mạnh mẽ hơn so với các ngài. Với người Siră Kăntânărî, bản thân các ngài là đủ lớn để các ngài mãn nguyện và ngưỡng phục. Người Bongora chúng tôi nhường điều đó cho các ngài. Nó không dành cho chúng tôi.”

“Người Bongora các ngươi không hổ danh là những kẻ hơi quá lớn so với thân phận mình,” Arrobauth nói, cười nhạt. “Ta không lạ rằng các ngươi nằm trong số những giống dân bịa chuyện giỏi nhất trên thế gian. Thêu dệt nên từ trí tưởng tượng giống như loài ngựa hoang của các ngươi những câu chuyện không có thật, hòng mua vui cho đám phàm nhân chẳng biết làm gì hơn để sống qua những giờ những ngày những tháng những năm rảnh rỗi của đời mình và lấp đầy khoảng trống không gì lấp nổi bên trong mình, đó là việc tốt nhất nòi giống các ngươi đủ khả năng làm, niềm tự hào duy nhất của các ngươi, di sản tinh thần độc nhất - độc nhất và hèn mọn - của các ngươi. Các ngươi biết rõ rằng các bậc đế vương và những người quyền thế, những người thuộc dòng dõi tôn quý, họ thích thú câu chuyện của các ngươi chứ không thích thú bản thân các ngươi. Nàng công chúa mê mẩn là mê mẩn tiếng hót con họa mi chứ không mê mẩn đống phân của nó. Ta ưa là ưa trái tim con chim trĩ, ta không cần phải ưa những thứ hạt tầm thường mà con chim trĩ ăn. Bản thân ta, người Siră Kăntânărî, thì khác. Ta có cần phải nói về điều đó không?”

Sau khi Arrobauth dừng lời, có một thoáng im lặng, rồi Faínâhind nói.

“Này Mattai! Ta biết rõ và đánh giá cao khả năng ứng đáp của ngươi. Tuy nhiên ngươi có cho rằng, vào lúc này, thay vì lại nói, ngươi hát một bài thì tốt hơn không? ‘Một đêm nghe anh hát hơn mười năm cùng anh trò chuyện’, người Bongora có câu như thế, theo ta nhớ.”

Nàng ngừng nói, và, sau khi thấy Mattai lặng một thoáng, đồng thời nhận ra một cái gì đó đang tự kìm nén, phập phồng trong im lặng này, nàng quay sang Arrobauth với vẻ điềm nhiên và đường hoàng nhất nàng có, rồi nàng hướng về phía những người còn lại, cao giọng nói.

“Mattai đây là người biết rõ hơn ai hết khi nào thì một bài hát về tình yêu không được đền đáp là đáng được nghe hơn khúc tráng ca của một chiến binh. Những lời đanh thép nhất của chàng ta luôn tự biết khi nào chúng phải nhường chỗ trong khí trời và trong trái tim con người cho tiếng của con chim đầu tiên hót lúc rạng ngày. Ta có nói quá không, Mattai?”

Sau khi một quãng lặng dài hơn vài nhịp tim trôi qua, Mattai ôn tồn và đĩnh đạc nói.

“Những bài hát hay nhất và những lời đẹp nhất trên thế gian đáng được cất lên và đáng được sinh ra dù chỉ vì lý do duy nhất là có cô nương Faínâhind hiện hữu. Nếu ngày tháng của tôi cho phép, tôi chẳng tiếc gì mà không cho bao nhiêu bài hát cùng bao nhiêu lời ấy tuôn hết cả qua tôi mà về với cô nương như trăm sông đổ về biển, chúng không làm biển đầy hơn và biển không làm chúng vơi đi, chẳng qua sông thì đi về biển, âu đó là cơ đồ của vạn vật. Trong cái cơ đồ ấy, tôi là lòng sông đầy bùn, cũng như tôi là bầu không khí qua đó biển ban sức sống và cảm hứng cho sông trong hình dạng những cơn mưa. Kẻ hát những bài hát này và nói những lời này là những cái bóng vô hình không tên, không tồn tại tự thân. Kẻ như tôi tuyệt không có lý do gì để được người đời biết và nhớ tới, đúng như Arrobauth đại nhân nói. Chúng tôi chẳng có lý do gì để đòi tồn tại song song với tinh túy của tâm hồn chứa đựng trong chúng tôi và lưu chuyển qua chúng tôi. Chúng tôi là mạch máu, lý do tồn tại duy nhất của chúng tôi là để máu không đổ tràn trên cỏ.”

Và, ngừng một nhịp, chàng hát.

Ksbyámbâdŏrj-swénlig ăsshúpduven iryín,

Dolgöspāthnay féllâsargăn êrîvgálay íchten.

(...)

Và hãy ném cho tôi miếng bánh

Khi máu nóng đổ tràn trên cỏ

Gió qua kẽ núi

Mưa tưới đồng bằng

Ối a!

Kìa hãy ném cho tôi miếng bánh.

Trong im lặng sau đó, Faínâhind bình thản nhìn Arrobauth.

Nghiêm trang vỗ tay ba lần, hai nhặt một khoan, không quá nhẹ và không quá mạnh, Arrobauth lạnh nhạt nói.

“Ta từng nghe bài này. Ta cũng thích nó một chút đó. Ồ, nhưng có thể ta nhớ lầm. Có thể ta vừa định nói tới một bài khác, được coi là khác, dẫu cho nó có gì đấy giống hệt. Giống ở cái gì, để ta nghĩ một chút. Máu. Dĩ nhiên. Giống ở chỗ máu. Những chữ và những cung bậc khiến người ta cảm thấy máu của chính mình đang chảy ra ngoài, như nước bẩn rút ra khỏi lỗ thoát trong bồn tắm. Đó là thứ tinh túy của tâm hồn mà ngươi ám chỉ, phải không Mattai. Cái thứ tinh túy có thể hiện hữu dưới muôn ức triệu dạng thức và điệu thể khác nhau song kỳ cùng ra thì vẫn là nó và chỉ dành cho những con mắt cái tai nào biết nhận ra nó. Các ngươi, dẫu biết muôn triệu bài hát tưởng như khác biệt, các ngươi có khi nào chuyển tải được cái gì khác thế đâu, đúng không, hở tên Bongora. Chẳng lấy gì làm nhiều nhặn cái gọi là tinh túy của tâm hồn mà ngươi nhắc tới với vẻ trang trọng tức cười và ngây thơ kia. Và toàn bộ tài khéo của các ngươi, tất thảy tinh túy của tim óc các ngươi nằm ở chỗ trưng ra cái dúm chả lấy gì làm nhiều nhặn kia dưới nhiều, thật nhiều dạng thức khác nhau, tạo ra bức màn hư ảo trá ngụy về một cõi thế gian phồn phức, muôn mặt. Các ngươi ăn nhờ vào sự thích thú của đám đông - mà vốn dĩ tầm vóc tâm trí chẳng lớn hơn con ngan con vịt - trước cái vẻ ngoài phồn phức đa tạp kia, các ngươi kể một điều và làm mọi cách để làm điều đó có vẻ như mới mẻ, đồng thời giấu đi, bít đi, ỉm đi cái sự thực rằng điều đó từng được nói rồi, cho dù bằng lời lẽ khác hay không. Các ngươi sợ đến phát ốm với ý nghĩ rằng một ai đó, khi nghe những gì từ miệng các ngươi, sẽ cảm thấy những thứ này mình đã nghe đâu đó rồi, đã biết rồi, quen thuộc lắm rồi, tuy rằng từ lúc nào, bằng cách nào thì chưa thể nhớ ra được.” 

“Arrobauth đại nhân của chúng ta là người khó tính và đầy lý tưởng,” Faínâhind nói. “Nghe một khúc nhạc, xem một vở kịch, nhìn một bức tranh, chàng ta dùng đầu nhiều hơn là tai, mắt, ruột và tim. Chàng ta nhận định và phán xét trước khi cười và khóc, thay cho cười và khóc. Cái đó đôi khi ta ngưỡng mộ, có khi ta cũng thích. Còn ngươi, Mattai, hẳn ngươi biết hơn ta ngươi làm gì là tốt nhất lúc này. Ngươi biết cách tạo nên một bầu khí khác, một cõi khác trong giây lát, vậy sao ngươi không làm vậy đi? Nếu không phải là máu tràn trên cỏ và trong làn gió ta nghe nơi vách mũi thì đó sẽ là gì đây?”

Và Mattai, thoáng cười, bắt đầu hát.

Có cô gái kia ra chỗ dòng sông

Mẹ hỡi, xin cho con đôi mắt

Cho con đôi cánh chim ưng

Để con bay đi tìm chàng trai của lòng con

Thế là dòng sông cho cô đôi cánh chim ưng

Cho cô đôi mắt chim ưng

Thế là cô bay đi

Tìm chàng trai yêu dấu của lòng cô.

Lặng một hồi, cho đến khi âm hưởng cuối cùng của bài hát lắng đi như muối tan vào trong máu, Mattai nói.

“Để Arrobauth đại nhân không phải băn khoăn, tôi xin nói rằng bài hát này chắc hẳn đại nhân từng nghe, dẫu là qua quá nhiều con đường và dạng thức trung gian đến nỗi giờ đây đại nhân dẫu có muốn cũng không thể nào nhớ ra nguồn cội nguyên thủy của nó. Đó là bài “Malka Moma” của một nữ nhân tên Neli người xứ Bulgaria ở Terra, cái thế giới mà nghe nói không một ai trong chúng ta từng đặt chân tới và sẽ đặt chân tới song dẫu vậy vẫn hiện diện cùng chúng ta trong từng khoảnh khắc, từng hơi thở, cái bóng của chúng ta đổ vào trong lòng chính mình. Những bài hát của Neli, cũng như bản thân hiện hữu của nàng, chẳng khác gì tia nắng đầu tiên, ngọn gió đầu tiên, làn bụi nước đầu tiên của thế giới vào ngày đầu tiên sau khi thế giới sinh thành; không cách nào và không bao giờ chúng tôi có thể như nàng và hát giống nàng được. Dẫu vậy, không phải vì điều đó mà chúng tôi không hát nàng thông qua chúng tôi, không sống nàng bằng sự sống của chúng tôi. Và cho dẫu khi tôi hát

 

Khi người ta mang quả táo về

Trên cành con ong treo cổ

Và tôi đứng dựa tường này

Khóc

thì cứ để ai đó nghe ra trong đấy âm vang một cái gì họ từng nghe, có thể trong một cuộc đời khác hoặc trong một giấc mơ hay một giấc mơ trong một giấc mơ; cái mà với ai đó là tiếng vọng hoặc dư âm hoặc im lặng nối liền theo một dư âm thì với chúng tôi là âm thanh nguyên tuyền; tiếng nói nguyên tuyền của một phần nào đó của vũ trụ, một kết hợp khác ngẫu nhiên và không thể khác trong cơ đồ của Tạo hóa, cái cơ đồ mà theo đó tiếng nói nguyên tuyền của một ai đấy rất có thể chỉ là tiếng vọng của một cái gì thân quen đối với chúng tôi, tuy nhiên còn có gì giản dị hơn thế: mỗi chúng ta vừa là máu thịt và tiếng nói nguyên tuyền vừa là hình bóng và tiếng vang của chính mình và của nhau, đối với chính mình và đối với nhau. Việc của chúng tôi không gì hơn là cất lên thành lời, tạo hình hài cho sự xoắn xuýt không rời hòa quyện bất phân này giữa bóng và thân, giữa thanh âm nguyên thủy và tiếng vọng. Chúng tôi tự hào rằng mình hiện hữu, độ lớn của chúng tôi được đo bằng độ dài mối liên thông bất tận ấy giữa mọi vật và mọi sinh thể.”

Trong quãng lặng dài sau đó, chỉ còn nghe tiếng lách tách phát ra từ một cái gì đang chuyển hóa bên trong ngọn lửa mà đám gia nhân chăm chút không để tàn, và một cái gì đó cất lên tiếng nói không thanh âm, không đòi được lắng nghe, song, hoàn toàn tự nhiên, tâm trí con người nghe thấy nó.

Arrobauth nói.

“Kărâdángy, một trong các sư phụ ta ở Börâkhon, chắc chắn sẽ nhận ngươi làm môn sinh mà không cần phải sát hạch ngươi như đã sát hạch ta.” Chàng cười nhạt. “Bằng cái lưỡi sẵn có của ngươi, được mài bén và luyện dẻo đến mức tột cùng nhờ những năm dài siêng năng tập tành dưới sự trông nom của Thầy, ngươi sẽ chỉ cần dùng đôi lời để biến vị anh hùng thành kẻ đớn hèn, người tận trung thành tên phản phúc, đứa con hiếu thảo thành phường phá gia chi tử. Và dĩ nhiên, ngược lại cũng vậy. Ngươi đang khiến ta bắt đầu cảm thấy mình kém cỏi và bé mọn bởi ta không có khả năng nhìn thấy Hình của ngươi ở trong ta và Hình của ta ở trong ngươi. Cái khả năng mà hình như ngươi có, hử. Ta đang tự hỏi liệu ta có cần phải tự hỏi điều đó không. Cái cảm giác tự thấy mình lớn ở mi, nó có đáng để ta phải dành một góc tâm trí ta cho nó trong chốc lát trà dư tửu hậu hay không, hở tên Bongora?”

Tiếng vỗ tay chậm rãi, gồm nhiều nhịp cách đều nhau của Faínâhind như xé rách dần bầu không khí thẳng căng và đáng lẽ đã im lặng.

Faínâhind nói.

“Arrobauth của ta luôn khắc nghiệt với thế giới cho dù chàng ta yêu thế giới, hay là, chà, điều này ta mới nghĩ ra thôi: hay chính vì chàng ta yêu thế giới. Này Mattai tội nghiệp! Nếu ngươi tin chắc hay đinh ninh hay cảm thấy rằng Arrobauth đây không yêu những bài hát đi qua mồm ngươi, không yêu những linh hồn trú ngụ trong các bài hát đó và lưu chuyển thông qua chúng thì ngươi lầm. Arrobauth biết vũ trụ này đủ lớn để chàng ta phải luôn mở rộng mình hứng lấy và ôm chứa nó. Nếu ngươi có cảm thấy chàng ta rẻ rúng ngươi và nghệ thuật của ngươi, hãy coi đó là một biểu hiện của tình yêu. Ngươi chưa bao giờ biết tới gã đàn ông nào rẻ rúng ả đàn bà hắn yêu hơn hết sao? Bản chất của sự luyến ái giữa đàn bà và đàn ông không thể khó lường đến mức ấy ru? Ta không tin rằng những bài hát của ngươi không ôm chứa cả điều đó.”

"Secrets of the Earth", tranh của Ania Tomicka

Im lặng một chút, Mattai nói.

“Tôi chưa bao giờ nói rằng những gì tôi cảm thấy trong lòng mình đối với Arrobauth đại nhân không phải là một biểu hiện của tình yêu. Cũng bằng cách đó tôi yêu vẻ đẹp và sức mạnh của một tia sét khi nó tỏa những cành nhánh ảo diệu và chết chóc của nó trên bầu trời. Có một điều khắc sâu trong tâm trí những người kể chuyện chúng tôi, hay đúng hơn tâm trí chúng tôi được tạo hình dựa trên tinh túy của điều này: mọi hành vi sáng tạo đều là một hành vi của tình yêu. Dù cho tình yêu ấy trộn chung với cái gì đi nữa, và do đó có vẻ ngoài khác với tình yêu đến thế nào đi nữa, song, nếu ta đón nhận nó bằng cái tâm rộng mở, không phân biệt, cách đón nhận mà tự thân nó cũng là một hành vi của tình yêu, thì ta sẽ nhận ra nó.

“Mỗi lần chúng tôi hát một bài hát, và có một người đón nhận nó vào trong tâm khảm mình, là thêm một hành vi của tình yêu được thực hiện và viên thành. Mỗi lần một hành vi của tình yêu đó hiện hữu, chúng ta cảm thấy nó trong xương tủy mình, và ngay khi đó ta ngộ ra rằng bí mật của hiện hữu thật ra là rất giản dị: ngay khi đó cái chết có thể tới, không còn gì ngăn trở giữa nó với sự sống của chúng ta nữa. Cái chúng ta vừa cho ra đời là đủ để chúng ta không cần sống nữa.”

“Phải, toàn bộ sự sống của mi vừa vặn ngang giá với khoảnh khắc mi khiến kẻ khác phải nhỏ lệ, mơ màng hoặc cười ré lên,” Arrobauth nói, với một nụ cười mà chàng muốn người ta phải hiểu là độ lượng. Nói đoạn, chàng nhìn chằm chằm vào đôi mắt bình thản của Mattai, bình thản và sâu như đáy một vịnh kín. “Thôi được,” sau một chốc ngắn chàng nói. “Ta sẽ nói rõ hơn, để mi không hiểu lầm ý ta, với cái đầu nhỏ nhặt và chật hẹp của mi.

“Mi có biết chuyện Oglosméten và ngón đàn thần diệu hoặc quái dị của hắn ta chứ? Rằng từ tiếng đàn của hắn hồn ma các dũng sĩ và chiến binh tử trận lại hiện về sát vai cùng các chiến hữu còn sống đặng tiếp tục cuộc giao tranh kéo dài mãi mãi không dứt với những kẻ thù xứ Kinka hùng mạnh như chính Chúa Trời? Phải nói ngay với mi rằng ta không tin cái khía cạnh huyền hoặc ma mị của câu chuyện đó. Ta, một kẻ đầy lý trí và xây dựng phẩm giá của mình dựa trên lý trí, ta chỉ chấp nhận những sự thật nào không bị che đậy hoặc tự che đậy trước mắt ta. Ta nói thêm như thế để cho mi, kẻ có thể sâu sắc hơn nhưng nhất định là u mê hơn ta, chớ có bị cái bầu khí tối tăm u huyễn của câu chuyện đó lay động hoặc lôi cuốn mi, mà hãy tập trung vào một và chỉ một điểm cốt yếu: phải chăng làm sống lại những kiếp sống đã chấm dứt bằng cách đó, dựng người chết dậy và tiếp tục sử dụng họ, cho đến khi không cần tới họ nữa thì để họ nằm xuống lại và tiếp tục chết, phải chăng đó là điều tốt nhất cái nòi những kẻ như ngươi có thể làm? Linh hồn một ả đàn bà sống cách đây ngàn năm, hay một đứa con gái ở Terra, cái thế giới không-thể-nào-tới-được như mi nói, nó sống dậy, động đậy, làm rung động, làm đắm đuối, làm nức nở. Đúng. Trong một khoảnh khắc. Một khoảnh khắc tương giao với vô tận, như mi nói. Đúng, có thể. Song, khi khoảnh khắc đó đi qua rồi, cái còn lại là tất cả các khoảnh khắc khác, và cuộc đời thực của chúng ta hợp thành từ các khoảnh khắc ấy, dù có cái một-khoảnh-khắc kia hay không. Chẳng phải thế ru? Mi có thể nói gì thì nói, và nói một cách đầy sức mạnh, cao nhã, minh triết, ừ, quả có thế thật. Thế nhưng, một sự thực khác mà mi không nói, ta đây nói, và không một cái gì từ mi mà ra có thể làm thay đổi hay động tới nó đâu: Với thế giới này, cái thế giới ta, của ta, bởi ta, cho ta, mi và những kẻ như mi không là gì khác ngoài một hạng người chuyên mua vui bằng cách dựng cái chết thành cái sống và buộc người ta nhận đó là cái sống. Làm ra sự sống đích thực là việc quá khó khăn và quá lớn lao so với bọn mi. Ta coi là bạn ta và bằng vai phải lứa với ta những người làm việc để đắp nên từng dặm đường lát đá của Đế quốc, làm ra từng cái cúc áo đẹp mà ta mân mê trong ngón tay ta, đưa tới cho ta những quả nho mà ta chậm rãi, trang trọng cho vào mồm từng quả một, dâng lên ta từng mũi tên mà ta âu yếm cho thoát khỏi cánh cung, lấp loáng dưới nắng rồi tìm đến đúng chỗ thịt mềm của một con chim và hân hoan hối hả ngập sâu vào đó.

“Dĩ nhiên,” chàng giơ một tay lên như để ngăn lại một lời đáp lại trước khi nó được thốt ra, trước khi ai đó kịp nghĩ rằng mình sẽ thốt ra. “Dĩ nhiên ta biết, mi hay ai đó như mi sẽ nói, như ai đó ta không nhớ tên và không cần nhớ tên, từng nói, rằng những bài hát của bọn mi, tiếng cười, giọt nước mắt, giấc mơ ngày, nỗi xáo động, cơn thắt ruột mà bọn mi khơi nên ở những kẻ lắng nghe bọn mi, tất cả đều là những hình thái khác nhau của một vương quốc bị lãng quên, cái vương quốc đã từ lâu không tìm được chỗ cho mình trong cái thế giới của những lo toan tủn mủn thường nhật và lạc thú chóng tàn. Ô hô, ta hiểu mi lắm. Ta hiểu mi hơn mi tưởng nhiều, phải không. A ha, ta rất hiểu mi, mặc dù ta khác mi, chính bởi vì ta khác mi, chính vì vậy mà ta mới khác mi. Ha, chính vậy đó: ta khinh mi, dù biết hay không biết rằng theo nghĩa nào đó mi cũng có thể giàu có và sâu xa hơn ta. Trong cái thế giới chúng ta đang tồn tại đây, chẳng có điều gì tự nhiên và hợp lẽ hơn thế. Khinh miệt mi và những kẻ cùng nòi giống với mi là một trong những cái làm nên phẩm tính của ta, chẳng khác nào chạy nhanh là phẩm tính của con ngựa và tàn độc là phẩm tính của loài rắn bé tí xinh xẻo mà mi thấy đang cuộn mình ngoan ngoãn và u sầu trong bình rượu này của ta. Ừ đấy, mi nói nữa đi, nói cho đến hơi thở sau bét của mi nếu mi muốn, về những vũ trụ mà dường như mi và bọn như mi có khả năng tạo ra còn ta thì không, vũ trụ của những thứ thực sự sống hoặc vờ sống hoặc chết mà như sống hoặc sống nhưng khó nhận ra đến nỗi chả khác gì không sống, đó là việc của mi. Còn ta, cái vũ trụ thực sự có và thực sự đang sống này, ta đang có nó trong tay ta, trên ta, dưới ta, xung quanh ta, bên trong ta, nó là của ta, nó ta, và ở trong đó, mi, một thứ ở bên dưới ta, mi không có khả năng gì tác động tới ta được. Cơ đồ của vũ trụ đã được an bài theo cách đó. Mi cựa quậy, vùng vẫy, khua khoắng nhặng xị lên trong cái xó của mi, cái xó khiêm nhường nhất giữa những xó khiêm nhường nhất, cố công làm đẹp làm giàu thêm cái thế gian này theo cách của mi, theo cách hiểu của đầu óc mi về chuyện thế nào là cái đẹp và sự giàu có. Cứ làm thế đi, không ai cấm mi. Song khi nào ta, Arrobauth, công dân đế quốc Siră Kăntânări, ta cất lời với mi về chuyện thực ra mi và cái mi làm ra đang nằm ở đâu trong thế giới này thì mi phải lắng nghe ta và hiểu đúng cái điều ta muốn mi hiểu. Có một khoảng cách thường tồn, không thể vượt qua giữa ta với mi. Dù mi có ở đâu, làm gì, hát gì, nói gì, nghĩ gì, đừng bao giờ quên mất cái khoảng hẹp đó, nơi duy nhất mi được phép đứng.”

Có một quãng lặng ngắn trong đó dường như vạn sự trong vũ trụ đã khép lại thay vì mở ra. Thế rồi, điềm tĩnh, dường như vừa thân mật vừa châm biếm, giọng Faínâhind cất lên.

“Nào Mattai. Miệng lưỡi và thần trí của ngươi đâu rồi?”

“Miệng lưỡi và thần trí không phải lúc nào cũng đi đôi với nhau, thưa tiểu thư,” Mattai chậm rãi nói, không vơi chút nào vẻ bình thản. “Ai là kẻ trong chúng ta có thể khẳng định, như một chân lý tối hậu, rằng một tảng đá tồn tại trong trời đất từ thuở hồng hoang lại không có thần trí riêng của nó? Chuyện tôi nói gì không có thực chất bằng chuyện tôi nghĩ gì, điều đó hẳn Faínâhind cô nương và Arrobauth đại nhân hiểu. Những gì tôi nghĩ luôn luôn lớn hơn, sâu hơn, nặng hơn gấp bội những gì tôi nói, chẳng phải như vậy ru? Những gì tôi mang trong đầu và trong tim tôi nặng gấp muôn lần những gì tôi mang trong bụng tôi, cho dẫu điều đó chỉ những người như tôi mới thấu hiểu được. Tôi chỉ có một cõi thế duy nhất mà trong đó tôi sống, nhưng tôi mang trong đầu và trong tim mình hàng trăm hàng ngàn cõi thế khác, chúng sống trong tôi và bên trong chúng hàng muôn vạn những người những thú những chim những cá những trùng những cỏ cây khác sống, đối với muôn loài đó thì những cõi thế ở bên trong tôi kia là những cõi thế vô tận. Vậy là thân thể tôi, trí óc tôi, tâm hồn tôi là ngõ thông giữa cái hữu hạn và cái vô hạn. Bên kia là vô hạn thì ở đây hữu hạn, ở đây hữu hạn thì bên kia vô hạn. Và khi tôi chết, muôn vàn thế giới ở bên trong tôi không chết, chỉ là cái lối đi từ thế giới này đến các thế giới ấy thông qua tôi đã đóng lại vĩnh viễn. Những thế giới đó, chúng vẫn có đấy, đang hiện hữu đấy. Hãy tìm một lối thông khác, rồi thì chúng sẽ lại mở ra cho ta, nguyên vẹn. Đó là lý do vì sao chúng tôi hát, chúng tôi kể chuyện, chúng tôi trao lại những bài hát và câu chuyện ở trong mình cho những ai sẵn lòng nghe chúng và mong muốn đến lượt họ mang chúng ở trong mình, để cho chúng tuôn bên trong mình giống như máu và sinh khí của mình và thông qua mình mà tuôn trở về cõi vô hạn ở phía bên kia chúng tôi. Nghề của chúng tôi khiến cho, chừng nào chúng tôi còn sống, chừng nào chúng tôi còn một giọt sự sống cuối ở trong mình, chúng tôi còn hát còn kể về những gì lớn hơn chúng tôi, tốt hơn chúng tôi, đẹp hơn chúng tôi, và còn mãi mãi im lặng về bản thân chúng tôi. Vâng, đó là đạo lý nghề nghiệp của chúng tôi: mãi mãi cất tiếng và đồng thời mãi mãi im lặng.

“Vả chăng, chúng tôi im lặng, có những lúc cần im lặng, về bản thân mình thì im lặng bởi vì, rất có thể, trong khi chúng ta đang kể chuyện về các nhân vật của mình, có một ai đó đang kể chuyện về chúng ta. Người kể chuyện này cũng là một con người, có một cuộc đời đầy bất trắc khôn lường giống như chúng ta. Cho nên rất có thể một lúc nào đó có một sự biến xảy ra khiến người này không thể kể tiếp câu chuyện về chúng ta nữa, chừng đó thì chúng ta vừa tồn tại vừa không tồn tại. Chừng đó chúng ta tồn tại đối với bản thân chúng ta và không tồn tại, không còn tồn tại nữa đối với những ai cho đến giờ vẫn đang nghe câu chuyện về chúng ta. Và do vậy đến lượt mình chúng ta tiếp tục kể chuyện về các nhân vật của mình là để cho họ tiếp tục tồn tại đối với chúng ta, giữ cho cái cõi thực ấy không biến mất đối với chúng ta. Khi một người trong chúng ta chết giữa khi đang kể, liền có một người khác nắm lấy câu chuyện mà kể tiếp, không để nó đứt, đấy là chúng ta đang làm tròn nghĩa vụ của mình đối với các thế giới kia, giữ cho chúng tiếp tục hiện hữu đối với chúng ta, và thế là chúng ta có thể chết trong tự hào rằng mình đã không sống vô ích.”

Chàng ngừng nói. Và rồi, từ sâu dưới đáy sự im lặng mà chỉ đây đó bị nẻ ra vài vết li ti bởi tiếng nổ lách tách của củi cháy đượm trong ngọn lửa, trồi lên giọng Faínâhind, mảnh, mong manh, run run, chẳng giống tí nào với giọng thường ngày của Faínâhind, như giọng một sinh thể vừa sống lại bằng xương thịt song vẫn chưa thể tin vào điều đó, sợ phải biết sự thật rằng mình vẫn đang là một linh hồn.

“Cái cõi xa xăm vô cùng mà chưa một ai trong loài người chúng ta từng đến được ấy, ngươi bảo tên nó là gì, Mattai?”

“Thưa cô nương Faínâhind kiều diễm, điều đó bản thân tôi không biết chắc. Chỉ biết rằng nó có nhiều tên khác nhau trong những ngôn ngữ khác nhau của các tộc người sinh sống ở đó, và một trong số đó là Terra. Đó là một trong những cái tên được nói ra nhiều hơn hết từ môi các cư dân thế giới đó mỗi khi họ muốn nhắc đến nó, với tình yêu, với niềm hoài nhớ, với nỗi đau đớn, trong cơn phẫn hận hoặc bằng trí óc lạnh lùng. Terra, hay một trong nhiều biến thể của cái tên đó trong nhiều thứ tiếng khác nhau. Terre. Tierra, Tèra... Một tên khác của nó, mà ta có thể nghe đến còn thường xuyên hơn, là Earth. Thế giới ấy cũng rộng lớn như thế giới của chúng ta, cũng nhiều sông, nhiều núi, nhiều rừng, nhiều đồng bằng, nhiều vực sâu, nhiều hoang mạc, nhiều biển lớn, nhiều vùng băng giá như thế giới của chúng ta vậy. Ở đó cũng có nhiều đất nước rất khác nhau giống như thế giới của chúng ta, với rất nhiều tộc người có hình dáng khác nhau, nói những ngôn ngữ khác nhau và theo những tập quán khác nhau, giống như thế giới của chúng ta. Và những người này, cho dẫu có vẻ khác chúng ta đến như vậy, kỳ thực rất giống chúng ta, rất gần chúng ta. Nếu một người như vậy, từ Terra, bằng cách nào đó mà rơi sang thế giới của chúng ta và lọt vào giữa chúng ta, hoàn toàn có thể một ai đó trong chúng ta sẽ đem lòng yêu người ấy và chung thủy với mối tình đó đến chết. Ngược lại cũng vậy. Biết bao câu chuyện và bài hát tuyệt đẹp có thể sinh ra từ đó. Nghiệt nỗi, chuyện đó không bao giờ xảy ra được. Terra là bóng của chúng ta và chúng ta là bóng của Terra. Chúng ta không thể trở thành bóng của chính mình đặng yêu một cái bóng khác.”

“Vậy thì,” Arrobauth chợt lên tiếng, kìm một tiếng cười khẩy khó mà đoán được ẩn nghĩa, “mi nói nhiều về Terra như vậy để làm gì? Cứ để cho thân của ta là thân của ta và bóng của ta là bóng của ta, mỗi đằng có chỗ của mình và yên phận, thế chẳng hay hơn sao? Hãy say mê ngắm nhìn thế giới bóng đó nếu mi muốn, đắm mình vào thế giới bóng đó nếu mi thích giống như đắm mình vào một giấc mơ không đành quên, song vẫn luôn luôn khắc cốt ghi tâm rằng đó là thế giới bóng, những cái bóng mà trong thực chất không hơn gì những hồn ma, những hơi gió, những làn khói, và sống hết mình sống đến cùng kiệt máu của mi trong thế giới thực, cái thế giới thực duy nhất hiện hữu, thế giới của những thể xác đầy cáu ghét đầy cứt song cũng có thể đầy hương thơm. Thế giới của cô nương Faínâhind, của ta, của mi. Mi có đủ khả năng làm vậy không? Nghe mi nói, ta có cảm tưởng là mi không thể.”

“Kẻ không thấy được có thể nghe xa hơn những người thấy được,” Mattai nhỏ nhẹ nói. “Kẻ không thể đứng trên hai chân mình có thể chỉ nói một lời mà khiến một người gục ngã đứng dậy. Người kể chuyện chúng tôi có thể không đứng chắc chân được trên mặt đất giống như người thợ xây đường cho đế quốc hay kẻ tiều phu ngày ngày đốn cây cổ thụ, thể xác chúng tôi không được sinh ra để làm việc đó. Song bằng một đôi tai ở sâu trong chúng tôi và đồng thời ở cách chúng tôi vô số dặm song là của chúng tôi, chúng tôi nghe được một người nào đó ở Terra đang kể câu chuyện về chúng ta, về chính chúng ta, và qua đó làm cho chúng ta ngày càng hiện hữu đối với người ở thế giới ấy. Khi chúng ta im lặng đủ sâu, chúng ta có thể nghe được sự im lặng của chính mình ở đó, ở Terra. Khi chúng ta thét lên đủ lớn với toàn bộ tâm hồn mình vì sung sướng hay phẫn nộ, chúng ta có thể nghe tiếng thét đó của chính mình ở đấy, Terra, không phải tiếng vọng mà là anh em song sinh của tiếng thét ấy. Chừng đó, và chỉ chừng đó, chúng ta mới thấu hiểu rằng chúng ta sống từng khoảnh khắc của chúng ta ở đây cũng là để sống cho từng khoảnh khắc của chúng ta ở đó. Thể xác chúng ta không thể đi sang được đó song tinh thần chúng ta có thể. Chúng tôi kể chuyện Terra là để không ngừng nhắc nhở mọi người chúng ta nhớ điều đó, cũng như những người Terra kể chuyện chúng ta vậy. Chúng ta và họ cùng hiện hữu, cùng sống sánh đôi bên nhau qua những câu chuyện. Thể xác chúng tôi, cuộc đời chúng tôi, người kể chuyện, chẳng là gì hơn cái đầu mút của những sợi dây vô hình nối liền đôi bên, thưa Arrobauth đại nhân. Chúng tôi không được phép gắn quá chắc vào cõi hữu hình đến nỗi làm lơi đi mối nối giữa mình với cõi vô hình.”

Mattai ngừng nói, và một lần nữa âm thanh duy nhất chiếm hữu không gian và đôi tai cùng trái tim người là tiếng củi nổ lách tách trong ngọn lửa. Vài cặp mắt hướng về phía Arrobauth, chờ đợi, giữa khi chàng ngồi đó chìm trong trầm tư. Faínâhind nhìn chàng với vẻ dịu dàng. Nếu chàng nhìn lại Faínâhind, chàng sẽ thấy rằng chưa khi nào nàng nhìn chàng với sự dịu dàng đến như vậy. Tuy nhiên chàng không nhìn Faínâhind. Chàng như đang thấy, xuyên qua bầu máu và thịt nóng của một sinh thể nào đó thuộc về đất mà chàng yêu thương, hình bóng mơ hồ khó nắm của một giấc mơ nào đó chàng từng có trong quá khứ mà lúc này bỗng trở lại trong tâm trí chàng, thoảng nhẹ và ám ảnh, như làn gió nổi ẩm lạnh duy nhất ở trong lòng bừng cháy của mùa hè khô kiệt nhất. Một vẻ buồn khác lạ thấm đượm chàng, “giống như ánh mờ của một ngôi sao đen”. Nếu có ai nhìn Mattai lúc này, người đó sẽ biết chàng đang nhìn Arrobauth với một vẻ trìu mến và dịu dàng ra sao. Như thể chàng đang nhìn một người anh em ruột thịt cho dẫu chàng biết người anh em đó có thể giết chàng bất cứ lúc nào bởi chàng biết rằng người anh em đó không biết việc mình làm. Và cái im lặng tỏa ra từ hai người này, từ Arrobauth kẻ đang chiêm quan cái gì đó chỉ một mình chàng thấy, và từ Mattai kẻ đang chiêm quan cái gì đó bên trong Arrobauth mà có lẽ chỉ một mình Mattai thấy, là một im lặng mà mọi người khác đều cảm thấy mình không nên phá vỡ cho dù bản chất của nó họ không thật hiểu.

 @Trần Tiễn Cao Đăng 


Thứ Hai, 13 tháng 10, 2025

Hồng Phúc (Trích "Cospolist Nổi Loạn")

Tóc em đeo nắng kìa, ảnh nói trong khi tay ảnh (vừa mạnh mẽ đến lịm người vừa điêu luyện thấy mụ nội) xua sạch bách tụi ruồi vừa đen vừa biếc vừa tím rịm cứ nhâu nhâu chực bu vào hai chén chè sắn người ta mới đem ra, tụi tôi còn chưa chọc muỗng vô.

Nơi đây nóng ơi là nóng, tôi nghe rõ mồ hôi rịn giọt này rồi lại giọt kia “thánh thót như mưa” làm cho bên dưới cái xu chiêng tím hoa cà viền đăng ten hiệu Jean-Marie Cardin sang ơi là sang mảnh ơi là mảnh quà ảnh tặng tôi tháng trước cứ là ướt đầm như mưa đẫm tường rêu của cái nhà hoang. Ngồi ở bàn trong, gần quầy là một gã đen. So với nhiều người khác cùng nòi đen như gã thì gã chẳng to con gì mấy, nhưng ở đây, một mình trong quán giữa toàn người Việt, gã vẫn khiến cho không gian quanh gã vừa teo quắt lại vừa nặng hẳn đi. Nhìn hắn cứ như nhìn một viên đạn to đùng nó khiến cho người nhìn hắn cũng biến thành viên đạn luôn, cũng như có những người đàn bà giống như viên kẹo tói nỗi nhìn họ mình cũng muốn biến thành kẹo luôn.

Người da đen, họ đen năm bảy đường. Cha này không đen như cột nhà cháy cũng không đen kiểu chì than, màu đen của chả đúng là kỳ cục, cứ bì bì, bềnh bệch, dơ dơ, giống như màu lớp bụi đóng bánh trên bàn ghế hộp thùng gãy bể chất đống trong căn nhà kho không ai mó tới chả biết tự đời nhà Lê nhà Nguyễn hay gì. Tôi tự hỏi không biết trong số các bà chị bạn của tôi đã có ai hay bao nhiêu người đã ngủ với cha da đen này rồi. Có khả năng nhất là Chị Ba, người có lối kể tưng tửng, bí hiểm, oai phong quyền quý chưa chắc nữ hoàng đã bằng và cái kiểu nhìn mình chòng chọc đầy thương hại khinh khi nếu mình lỡ dại tỏ ra không tin những gì chị kể, người mà ngay mỗi hơi hít vào thở ra như cũng nói lên rằng chị là người có thẩm quyền hơn ai hết trong việc kể và luận về những cái nòng thụt của giống đực trong đó có mấy cái nòng thụt bự chà bá đen thui. Qua lời chị có thể hiểu rằng chị là chủ nhân tuyệt đối của các nòng thụt đó cùng chủ nhân của nó, chị có thể sai khiến chúng bằng một động tác cục cựa, vặn hoặc ưỡn rất nhỏ, rất nhẹ của mông và bụng dưới chị. Chị nói hay đến nỗi đôi lúc đứa con gái nào đó đang nghe chị nói bắt đầu he hé mồm, giạng giạng hai chân ra mà chính nó không hay, thành thử chị ghét bị người ta sửa lưng hay nói xiên nói xéo lắm, thiếu điều chị đập chết không kịp ngáp. Tôi đã từng tự hứa sẽ không làm vậy nữa, có hứa rồi chớ, nhưng rồi tôi nhận ra rằng làm như đã hứa đâu có dễ tí nào đâu.

Ở đây có cả đồ ngọt lẫn đồ mặn đó em, ảnh nói, chu đáo như thể tôi là đứa con nít đã khó tính như quỷ mà lại còn đang bịnh nữa.

Thôi, món này được rồi, trong này vừa có ngọt vừa có mặn mà, tôi mỉm cười nói, chủ ý cười thiệt tươi, bởi vì ảnh luôn hơi quá ngọt ngào và rụt rè. Ảnh không thuộc loại đàn ông hễ thích là điềm nhiên bẹo má hay bóp mũi tôi mặc dù gặp lúc gặp nơi thuận tiện thì anh chàng cũng chả đến nỗi không biết luồn tay vào dưới áo tôi. Đàn ông trăm thằng như một hễ thấy bưởi của tôi là ngẩn ngơ như bầy chó đói nhìn bữa ngon bên kia cửa kính, anh này cũng có khác đâu. Quan trọng là gã nào dám nói ra điều đó với tôi và nói như thế nào thôi.

Tay da đen, bằng thứ tiếng Việt giống như vừa gặm hột xoài vừa nói, kêu thêm một ly bia. Chủ quán, một ông kềnh càng nặng trịch chả thua gì gã, lập tức lắc đầu dữ dội cứ như gã vừa hỏi xin lấy con gái ông làm vợ không bằng. Không, không có đâu, trả tiền rồi biến, ông nói bằng cả lời lẫn cử chỉ, và cách diễn đạt của ông hùng hồn đến nỗi tay da đen chắc chắn phải hiểu đầy đủ thậm chí dù một nửa chữ tiếng Việt gã cũng không biết đi chăng nữa.

Giờ chắc đã đến lúc tôi kể chi tiết hơn một chút cho các bạn về hai đứa tụi tôi. (Tôi cũng biết đã có người nói với các bạn dăm ba điều về tụi tôi rồi, miễn là các bạn còn nhớ, tuy nhiên nếu các bạn còn nhớ thì làm ơn đừng quên rằng không phải cái gì ổng nói cũng đúng cả đâu). Là như vầy. Cái ông mà anh bạn tôi (Xuân Phong hay Harukaze-san, các bạn biết rồi) nói là sắp sang Việt Nam và theo ảnh thì sẽ giúp tôi giải quyết được những vấn đề chả-giống-ai của tôi, ổng là nhà bác học gì đó bên Mỹ, gốc Việt, nghe chừng nổi tiếng lắm, ít nhứt là trong lĩnh vực của ổng (lĩnh vực gì tôi quên mất rồi, nó là một từ gốc la-tinh dài thì không dài mấy nhưng lạ hoắc lạ huơ, thậm chí tôi ngờ là cả Harukaze-san cũng nhắc lại như vẹt chớ chả hiểu nghĩa là gì đâu, ảnh chỉ đủ tự tin để đoan chắc với tôi rằng đấy là một ngành khoa học mới, đang mong manh yếu ớt như con chim mới nở, mà thiên hạ thì toàn những kẻ hăm he muốn bóp chết nó không thì ít nhứt cũng đồng thanh dè bỉu nạt nộ sao cho nó khiếp vía mà đẹt luôn không dám lớn lên nhưng mà để rồi coi, tương lai sẽ thuộc về nó). Khi tôi nói, có mỉa mai hay không tùy ảnh hiểu, rằng cái khoa học anh đang nói tới đó chắc cũng lại là một thứ nghiên cứu thuật thần giao cách cảm rồi lại điều khiển vật từ xa, kiểu như trường sinh học hay năng lực tâm linh siêu hình gì đó chớ gì, thì anh đáp bằng một vẻ mặt kỳ cục và một cử chỉ kỳ cục giống như là anh vừa đột ngột nhận ra mình không thể vừa gật đầu vừa lắt đầu cùng một lúc vậy. Mặt ảnh khi đó lại còn có cái vẻ bất lực và hơi ngu ngu của gã đàn ông thấy thằng nhỏ của mình đang cứng lên như khúc gỗ trong khi mồm thì đang nói với tôi về các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ hay gì đó còn mắt thì ráng hết sức để đừng chốc chốc lại soi xuống cặp hàng phì nhiêu của tôi, ráng hoài mà có được đâu, mặc dù, nói cho ngay, cái bản mặt đó nếu ở ai khác thì tôi đã ghét cay ghét đắng hoặc chả thèm để tâm rồi song ở ảnh thì tôi lại thích, có lẽ là thích cái vẻ vừa trần trụi vừa ngây thơ, tuy nhiên cũng có thể chả do cái gì hết, mà do ảnh là ảnh nên cái gì ở ảnh tôi cũng thích, vậy thôi.

Thấy tôi im im, cái kiểu im im hơi nhuốm tí khinh khi, thậm chí chả thèm tỏ ra tò mò hay ngờ vực gì luôn, ảnh bèn nhanh nhảu nhấn mạnh rằng cái ngành khoa học đó nó đang là một trong các môn chính thức ở một số trường đại học (lớn, có uy tín hẳn hoi) ở nước ngoài, là đề tài nghiên cứu và tranh luận của nhiều viện nhiều khoa nhiều giáo sư tiến sĩ nhiều nhà chuyên môn nhiều nhà quan sát nhiều nhà báo nhiều kẻ ăn theo nói leo chẩu mỏ chầu rìa rồi thì đám đông sùng bái hiếu kỳ bán tín bán nghi bình tán, loạn đàm, chỉ trích vân vân. Tôi miệng cười cười vừa nghe vừa thò tay mầy mò cái củ của ảnh trốn sau đũng quần, lúc đó ảnh mặc quần xà lỏn, hai đứa tôi đang ngồi nơi ban công phòng mình tại một nhà nghỉ ở Mũi Né nhìn chênh chếch ra biển xanh nhức nách luôn. Ảnh lo lắng cho tôi lắm, tôi biết chớ. Đâu phải là tôi coi nhẹ hay không cảm kích trước những cố gắng và sốt sắng của ảnh giấu sau cái vỏ điềm nhiên tưng tửng, cái vẻ như của kẻ thấm nhuần ý Thiền ngồi đợi cơn động đất (là bạn tôi nói thế); chỉ là chả hiểu vì sao tôi cảm thấy sẽ không bao giờ mình có cảm tình nổi và đem lòng tin cậy nổi mấy người nhiều chữ mũ cao áo dài tự cho mình am hiểu hơn ai hết về những vấn đề của cá nhân tôi. (Chả hiểu vì ăn cái gì mà tôi tin chắc chắn rằng trong cái đám học giả suốt ngày hùng biện và tranh cãi đó chả có được một mống nào mà bản thân mang những vấn đề giống như tôi. Thành thử tôi nhìn họ chả khác gì mấy bác nhà văn nhìn đám lý thuyết gia văn chương, bọn họ chẳng bao giờ viết nổi một cuốn truyện hay nhưng suốt đời ngồi phán như thể họ biết rõ hơn ai hết, hơn tất cả đám nhà văn về chuyện phải viết làm sao để ra được một cuốn truyện hay. Tuy nhiên với ảnh thì tôi không thèm tranh luận làm gì. Ảnh thì khác gì ông chồng lo sốt vó vì vợ đang đau đẻ, nghe vợ kêu la thì cũng xuýt xoa chẳng khác gì chính ổng đang đau nhưng nói gì thì nói có phải bản thân anh ta đang đau đang rặn tưởng đến phọt hết cả ruột ra ngoài, vừa rặn vừa hét và vừa lôi cả ông bà cha mẹ ổng ra mà chửi đúng không. Cứ cho là ổng thuộc loại người nhân từ độ lượng như ông Phật, hiểu vợ lắm thương vợ lắm thành thử chả đời nào giận hay để bụng, vợ ổng có chửi gì thì chửi, ổng thông cảm hết, bỏ qua hết, ổng biết quá rõ đôi khi con người có thể mất tự chủ đánh mất chính mình ra sao nhất là trong những tình huống thập tử nhất sinh như thế, cứ cho ổng là người như vậy đi, rồi thì sao? Ngoài chuyện thông cảm, chấp nhận, tha thứ, an ủi, động viên, vỗ về, vân vân vân vân, ổng liệu có đời nào gánh thay được cho vợ cái vai mà bả đang phải gánh, đúng không nào? Xuân Phong này thì cũng vậy thôi. Tôi quá biết ảnh luôn luôn tha thiết muốn chia sẻ cùng tôi những nỗi khổ riêng của tôi được chừng nào hay chừng nấy, nhìn cũng cảm động thiệt. Thỉnh thoảng tôi xoa đầu ảnh, nhưng phần lớn là tôi kệ xác ảnh. Tôi không nói thì ảnh cũng phải tự hiểu rằng tôi không có ảo tưởng về bất cứ cái gì ráo trọi. Tôi cho phép ảnh tìm hết cách này đến kia hòng hiểu được tôi, vậy là nhiều rồi, ít nhất thì ảnh cũng đã có cơ hội để thử rồi).

Dù sao thì trong tất cả những cái tôi chờ đợi ở ảnh (không nhiều đâu) ít ra ảnh cũng làm được cái quan trọng nhất là tin tôi. Ảnh là người tự do, không bị ràng buộc vào một cách nghĩ duy nhất nào. Chỉ những người như ảnh mới có thể nói về cái môn khoa học gì gì đó ở bên nước ngoài với cái vẻ không vồ vập mà cũng chẳng hoài nghi như thế. Ảnh chẳng phải tin mà cũng chẳng phải không tin. Ảnh luôn luôn mở rộng trí óc cũng như lòng mình cho mọi khả năng, ảnh nói với tôi vậy. Dĩ nhiên ảnh không phải là người độc nhất trên thế giới như vậy, tôi từng gặp vài ba người khác cũng nói về mình giống như ảnh, tuy nhiên có lẽ ảnh là người thể hiện mình một cách tự nhiên và, nói sao ta, ờ, một cách khoáng đạt nhất, mà ảnh càng vậy thì tôi lại càng tỏ rõ là tôi không tin, tôi châm chích và chọc ngoáy càng dữ bất cứ câu chuyện chả đáng tin cũng chả đáng ngờ nào mà ảnh nhắc. Tôi nói đại loại như là, Để em kiểm tra súng ống của thằng cha giáo sư gì đó của anh trước đã, chả muốn nói gì thì sau hãy nói, mà biết đâu sau khi em kiểm tra rồi thì chả chỉ còn muốn hả cái họng chả ra để ngoạm bưởi của em thôi chứ đếch còn muốn nói gì nữa, vậy là hay nhứt, há? Còn nếu đó là một bà hay một mụ thì cũng vậy thôi, chỉ là đổi vai, lôi chính ảnh vào là được. Kiểu như là tôi sẽ nói, Anh chui dô trong juýp bả coi kỹ giùm em coi lồn bả có hoành tráng bằng lồn em không. Hoành tráng hơn em thì được, muốn nói gì cứ nói. Không thì đi chỗ khác chơi. Phần dưới không mạnh ít nhất là bằng phần trên thì vênh vang mình là nhà nọ nhà kia làm cái đéo gì. Nói vậy chắc ai đó cũng hiểu, tôi coi khinh những kẻ có thừa trí tuệ nơi đầu óc mà không có trí tuệ nơi thể xác cũng bằng với coi khinh những kẻ có thừa trí tuệ nơi thể xác mà không có trí tuệ nơi đầu óc. Loại trước tôi cho vô cái khe giữa cặp dừa của tôi mà ép cho chết ngộp, loại sau tôi nhét tọt vô trong lỗ đít tôi như một thứ thuốc giúp tôi đi cầu cho dễ. Cái anh Harukaze-san này, ảnh biết tôi là đứa con gái như thế (nhớ: con gái chớ không phải đàn bà à nghe), ảnh biết tôi là đứa con gái từng cắn đứt tai một thằng đàn ông bởi vì thằng này làm cho nó sướng đến nỗi nó chả còn cách nào khác ngoài căm thù gã, nó cũng là cái đứa con gái “nhạy cảm và mong manh” từng khóc ngon lành khi nghe mấy bà ca sĩ người Bungari hát bằng thứ tiếng mà cả đời nó mới nghe lần đầu tiên, y như nó đã khóc ngon lành khi nghe một bà chị miệt sông nước Cà Mau hát câu vọng cổ “Má ơi đừng đánh con đau, để con đi chợ mua trầu má ăn” vậy. Tôi là đứa con gái có thể chửi xơi xơi và liệng tách cà phê vào mũi một “giáo sư khả kính trường Harvard” nếu lão hay mụ này vô phước làm nó nổi khùng tới cỡ đó, tôi là vậy, ảnh biết. Thế nhưng mà ảnh vẫn không thôi tìm cho tôi hết mụ này tới lão kia từ trường nọ viện kia, ngong ngóng mong họ làm được gì đó ra hồn một tí với tôi, đồng thời ngay ngáy lo không biết khi nào thì tôi nhẹ nhàng tiễn họ đi bằng một tách cà phê liệng vô giữa mũi. Giỏi lắm, cái anh này. Nếu như mục đích cuối cùng của ảnh khi làm cái việc này là khiến cho tôi cảm động thì ảnh cũng khá thành công đó, chỉ có điều, có lần tôi nói với ảnh: bất cứ cái gì trên đời này, từ cái mạng em hay cái mạng anh cho tới cả một mảng lục địa to đùng như lục địa châu Á cũng đều có thể bị xóa sạch sành sanh trong nháy mắt bởi một bàn tay nào đó bị ngứa miễn là cái bàn tay ấy bự hơn nó, giống như mấy bức tranh cát của ông gì người Hung mà anh cho em xem đó, dù đang có cái gì được vẽ ra đi nữa, vẽ công phu cách mấy đi nữa thì cũng chỉ cần gạt tay một cái là xóa sạch, và ai dám nói chẳng có một bàn tay nào như vậy đang giơ lên chuẩn bị làm như vậy nào? Tôi nói vậy đó, chả biết anh hiểu ý tôi tới đâu. Ờ thì ngay lập tức ảnh bổ sung bằng cái vẻ tỉnh queo thường lệ rằng cũng có thể so sánh cái bàn tay gạt một cái là xóa sạch sành sanh một bức tranh hay cả một lục địa ấy, để rồi ngay sau đó làm ra một bức tranh khác hay một lục địa khác, với cái động tác vỗ nhẹ vào thân ống kính vạn hoa khiến cho cái hình thể đẹp ơi là đẹp nơi đáy kính vỡ tan tành ngay tức khắc như chưa hề có, song chỉ cần ta xoay nhẹ ống kính là, ô kìa, một hình thể khác nhoáng cái đã hiện ra, mới toanh, hoàn toàn chả giống gì cái trước nhưng cũng hoàn hảo và đẹp ơi là đẹp chả kém gì cái trước, giống như những thế giới mới không ngừng theo nhau sinh ra, cái này chỉ có thể bắt đầu hiện hữu sau khi cái kia đã chết đã biến mất, như thể không ngừng ganh đua nhau về sự hoàn hảo đồng thời cũng như không ngừng bổ sung cho nhau và gây liên tưởng về nhau, đó là một quá trình hoán vị và liên tục không ngừng giữa nhớ và quên, giữa mới thấy lần đầu và đã từng nhìn thấy… Nói được vậy là cũng khá, chứng tỏ ảnh cũng có hiểu đó, cũng có biết đó, nhưng nếu bảo là giống như những gì trong đầu, không, chắc phải nói là trong lòng tôi thì… mà thôi, về chuyện đó thì cố nói cũng vô ích.

Nhưng dù sao thì coi đó, tôi vẫn có ghi nhận sự phong phú của cái đầu ảnh cũng như kích cỡ cái quả tim ảnh đó chớ, cứ hễ ảnh nhắc tới tên của một ông hay một bà mũ cao áo dài nào đó ở trường nọ viện kia là tôi lại thò tay bóp súng của ảnh một cái mạnh hơn thường lệ (nếu tụi tôi đang ở chỗ nào đó kín đáo chút chút và ảnh không mặc quần jean, tất nhiên rồi). Và những cái tên ảnh nhắc tới nghe càng kêu thì tôi bóp càng dữ, bóp không thương tiếc, nhắc là tên nghe kêu chớ không phải học hàm học vị nọ kia nghe kêu đâu nha, với tôi thì tiến sĩ hay giáo sư này nọ lũy thừa lên chục lần hay trăm lần vẫn chỉ là con dê rô bự tổ bố thôi, tôi khoái là khoái nghe âm thanh mấy cái tên, cóc cần nó có nghĩa gì, nghe sướng là được, dĩ nhiên là một kiểu sướng khác, không giống như khi thằng cha nào đó liếm lồn mình, tôi bóp của ảnh là để khen ảnh đã làm tôi sướng, nó là vậy, ảnh biết. Vittoria Benecruciati, Hay! Bóp cho một cái. Emmanuel Weisenzäcker, Ngầu đó! Lại còn có cả cứng lẫn mềm, bóp cho một cái. Còn khi nào cái tên nghe ỉu xìu xìu như trái ớt khô hay nhạt phèo phèo như nước vo gạo không thì cụt thun lủn như nòng nọc đứt đuôi, Lee Mi Jung, rồi lại Bill Little, thì thay vì bóp súng của ảnh tôi nhéo háng ảnh, cũng mạnh y chang vậy, chỉ đối tượng là khác thôi.

Ờ, thì đó, thái độ của tôi trước mối quan hệ của ảnh với các ông các bà trong giới nhiều chữ là vậy đó. Ảnh làm đếch gì mà lại quen lắm người có cái danh bự bành ky như vậy tôi chịu, không hiểu. Dĩ nhiên nhìn thấy thế ai cũng có thể nói, Chậc, bản thân anh chàng này chắc cũng không phải hạng tầm thường đâu. Ờ thì sao? Tôi không quan tâm có hàng tỷ người biết ảnh hay có độc một mình tôi biết ảnh. Với tôi, điều quan trọng nhứt cũng chả phải là tôi hiểu ảnh tới đâu mà là ảnh hiểu chính mình tới đâu. Cũng may phước là khi tôi nói với ảnh vậy thì ảnh có vẻ hiểu ý tôi mặc dù ảnh cười cười, cái điệu cười của những ai ra vẻ coi thường mọi thứ suy tư nghiêm túc nhưng kỳ thực là suy tư nghiêm túc suốt ngày suốt đêm kể cả khi mơ. Loại người như ảnh tôi lạ gì, làm bạn với họ cũng thích mà chọc họ cũng thích.

Chắc là tôi cần kể về ảnh nhiều hơn một chút, ha? Ít nhứt thì cũng phải nói rõ chút chút về cái sự quan trọng của ảnh, ảnh là người quan trọng như thế nào, nếu không thì e người ta sẽ khó nắm được hết tầm cỡ của vấn đề khi tôi nói rằng tôi thì tôi chả coi cái vai tuồng quan trọng của anh ra gì và chuyện ấy ảnh biết. Ảnh có thể là một trong những người tham gia định đoạt tương lai của cả loài người, nhưng có những lúc tất cả những gì ảnh cần là một giấc ngủ thiệt ngon lành, vùi mặt vô một bộ ngực con gái thiệt đầy thiệt êm thiệt mát thiệt thơm. Niềm hạnh phúc đó chẳng xa cái tiền đồ đẹp đẽ cho nhân loại mà những người như ảnh hết mình nhắm tới là mấy, thậm chí nói thẳng ra là chả có gì khác nhau hết trọi, vậy nhưng mà nó lại có ngay ở đây, ngay bây giờ, chả cần phải đợi lâu đằng đẵng và chả cần phải cày cục lao tâm khổ tứ như họ nghĩ. Tôi chỉ cần ảnh biết vậy là đủ. (Dĩ nhiên là lúc khác thì chừng đó chưa đủ, tôi biết chớ, cần thì tôi sẽ nói sau).

Khi tôi bước lần đầu tiên vào phòng làm việc của ảnh hay là thánh đường của riêng ảnh, tuy có tối tăm bừa bộn mốc meo chút chút nhưng dù gì cũng là thánh đường, việc đầu tiên tôi làm là hét lên to thiệt to, hét một tiếng vô nghĩa vì thiệt ra đâu cần nó có nghĩa gì, chỉ là tôi cần vậy để làm cho bầu không khí giống như một bức mành cực mảnh trong suốt, trông hơi đáng ngờ và hiêm hiểm làm sao đó của cái chỗ này phải toạc ra, phải biết điều mà tránh ra chừa chỗ cho sự hiện diện của tôi. Tôi làm việc đó một cách nghiêm trang (mặc dù miệng tôi làm như đang cười), với vẻ tập trung cao độ (cái này là để bộc lộ một ý chí không thể lung lay), và đặc biệt là với một vẻ ngời ngời hân hoan chắc chắn là gây ấn tượng không biết tới đâu mà kể, nhìn mắt ảnh tôi biết, dòm cái dáng ngượng nghịu và ráng làm ra vẻ bất cần của ảnh là tôi biết.

Sau khi làm tình lần đầu tiên với ảnh (tôi bao giờ cũng vậy, thằng nào tôi thích ngay từ đầu thì tôi thử súng của chả trước đã, trò chuyện nghiêm chỉnh để sau), tôi hỏi ảnh làm gì thì ảnh nói ảnh là nhà khoa học. Tức thì tôi phá ra cười đau bụng, không sao kìm được. Tôi bất ngờ quá. Mãi hồi lâu sau tôi mới trấn tĩnh được mà nói với ảnh, mắt ướt nhòe, lời tôi cứ bị ngắt quãng vì những tràng cười không thành tiếng (vì tôi mím miệng lại) làm người tôi run bật bật cứ như bị thằng cha mắc dịch nào cù lét chỗ háng. Tôi nói, Ở dơ như anh, hôi rình như anh, đầu tóc ba tháng không cắt ba tuần không gội như anh thì khoa với học cái đéo gì. Chắc là anh nghiên cứu làm máy phát điện dùng cứt chuột với xác gián chớ gì, hả. Nghe tôi nói thế ảnh dòm tôi như muốn nói là tôi vừa mới cười về một chuyện ảnh hoàn toàn không quan tâm, rồi thì ảnh nói, Khi em cười em dễ thương lắm em biết không, lại còn rất đĩ nữa. Nếu là thằng cha nào khác thì còn tùy, nhưng bởi vì ảnh là ảnh cho nên khi ảnh dùng hai chữ rất đĩ để nói về tôi thì tôi bèn cười ngất thêm chặp nữa, vì tôi khoái quá trời, suýt chút nữa là tôi cắn một phát đau thấy ông bà ông vải vô cằm ảnh, thật ra tôi đã làm bộ như sắp chơi kiểu đó thiệt, tôi đã chồm tới ghé sát răng vô mặt ảnh nhưng mà ảnh thì quá biết khi nào răng tôi thiệt sự thèm mùi thịt và máu ảnh còn khi nào chưa. Ừa, sau đó thì dĩ nhiên ảnh cũng khai với tôi, mặc dù với cái kiểu nhát gừng, thủng thẳng nhả ra từng tí một, ghét không chịu được, về chuyện ảnh làm cái thứ khoa học cóc khô nào. Tôi nghe ảnh nói với cái miệng hơi hé ra, làm như bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng để ré lên cười, cái miệng ấy tôi kiên trì giữ ngay cả khi tôi thấy mình ngạc nhiên một cách thiệt tình nhất. Chà, tôi ngạc nhiên mới gớm chưa! Và tôi biết chắc như đinh đóng cột hay như ảnh đóng tôi là trong thâm tâm ảnh chờ đợi tôi ngạc nhiên gấp mấy lần vậy nữa kìa. Tôi đâu có cần biết liệu ảnh có nhận ra hay không rằng tôi cảm động nhiều hơn là ngạc nhiên, ừa, cảm động chớ, cảm động vì người ta tin cậy mình mà ký thác cho mình một bí mật ghê gớm như thế. Thậm chí tôi cũng chả cần biết trong thâm tâm ảnh có chờ đợi tôi cảm động hay không, nếu ảnh làm bộ như chả cần cái gì khác ở tôi ngoài sự ngạc nhiên thì đó, tôi ngạc nhiên đến hết mình như vậy đó, ra vẻ ngạc nhiên vô cùng tận đồng thời cũng tức cười vô cùng tận, ảnh chỉ cần sự ngạc nhiên của tôi thôi còn sự cảm kích của tôi ảnh có cần mấy đâu; thì được, tôi cho ảnh ngạc nhiên, đầy ăm đầy ắp ngạc nhiên, còn cảm kích thì tôi để lại cho riêng mình, khi nào ảnh cần tới là tùy ảnh.

Ảnh nói: dự án của tụi anh mà thành công là thay đổi cả thế giới luôn. Tôi cười, thè lưỡi liếm chút kem dâu dính bên mép, ai đó nói con nào hay liếm mép như tôi vừa làm là con đó dâm lắm, ha ha, còn ảnh, có bao nhiêu người nghĩ như ảnh về việc mình đang làm? và bao nhiêu người trong số đó rồi sẽ vỡ ra là mình chả thay đổi được cái cóc khô gì? Ảnh còn nói: cái tụi anh đang làm nè, nó đang góp phần làm nên một cuộc cách mạng khoa học mới, một thay đổi hoàn toàn mới về hệ hình. Ừa, hệ hình, ảnh dùng cái chữ đó đó, nhiều lần chớ không phải một, và cất công giải thích cho tôi, nổ một hồi liên thanh hoành tráng vô cùng tận về cái lão Tô Mát Tô Meng nào đó là người đầu tiên xài cái chữ đó. Cứ theo cách ảnh nói thì thế giới này chỉ có khả năng chấp nhận cái phát minh kinh thiên động địa của “tụi anh” một khi người ta đã lật đổ nếu không phải hết thảy thì ít nhất cũng gần hết các tín điều khoa học tưởng như không thể lung lay hiện giờ. Nhưng mà để làm gì, tôi hỏi. Không phải sau đó thì ta có cái gì, mà là có để làm gì. Thì ảnh nói, để chúng ta đường hoàng hơn khi tiến gần đến chỗ chết. Chỉ đường hoàng không thôi thì để làm cái quần què gì, tôi nói. Và có thể hạnh phúc hơn, ảnh nói. Nếu để hạnh phúc hơn một chút xíu dù đang sắp ngoẻo thì chán vạn người làm được mà chả cần lật đổ với lại phát minh cái gì hết á, tôi nói. Em không hiểu, ảnh nói. Rồi ảnh im. Tôi cũng im. Rồi tôi phì cười bẹo má ảnh, dụi trán vô dưới cằm ảnh. Tôi mở miệng cạ cạ hai hàm răng và cọ lưỡi vô chỗ họng ảnh. Tôi không cắn, cần gì cắn, tôi chỉ muốn để lại nước miếng của tôi trên da ảnh thôi.

Bí mật và điên rồ là thứ bảo đảm cho thành công của tụi anh, ảnh nói. Nghe y chang như một tụi khủng bố, tôi cười nói. Thì ảnh nói, Đúng. Rất nhiều khi hai cái hoàn toàn khác nhau trông hoặc nghe lại rất giống nhau. Ừ phải, bí mật và điên rồ, tôi nghĩ. Sự bí mật và điên rồ của tụi ảnh liệu có gì để sánh được với sự bí mật và điên rồ của cái con vật kinh khiếp suốt ngày bị xiềng giữa hai háng tôi không? Cái con vật chỉ muốn lồng lên cắn vào mặt cái lũ đàn ông đứng đần ra nhìn như bị bỏ bùa cái cặp ngực với cặp đùi tôi giữa khi tôi đang nói với tụi nó những lời đứng đắn nhất trên đời bằng tác phong đứng đắn nhất trên đời? Răng tôi, hai hàm răng mà anh khen đẹp đây, ảnh có biết nó ẩn chứa sức mạnh và cái sự điên như thế nào không hả? Ờ, biết chút chút thì có. Những dấu triện in bằng răng tôi, luôn luôn sắc cạnh và đỏ thon thót, đôi khi còn chưa khô hẳn, ở những vị trí sâu kín và hiểm yếu của ảnh, dưới háng nè, nách nè, đùi non nè, ven lỗ đít nè, ảnh mang chúng theo vô phòng thí nghiệm nơi tụ tập của “tụi anh” mà trong đó hình như có hai ba ả đàn bà, trong khi cả lũ “tụi anh” cắm cúi giấu bí mật của mình như mèo giấu cứt thì ảnh cũng có bí mật của riêng mình cần phải giấu, chà, sao mà bí mật vậy, sao mà khổ công tội nghiệp làm vậy! Mà, so với cái bí mật đó giữa riêng hai đứa tôi, cái bí mật mà ảnh chỉ có quyền ôm một mình cho tới khi xuống lỗ nếu tôi chưa ra lệnh khác, thì cái bí mật mà ảnh có chung với cái hội kia nào có là cái gì, bởi sớm muộn rồi cả thế giới sẽ biết về nó thôi mà, rất có thể là trước khi ảnh với tôi xuống lỗ.

Sở dĩ người ta chọn đặt “đại bản doanh” của dự án này ở Việt Nam là bởi ở các nước khác chả mấy ai nghĩ tới chuyện đó hết, ảnh nói. Cũng giống như là trung tâm chỉ huy của FBI nằm ngay cạnh trại tạm cư của dân tị nạn Syria anh há, tôi nói. Đừng đùa vậy, ảnh nói. Tôi thừa biết là với ảnh đây không phải chuyện đùa chả phải vì sự so sánh Việt Nam với Syria đụng chạm đến tự trọng dân tộc gì đó của ảnh, ảnh là người bước ra ngoài mấy thứ đó từ lâu rồi. Chỉ là ảnh khó chịu bởi sự không chính xác nào đó, to hoặc nhỏ, trong phép so sánh ấy, chắc cũng kiểu như một nhà bác học cau mày khi nghe ai đó khẳng định bằng giọng không cho phép cãi rằng hai với hai là năm, dù kẻ đó là ân nhân cứu mạng ổng hay kẻ thù không đội trời chung đang nắm sinh mạng ổng trong tay thì cũng vậy thôi.

Sự cầm tù tối hậu đối với trí tuệ và tinh thần hiện nay của con người là gì? ảnh nói, hay là hỏi, hay đúng hơn là tự hỏi. Rồi ảnh tự trả lời: Sự phân biệt giữa một bên là khoa học, vật lý như là những thứ chính danh, chân xác, đáng tin, với một bên là cận khoa học hay siêu hình các thứ như là những thứ ngoài rìa, không chính danh, trí trá, không đáng tin. Việc của những người như tụi anh là trả cho cái gọi là cận khoa học hay siêu hình đó cái vị thế chính danh mà nó đáng được có. Cần phải gạt sang một bên một khối lớn trơ ì, gây chướng ngại của ý thức loài người. Ấy, nói ngắn gọn thì chỉ có vậy. Một trong các bạn đồng liêu của ảnh (là chữ của ảnh dùng, nếu là tôi thì tôi nói là bạn cùng nhóm khùng khùng của ảnh), cái nhóm làm khoa học mà cứ giấu giấu giếm giếm như là ăn trộm ấy, tôi có gặp hai ba lần ở nhà ảnh, một tay đen, rất khó đoán là đen châu Phi hay đen Ấn Độ Chà Và, bằng vào kiểu nói tiếng Anh ngọng líu ngọng lô thì có thể khẳng định chắc chắn thằng chả cóc phải Mỹ đen. Một chút điên rồ mà tôi thấy ở ảnh thì cũng có thấp thoáng ở thằng cha này, mà tôi thì xưa nay vẫn hình dung một gã đen thì có thể bị điên vì bất cứ cái gì nhưng một chứng điên kiểu giống như của ảnh thì không. Chậc, có lẽ vì tôi biết về con người còn ít quá thôi. Dĩ nhiên là ở tay đen này cái bệnh điên ấy nó cũng hơi khác: mùi khác, vị khác, độ dày khác, kết cấu khác, chất liệu khác, gần với cái điên của một con thú, chính vì vậy mà càng giống cái điên của một thằng người, chắc là kiểu như cái điên của một con gấu bị người ta nhốt trong chuồng để lấy mật, một ngày kia đột nhiên nó có trí tuệ như con người và ý thức được một cách sâu sắc chưa từng có về phận gấu của mình trong khi đồng thời đầy ắp tính người, kiểu vậy. Thằng chả cao thì không cao lắm nhưng dềnh dàng, to đùng, đúng là như gấu, vừa như gấu vừa như cua, gấu có tướng cua, ít nhứt phải trăm ký, chắc chắn là thuộc cái típ có thể khiến tôi phải thở gấp thiếu điều đứt cuống phổi mà chết, vậy mà có hai lần, khi hắn tới nhà ảnh, hắn với ảnh ngồi đối diện nhau mà câm như hến, không nhúc nhích có tới cả giờ đồng hồ, giống như ngồi thiền, mặc dù nếu đúng là thiền thì tôi chả hiểu nổi nó có liên quan gì tới cái thứ khoa học mà cả hai đang theo đuổi cứ như bị ám, có thể càng thiền thì tâm càng tịnh trí càng sáng như người ta nói chăng, hay đó là một trong những bước tất yếu họ phải làm trong công việc của mình, kiểu như vũ công thì không thể không khởi động chân tay chút chút trước khi ra sàn diễn còn MC dẫn chương trình ca nhạc thì không thể không cười, không tự bắt mình cười ngay cả khi thằng chả hay con nhỏ đó thừa biết cái cười này của mình nó vô nghĩa, rỗng và ngu tới cỡ nào. Hay là như mấy tay sumo trước khi nhảy bổ vào nhau thì kiểu gì cũng phải đi tới đi lui cả tiếng đổng hồ, hết tung muối lên sàn thì lại nhấc hết cẳng này tới cẳng kia lên cao y như chó đái, vỗ mông rồi lại vỗ vỗ bẹ sườn, ba cái trò chuẩn bị và khởi động mệt thấy bà nội kiểu vậy, tôi đồ là mấy thằng cha khoa học gia này cũng có, cái nghi thức tào lao ba láp nào đó, nếu như nó còn bao gồm cả thắp nhang và chay tịnh ba ngày liền, tắm kỹ xức nước hoa trước khi vào phòng thí nghiệm hay ngược lại không được tắm trong ba ngày trước khi vào phòng thí nghiệm thì cũng chả có gì lạ với tôi hết. Nhưng mà thiệt ra mấy cái đó có liên can gì tới tôi đâu chớ. Ảnh có muốn ăn mặc như con gái hay là uống mấy thứ thuốc quái quỷ gì đó cho mọc cánh ra như con dơi thì tôi cũng kệ ảnh, chừng nào ảnh còn là chính ảnh mỗi khi ảnh ở bên tôi và ở trên giường với tôi thì ngoài ra ảnh có làm gì tôi cũng chẳng màng. Điều tôi cần là những mối bận tâm của ảnh dù cho là về cái thứ ôn dịch nào đi nữa thì nó cũng đừng có tước đi của ảnh những giờ phút vui vẻ bên ả đàn bà của ảnh là tôi đây. Tôi sẽ ghét cay ghét đắng ảnh nếu như tôi đang bùng cháy (đấy là mượn chữ dùng của nhỏ bạn tôi còn nếu dùng chữ của chính tôi thì là đang lên cơn rồ) vì một bản nhạc nào đó mà ảnh lại đứng đực ra không chịu bùng cháy hay là rồ lên theo tôi.

Hễ khi nào mình bụp nhau thì quên bà nó hết mấy thứ đó đi, em nói anh bao nhiêu lần rồi. Kiểu đó là em ghét cay ghét đắng, em đã nói bao nhiêu lần rồi? bao nhiêu triệu lần? Nó làm em có cảm tưởng như mình đang làm chuyện đó với một sinh vật dở người dở ma, anh không hiểu hay sao hả? Hay anh chưa bao giờ thèm cất công để hiểu em hết?

Em à, đó là một trong rất ít những điều anh không kiểm soát được, ảnh nói. Công việc của anh gắn bó quá chặt với sự tập trung tối đa về tâm trí, có thể nói là tập trung trọn vẹn, tuyệt đối. Nó giống như là mũi lao có nhiều ngạnh cắm vào trong thịt mình, em hiểu không? Em không thể bảo toàn thịt mình nếu em cứ thế mà giật mạnh cái lao ra.

Xì, nói như anh thì ai chả nói được, tôi nói, dứ tay vào màng tang anh. Như em chẳng hạn, mỗi khi em vẽ bức tranh đang còn dang dở, nó không cắm vào trong trí em hay trong tim em như cái mỏ neo chắc? Anh tưởng nhổ cái mỏ neo đó ra thì dễ hơn, an toàn hơn là nhổ cái mũi lao có ngạnh của anh chắc? Vậy mà em cứ nhổ được ngọt xớt đó! Mỗi lần em muốn cái con nhỏ của em nó sướng là thôi, biến, chả còn vẽ vời tranh triết gì ráo trọi cứ như đời em chưa từng có lấy một giây nào gắn liền với cây cọ, hãy cứ làm sao cho cái con nhỏ của em nó phải giãy đành đạch lên vì sướng cái đã, mọi cái khác tính sau. Vậy là sao, hả? tôi vừa nói vừa luồn tay vào dưới áo anh, rê mấy ngón tay tới chỗ mềm nhất của lườn anh, cong lại để chuẩn bị cho một cú véo long trời lở đất. Việc của anh hệ trọng hơn việc của em hay là anh kém hơn em, hay là anh không thèm em bằng em thèm anh, hả? Nói!

Phần tiếp theo của mẩu thoại này là gì? Còn có thể là gì khác được chớ! Tôi phát mệt vì cứ phải dạy ảnh, dạy hoài dạy hủy, khi nào cần dùng lời còn khi nào chỉ có thể hành động, khi nào thì điều duy nhất nên làm là để cho bản thân mình cả thân thể lẫn tâm trí tan chảy hoàn toàn vào việc mình làm. Toàn bộ con người mình từ trong ra ngoài là một tiếng hét hay tiếng rền rĩ hoan lạc, rồi sau đó khi giây phút đó đã qua thì lời lẽ tự nó sẽ ra đời.

Dĩ nhiên sức mạnh tâm trí là một cái gì rất kinh khủng. Chuyện đó hai đứa tụi tôi đều biết, và tụi tôi bỏ ra khá nhiều giờ bàn luận với nhau về nó. Nói ra chắc có người không tin, nhưng tình thật là ảnh rất hay tham khảo ý kiến tôi. Tôi, cái đứa gần như hoàn toàn đứng ngoài những việc ảnh làm! Tôi, cái đứa chưa bao giờ nói với ảnh một câu nào để ảnh yên tâm rằng tôi có coi cái tham vọng của ảnh, mục đích của đời ảnh là có chút giá trị thực tế nào. Mà có khi ảnh thích như vậy cũng hổng chừng. Chẳng cần tôi phải nói gì hết. Nụ cười mỉm thông cảm của tôi, dăm ba lời nhận xét buông tuồng và giễu cợt của tôi là đủ cho ảnh, cũng như ảnh chả mong gì hơn thế từ toàn bộ giống người. Cũng như tôi thôi, tôi đâu có mấy chờ đợi cái giống người này vồ vập đón chào những thứ tôi làm giống như tụi con nít nhao nhao đòi mấy gói Zinzin hay như các em teen kéo đàn kéo lũ đi coi boyband Hàn Quốc. Cái này thì ảnh với tôi có chung: hai đứa tụi tôi đều chỉ dính một phần nhỏ vào cõi này thôi, trong khi phần lớn hơn thì cứ đòi rướn ra cõi khác, cõi khác rồi lại cõi khác nữa, làm như bao nhiêu cõi trong vũ trụ này cũng không đủ cho tụi tôi. Du hành với vận tốc nhanh hơn ánh sáng chỉ bằng năng lượng của tâm thức chả phải là điều gì quá khó nghĩ ra hay tưởng tượng ra, anh nói. Chỗ khác biệt của tụi anh là, với tụi anh, đó không chỉ là một ý tưởng. Nó đang trở thành một thực tại, một thực tại mới, thực tại khác.

Và rồi khi tụi anh thành công, người ta sẽ không cần phải là lạt ma, thánh nhân, thiền giả, đạo sư hay nhà ngoại cảm gì hết mà vẫn có thể chu du qua bên kia bức tường ánh sáng. Đó sẽ là một khác biệt nữa. Dĩ nhiên phương pháp của tụi anh cũng đòi hỏi ở người ta sự khổ luyện, trì chí và quyết tâm ghê gớm, và cả một sự xả kỷ nhất định nữa, nhưng đó là những gì một người bình thường có thể làm, miễn sao anh ta duy trì cái tâm sáng và lặng lẽ đi đến cùng con đường của mình, anh nói nguyên văn như vậy đó.

Coi bộ mấy anh hổng ham được báo đài tôn lên thành sao siết gì đâu há, tôi nói. Tôi biết đó là vấn đề nghiêm trọng đối với họ, nghiêm trọng đến nỗi tôi không thể nào nhắc tới nó một cách nghiêm trọng được mà hình như họ cũng vậy. Hai ba lần tôi nghe lỏm được họ nói về chuyện một người trong số họ hình như đã “sang được bên kia”, họ dùng chữ vậy đó, tôi đều có cảm tưởng họ nói chậm hơn bình thường một chút, chọn từ cẩn thận, mới nghe thì thấy giọng họ có vẻ vẫn tự nhiên như không, lại còn dùng tiếng lóng, rồi thì pha trò, cười hi hí cười cục cục, đủ hết, nhưng mà nếu lắng nghe kỹ vẫn có thể nắm bắt được cái gì đó căng căng ở dưới tất cả mấy cái đó, giống như anh chồng cứ kể hoài kể hủy những câu chuyện thiệt vui nhộn thiệt hấp dẫn nhằm mục đích làm sao cho tâm trí cô vợ không còn đủ chỗ để hình thành được những câu hỏi cho anh ta mà anh ta sẽ khó trả lời. Người nào đã “sang được bên kia” thì trở thành một thứ gì đó rất đặc biệt, rất khác. Tôi lờ mờ nắm được vậy, còn cụ thể là khác ra sao, đặc biệt ra sao thì ảnh không nói mà tôi cũng không hỏi.

Hỏi nhiều nói lắm để làm cái gì khi mà chính ảnh và bạn ảnh hình như chả bao giờ có đủ khả năng tiếp cận điểm đó bằng đường thẳng mà chỉ toàn đi vòng xung quanh hay là quan sát nó từ một góc xiên; hiểu tường tận những gì họ nói thì cố nhiên là tôi không hiểu rồi, nhưng mà cái kiểu họ tư duy về nó thì quá rõ đối với tôi, cũng như tiếng động cơ của mỗi loại xe gắn máy đều có một hình thù riêng biệt đối với tôi, tỉ như tiếng Babetta thì là từng cục tròn tròn dèn dẹt hơi mềm mềm còn tiếng Harley Davidson thì là từng thỏi bự chảng, dài, cứng ngắc, kiểu vậy. Chà, gì chớ cái chuyện tôi nhìn thấy mỗi một ý tưởng của ảnh hay của bạn bè ảnh đều có một hình dáng độc chiêu chả giống ai thì ảnh biết rõ, chắc một phần vì vậy mà ảnh mặc nhiên coi tôi là kẻ cùng hội cùng thuyền với ảnh và bạn ảnh, cái loại người luôn luôn nhìn ra được một cái gì đó ở trong chỗ “chả có gì”. Dĩ nhiên là về mặt nào đó tôi có thể gọi là cùng hội cùng thuyền với họ, không thì tôi đã chả bao giờ để họ hiện diện trong thế giới của tôi, nhưng mặt khác tôi chả thấy mình cùng hội cùng thuyền với họ mà cũng chả hội chả thuyền với bất cứ ai hết, thiệt vậy đó. Trong một cõi người nơi sự ngu muội, ích kỷ và vô cảm từ lâu đã trở thành chuẩn mực thông thường như thế này thì thử hỏi đào đâu cho ra một kẻ cùng hội cùng thuyền với tôi? Những lúc tôi cho mấy thằng đực nó bụp tôi thì là chuyện khác. Nó là kiểu cùng hội cùng thuyền của những kẻ sinh ra đã mang sẵn cái chứng suốt ngày thèm cùng một thứ, gọi là một lũ bị trời đày theo cùng một cách cũng được. Song những cái gì chỉ một mình tôi thấy thì tôi chả bao giờ nói ngay cả với những kẻ gọi là cùng hội trời đày ấy. Người ta không nghe tôi, người ta nghe mà không hiểu tôi, chả khi nào thực sự cố gắng để hiểu tôi. Họ không hiểu nổi tại sao tôi cứ phải thỉnh thoảng để cho hồn mình sống ở những chốn những cõi vốn không tồn tại ở bất cứ đâu trên thế giới này, họ không có khả năng nghĩ rằng tôi có quyền như thế, tôi không thể không như thế. Thôi thì kệ cha họ. Họ cứ việc cùng sướng với tôi chừng nào tôi cũng muốn vậy, còn khi nào tâm trí tôi tự nó quay về với những giấc mơ hay là những gì đó khó gọi tên của riêng nó thì họ cũng tự biết rằng đã đến lúc tôi rút khỏi họ, rút khỏi thế giới này đặng chuyển sang một thế giới khác, một... một sự sống khác. Rút cục thì trong số tụi họ, Xuân Phong “của tôi” là cái tay tới được gần hơn hết cái ngưỡng cửa nơi tôi thường hay chuyển sang thế giới khác kia rồi lại từ đó quay về, ấy là nếu có thể kêu một chỗ nào đó như vậy là “ngưỡng cửa”. Thì đó, mới phút trước tôi còn vui vẻ vật nhau với người ta và vui vẻ cho người ta xịt vào tôi, phút sau tôi đã chẳng muốn nói năng với ai, chả muốn nhìn thấy ai hết, tôi là hay vậy lắm. Hơn ai hết ảnh là người luôn nắm bắt được những lúc đó, nắm cực chuẩn luôn, và chả làm tôi khó chịu bao giờ. Chỉ một người giống như tôi, có khả năng sống ở nhiều thế giới khác nhau đến độ gần như không có gì chung với nhau, thì mới làm được như vậy thôi.

Salvador Dalí.  Suburbs of the 'paranoiac-critical town' (1935)

Thằng cha da đen chơi thân với anh chàng của tôi, có vẻ thân nhất so với mấy người khác trong nhóm, tên thằng chả là Xa-ết gì đó. Tôi thì khoái gọi chả là Xà Ích. Ha ha. Cái thằng cha Xà Ích đó! Cây hàng của thằng chả bự bành ky luôn! Làm cho cả người mình tét mẹ nó ra nghe roẹt một cái như là tiếng xé lụa… Hì hì, nói dóc tí cho dzui chớ thiệt ra thằng chả có làm gì đâu. Mặc dù nói cho ngay, tôi đâu có lý do gì để tự kìm mình không kể là nhiều lần, nhiều chớ không phải ít à nha, nhiều lần, sau lưng anh chàng của tôi, tôi nhấm nháy với thằng chả, ừa, với Xà Ích đó, cái kiểu sao cho một thằng đực rựa dầu có ngu như bò cũng phải hiểu ngay tức thì ngay tại chỗ miễn thằng chả đúng là đực rựa. Tôi nhấm nháy với chả theo kiểu có thể khiến thằng đực này sẵn sàng cắt cổ thằng đực nọ ngay tức khắc miễn là sau đó hắn được thụt vô giữa hai háng hay giữa hai trái bưởi của tôi. Ừa, đúng vậy đó, mẹ cha nó. Đó là cái nhấm nháy khiến cho Xà Ích dù không muốn hiểu thì vẫn cứ phải hiểu rằng những thằng như Xà Ích tồn tại trên đời chả để làm gì nếu như không có những ả đàn bà như Phúc tôi, và cái pháp của chả với của tôi là hai đứa phải đụ nhau, cũng như trời với đất đụ nhau thì mới có sự sống vậy thôi, hổng có gì sai trái trong chuyện đó hết á. Có điều, cái này tôi nói thiệt, trong đầu tôi chả có ý đồ sẵn nào hết, mắt tôi cứ như là tự nó nháy, thấy thằng chả là nháy, cũng như khi nhìn thấy một cái áo đầm đẹp ơi là đẹp trong siêu thị thì tay mình tự nó giơ ra sờ thôi. Tôi nháy, đúng hơn là mắt tôi nháy với thằng chả, rồi thì tôi chờ xem chuyện gì sẽ xảy ra. Bản thân việc đó cũng thích lắm: chờ xem chuyện gì xảy ra, chờ mà không thể biết chắc chuyện gì sẽ xảy ra. Và có ai biết trong cái việc không thể biết chắc chuyện gì sẽ xảy ra thì cái gì là hấp dẫn nhứt, làm cho mình khoái nhứt không? Là cái việc mình chả đời nào biết trước được nếu chuyện này hay chuyện kia xảy ra thì mình sẽ làm gì, phản ứng kiểu gì. Chẳng hạn như là, nói tỉ dụ, Xà Ích tỏ ra quá hiểu tôi và lại quá nhiệt tình đến nỗi vồ luôn lấy tôi ở dưới bếp trong khi anh chàng của tôi đang ngồi ở nhà trên thì liệu tôi có vớ ngay lấy cái chảo to nhứt quật vô màng tang thằng chả không? Tôi làm sao biết được tôi sẽ làm thế hay không? Nếu tôi biết thì tôi chả còn là tôi mà ngay cả thế giới này có khi cũng không còn là thế giới này nữa rồi. Một thế giới nơi người ta biết được mọi thứ là một thế giới không đáng sống, tôi nhớ có người nói vậy, ai chớ tôi thì tôi nhứt trí. Là vì tôi biết như vậy mà.

@Trần Tiễn Cao Đăng

Thứ Năm, 25 tháng 9, 2025

Trungku và Atưl: Tương phùng tri kỷ (trích từ "Cospolist Nổi Loạn")

 (tiếp theo "Kentaro và tôi: Tháp Đôi Hà Nội")

Phòng làm việc của Atưl - Cospolist Bậc Năm, chỉ huy Khu Δ9 (còn gọi là Cánh Kiến Đen, Black Antwing) thuộc vùng Ngực Rừng - Woodchest) - không khác mấy với phòng làm việc của giám đốc một công ty cỡ vừa vào cuối thế kỷ 20 ở Trái Đất Mẹ. Dường như chẳng có gì chung với chủ nhân (gần như luôn mang kính đen, vòng đeo tai kếch sù gợi nhớ Yul Brynner trong “Quân vương và thiếp”, môi mỏng như sắp nở nụ cười của nhà ảo thuật đại tài coi khinh khán giả), nó như phòng riêng của nhà tu khổ hạnh, của một người khô như ngói và nghiệt ngã như sự chết.

Atưl khinh loại ghế tự chuyển di. Atưl thích tự mình dịch ghế. Và mấy cái ghế ấy, nặng ra trò! Ghế ấy, khách đến đây (trong đó có Borju sếp của Atưl) hiếm người nào xê dịch nổi. Atưl ngồi yên, nhìn khách mướt mồ hôi đánh vật với ghế, bằng cái nhìn lạnh lẽo điềm nhiên. Với vài ba khách hiếm hoi, Atưl hạ cố dịch ghế giùm, dáng điệu hao hao như chủ tịch một tập đoàn Nhật Bản giằng lấy cặp từ tay thuộc hạ khi thấy kẻ này sắp xỉu. Cục chặn giấy trên bàn Atưl làm bằng đá ankorit, to hơn trứng ngỗng, nặng 48,9 ký. Atưl hay để nó trên lòng bàn tay, chậm rãi nâng lên hạ xuống theo những đường uốn lượn như sóng. Đó như là một cách để Atưl theo dõi dòng suy nghĩ của mình, phần nào đó hữu hình hóa nó thành những chuyển dịch hình sin của đá. 

Từ ô cửa sổ duy nhất, rộng và cao xứng với kích cỡ của Atưl, có thể thấy một phần thành phố Gilgamesh 9 bên kia vịnh ngập trong màu cam ửng tím chiều buông. Ở một trong các tòa nhà muôn hình muôn vẻ đó, có căn phòng nơi Atưl chờ thấy Marzenna của mình xuất hiện, một sự đợi chờ vô vọng, vô chung. Ở một tòa nhà khác (chính xác hơn là lúc tòa này khi tòa khác, khó lòng đoán trước), có căn phòng, hoặc khoảnh sân, chiếu nghỉ cầu thang, buồng dụng cụ vệ sinh, hoặc ban công có những chậu cảnh lầm bụi khô héo, nơi Trungku có thể hiện ra bất cứ lúc nào như từ trong không khí, sau khi du hành nhiều vạn cây số, triệu cây số qua những đường hầm chóng mặt của pháp Chuyển Di Tức Thời mà chỉ một số hiếm hoi Cospolist Bậc Bốn trở lên, có Trí lực trên 1800 kubi mới có thể vận dụng mà tránh được nguy cơ tự dẫn mình vào cõi hư vô.

Đang đọc bản tin mới trên màn hình treo trong không khí, một tay vuốt vuốt dái tai, Atưl chợt cựa mình nhìn ra đỉnh tháp Khách sạn Shakazulu vươn tít tắp bên trên thành phố “giống như ảo vọng về hạnh phúc vĩnh hằng treo tít tắp bên trên xú uế và nhỏ mọn của nhân gian”. Ruột Atưl cho biết, đâu đó trong không-thời gian, Chuyển Di Tức Thời vừa mới hoàn thành. Trực cảm làm ruột Atưl cơ hồ thắt lại. Một sự thắt ruột tương tự cũng xuất hiện nếu ở đâu đó vừa xảy ra cái chết bất thường cùng lúc của nhiều sinh thể. Khả năng này đối với Trungku là một thế mạnh, một ‘ân sủng Trời ban’, đối với Atưl là một sự rầy rà. Atưl dùng mắt tắt màn hình, thế rồi, thọc ngón tay to gấp đôi người thường vào lỗ mũi, Atưl ngoáy một cách tập trung và trầm tư. Với một số khách, Atưl ngoáy mũi, với một số khác Atưl gại gại viền mép, với số khác nữa Atưl giựt giựt dái tai hoặc xoa xoa cái bớt màu chàm nhạt ở quai hàm trái. Thấy đối phương bị những động tác đó làm phân tâm, Atưl dần dần nở nụ cười mỏng dính, lạnh băng. Với số ít những người từ đầu chí cuối nhìn thẳng vào Atưl, không loạn động, không đánh mất mình, với chánh niệm tỉnh giác, Atưl cũng mỉm cười, một nụ cười dày hơn, ấm hơn đôi chút. Khác với Atưl, Trungku gần như không bao giờ cười. Với Atưl, chuyện đó giống như thể Trungku sinh ra với hai chân lành lặn về mặt vật lý nhưng đầu Trungku tin chắc một trong hai chân mình bị thọt và hệ quả là một chân thực sự thọt. Thật ra chính Atưl chân thọt tuy không ai biết nguyên nhân, không ai biết lý do tại sao Atưl không thay nó bằng chân lành. Có khi Atưl tập tễnh, có khi không, và đôi người có cơ hội tận mắt thấy đoạn xương chân hơi vẹo đó, mà Atưl trình ra trong khối ảnh ba chiều nhìn như thể chìm trong sương.

Atưl không quay lại khi nghe, từ phía bên phải, cách mươi mét, có tiếng xào xạc  khẽ hao hao như khi một vùng cỏ lau rậm rạp được vẹt ra hai bên một cách khéo léo, điềm tĩnh. Ấy là Tường Chắn đang mở ra cho Trungku. Không phải lần nào Tường Chắn cũng đọc được và nhận ra tần số dao động của sinh trường Trungku. Lần này nó đọc được. Vài lần khác, phải có một tổ hợp tần số thích hợp giữa sinh trường của Atưl và của Trungku thì mới mở được Tường. Có một lần kết cấu của Tường bị phá vỡ do cường độ sinh trường của Trungku tại thời điểm đó quá mạnh. Có khi sự ma sát này với sinh trường của Trungku khiến cho Trường phát ra âm thanh như củi nổ trong lò hoặc nùi giẻ lớn, khô cháy sém. Thường thì đó là khi tâm của Trungku đang động, song cũng có khi đó là bởi sự hiện diện của một sinh trường lạ, hẳn là mang ý đồ xâm nhập, tại thời điểm Trungku tiến vào Tường Chắn. Lần này không có âm thanh đó. Atưl không ngoái lại. Thân tâm định tĩnh, Atưl ghi nhận sinh trường của Trungku đang tiến lại gần. Giống như sự tiến lại gần của một khu rừng ẩm mát tầng tầng cây xanh tươi non, chính giữa là một tảng đá lớn, đen, nóng. Dường như có một khối sét tích tụ và dần thành hình bên trong tảng đá, khối sét nén chặt và được kiểm soát.

Khi Trungku còn cách chừng năm mét Atưl xoay ghế lại đối diện Trungku, bày ra trọn vẹn thân hình hộ pháp vận bộ đồ trắng như tuyết. Màu trắng cơ hồ hơi thâm lại trước sự hiện diện của người kia.

Chào người anh em, Atưl nói.

Chào anh, Trungku nói.

Hai người nhìn nhau.

Ngồi đi, Atưl nói.

Trungku nhìn chiếc ghế thứ hai trong phòng, cạnh vách kính cao, cách Trungku năm mét. Thay vì ra lệnh cho nó dịch chuyển, Trungku bước về phía nó, nhấc lên, đem nó tới vị trí đối diện Atưl chừng hai mét, đặt xuống. Đoạn, đứng nhìn nó một chút, như nhìn con ngựa tinh khôn biết thuận theo từng cử chỉ của mình, Trungku nhẹ nhàng ngồi xuống ghế, nhìn thẳng mắt Atưl.

Sau một lát, cặp môi mỏng của Atưl nở thành nụ cười hao hao như của người cha muốn đùa lần cuối với thằng con trước khi giết nó để không phải thấy nó bị người khác giết. Atưl khẽ nghiêng đầu, như để nhìn cho ra dư ảnh của hàng trăm ngàn cây số hành trình cùng với tất cả những bão từ, gió mặt trời, phóng xạ, vẩn thạch, rác vũ trụ mà bờ má, quai hàm, vành tai, mé đầu của Trungku đã kinh qua. Rốt cuộc Atưl nói:

Mệt không, người anh em?

Atưl không chờ câu trả lời. Trungku im lặng. Atưl nhìn Trungku một chặp, dùng Mắt Bên Trong để đo lường cơn mệt mỏi của Trungku nếu có, mức độ chậm lại của các liên kết nơron trong não Trungku.

Sau một hồi Atưl nói:

Đã bao lâu rồi chúng ta không gặp nhau, Trungku?

Điềm tĩnh, Trungku nhìn sâu vào Atưl.

Ba trăm bảy mươi tám năm, mười một tháng, chín ngày, Trungku nói.

Cậu đã về đâu, Trungku?

Gặp lại anh tôi vui, Atưl, sau một hồi Trungku nói.

Atưl cười khẩy nhìn bạn.

Để tôi dò xem cậu đã ở đâu nhé. Miễn là cậu không chặn tôi.

Tôi không chặn anh.

Không đánh lạc hướng tôi, Atưl nói.

Không đánh lạc hướng anh, Trungku nói.

Không tự làm nhòe mình, Atưl nói.

Không tự làm nhòe mình, Trungku nói, với một nụ cười nhẹ, nụ cười đầu tiên từ đầu đến giờ.

Chúng ta trao đổi với nhau những câu này đã bao nhiêu lần rồi, người anh em? nụ cười và mắt của Trungku nói.

Tôi có thể còn nhìn thấy lại cậu được bao nhiêu lần nữa, Trungku, nếu cậu cứ tiếp tục hành động như thế này? Atưl nói.

Trungku hé miệng, song im lặng. Sau một lát, Trungku nói:

Tim tôi đau, Atưl.

Tôi biết tim cậu đau, Atưl nói, nhẹ nhàng.

Sau một lát, Atưl tiếp:

Cậu càng về những thời đó, tim cậu càng đau, Trungku.

Anh không về những thời đó như tôi nhưng không phải vì vậy mà tim anh không đau, Trungku nói.

Tim tôi đã đủ đau vì thời của chúng ta đây rồi. Nó không cần thêm đau, nó cần thêm rắn và mạnh.

Anh chưa đủ rắn và mạnh sao?

Với một đồng sự như cậu thì không, Trungku.

Việc tôi làm liên lụy tới anh. Tôi không muốn như vậy.

Atưl nhìn Trungku một hồi, cười khẩy.

Uống gì, người anh em?

Sẽ đến cái ngày anh phải trả lời trước mặt Borju về tôi. Không dễ dàng cho anh đâu, Atưl.

Uống gì, Trungku?

Trungku nhìn sâu vào mắt Atưl.

Có lẽ chúng ta không còn nhiều thời gian bên nhau, người anh em.

Cậu tin vậy sao?

Ở thế giới này thì không. Vì những gì tôi làm… sẽ làm.

Cái gì đến, sẽ đến. Uống gì, Trungku?

Nước. Tôi cần nước.

Ờ. Dĩ nhiên, Atưl nói, đứng dậy đi tới tủ âm tường, rót nước, mang lại bàn đặt trước mặt Trungku.

Trungku nhìn một hồi chiếc ly bằng gốm đựng nước chưng cất, cầm lấy, chậm rãi uống cạn. Không nghe tiếng nước chảy trong vòm miệng và cuống họng Trungku, như thể nước này ngấm thẳng vào thịt của đất.

Nữa không? nhìn ly rỗng, Atưl nói.

Trungku nhìn Atưl, thoáng cười. Có cái gì tồi tội trong nụ cười này, giống nụ cười của đứa trẻ mồ côi thêm một lần nữa nghe người ta hỏi về mẹ nó.

Không biết nước của cả thế giới có đủ để dập cơn khát của tôi không, Atưl à.

Nghe đoạn, Atưl nhìn Trungku giây lát. Một tia sáng khác lạ lấp lán trong mắt Atưl, mang khí lạnh của tinh thể rắn, của kim loại.

Cậu có biết câu cậu vừa nói nghe giống như của một người muốn thu cả thế giới cho vào túi mình không? 

Điềm tĩnh, Trungku nhìn Atưl.

Điều đó tôi biết, Atưl. Và tôi biết anh đang nghĩ gì. Bản thân tôi có thể trở thành chính thứ mà tôi muốn loại trừ.

Atưl nhìn đăm đăm vào mắt Trungku. Chậm rãi, Atưl cầm ly không đi tới tủ âm tường, rót đầy ly, đem lại bàn. Đặt ly nước trước mặt Trungku, Atưl nói:

Mọi thứ ổn phải không, người anh em?

Trungku im lặng nhìn ly nước.

Ổn đối với anh, nếu anh nghĩ vậy, Atưl.

Ok. Thế giới này là quả trứng mà ta xòe tay ráng giữ cho không rớt xuống bể toang giữa khi đang đứng trên boong con tàu tròng trành trồi hụp như điên giữa bão dữ. Quả trứng đó là cái người ta vẫn gọi là bình an trật tự xã hội. Đến giờ chúng ta chưa làm trứng rơi trứng bể, Trungku. Cố nhiên chúng ta chả mong gì hơn là bão giông ấy hãy dứt đi, biến đi càng sớm càng tốt, nhưng mà cậu cũng biết, hạng bọt bèo như chúng ta sao có thể ra lệnh cho bão được. Việc của chúng ta, phận của chúng ta là làm xiếc với quả trứng bất chấp giông bão. Chấp nhận cuộc chơi, một cách tận tụy và kiêu hãnh, dù đôi khi muốn phát điên. Chúng ta làm việc đó tốt. Cậu làm việc đó tốt.

Có một quãng lặng ngắn trước khi Trungku nói.

Khi nhìn ra xa hơn, tôi không thấy mình làm tốt nữa.

Việc của chúng ta là chỉ nhìn ra xa khi cần thiết. Cậu nhìn ra xa hơi quá nhiều.

Trungku lặng. Và, khi Trungku cất tiếng, có cảm tưởng như cùng lúc, ở đâu đó trong không-thời gian, có một quả xakê chín rơi xuống nền gạch ướt sương.

Anh có muốn biết chuyến trở về gần nhất của tôi là như thế nào không?

Có. Nói đi.

Trungku nhìn Atưl một lát, như thể tì vào người kia làm chỗ dựa cho lời có thể thành hình.

Tôi trở về ngôi nhà có vợ tôi, người tôi yêu. Giữa khuya. Tôi đi nhẹ, sợ làm nàng thức giấc. Tôi về không báo trước, nên nàng không thức đợi tôi.

Trungku lặng.

Atưl (giọng châm biếm):

Từ vườn khuya bước về

Bàn chân ai rất nhẹ

Tựa hồn những năm xưa.

Lại là cái xứ của tay nhạc sĩ đó chớ gì.

Phải. Khi ông ấy còn sống. Những năm đầu sau sự kiện ngày 30 tháng Tư.

Cái thời chả dễ dàng gì.

Phải.

Tiếp đi. Cậu đi nhẹ, sợ làm nàng thức giấc. Nghĩa tình thật tuyệt. Rồi sao nữa?

Tôi ngồi ngoài hiên đợi sáng.

Không ngủ?

Có. Ngủ gục chút rồi sực tỉnh, vài lần. Gần sáng tôi nằm xuống, lấy ba lô làm gối, ngủ như chưa từng được ngủ.

Sáng ra thì sao?

Tôi không nán lại đến sáng. Gà gáy lần thứ hai, tôi rời khỏi thân anh ta, để anh ta và vợ anh ta lại đó, quay về đây, gặp anh.

Tại sao không nán lại lâu hơn? Đã cất công đi xa như thế.

Trungku lặng một lát.

Tôi đã thấy cô ấy chết như thế nào.

Cậu đang nói tới tôi nào? Trungku đang ngồi trước mặt tôi đây hay là cái gã ở thế kỷ 20 có hân hạnh được cậu mượn thân?

Cảnh đó anh ta không thấy. Tôi thấy. Nhưng anh ta sẽ biết. Tôi rút lui để anh ta có thể một mình nhận trọn cái trái đó, cả ngọt lẫn đắng.

Liệu một mình thằng cha có gánh nổi không? Nhiều lần trước cậu nán lại lâu hơn. Có cậu ở đó, tấm linh hồn mong manh của mấy kẻ đó may ra không bị suy sụp, họ không tự tử, không hóa điên, không giết người hàng loạt, có lần cậu nói với tôi thế, hả. Nghĩa cử đẹp phết, Trungku. Chỉ là không thuộc phạm vi nhiệm vụ của Cospolist.

Trungku im lặng.

Tôi gặp Adam Justemann ở đó, Trungku nói.

Atưl chu miệng như sắp huýt sáo.

Vậy sao.

Nhìn sâu vào mắt Atưl, Trungku nói, sau một chặp im lặng:

Người con gái ngồi mơ thanh bình

Yêu quê hương như đã yêu mình

Là cô ấy đó. Adam Justemann là một trong những người giết cô ấy.

À. Không chỉ một.

Một quãng lặng nữa trôi qua trước khi Trungku nói tiếp.

Hiếp và giết cô ấy.

Tuyệt. Rồi sao nữa?

Trungku lặng.

Tôi chỉ mới phân lập được khoảng 40 phần trăm dư chấn của vụ này trong không-thời gian gian. Một mẩu của nó có thể sẽ bùng ra sau đây hai tiếng cách đây từ một ngàn đến một ngàn ba trăm năm mươi cây số theo hướng tây - tây bắc. Tôi đã báo cho mấy người ở đó.

Tôi thấy trong mắt cậu vết thương trong tim cậu, sau một thoáng lặng Atưl nói.

Anh cũng có vết thương trong tim anh, Atưl.

Atưl không tỏ vẻ gì là có nghe thấy câu đó.

Tôi nói gì với cậu ngay từ đầu, cậu nhớ chứ?

Anh nói rằng tôi không thích hợp để làm Cospolist.

Trungku cười nhẹ.

Tôi làm Cospolist được hơn sáu mươi năm rồi, Atưl.

Phải. Và trong ngần ấy năm cậu cười được bao nhiêu lần?

Đó không phải việc của anh.

Bảo đảm rằng thần kinh cậu luôn trong tầm kiểm soát là việc của tôi.

Một thoáng lặng.

Thần kinh tôi luôn trong tầm kiểm soát, vì tôi có việc phải làm, Trungku nói.

Cậu chỉ có chừng đó để nói với tôi hay sao?

Trungku im. Sau đó, giọng và thần khí mềm ra, Trungku nói:

Sẽ đến lúc tôi nương cậy vào anh. Tôi rồi sẽ có lúc cần tới tình yêu thương của anh, Atưl.

Cậu định làm gì? Atưl nói, giọng dường như đanh hơn bình thường, dường như không.

Trungku chợt ngoái đầu về một hướng, giống như người nghe gió thổi mạnh và nghĩ tới những cây non mình trồng đang bắt đầu lớn ở trong vườn.

Cô ấy đang nuôi con mười tháng tuổi, Atưl.

Đứa nhỏ thì sao? sau một quãng lặng Atưl nói.

Trungku ngoái lại, và Atưl thấy trong mắt bạn cái ánh sáng tuyền đen mà Atưl thường thấy ở những người nhất quyết tiến dần vào sự chết.

Chúng giết, Trungku nói. Để yên nó thì nó khóc nó la, bực mình.

Atưl im lặng.

Tôi sẽ không ngừng lại đâu, Trungku nói. (Ngừng một chút, bỗng mỉm một nụ cười lạ lùng.) Với lại, cuộc chơi này kể cũng thú mà, Atưl.

Ha! Phải. Thú. Phải có cái gì đó thú trong công việc chúng ta làm để chúng ta không nổi điên lên. Hẳn rồi. Đương nhiên rồi, người anh em.

Trungku cầm ly lên, ngắm nghía một hồi, đoạn giang thẳng tay ném vào bức tường trước mặt. Cái ly chìm nghỉm vào tường và biến mất vô thanh như chìm vào một vùng sương.

Adam Justemann là con thú điên ngoại hạng mà tôi theo sát và nghênh chiến với niềm hứng thú ngoại hạng và điều này hắn biết rõ cũng như tôi, Trungku nói. Phải, cuộc chơi này lớn, cuộc chơi này thú, và tôi không từ bỏ nó đâu, Atưl. Với một con cá sộp như y, mà đến cả mẩu cứt són ra cũng đấu giá được hàng triệu đô, anh không thể muốn dừng là dừng. Cũng như mối tình lớn của đời anh thôi, Atưl. Anh không thể muốn dừng là dừng.

Atưl như không nghe thấy câu đó.

ATƯL: Tại sao cậu lại mạnh đến như vậy, Trungku? Không cần thiết. Ha. Kể cũng tức cười rằng tôi là cấp trên của cậu. Đáng lẽ ngược lại mới đúng, nhưng tôi vẫn cứ là kẻ phải kìm giữ cậu.

TRUNGKU:

“Một ngày về không / hai tay quy hàng”. Nhiều thế kỷ trước, Trịnh Công Sơn (người mà anh luôn nhắc bằng một cái cười khẩy, Atưl) viết vậy trong một bài hát. Nó là về con người. Nó là về tôi bởi tôi là con người. Sẽ có ngày tôi về không, quy hàng, chẳng để anh phải tốn quá nhiều sức. Hiện thời chưa phải lúc đó, nên anh sẽ tiếp tục phải lên bờ xuống ruộng vì tôi. Tôi rất tiếc, người anh em.

Giờ cậu đi đâu?

Một cơ nhỏ trên má Trungku thoáng động, như thể một mô mềm bên trong Trungku bị lưỡi dao lam vụt khía qua.

Tôi muốn gặp Natai, Trungku nói. Nàng không để tôi gặp đâu, anh biết mà.

Rồi sao?

Trungku nhìn ra đâu đó bên kia vách.

Tôi sẽ quay lại đó. Đó là nơi tôi phải trở về. (lặng) Hiếm có thời nào và nơi nào khác mà con người phải trải qua nhiều thống khổ đến như vậy, có nhiều vấn nạn nhân sinh đến như vậy.

Trungku ngừng, nhìn bạn.

Tôi sẽ về đó lại. Anh có thể gặp tôi ở đó, Atưl.

Tôi có cần nói cậu hay tôi muốn đi đâu, muốn làm gì không nhỉ.

Được thôi, Trungku nói, cười nhẹ. Anh có thể về đó gặp tôi mà tôi không biết. Anh có thể xuất hiện như là người con gái tôi yêu bằng một tình yêu sét đánh, ân nhân của tôi, tay nhà báo lẵng nhẵng quấy rầy tôi hoặc bà già hơi dị dị mà tôi sơ ý hích vào khi chen giữa lối đông. Kiểu của anh là vậy, Atưl. Không biết rồi ra tôi có nhận ra anh không. Mong là tôi sẽ không gây tổn thương cho anh.

Tôi có thể đến thăm cậu như là một con ruồi mà cậu muốn đập chết, Atưl nói, cười nhạt. Hoặc là người đàn bà chẳng lấy gì làm đẹp nhưng cậu mới gặp lần đầu là lập tức thèm phát điên lên, một cơn thèm quái gở chả khác gì bỗng dưng cậu thèm khát đâm đầu xuống vực. Nhưng mà chẳng phải vực sâu chính là cái chỗ cậu luôn luôn đâm đầu xuống hay sao, dù đó là người đàn bà cậu yêu hay là việc cậu muốn làm? Tôi biết nói điều này ra vô ích nhưng tôi vẫn nói: dù cậu đang định làm gì đi nữa, hãy nghĩ một trăm lần. Tôi bất lực với cậu không có nghĩa là Cospol bất lực với cậu, HỌ bất lực với cậu. Họ sẽ cho cậu biết thật ra cậu làm được cái gì.

Trungku nhìn Atưl một chặp, đầy thân ái và dịu dàng.

Cám ơn anh đã nói với tôi như vậy, Atưl. Về phần mình, anh có thể làm gì với tôi thì hãy làm cho bằng hết nhé. Tôi rất tiếc nếu anh và mọi người sẽ còn vất vả nhiều vì tôi.

Ngừng một chút, ngoảnh sang hướng khác, rồi lại nhìn Atưl, Trungku nói:

Thế gian buồn thật, người anh em.

Ha! Atưl bật cười thành tiếng. Cậu có biết rằng tôi rất muốn đánh gãy răng cậu không, Trungku? Vì cậu nói đúng. Người ta biết vậy đã nhiều ngàn năm nay vậy mà cậu thốt ra như thể mãi đến giờ cậu mới biết. Quỷ tha ma bắt cậu, Trungku.

Tôi biết mình đáng ăn đấm, bị một người như anh cho ăn đấm, Atưl. Nhưng tôi sẽ làm việc phải làm. Ít nhất là một vài cái trong những cái đau như thế phải chấm dứt. Bằng cách nào đó.

Cậu biết rõ có những việc gì cậu không thể làm. Cậu không phải Chúa Trời.

Dĩ nhiên tôi không phải Chúa Trời. Tôi chỉ làm hết những gì làm được trong khuôn khổ phận người thôi.

Trungku ngừng, như chợt nhận ra mình đang chìm vào một vùng sương chỉ một mình Trungku thấy.

Anh biết rõ như tôi rằng gia tộc Justemann nằm ở vị thế nào. Họ cao hơn Cospol.

ATƯL (lạnh): Chuyện đó con nít cũng biết. Chúng ta làm những gì Cospol cho phép chúng ta làm, vậy là đủ để không hổ thẹn làm người rồi, Trungku.

Một quãng lặng.

TRUNGKU: Tôi hổ thẹn bởi loài người không thể làm gì được gia tộc Justemann.

ATƯL: Cậu có nhớ trong ‘Bhagavad Gita’ Krishna nói câu gì khét tiếng nhất không?

TRUNGKU: “Ta là Kẻ Hủy Diệt Các Thế Giới.”

ATƯL: Cậu có phải Krishna không?

TRUNGKU: Tôi chỉ muốn hủy diệt một trong nhiều sự ác lớn thôi, Atưl.

ATƯL: (sau một thoáng lặng) Cậu có đủ phẩm cách để tự mình quyết định về chuyện đó sao, Trungku?

TRUNGKU: (từ từ mỉm nụ cười là lạ) Anh không thấy mình đặt câu hỏi thừa hay sao, Atưl? (lặng) Có phẩm cách hay không, là dựa vào tiêu chí và định nghĩa của ai? Nếu tôi không phải Chúa Trời, thì ai đặt định ra tiêu chí và định nghĩa kia cũng không phải Chúa Trời. Nếu là Chúa Trời, có lẽ tôi sẽ lắng nghe. Một mình ngài thôi.

Tôi phải làm, Atưl. Dù thế giới ngoài kia sẽ nói gì làm gì đi chăng nữa.

(lặng)

Lúc này tôi chỉ bận tâm mình có đủ phẩm cách tinh thần để gặp Natai một lần nữa hay không thôi.

ATƯL: Cậu thành thực nghĩ rằng cậu làm việc đó thì cơ hội gặp Natai sẽ nhiều hơn một chút hay sao? Đầu cậu có còn đó không, Trungku?

Trungku nhìn Atưl một lát, mắt có vẻ đầy nước, hình như không. Thế rồi, không nói một lời, thân thể Trungku bắt đầu nhạt dần, mờ dần cho đến khi biến hẳn vào không trung. Atưl điềm nhiên nhìn cảnh đó như nhìn một vạt nắng trên tường dần tắt. Ngay từ đầu Atưl đã ngờ ngợ rằng trước mặt mình không phải Trungku mà là phóng ảnh của Trungku. Tạo ra một phóng ảnh của bản thân mình với mật độ vật chất viên mãn đến mức ngay cả Atưl cũng khó lòng phân định rõ ràng, đó là việc chỉ mình Trungku làm được thôi.

Chậm rãi đưa tay ngoáy mũi, Atưl nói:

Vậy là cậu đang ở đâu, Trungku?

Anh có thể tìm ra tôi mà, có tiếng Trungku nói.

Chậm rãi, Atưl ngả người vào ghế.

Cố nhiên tôi sẽ tìm ra cậu, Trungku. Hai nguyên tử ở hai đầu vũ trụ cũng có thể nhận ra nhau mà.

Giọng Trungku nói:

Tôi sẽ quay về căn nhà đó, gặp cô ấy. Tôi muốn một lần ru cô ấy ngủ. Cùng với anh ta, chồng cô ấy, ru cô ấy ngủ. Cô ấy không còn sống lâu nữa, Atưl.

(Ngừng một chút.)

Những việc khác ở đây, tôi đã làm tròn cả rồi phải không, Atưl? Nếu đúng vậy, hãy để tôi làm tròn việc nhỏ này cho người đàn bà đã một lần chờ tôi về.

Sau một hồi lặng Atưl nói, giọng rền như chiếc chuông lớn vừa bất thần bị rạn, một đường rạn duy nhất mảnh như sợi chỉ:

Chúng tôi sẽ tìm ra cậu và ngăn cậu lại. Đừng quá tin vào bản thân, Trungku.

Sau đó là một hồi lặng dài, càng thêm yên lặng bởi âm thanh duy nhất là tiếng gió lùa qua rặng cây ô liu ở một nơi mà Atưl thỉnh thoảng muốn tìm về nghỉ ngơi chốc lát. Gió lùa rặng cây và sự im lặng làm tâm trí Atưl dần dần dịu lại. Đến một lúc bắt đầu có tiếng mưa, ban đầu rất khẽ, về sau to lên đôi chút. Lẫn trong tiếng mưa, tròn, mềm, trong trẻo, lại đến trong trung khu thần kinh của Atưl giọng của Trungku.

Bài hát này của người Nga, anh có lần nghe cùng tôi, chắc anh đã quên. Nó là về tôi đó.

 

Mùa xuân đến, nào có phải cho tôi

Sông Đông tràn bờ, nào có phải cho tôi

Tim thiếu nữ rộn ràng

Khấp khởi yêu đương, nào có phải cho tôi

Vườn tược nở hoa, nào có phải cho tôi

Rừng trong lũng nở hoa

Họa mi hót đón xuân, nào có phải cho tôi

Tựa kim cương dòng suối thầm thì

Ở đó có nàng con gái mày đen nhanh nhánh

Nàng lớn lên, nào có phải cho tôi.

Dành cho tôi là mẩu đạn chì

Cắm vào thân tôi trắng trẻo.

Lệ đắng tuôn.

Đó, cuộc đời dành để cho tôi.

'Secrets of the Earth' - Ania Tomicka