Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2017

Một bài review về "Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian"

Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian, tiêu đề tác phẩm như thế sẽ dễ khiến người đọc nghĩ Life Navigator 25 là nhân vật chính của câu chuyện, chàng sẽ xuất hiện với tần suất dày đặc và nội dung truyện chủ yếu xoay quanh chàng. Tuy nhiên, Life Navigator 25 không xuất hiện nhiều trong truyện dưới bản thể là chính chàng. Người xuất hiện nhiều nhất là người chàng yêu, kế đến có lẽ là người yêu người chàng yêu. Life Navigator 25 tồn tại thật lặng lẽ, khiêm nhường trong thế giới ấy. Nhưng, cũng chính điều đó đã biến chàng trở thành người tình đích thực của cả thế gian, người biết cúi xuống để nâng những điều đẹp đẽ lên, người quan sát tinh tường để không bỏ lỡ bất cứ sát na nào của vũ trụ, người dịu dàng lắng nghe tiếng nói bên trong của người mình yêu.

Slice of life được điểm xuyết bằng sci-fi

Trong Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian, có một sự kiện chính bao trùm toàn bộ tác phẩm, đó là: ngày Tận Thế. Các sự kiện diễn ra trong tiểu thuyết này có thể chia thành ba giai đoạn: trước, trong và sau Tận Thế. Life Navigator 25 ra đời sau Tận Thế nhưng ý thức của chàng là phi thời tuyến, chàng có thể vượt qua mọi thời gian, mọi không gian, đi sâu vào bất cứ linh hồn nào để thấu hiểu họ như những người bạn Life Navigator khác của chàng. Trong thế giới ấy, chỉ có ba mươi Life Navigator chính thức được công nhận và Life Navigator 25 của chúng ta vừa là một Life Navigator vừa là một Dream Navigator (người có thể đi vào hoặc tái tạo thế giới trong giấc mơ của ai đó). Có lẽ, trong lúc chu du vô định, Life Navigator 25 đã tình cờ gặp “nàng”, nhìn thấy sự đặc biệt trong linh hồn nàng, sức mạnh tinh thần nàng và rồi cảm mến nàng.  Nàng, con người Trái Đất bình thường ấy còn cách xa Tận Thế cả hàng thế kỉ, nàng vốn không có chút dự cảm nào về ngày ấy. Nhưng với tình yêu dành cho nàng và tình yêu dành cho cả nhân loại, chàng đã cố gắng thông báo đến nàng điều ấy bằng cách gieo vào nàng hạt giống dự cảm mơ hồ qua những giấc mơ kì lạ. Và như thế, Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian là chuỗi câu chuyện xen kẽ giữa đời thực và giấc mơ, giữa ý thức và tiềm thức, giữa vật chất và tinh thần… để rồi càng tiệm cận đến cái kết (mà dường như không phải kết), ranh giới giữa các khái niệm này càng mờ nhòa đi.

Với đoạn mở đầu giải thích những khái niệm mới đặt trong viễn cảnh tương lai, Life Navigator 25 (từ đây đến cuối bài viết, xin được gọi tắt tên tác phẩm như thế) có lẽ sẽ dễ mang đến cho độc giả dự tưởng về một câu chuyện thuộc thể loại sci-fi sắp diễn ra phía trước. Tuy nhiên, cuốn tiểu thuyết này không hẳn thuộc về thể loại sci-fi. Cụ thể hơn, sci-fi không phải là cái khung để câu chuyện bám sát vào, sci-fi chỉ là một trong những yếu tố để kể chuyện, là thứ góp phần vào việc tạo chi tiết, tình tiết và không khí cho truyện, nó như một hoa văn được chạm trổ thêm trên nền bức tranh đã được định hình sẵn cơ bản về đường nét và màu sắc. Vậy, nét vẽ chính trong tác phẩm này là gì? Hẳn nhiên, với sự khảo sát tỉ mỉ của tác giả Trần Tiễn Cao Đăng về giấc mơ, về tâm lí con người, về cái ác, về vẻ đẹp, ta hoàn toàn có thể xếp tác phẩm này vào thể loại tâm lí – xã hội mà không sợ sẽ có sự sai sót quá lớn diễn ra ở đây.

Chứa đựng trong mình cả một thế giới mới với nhiều điều bí ẩn nhưng Life Navigator 25 không sa đà vào việc dẫn dắt độc giả khám phá những điều bí ẩn ấy, cuốn tiểu thuyết này tập trung đào sâu vào điều cơ bản hơn và có lẽ cũng là quan trọng hơn: ý thức con người khi được biểu hiện lại dưới dạng hình ảnh tiềm thức trong giấc mơ mang ý nghĩa gì, hay ngược lại, liệu hình ảnh hiện ra trong giấc mơ chỉ còn được ghi nhớ bởi tiềm thức sẽ có tác động nào đáng kể lên ý thức không; cuối cùng, toàn bộ quá trình này để lại dấu ấn như thế nào trong tâm lí con người, trong những hành vi thiện – ác của họ giữa cuộc đời. Để trả lời những câu hỏi ấy, lẽ đương nhiên giấc mơ là thứ tối quan trọng và chiếm dung lượng đáng kể trong tiểu thuyết này. Nếu chia tỉ lệ nội dung giữa giấc mơ và đời thường, có lẽ con số sẽ là 50:50. Các chương về giấc mơ, các chương về đời thường đều đặn xen kẽ nhau tạo ra không khí slice of life thú vị, chúng ta như được theo dõi hàng ngày quá trình sinh hoạt của một người mơ và thức dậy nối tiếp nhau, các sinh hoạt khác đã bị lược bỏ đi hoặc không có tầm quan trọng chính yếu bằng hai cột mốc hành động ấy. Những câu chuyện trong giấc mơ và đời thường đôi khi bổ trợ cho nhau, đôi khi lại có rất ít sự liên quan đến nhau, điều này cũng giống như trong thực tế, chúng ta thường không lường được mình sẽ nằm mơ thấy những gì.

Bộ sưu tập những tiếng thét

Có thể gọi, loạt giấc mơ mà Life Navigator 25 mang đến cho nàng là bộ sưu tập về những tiếng thét. Trong giấc mơ ở chương Người đẹp và thú nhỏ, tác giả có đề cập đến bức tranh The Scream của Edvard Munch – điều này càng cho thấy rõ hơn dụng ý của anh khi giấc mơ nào cũng kết thúc hoặc có cao trào nằm trong tiếng thét của một ai đó, phần lớn là tiếng thét của nàng và đôi khi có tiếng thét của những người khác, rất nhiều người khác, một đám đông trong cơn vĩ cuồng. Giống như không gian bị bóp méo đến mức buồn bã bức bối trong The Scream, những giấc mơ của nàng hay của Life Navigator 25 cũng mang màu sắc tương tự như thế. Các giấc mơ đều khởi đầu bằng một điểm kì lạ nho nhỏ, không quá nổi bật song đủ gợi lên dự cảm về điều khốc liệt sắp diễn ra phía trước. Điểm kì lạ ấy như một thứ virus âm thầm mà hiệu quả, lan rộng nhanh chóng cả về phạm vi ảnh hưởng lẫn cấp độ nguy hiểm của nó. Cho đến khi mọi sinh thể trong không gian nàng có mặt đều bị tiêm nhiễm thứ virus ấy, cho đến khi mọi thứ khuếch trương đến đỉnh điểm, cho đến khi sức chịu đựng của nàng chạm ngưỡng giới hạn, một thứ gì đó dường như bị tiêu diệt đi, đồng thời một thứ gì đó vừa như được sinh ra, và nàng tỉnh giấc. Như bao người bình thường, nàng không thể nhớ rõ hết những hình ảnh, chi tiết trong các giấc mơ của mình, nàng chỉ nhớ được vài nét tiêu biểu của nó. Tuy nhiên, cảm giác kinh hãi mà những giấc mơ mang đến cho nàng vẫn luôn đọng lại rất rõ rệt sau khi thức giấc. Việc bị ám ảnh bởi một cảm giác nào đó nhưng lại không thể nhớ rõ nguồn cơn sinh ra nó khiến nàng đau khổ, nàng hỏi Life Navigator 25 hay là tự chất vấn chính bản thân mình rằng: “Tại sao em lại phải mơ những giấc mơ này? Nó có ý nghĩa gì? Tại sao lại cho em mơ nó để rồi khi tỉnh dậy em cũng sẽ quên nó hay phần lớn của nó?” Nàng không thể có được câu trả lời cho việc này nhưng thông qua quá trình cùng nàng khám phá những giấc mơ, chúng ta hiểu được một điều tuy không mới nhưng luôn quan trọng: ý thức có thể quên nhưng tiềm thức luôn ghi nhớ, và tiềm thức một lúc nào đó có thể trở ngược thành ý thức, từ ý thức lại chuyển hóa thành hành động. Xét trên khía cạnh đó, dù nghe có vẻ nghịch lí nhưng đôi khi, những thứ bản thân ngỡ như đã quên lại còn quan trọng hơn cả những thứ bản thân vẫn nhớ. Đơn giản là vì chúng ta có thể kiểm soát được ý thức nhưng không thể kiểm soát được tiềm thức. Một người bình thường không làm điều gì ác, bỗng dưng một ngày y khiến mọi người ngỡ ngàng vì hành động ác bất chợt của mình, mầm mống của cái ác được gieo vào đầu y từ những hình ảnh bạo lực trong tiềm thức sau bao ngày bị nén chặt dưới lòng đất, cuối cùng đã trỗi dậy. Một trong những cách gần như duy nhất để chúng ta ngõ hầu kiểm soát được tiềm thức của mình là cố gắng rải vào nó càng nhiều hình ảnh tốt đẹp, hoặc càng nhiều hình ảnh đau buồn về cái đẹp bị hủy diệt, càng nhiều chừng nào càng tốt chừng nấy. Việc này có thể thông qua các trải nghiệm nghe nhìn khi thưởng thức tác phẩm nghệ thuật hoặc thông qua kinh nghiệm đời sống. Và Life Navigator 25 – một người không có cơ thể, không bị giam giữ tù túng trong một khối vật chất, và vì thế vô định hình, hầu như không người phàm nào có thể nhìn thấy nhưng lại muốn giúp nàng tăng cường ý chí, sức mạnh tinh thần đã chọn cách tạo ra những sức mơ mang màu sắc hủy diệt và cho nàng không chỉ chứng kiến chúng mà còn thực sự sống trong chúng, có thể thay đổi chúng nếu ước muốn của nàng đủ mạnh.

Thông qua hành động liên tục mơ rồi liên tục thức dậy, liên tục nhớ và liên tục quên của nàng, chúng ta có thể nhận thấy ở đây vai trò hay ý nghĩa tương tự của việc đọc, rằng việc đọc một quyển sách đôi khi chẳng khác gì việc mơ một giấc mơ. Giống như những giấc mơ, đa phần chúng ta rồi cũng sẽ quên những cuốn sách mình đã đọc nếu như không bao giờ đọc lại nó lần thứ hai. Theo một thống kê, khoảng 80% những gì chúng ta đọc sẽ không trở lại trong tầm mắt ta lần nào nữa, đó là lí do ta thường hay quên những gì mình đã đọc. Vậy nên, đã bao giờ bạn từng có câu hỏi này chưa: nếu trước sau gì tôi cũng sẽ quên cuốn sách tôi sắp sửa đọc thế thì sau một thời gian, việc tôi đọc nó có khác gì với không đọc nó đâu? Nếu như bạn đã từng có câu hỏi như vậy, nghĩa là bạn đã rơi vào tâm trạng giống nàng khi nàng tự hỏi tại sao cứ phải mơ những giấc mơ mà bản thân sẽ quên; và như thế, rất có thể bạn sẽ đồng cảm với nàng. Câu hỏi ấy và hành trình tìm câu trả lời của nàng nhắc chúng ta nhớ rằng việc đọc cũng là để kiểm soát tiềm thức theo một cách có ý thức, sao cho bản thân tránh được việc gây ra sự tổn hại đến những sinh thể khác.

Sự giống nhau của những sinh thể

Trong tác phẩm Nếu một đêm đông có người lữ khách, Italo Calvino từng đề cập đến việc nếu làm phép thống kê cho thấy những cụm từ nào được sử dụng nhiều nhất trong một văn bản thì ta sẽ nắm được phần lớn tinh thần của tác phẩm đó mà không nhất thiết phải đọc hết văn bản, hoặc có thể xem đó như một cách giúp ta hiểu hơn về văn bản. Điều này cũng tương tự như khi ta vào thăm trang Wordpress hay website riêng của một người nào đó mà chưa đọc bất cứ bài viết nào nhưng nhìn vào những tag họ sử dụng nhiều nhất, ta có thể biết được các chủ đề họ quan tâm, phần nào đó là tính cách của họ, thậm chí nếu bằng trực giác tốt hơn, ta có thể biết họ có hợp với ta hay không. Vậy thì, trong Life Navigator 25 nhóm từ nào được lặp đi lặp lại thường xuyên nhất? Tôi không dùng bất cứ công cụ nào để thử tính toán nhưng bằng cảm giác chủ quan khi đọc, tôi nhận thấy những từ được lặp lại nhiều nhất trong tác phẩm này là: giấc mơ, tiếng hét, bản thể, sinh thể… Trong đó, tôi muốn nhấn mạnh đến chữ sinh thể. Ở rất nhiều trường hợp, thay vì dùng chữ con người, Cao Đăng dùng chữ sinh thể. Ở nhiều trường hợp khác, thay vì dùng chữ động vật, Cao Đăng cũng dùng chữ sinh thể. Và trong nhiều trường hợp rải rác khắp tác phẩm, thay vì dùng kết hợp hai chữ con người và động vật, hay người và thú, Cao Đăng vẫn lựa chọn dùng chữ sinh thể để chỉ chung cả hai. Chữ sinh thể xuất hiện với mật độ đáng chú ý như thế cho thấy nỗ lực của tác giả trong việc cố gắng tạo sự bình đẳng giữa người và vật (không chỉ động vật mà cả thực vật). Chẳng phải rằng dù là người hay vật, khi đang sống cũng đều là những sinh thể giống nhau hay sao? Chẳng có gì khác biệt ở đây cả. Chỉ cần không có cái chết cách biệt, mọi thứ đều giống nhau ở chỗ đang sống, đang tồn tại. Bản thân Life Navigator 25 đã có rất nhiều đoạn đề cao tình yêu bình đẳng giữa người và thú, lên án cách đối xử tàn bạo của con người với động vật, thế nhưng ngay từ một chi tiết nhỏ là cách gọi tên, cách dùng từ như thế lại càng cho người đọc thấy rõ hơn tình yêu, sự trân trọng của tác giả dành cho loài vật.



Mở rộng khả thể cho một bản thể

Trong Life Navigator 25, Cao Đăng sử dụng rất nhiều những câu văn dài. Nếu làm một phép ước lượng, tôi áng chừng câu văn dài chiếm khoảng 80% đến 90%; trong khi đó, những câu ngắn chỉ nằm ở mức 10% hay 20%. Điều này có thể khiến cho một số người đọc không quen sẽ cảm thấy mệt mỏi vì trong một đoạn văn dài thường không có sự thay đổi nhịp điệu linh hoạt. Tuy nhiên, nếu nói anh viết theo dòng ý thức đến mức không cho độc giả nghỉ ngơi thì không đúng. Chỉ là, anh ít dùng dấu chấm để kết thúc câu nhưng trong một câu dài thì lại sử dụng nhiều dấu phẩy để ngắt từng thành tố trong câu, hoặc dùng những từ như “hay”, “hoặc” để đưa ra nhiều giả định khác nhau cho cùng một vấn đề. Dưới đây là một câu ví dụ cho việc này:

“Và, như một con vật, cũng như tất cả mọi con người đều đồng thời hay trước hết hay về cơ bản hay về thực chất là con vật, hắn cảm thấy được trong máu hắn điều mà óc hắn không đủ năng lực hiểu.”

Câu này có thể chọn lựa một nhóm mệnh đề duy nhất cho câu ngắn hơn như sau:

“Và, như một con vật, cũng như tất cả mọi con người đều đồng thời là con vật, hắn cảm thấy được trong máu hắn điều mà óc hắn không đủ năng lực hiểu.”

Khoảng thời gian đầu khi đọc Life Navigator 25, tôi cảm thấy rất thích thú với nhóm câu như thế này, chúng tạo ra một âm điệu lạ trong đầu tôi. Tuy nhiên, khi đọc đến khoảng giữa quyển sách, khi việc kết nối các nhóm mệnh đề lại với nhau bắt đầu khiến tôi thấy mệt mỏi, đôi lúc tôi thường tự hỏi sao anh không chọn hẳn một nhóm mệnh đề thôi để bỏ bớt những “hay”, “hoặc” cho câu văn gọn đi, dễ đọc hơn, dễ nắm bắt hơn. Nhưng tiếp tục đọc, càng đọc tôi càng hiểu được vì sao anh sử dụng nhiều những “hay”, “hoặc”. Có vẻ như, thông qua việc sử dụng nhiều nhóm câu như thế này, anh muốn chỉ ra sự bất toàn của vạn vật trong cuộc sống. Không bao giờ, một vật nào đó nằm nghiêng hẳn về một tính chất nào đó, tất cả đều nằm ở giữa lưng chừng hoặc thế này, hoặc thế kia. Bên cạnh đó, nhóm câu này cũng cho thấy sự quan sát tỉ mỉ, không bỏ lỡ bất cứ khoảnh khắc nào, sắc thái nào, chuyển biến dù nhỏ nhặt nhất nào của Life Navigator 25 khi anh sống. Nó biểu hiện cho việc anh nhìn ra được nhiều khả thể khác nhau trong cùng một bản thể, và anh đã thu nhận tất cả vào tâm thức của mình mà không triệt tiêu bất cứ khả thể nào cho dù chúng có nhỏ bé đến đâu chỉ để khẳng định duy nhất khả thể chiếm thế thượng phong. Và như thế, cuộc sống mở rộng không ngừng với nhiều cái-có-thể-là khác nhau. Và như thế, anh thực sự là người tình của cả thế gian.

Bên cạnh việc sử dụng nhóm câu “hay”, “hoặc”, Cao Đăng cũng thường sử dụng nhóm câu bị ngắt quãng nhiều lần bởi dấu ngoặc đơn như một cách để mở tính chất của sự vật được đề cập, hoặc mang ý giải thích thêm. Dưới đây là một câu ví dụ:

“Rồi thì hắn nhận ra (vẫn trong cùng một khoảng thời gian cực ngắn đó) rằng nếu hắn hành động thật nhanh, chạy theo con chó, đuổi kịp nó, túm lấy nó, ôm chặt nó vào lòng (không để nó vùng thoát ra được) rồi cắm đầu chạy theo hướng thích hợp (mà bản năng mách bảo hắn) thì hắn vẫn có cơ may thoát khỏi cái chết dưới dạng cái thân cây khổng lồ đang đổ xuống hắn…”

Vậy nên, tôi tạm kết luận rằng để quen với văn phong của Trần Tiễn Cao Đăng, người đọc phải chấp nhận tình trạng ngắc ngứ liên tục và các đối tượng được đề cập trong câu không ngừng phình nở ra nhiều khả thể khác của nó.

Những phác thảo vẽ chồng lên nhau

Không chỉ là với văn phong, bản thân tác phẩm Life Navigator 25 cũng là hiện thân cho sự mở rộng khả thể đối với một bản thể. Điều này trước tiên biểu hiện qua việc những nhân vật trọng yếu trong tiểu thuyết này đều không có tên cụ thể: Life Navigator 25 chỉ là số hiệu của chàng Life Navigator chúng ta được biết, nàng thì có một cái tên nằm trong hai câu thơ Đường mà ta sẽ không bao giờ biết rõ từ nào trong đó thuộc về tên nàng, người nàng yêu hay người yêu nàng hay người Life Navigator 25 chọn để thỉnh thoảng nhập vào cũng chỉ được ta biết tên viết tắt là T. Chính sự mơ hồ ấy phần nào đó cũng giúp cho khả năng mở rộng bản thể của những đối tượng này được nhân lên nhiều lần.

Nếu như Life Navigator 25 chủ yếu chỉ xuất hiện trong giấc mơ và T. chủ yếu chỉ xuất hiện trong đời thực thì nàng lại xuất hiện xuyên suốt cả trong giấc mơ lẫn hiện thực. Vì vậy, có thể nói nàng là người xuất hiện nhiều nhất trong câu chuyện này. Tuy nhiên, điều đó không làm cho nàng trở thành nhân vật dễ hiểu, dễ nắm bắt mà có phần ngược lại: nàng càng xuất hiện nhiều, người đọc càng có thể thấy nhiều khả thể khác nhau của nàng thì nàng lại càng trở nên khó hiểu, khó nắm bắt hơn. Những gì chúng ta đã biết ở nàng liên tục được bổ sung, loại trừ, hòa nhập, tách biệt với những gì chúng ta sắp biết hoặc chưa biết ở nàng. Thế nhưng, có hẳn là Life Navigator 25 và T. dễ hiểu hơn, dễ nắm bắt hơn? Có hẳn là Life Navigator 25 chủ yếu xuất hiện trong giấc mơ và T. chủ yếu xuất hiện trong đời thực?

Thông qua việc đưa ra nhiều khả thể khác nhau, Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian dường như trở thành một bức phác thảo với nhiều chi tiết chằng chịt lẫn vào nhau, song không một chi tiết nào được tô đậm hơn chi tiết nào. Tất cả đều mờ nhạt, mơ hồ. Tựa như một họa sĩ vừa phác thảo xong một đối tượng đã nhìn thấy khả thể khác trong đối tượng ấy, bèn lấy khả thể vừa thấy được vẽ chồng lên phác thảo đầu tiên; trong quá trình này, người đó lại tiếp tục thấy những khả thể khác và cứ thế vẽ chồng lên mãi, lên mãi. Một nét vẽ chỉ được phết nhẹ một lần và không bao giờ quay trở lại để đồ đậm thêm. Cuối cùng, chúng ta có được bức tranh không hoàn chỉnh về những khả thể khác nhau. Hoặc có thể nói, ta có được bức phác thảo hoàn chỉnh và mãi mãi chỉ dừng lại ở phác thảo. Nhưng liệu cuộc sống có bao giờ trở nên thực sự hoàn chỉnh hay là phiên bản chính thức của một chủ thể nào đó chăng? Chính vì nó không hoàn chỉnh và liên tục mở rộng khả thể trong từng giây, một phần triệu triệu của giây mà chúng ta vừa tự do, vừa cô đơn như thế. Vừa thấy mình bất hạnh song cũng thật hạnh phúc.   

Kodaki

Link gốc: http://blog.komo.vn/diem-sach/life-navigator-25-nguoi-tinh-cua-ca-the-gian.html, đăng lại với sự cho phép của tác giả.




Thứ Ba, 14 tháng 2, 2017

Về "Life Navigator 25: người tình của cả thế gian"

"Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian" là sự phối hợp sáng tạo, đan xen giữa thực và không thực, những miêu tả chi tiết về khung cảnh, sự thay đổi ngôn ngữ cơ thể lẫn tâm lý nhân vật khiến người đọc phải giữ sự tập trung theo sát diễn biến, mạch truyện. Như trong tác phẩm thể hiện: làm sao bạn biết rằng sự hiệu hữu của bạn ở đây là thực và chỗ khác là không? Đọc tác phẩm bạn sẽ thấy góc nhìn của tác giả về ý nghĩa cũng như tính chất bất toàn của đời sống. Sự vận dụng nhuần nhuyễn kiến thức và những trải nghiệm của tác giả trên các khía cạnh triết học, phân tâm học, sinh học, vật lý, thiên văn... đem đến cho người đọc cảm giác đi trên một hành trình lý thú của nhận thức và tưởng tượng. Tác phẩm có kết cấu lạ nhưng cách viết lôi cuốn, đáng để bạn trải nghiệm và khám phá.

(Độc giả Khoa Lê, trên tiki)


Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2017

Vài lời về tôi.

Tôi, nói một cách hình tượng, là một “loài hoa nở muộn”. Cũng như Hermann Broch và Bohumil Hrabal chỉ thực sự khởi đầu văn nghiệp khi tuổi đã ngoài bốn mươi, José Saramago khi đã quá năm mươi (mặc dù đã bắt đầu hoạt động văn chương từ trước đó khá lâu), tôi chỉ bắt đầu viết một cách nghiêm túc - như một người sinh ra để viết - từ năm 2005, khi tôi gần tròn bốn mươi.

Bắt đầu muộn nghĩa là tôi có ít thời gian hơn so với những người khởi nghiệp sớm hơn - nó mặc nhiên tạo cho tôi một áp lực: sợ rằng nếu những tác phẩm đầu không thành công, mình sẽ khó bắt đầu lại; tự ép mình không được phạm những sai lầm đặc trưng của một tác giả trẻ. Thực lòng mà nói, cho đến giờ, sau hơn 10 năm cầm bút, tôi vẫn chưa thoát hẳn được khỏi gánh nặng tâm lý ấy, cái nhà tù do tự mình tạo ra ấy.

Để có nhiều thời gian nhất cho việc viết, tôi thu hẹp và, nếu cần, loại bỏ nhiều hoạt động khác, cắt đứt nhiều mối quan hệ xã hội mà với tôi là vô bổ. (Điều mà nhiều nhà văn khác cũng làm.) Nhiều người nói tôi là kẻ vô tình, yếm thế, “tự kỷ”, không có khả năng hòa hợp với người khác. Tôi không trách họ. Đơn giản là họ không phải tôi, họ không thể quyết định thay tôi rằng với tôi điều gì quan trọng nhất.

Thành phố Essaouira (Mogador), Maroc.

Ngoài chuyện viết văn, tôi là người nhìn chung tẻ nhạt. Tôi không “sành điệu” - hoàn toàn không biết gì về các loại rượu, chẳng hạn -; không biết chơi đàn (chắc do không có khiếu, dù hồi nhỏ có dạo học đàn ghita), hát thì có một chút; không biết khiêu vũ (dù rất thích, lý do là tay chân tôi rất vụng về, bởi trí thông minh thân thể kém); không nói năng hấp dẫn; ít đi đây đi đó (vốn dĩ rất mê đi đây đi đó, nhưng điều kiện gia đình không cho phép), vân vân. Viết văn là cách để tôi làm cho bản thân mình bớt tẻ nhạt, và qua đó làm cho thế giới bớt tẻ nhạt.

Tôi thường nghĩ: Miễn sao viết được hay nhất trong khả năng của mình; sao cho vài ba cái mình viết ra, sau đây nhiều năm và cách đây hàng vạn cây số có ai đó cầm lấy đọc mà cảm thấy như chúng được viết ra dành riêng cho họ, vậy là được. Với tôi, không có gì khác quan trọng hơn thế.

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2016

Ba người

(Đã in trong "Baroque và ẩn hoa". Dành cho những ai chưa đọc.)

I

Người con gái ấy anh đã gặp ba lần; anh để ý đến nàng và nàng để ý đến anh. Không thể nào không để ý đến nàng, vì với tấm thân nhỏ nhắn, mong manh rất đỗi yêu kiều, bộ ngực thật căng hơi tương phản với thân hình mảnh dẻ mong manh ấy, làn da trắng xanh mát rượi như hoa sen, dáng đi tha thướt, lưng ong ẻo lả như dây bìm, dáng quay đầu mềm mại như thiên nga, một khuôn mặt hoàn hảo, vầng trán cao trắng muốt, đôi mày bán nguyệt, má lúm đồng tiền, cái miệng xinh với nụ cười chúm chím làm anh bồi hồi trong lòng, người con gái ấy, chỉ gặp một lần, dù một thoáng cũng không thể nào quên - giữa đám đông xám xịt của vỉa hè, nàng ngời sáng như trăng rằm Trung thu. 

Nhà nàng nghèo, anh biết; bởi ba lần tình cờ gặp anh đều thấy nàng mặc một chiếc áo độc nhất; áo vải sờn, thô, một mảnh vá hình chữ nhật trên vai phải, có trời biết để lại cho nàng từ đời thuở nào, thế nhưng vẫn cho người đời thấy rằng đấy là chiếc áo trắng, màu trắng thật sự, mặc dù hơi ngả sắc vàng - làm sao khác được một khi thời gian in dấu lên nó nhiều thế kia - nhưng sạch bong, tinh tươm, không một gợn nhăn, dường như không hạt bụi nào có thể đậu lên đó. Chiếc áo bó chẽn làm lồ lộ đường nét bộ ngực tròn căng của nàng. 

Anh thấy nàng bước đi ngoài phố, lần nào cũng mang xách nặng - nàng đi chợ về. Rất đỗi khiêm nhường, e lệ, nàng cúi đầu cố không để người ta chú ý tới mình (nhưng hoài công: người ta dùng mắt để lột trần nàng...). Thế nhưng thấy một chú mèo con sưởi nắng bên cột đèn đường, nàng ngồi thụp xuống vuốt ve, một nụ cười trìu mến và sung sướng nở trên môi. Cũng nụ cười ấy nàng đã trao anh ba lần, và mỗi lần như thế là một cơn mưa đầu mùa mát rượi lòng anh... 

Nàng đi ngoài phố, rồi rẽ vào một hẻm lớn, từ hẻm lớn rẽ vào hẻm con, từ hẻm con lại vào hẻm con nữa, vào hẻm con nữa, cái loại hẻm nhiều không sao kể xiết ở cái thành phố quái gở này - chỉ vừa một người xoay tới xoay lui, không có mặt trời; đấy là hang giun đất. Từ phố vào con hẻm lớn vầng trăng Trung thu đã mất một phần ánh sáng, lọt vào hẻm con thì vầng trăng mất hút trong bóng tối của địa ngục. Cả ba lần anh đều theo nàng, và cả ba lần đến nơi ấy anh lại dừng, e ngại... Giờ thì anh muốn đập đầu mình xuống đất vì tội đã không theo nàng đến cùng, để nắm được nàng, để giữ được nàng, để bảo vệ nàng... 

Những người sống ngoài phố gần hẻm lớn xác nhận rằng đêm hôm ấy, thứ bảy, mười lăm tháng ba, vào quãng 23 giờ rưỡi đến 24 giờ, hay muộn hơn, họ thấy nàng từ trong hẻm đi ra, ý chừng rất vội. Họ nhận ra nàng ngay vì dáng người kiều diễm quen thuộc, vì chiếc áo trắng duy nhất nàng có để mặc ra đường, họ biết nhà nàng - mãi sâu trong tận cùng cái mê cung vô số con hẻm chằng chịt giấu biệt đằng sau vẻ ngoài nền nã của đường phố -; họ biết gia đình nàng chỉ có ba người: nàng, cha nàng, người anh tật nguyền của nàng; họ biết cha nàng là thợ giày, cha nàng bị đau tim nặng, họ biết ông thường lên cơn bất thần nửa đêm về sáng, mỗi lần như vậy nàng lại tất tả đến nhà ông y sĩ quen, mời ông thăm bệnh cho cha. Thế nên họ chẳng lấy làm lạ rằng nàng ra khỏi nhà giữa đêm khuya như thế. 

Nhà người y sĩ cách đó khoảng ba trăm mét, nàng đi bộ, nàng không có xe. Có một quãng chừng hơn trăm mét nhà cửa thưa thớt mà lại chỉ có một phía, bên kia đường là đồng trống, cỏ dại, lau lách mọc tràn, không có đèn đường, hôm ấy lại hầu như không trăng, nhưng nàng không sợ; nàng đi quen rồi. 

Một người bán thuốc dạo ngồi không xa chỗ ấy - nơi có ngọn đèn đầu tiên mà sau khi ra khỏi quãng tối lẽ ra nàng sẽ băng qua - nhớ lại rằng đêm mười lăm tháng ba, khoảng 24 giờ mười phút hay mười lăm phút gì đó, có một tốp lính Mỹ, chừng bảy, tám tên, mười tên không chừng, say chuếnh choáng, ngật ngưỡng từ trên phố lại, ngược chiều với nàng, vẻ dồn nén, hung bạo và âm thầm. Nhác thấy chúng từ xa người bán thuốc lật đật dẹp hàng: ai biết được đêm hôm như thế, giữa lúc muốn nổ tung như thế, chúng có thể làm trò gì. 

Sáng tinh mơ ngày thứ hai 17 tháng ba, người ta phát hiện ngoài kênh quãng gần chợ xác chết một thiếu nữ. Cái xác còn mới, không một tí áo quần, mặt méo xệch một cách ghê rợn, môi như hai miếng thịt nát, tóc rũ rượi, một mảng bị dứt đứt tróc cả da đầu; cặp vú nhão nhoét, biến dạng, như hai tảng bột méo mó nặn bởi tay người khùng rực lên dấu răng đen xịt, sâu hoắm, hai bàn tay nắm chặt tứa máu, hai chân dạng rộng tênh hênh một cách quái đản, cửa mình mở tung như bị một trái bộc phá. Người ta kể xác người con gái chưa kịp trương lên và bốc mùi, trắng hếu một cách kinh tởm, nhiều chỗ toạc da bầm máu nước chưa hoà tan, trôi lềnh bềnh giữa đám rác rưởi - giấy lộn, lá chuối gói bánh, bao thuốc rỗng, mảnh chiếu, rơm rạ, củi mục - vật vờ, dập dềnh sát bên bờ như đám tuỳ tùng kinh khủng của cái xác ấy; cảnh tượng ấy gây nên nỗi khiếp đảm không sao tả xiết trong lòng những kẻ chứng kiến; nhiều em bé kêu thét lên, một phụ nữ gần như ngất xỉu; người ta phải đưa chị vào quán nước dưới bóng cây bã đậu để xức dầu cho chị. 
- Tội nghiệp con nhỏ... Con cái nhà ai thế không biết? - người ta thở dài chép miệng. 
Anh không chứng kiến cảnh ấy. 
Nhưng cũng chưa bao giờ anh không chứng kiến cảnh ấy.



II
“.... ”
là tiếng chửi thề thông dụng và hung hãn nhất của Người Mỹ. Mặc dù thứ ngôn ngữ Anglo - Saxon ấy không xa lạ với tôi, tôi không bao giờ, sẽ không bao giờ muốn nhắc lại nó. Nhưng bất cứ lúc nào Người Mỹ dùng tiếng chửi đó với các bạn tôi, khi họ khạc tiếng chửi đó vào mặt các bạn tôi và dập thân thể họ lên người các bạn tôi, máu trong toàn bộ huyết quản tôi lại sôi lên vì một nỗi phẫn nộ cùng cực, và khi đó những lời nguyền rủa khủng khiếp - bằng chính thứ tiếng Anglo-Saxon đó - lại nổ tung toé khỏi miệng tôi. Và chính vì cái điều đó - rằng tôi nã vào họ hàng tràng lời nguyền rủa khủng khiếp -, Người Mỹ đặc biệt căm ghét tôi và ra sức liên tục hành hạ tôi. 

Và cả khi Người Mỹ cuồng thú hành hạ tôi, tức là khi mỗi một centimét vuông cơ thể họ là một tảng núi thịt thông minh và điên dại đè nát tôi, tôi vẫn chửi họ, thoá mạ và nguyền rủa họ bằng tiếng Anglo-Saxon của họ, mà một người trong số họ từng dạy tôi; mặc dù miệng tôi, hàm tôi, họng tôi thường xuyên bị thít chặt, trét kín, lèn cứng bởi xương thịt nhầy nhụa và tàn bạo của họ, những tràng nguyền rủa vẫn nghiến qua hai hàm răng tôi thành tiếng rít long óc, vẫn phòi ra thành tiếng rên rỉ và tru tréo sởn gáy họ. Phải, đó là tất cả những gì tôi nói với Người Mỹ trong một thế kỷ bẹp dí giữa gọng kềm phọt máu của họ, cùng các bạn tôi, các Nữ Sinh bị bắt vì những lá truyền đơn và những quả bom xăng chống Người Mỹ. 
Không còn gì khác ngoài những lời nguyền rủa khủng khiếp đó tuôn ra khỏi miệng tôi; vào mặt Người Mỹ. Và tôi nói những lời sau với các bạn tôi, khi mồ hôi họ đầm đìa như mưa dầm thối ruộng cày, khi máu từ chỗ thiêng của họ lai láng như suối, khi nước mắt nóng rẫy của họ từ từ ứa và ròng ròng chảy như mưa trút xuống máng xối: 

Nếu chúng ta muốn sống thì chúng ta sẽ sống, các chị ạ. Nếu chúng ta quyết thắng, chúng ta sẽ thắng. Có thứ sức mạnh nào sai khiến được tâm hồn ta!.. Chị em cứ nghĩ mà xem: trăm nghìn roi vọt mẹ cha có bắt ta quên nghĩa với người thương được không? Lòng yêu Tổ quốc của ta còn thiêng liêng hơn thế, còn bất diệt hơn thế. Chị em ơi!.. Nếu không chịu nổi thì hãy cứ khóc vì những vết thương đau, nhưng đừng cho chúng tưởng rằng ta sợ... Phần tôi, tôi không khóc đâu... Điều duy nhất chúng ta thua đàn ông, ấy là nước mắt... 

Miệng nói vậy nhưng tôi, mắt tôi cay xè, giọng tôi run; tôi cắn môi nhịn khóc. Tôi đâu có rỏ một giọt nước mắt sau lần bị bốn mươi tên lính dày vò, khi mỗi thớ thịt thân tôi là một vết thương và mỗi hơi thở tôi để lại một bong bóng máu dưới lỗ mũi, một bợn máu trên mép giống như vết cợn bẩn sau khi tôi ăn chè mè đen. A ha! Tôi quay đi quay lại nhìn mọi người, và mọi người đăm đăm nhìn tôi, kẻ đang đứng trước họ với cặp má bầu bĩnh, với đôi vai tròn, với bộ ngực cao, lớn và chắc; họ nhìn và như biết đó là lần cuối cùng trông thấy tôi; họ có lý, họ rất có lý, vì đêm hôm đó tôi đã tự sát giữa chừng một cuộc tra tấn đầy bạo dâm, dưới mắt một Người Mỹ. 

Và nếu thời gian cho phép, nếu các bạn cho phép, tôi sẽ còn nói nữa, nói không dứt về những cơn quằn quại của tôi, về nỗi ê chề của tôi, về người yêu của tôi, về người tình của tôi, về các người tình của tôi, về cái nhọt dưới bả vai tôi, về nốt ruồi bên cánh mũi tôi, về những điệu ru Tình yêu vẳng trong tai tôi, về vị cay của cơm hến trên lưỡi tôi, về dòng trăng đêm nào đó vẫn tuôn đầy hiên nhà sực nức hương nguyệt quế của tôi, về chiếc guốc đứt quai dưới bóng Ngọ Môn làm nỗi thẹn bừng lên hai má tôi, về chiếc tách sứ vỡ tan tành dưới cái giật thót của tay tôi khi nghe tiếng kêu cứu thê thiết dội tới từ chùa Từ Đàm làm kinh động đêm bình yên của tôi, về những tên Mỹ gào rú, bị xả ra trăm mảnh và bắn tung lên trời vì bom và tiếng chửi thề trong giấc mơ tôi, về hớp không khí cuối cùng của tôi mà cùng với nó tôi hiểu thế là hết cuộc hiện tồn của tôi trên cõi thế tuyệt diệu và đau đớn này, cõi thế mà dù gì đi nữa tôi vẫn yêu vì đó là cõi thế đã cho tôi chính tôi và tất cả những gì của tôi. 

Và nếu cho tôi sống lại khoảnh khắc bất kỳ nào đó trong cuộc hiện thế đã qua của tôi thì sẽ lại chính tôi, chính tôi, chính tôi tuôn xối xả vào Người Mỹ những tràng nguyền rủa khủng khiếp; và sẽ không Người Mỹ nào đang sống còn có dịp biết miệng tôi có thể thỏ thẻ những lời dịu dàng như thế nào, có thể trao những nụ hôn quấn riết và nóng hổi như thế nào. Và, mặc dù tôi không muốn, tôi biết rõ sẽ không cách nào ngăn nổi những tràng nguyền rủa đó chuyển hóa thành một đoạn bầm dập trong tâm linh kiếp sau hạnh phúc và đáng thương của tôi. 

 
Tranh của Joan Miro


III

Con đường

- Bạn ơi, thế là cuối cùng nàng đã gặp được chàng... Ta uống mừng nàng đi! Vâng, tôi muốn uống mừng nàng, cầu phúc cho nàng... 
- Bạn xúc động quá đấy. Hẵng ngồi xuống đã; ghế ngay sau lưng bạn kia... 
- Chao ôi, bạn không hình dung được điều đó là thế nào ư?.. Nhưng không... tôi, chính tôi cũng không tin, chưa bao giờ tin... 
- Vậy nói đi, nói nhanh đi. 
- Trời, tôi biết bắt đầu từ đâu đây? 
- Bình tĩnh nào! Ngồi xuống đi. (Ngừng một chút) Nàng đã tới được Con Tàu Trắng chứ? 
- Vâng, nàng đã tới! Và nhanh hơn bất kỳ dự đoán nào của chúng ta, nhanh hơn ý thức của chúng ta! 
- Nàng đi bằng chính con đường Vũ-trụ-đa-tầng chứ? 
- Đúng thế, đúng như thế! Và nàng đã... 
- Thế thì có gì đáng ngạc nhiên nữa? Nào, ta uống mừng nàng! 
- (vẫn còn rất xúc động) Nhưng tôi... 
- Bạn hoàn toàn không ngờ ư? 
- (cúi đầu) Tôi đã quá lo cho nàng... 

o
o o

... Thế là nàng đã đến được với anh. Ôi, giá nàng ngoảnh lại, nàng sẽ thấy con đường nàng đã qua mới dài làm sao; nhưng nàng chỉ nhìn trước mặt, nàng tìm anh - nàng đến vì anh mà!.. 
Nàng biết mình đang ở đâu - bên hồ Shankar, hướng Bắc. Giờ này ai nấy đều đang làm việc, rừng không một bóng người. Nàng chẳng muốn quấy rầy ai; chọn chỗ ngồi thoải mái dưới bóng cây champa, nàng đợi. 
Hẳn mình trông không đến nỗi nào đâu nhỉ? Chẳng biết anh sẽ nghĩ sao khi thấy mình như thế này... Nàng thầm nghĩ khi soi mình trong gương bằng chất dẻo sáng lấp lánh, kích thước thay đổi tuỳ vị trí và tư thế người sử dụng. Lúc này nàng ngồi trên cỏ tóc tiên, đối diện với gương, thân hình nằm gọn giữa chiếc khung vàng sáng như mặt trời. Nàng rất sung sướng thấy mình không bị ảnh hưởng bao nhiêu bởi chuyến hành trình độc nhất vô nhị vừa qua. Chỉ có điều tóc tai hơi rối, nàng lấy lược ra chải. Cặp má hơi xanh, nàng tìm cách mỉm cười thật tươi để tạo thêm sắc hồng. Rồi nàng thay chiếc áo quen thuộc mà anh rất yêu, và do đó cũng vô cùng thân thiết với nàng - trắng như tuyết,với những làn mây - hay sương - màu xanh tim tím. Chỉ có điều phải điều chỉnh chút ít cho vừa với cái bụng đã thay đổi kích thước khá nhiều của nàng. 
Đứa con nàng cựa quậy; nàng vỗ nhẹ lên chỗ mà nàng biết là cái đầu bằng trái cam của nó.
- Yên nào, để mẹ đi gặp cha... Cha con đấy! 
Nàng rất muốn tự mình đi tìm anh, nhưng trước tiên nàng phải dỗ cho đứa bé nằm yên đã. Eva và Radda gặp nàng trong tư thế ấy: ngồi gọn dưới bóng cây, tay xoa chiếc bụng căng phồng, hai chân khép về một bên, duỗi dài trên cỏ, dáng mềm mại, dịu dàng như chiếc cổ thiên nga. 
- Kìa, LAN! Cách gần trăm thước Radda đã nhận ra nàng, vội vàng chạy đến rõ nhanh. Đến sát bên Lan, nàng quỳ xuống, ôm chặt bạn vào lòng. 
- Lan! Lan thật ư! Đúng là bạn rồi... Trời đất quỷ thần ơi! Bạn làm thế quái nào đến đây được?! Lại còn mang thai nữa... Gần tới ngày còn gì! - giọng run run, Radda siết đầu bạn vào ngực mình; nàng ứa nước mắt. 
Eva đứng đàng sau, im lặng - nàng đã nghe nói nhiều về Lan, nhưng đây là lần đầu tiên nàng gặp người thiếu nữ mà người ta nói “đáng yêu như chính cuộc đời” ấy; và nàng sửng sốt nhận ra rằng ngôn từ lắm khi bất lực và tầm thường làm sao... 
Radda vẫn ôm riết lấy Lan, trìu mến vuốt ve khắp người nàng, nhất là cái bụng to của nàng. 
- Ôi, bạn dễ thương quá! Ai ngờ được cơ chứ? Cừ thật. Xem cái bụng này: Hẳn chú nhóc không dưới bốn kílôgam đâu... Kìa, Eva! Lại đây, lại đây! Làm quen đi: Lan, nàng tiên của chúng tôi. Đây là Eva, bạn rất tốt của chúng ta, Lan ạ... 
Eva mỉm cười dè dặt, thế rồi, hơi do dự, nàng cũng quỳ xuống, cầm tay người bạn mới, siết thật lâu.
- Tôi là Eva... Chào bạn. - nàng nói ngắn gọn, nhưng trong giọng nói nàng còn có thể nghe thấy: Tôi tiếc rằng trước kia đã không hề biết bạn... Nếu biết bạn từ lâu, thì tôi đã có thể, như Radda, ôm chặt bạn vào lòng... Radda nói phải: bạn là nàng tiên của chúng ta.. Bạn dễ thương quá! 
Lan cũng nồng nhiệt siết tay Eva; nàng cũng nhận thấy Eva thật đáng yêu, lại đẹp vô cùng nữa, chỉ có điều, không hiểu sao cái nhìn chị ấy buồn rười rượi... 
- Rất mừng được làm quen với chị, Eva... - nàng mỉm cười, hôn lên má người bạn mới. Eva cũng mỉm cười, hôn lại nàng, và thế là chẳng còn thứ hàng rào nào ngăn cách họ nữa.  
- Thật không ngờ bạn đến được đây, Lan ạ... Bạn tìm John chứ gì? Chúng tôi sẽ gọi. 
- Không, để tự mình đến với anh ấy! 
Nàng dợm đứng lên, nhưng bàn tay khoẻ mạnh của Radda đã nắm vai nàng giữ lại. 
- Không được. Anh ấy phải đến đây.
Giờ kể nghe nào: Bạn làm cách nào đến được đây, làm sao đuổi kịp tàu chúng tôi? Bạn đi nhanh hơn ánh sáng được ư!.. 
- Mình hóa thân vào Đại-Vũ-Trụ. 
- Không thể như thế!!! 
- Sao lại không? Người Ngực Rừng làm được điều đó hàng thế kỷ nay rồi... 
- Nhưng họ là người Ngực Rừng! Còn chúng ta... 
- Có gì khác đâu! Mình đi theo con đường của họ, và thế là mình biết. 
- Điều đó... như thế nào? - Radda hồi hộp. 
- Nói thế nào nhỉ? Nói chung là tuyệt diệu! - Lan mỉm cười. 
- Tuyệt diệu ư? - Radda lặp lại. Thử nghĩ mà xem: nàng Lan-Ngực-Bông-Sen mảnh mai và trắng ngần kia, bụng mang dạ chửa, đi trên cái gì đó tạm kêu là ”tàu” của người Ngực Rừng, từ vật-chất chuyển sang phản-vật-chất, rồi từ phản-vật-chất chuyển sang vật-chất, từ Tiểu-Vũ-Trụ làm cú nhảy vô biên vào Đại-Vũ-Trụ, rồi từ Đại-Vũ-Trụ rơi tự do sang Tiểu-Vũ-Trụ, mà vẫn nguyên vẹn, vẫn cứ tươi rói, tinh anh, vẫn dịu dàng như thế... 
- Thấy bạn như thế này mà... họ vẫn cho bạn đi cùng ư? - Radda đưa mắt nhìn cái bụng to của Lan.
- Nó chẳng làm sao đâu. Bạn thấy không... 
- Nhưng... 
- Hãy tin mình; trước sau mình chỉ lo cho nó thôi. 
- Ôi, mình biết nói gì nữa! Lan ơi, bạn cừ thật đấy! - một lần nữa Radda lại nồng nhiệt ôm lấy nàng. 
Chính lúc ấy John xuất hiện đằng xa. 
Dễ nhận ra anh vô cùng vì chẳng còn ai cao lớn bằng anh nữa. Anh chạy phăng phăng, mái tóc bồng bềnh phấp phới in hệt bờm ngựa; mà thật, dường như anh chạy còn nhanh gấp mấy lần con ngựa đua nhanh nhất trong lịch sử các trường đua ngựa khắp thế giới. Chạy sau anh là các chàng trai bạn anh - họ không đuổi kịp anh, hơn nữa họ cố tình để anh được thấy nàng trước nhất. 
Lan không ngồi được nữa, nàng đứng dậy - lẽ ra nàng đã chạy bay về phía anh nhanh chẳng kém gì anh để đu lên cổ anh, giá bụng nàng đừng nặng như thế. 
- Lan!... - anh cố kìm lại không gọi tên nàng quá to; giọng anh vỡ ra, phập phồng, run rẩy. Nàng không đáp, chỉ mỉm cười với anh, vươn cả hai tay về phía anh. Anh lao đến chỗ nàng như một cơn lốc, dừng lại sát bên nàng như một chiếc Mercedes thời cổ có bộ thắng cực mạnh, anh nhấc bổng nàng lên bằng hai tay, ép nàng vào ngực như thể nàng là một em bé. 
- Em làm gì ở đây?! - đặt nàng xuống đất, anh hỏi. 
- Em muốn đi với anh, - nàng bình tĩnh nhìn vào mắt anh. 
- Nhưng mà trời ơi, ai bảo em làm thế? Ai cho phép em? - anh dừng một chút. - Trời đất, em tôi đã làm gì thế này! - câu cuối cùng giọng anh trầm hẳn xuống; anh thở dài hôn lên má đầm đìa lệ của nàng, chính anh cũng ứa nước mắt. 
Bây giờ anh mới nhận thấy kích thước khác thường của bụng nàng.
 - Em gần sanh? - anh cau mày. 
- Con anh đấy, - nàng cụp mắt xuống, nhưng miệng cười quá tươi, ”rạng rỡ như mặt trời”. 
Anh sững người một lát, rồi chầm chậm bế nàng lên, một cách nâng niu, một cách trang trọng. Anh hôn lên cái bụng to của nàng - đấy là anh hôn nàng, vợ hiền kỳ diệu của anh, đồng thời cả con anh nữa. Mãi đến khi bế nàng qua cửa vào ngôi lầu đẹp đẽ hình củ hành mọi người vừa tạo nên dành cho nàng, anh mới thốt lên:
- Em hư lắm, em biết không?