Thứ Năm, 28 tháng 6, 2018

“Tôi là con người được nhào nặn bằng nỗi buồn”

Trả lời phỏng vấn của Style Republik xung quanh tập truyện "Những gặp gỡ không thể có" của tôi vừa được xuất bản
https://style-republik.com/tran-tien-cao-dang-toi-la-con-nguoi-duoc-nhao-nan-bang-noi-buon/

-----------------

Vì sao anh đặt tiêu đề tập truyện ngắn mới nhất là “Những gặp gỡ không thể có”? Đây có phải là tựa đề đầu tiên anh nghĩ ra cho tập truyện này hay trước đó còn có những lựa chọn khác, anh có thể chia sẻ vì sao cuối cùng anh lại chọn tiêu đề này?

Nhan đề này đến một cách tự nhiên, và khi nó đến, tôi cảm thấy không thể khác được. Bởi vì các truyện trong tập, không truyện nào có cái nhan đề đủ “sức nặng” như thế.

Được biết ban đầu “Những gặp gỡ không thể có” còn có thêm một tiêu đề phụ là “Chuyện kể lúc cận kề tận thế”, vì sao cuối cùng anh quyết định bỏ tiêu đề này?

Tôi bỏ nó đi bởi vì xét thấy, với khuôn khổ các truyện trong tập này, “Chuyện kể lúc cận kề tận thế” là một cái áo hơi quá rộng. Thật ra, “Chuyện kể lúc cận kề tận thế” là một tiêu đề liên quan đến một dự đồ lớn hơn của tôi. Có thể tôi sẽ dùng lại nó ở một chỗ khác - có thể là nhan đề cho một tập truyện khác hoặc một tiểu thuyết.

Bốn truyện trong “Những gặp gỡ không thể có” đều có chung bầu không khí buồn khi cái đẹp bị đối xử thô bạo, một dự cảm về tận thế; khi viết, anh có ý thức ngay từ đầu là sẽ xây dựng một bầu không khí chung như thế để tạo sự thống nhất cho toàn tập truyện hay đây là một sự ngẫu nhiên do tiềm thức chi phối?

Chỉ đến khi tập hợp các truyện viết rải rác vào những lúc khác nhau vào cùng một tập dựa trên vài cái chung giữa chúng, tôi mới dần dần nhận ra rằng, bên cạnh những cái chung khác, chúng đều bao hàm một dự cảm về tận thế. Đó là do tâm thế xuyên suốt của tôi, hay là do “tiềm thức chi phối” như bạn nói. Giả như tôi làm vậy một cách chủ ý, tỉnh táo, có tính toán, tôi không chắc rằng hiệu quả cuối cùng sẽ mạnh hơn.

Có người xếp tập truyện mới này vào dòng fantasy, có phải thể loại này cũng là dòng truyện anh nhắm đến cho “Những gặp gỡ không thể có” ngay từ khi viết?

Viết ra tác phẩm là việc của nhà văn, xếp loại tác phẩm là việc của nhà làm sách và nhà phê bình. Tuy nhiên, nhìn lại tác phẩm của mình với con mắt của người ngoài, tôi không cảm thấy gọi chúng bằng cái tên “fantasy” là phù hợp - hẳn cũng giống như bạn không thể dùng từ fantasy để phân loại “Hóa thân” của Kafka vậy. Nhưng dù sao đi nữa, điều đó chẳng quan trọng - quan trọng là niềm tin của người viết vào tính chân thực của câu chuyện anh kể, bất kể nó “phi thực” đến đâu.

Các truyện trong “Những gặp gỡ không thể có” đều kết thúc bằng cái chết - khi thì cái chết được nói rõ, khi thì được ám gợi, nhưng nhìn chung đều là sự kết thúc. Có phải anh đang quá bi quan về thế giới?

Chingiz Aitmatov, nhà văn người Kyrgystan thuộc Liên Xô cũ mà nhiều người thuộc thế hệ 6x-7x hẳn từng đọc và yêu mến, có nói (đại ý): “Tôi là con người được nhào nặn bằng nỗi buồn”. Câu ấy hẳn tôi có thể dùng để nói về mình.

Chẳng phải là tôi không thích vui cười - tôi rất thích truyện tiếu lâm và thỉnh thoảng xem các show hài trên truyền hình. Tuy nhiên, với tôi, cái hài không bao giờ có nổi chiều sâu như cái bi - trừ khi đó là cái hài để tự giễu mình. Bên cạnh đó, có lẽ là tôi hay suy nghĩ nhiều hơn người khác về bản chất phù du của mọi vật và mọi sự.

Nếu có người nói văn của anh toàn thoát ly hiện thực, hình như anh là người dùng văn chương để trốn tránh những vấn đề gai góc của cuộc sống thực tế, thì anh sẽ nói gì?

Chúng ta đã qua từ lâu cái thời nhà văn chỉ được khuyến khích viết về thành tích và đời sống của quần chúng công nông binh, và chúng ta nên chóng vượt qua cái thời nhà văn chỉ được thừa nhận nếu họ viết về “những vấn đề gai góc của đời sống thực tế”. Những nền văn chương thực sự trưởng thành là những nền văn chương phong phú, phồn phức giống như bản thân loài người.

Mặt khác, điều thú vị là khá nhiều người mặc nhiên cho rằng nếu tác phẩm của nhà văn “toàn là chuyện ở đâu đâu” thì trong cuộc sống hằng ngày ông/bà ta cũng là một người luôn ở trên mây. Dường như theo họ trên đời không thể có một người chỉ viết những truyện tình đẹp đẽ ở một xứ tưởng tượng nào đó và đồng thời là một nhà hoạt động xã hội tích cực.

Max Ernst- Nature at Dawn Evensong

Văn của anh có cảm giác như văn Tây - anh chịu ảnh hưởng phương Tây nhiều quá, nên người đọc Việt khó tìm thấy sự đồng cảm. Điều này có phải xuất phát từ việc các tác phẩm anh dịch hầu hết đều là văn học phương Tây? Ngay cả một tác giả phương Đông mà anh từng dịch là Murakami Haruki cũng là một người viết rất Tây. Anh có bao giờ nảy ra ý định dịch một tác phẩm văn học phương Đông thuần túy hoặc làm cách nào đó để văn của anh có sự pha trộn tỉ lệ Đông – Tây hài hòa hơn không?

Hồi đang học đại học, tôi dịch “Cố đô” của Kawabata từ bản tiếng Nga (một bản dịch thuần túy vì yêu tác phẩm, chưa từng được xuất bản). Khi tôi bắt đầu thực sự đến với văn chương vào khoảng 7-8 tuổi, một trong những nhà văn đầu tiên tôi đọc và “phải lòng” cho đến tận bây giờ là Akutagawa. Hẳn bạn sẽ đồng ý với tôi rằng đó là hai trong số những nhà văn “Nhật Bản” nhất.

Nếu bạn đã đọc hết “Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian”, chắc hẳn bạn có gặp ở đó những đoạn, những chương khiến bạn có cảm giác mạnh mẽ rằng người viết ra chúng không thể nào là một người Mỹ hoặc người Pháp; y chỉ có thể là một người Việt.

Mặt khác, nghĩ kỹ bạn sẽ thấy, quan niệm cho rằng “nhà văn Việt thì phải viết thứ văn gần gũi với người Việt” chính là một trong rất nhiều vòng kim cô trói chặt nhà văn Việt từ trước tới nay.

Kể cả nếu tôi đồng ý với ai đó rằng văn của một tác giả Việt nhất thiết phải có ít nhiều “tính Việt”, thì chúng ta vẫn phải nhìn thấu một điều rằng “tính Việt” hay “dân tộc tính” không phải là cái gì đó nhất thành bất biến. Nếu nó thực sự có sức sống, nó sẽ như một sinh thể, trường tồn, phát triển, mở rộng, tự làm mới, tiến hóa. Những tác phẩm như của tôi là một phần của sự mở rộng, tự làm mới, tiến hóa đó.

Được biết, anh rất thích phim kinh dị. Những cảnh bạo lực trong truyện của anh, đặc biệt là cảnh hồn ma xuất hiện trong truyện “Nhớ mãi một giờ yêu đương nàng đã trao tôi”, có phải là ảnh hưởng hay được gợi cảm hứng từ phim kinh dị? Cùng với trinh thám, kinh dị vẫn là một thể loại thường bị đánh giá thấp trong địa hạt văn chương, vậy anh đã từng có ý định viết truyện kinh dị thuần túy chưa? Hoặc là nảy ra ý định làm một cuộc cải tiến khiến mọi người có cái nhìn mới về thể loại kinh dị như cách Paul Auster đã làm với thể loại trinh thám?

Tôi không chắc rằng Tibor trong “Nhớ mãi một giờ yêu đương nàng đã trao tôi” là một hồn ma (cười). Đó cũng có thể là một người (sống) có tài phá khóa như thần chứ. Đúng là y có nói đến “nằm dưới mộ”, nhưng có thể đó chỉ là một cách nói.

Tuy nhiên, đúng là tôi thích phim kinh dị, cũng như thích phim khoa học giả tưởng và phim hành động võ thuật. Tôi chưa từng nghĩ đến chuyện viết truyện kinh dị “thuần túy” hoặc kinh dị “cách tân”, tuy nhiên, bất cứ cái gì thuộc về con người đều có thể là chất liệu văn chương của tôi vào một lúc nào đó. Và cái kinh dị, nỗi sợ và đồng thời sự háo hức muốn biết cái kinh dị, nó là một thứ “xưa như Trái đất” thuộc về con người.

Có người cho rằng nhà văn chỉ nên viết về những gì mình biết rõ. Văn của anh thì bao quát những bối cảnh trải rộng nhiều nước, nhiều thực tại khác nhau. Anh nghĩ sao về điều này? Và khi viết về những nơi chưa từng đặt chân đến, anh sử dụng phương pháp nào để tưởng tượng và miêu tả chi tiết? Chẳng hạn, khi James Hadley Chase. một nhà văn Anh, viết tiểu thuyết hình sự “You've Got It Coming” (đã dịch sang tiếng Việt với tiêu đề “Dã tràng xe cát”) với bối cảnh đặt tại Mỹ, ông đã dựa vào những công cụ như từ điển bách khoa, bản đồ du lịch chi tiết, du ký nước Mỹ, từ điển tiếng lóng Mỹ... Anh có dùng những công cụ tương tự như thế không khi viết truyện có bối cảnh nước ngoài?

Margaret Mitchell, tác giả tiểu thuyết “Cuốn theo chiều gió”, sinh năm 1900, mất năm 1949. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của bà có bối cảnh cuộc Nội chiến Mỹ từ 1861 đến 1865. Liev Tostoy sinh năm 1828, mất năm 1910. Tiểu thuyết “Chiến tranh và hòa bình” của ông diễn ra trong thời kỳ cuộc kháng chiến của nước Nga chống quân đội Napoléon vào các năm 1805 và 1812. Nếu như quan niệm “nhà văn chỉ nên viết về những gì mình đã trực tiếp nhìn thấy/kinh qua và bởi vậy biết rõ” là thước đo vàng cho chất lượng văn chương, thì hai cuốn tiểu thuyết nói trên là đồ bỏ - vì chúng chỉ là chuyện bịa tạc vô giá trị.

“Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian” (xuất bản 2016) là tiểu thuyết đầu tay của anh nhưng tập truyện ngắn đầu tay của anh không phải là “Những gặp gỡ không thể có” mà là “Baroque và ẩn hoa” (xuất bản 2005). Như vậy là có sự gián đoạn khá dài nếu tính từ tập truyện ngắn đầu tiên đến tiểu thuyết đầu tiên, và nếu tính khoảng cách giữa hai tập truyện ngắn thì thời gian gián đoạn lên đến 13 năm. Vì sao anh lại có sự gián đoạn này?

Từ 2005 đến 2006 là khoảng thời gian tôi tạm ngưng viết, để tìm đường đi đúng nhất cho mình. “Baroque và ẩn hoa” về cơ bản là tập truyện “hiện thực” thuần khiết, và tôi sớm nhận ra rằng đó không phải là chỗ mạnh của tôi. Cuối 2006, tôi bắt tay viết cuốn tiểu thuyết “thực sự” đầu tiên của mình, với nhan đề (tạm đặt) là “Cospolist Nổi Loạn” mà đến nay chưa hoàn tất vì một số lý do. Có thể coi đó là mốc đánh dấu “bước ngoặt” trong đời văn của tôi – từ đó trở đi, tôi không còn hoài nghi về con đường của mình.

“Life Navigator 25…” thật ra được khởi đầu muộn hơn “Cospolist Nổi Loạn”, vào năm 2010, và hoàn tất vào năm 2014. “Những gặp gỡ…” thì gồm những truyện được viết rải rác trong một thời gian dài, từ trước 2010 cho đến sau 2014. Như vậy, thật ra, sự gián đoạn của tôi không phải trong 13 năm mà ngắn hơn nhiều. Về cơ bản, suốt trong nhiều năm qua, tôi không ngừng viết.

Kodaki thực hiện

Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2018

"Những gặp gỡ không thể có" - khi trình diễn và nhiếp ảnh gặp gỡ trong văn chương

Bài này đã được đăng trên bản in giấy của tạp chí “Thế giới tiếp thị” ngày 13/06/2018. Dưới đây là bản đầy đủ, chưa bị cắt bớt, đăng lại với sự cho phép của tác giả.

------------

"Những gặp gỡ không thể có" - tập truyện ngắn vừa xuất bản của tác giả Trần Tiễn Cao Đăng do công ty sách Tao Đàn phát hành mang đến cho người đọc nhiều cảm thức mới về văn chương.

Thứ được nhấn mạnh trong tác phẩm này không phải là nghệ thuật kể chuyện mà là nghệ thuật trình diễn, nghệ thuật nhiếp ảnh. Cao Đăng không phá vỡ lối kể chuyện truyền thống bằng những cách thường thấy như: cốt truyện phi tuyến tính, viết theo dòng ý thức, tường thuật dưới nhiều giọng kể... Ngược lại, truyện ngắn của anh có những lựa chọn về nghệ thuật kể chuyện khá cổ điển: cốt truyện tuyến tính, kể chuyện dưới một điểm nhìn từ ngôi thứ nhất hay ngôi thứ ba. Điều đó có nghĩa là sự mới mẻ trong tác phẩm này không nằm ở mặt hình thức mà nằm ở mặt nội dung, cách anh triển khai nội dung ấy theo lối truyền thống như thế nào.

Như một gợi ý cho nguyên tắc thẩm mĩ của toàn tập truyện, truyện ngắn đầu tiên Nghệ thuật trình diễn, một sáng mùa hè, Granada mang đậm tính sắp đặt của một buổi trình diễn nghệ thuật. Chàng và nàng đang ngồi trong một quán cà phê ở Granada thì chàng đột nhiên nhìn thấy một người-bay, rồi từ đó toàn bộ câu chuyện vận hành xoay quanh những chuyển động hết mực chậm rãi của ba người dưới sự chứng kiến của những người xung quanh. Nhưng không chỉ riêng truyện ngắn đầu tiên, cả ba truyện ngắn còn lại trong tập truyện (Nhớ mãi một giờ yêu đương nàng đã trao tôi, Kinh Tình yêu - Dị bản của tôi, Tập kích nhà băng: Quan điểm của nhà thơ) đều mang đến cho người đọc cảm giác dự phần vào một buổi trình diễn nghệ thuật.

Những gặp gỡ không thể có đã chia sẻ một trong những nguyên tắc thường thấy ở nghệ thuật trình diễn là: sự lặp lại một hành vi với tương tác từ nhiều đối tượng, hoặc với tốc độ khởi điểm chậm rãi nhưng tăng dần kịch tính về sau. Không khí trong những truyện ngắn của Cao Đăng khiến ta nhớ đến buổi trình diễn The Artist Is Present của Marina Abramovic khi mà mọi tâm tư con người dường như có thể thâu tóm qua một ánh nhìn bất động thật lâu.

Hầu như những nhân vật trong tập truyện ngắn này đều có nhịp điệu sinh hoạt rất chậm rãi. Dù đôi lúc, có những tình huống buộc họ phải hành động thật nhanh nhưng về cơ bản, họ sống chậm, yêu chậm. Điều này có lẽ bắt nguồn từ tình yêu dành cho nghệ thuật múa của tác giả - vốn đã được thể hiện rất rõ qua tiểu thuyết đầu tay Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian. Sự chi tiết có nhiều cấp độ; và ở lối hành văn của Cao Đăng, sự chi tiết không chỉ nằm trong cách anh miêu tả về tâm lí, hành động của nhân vật mà còn nằm ở các cấp độ nhỏ hơn dưới đôi mắt quan sát của một người yêu những vũ điệu: một chuyển động trong một hành động, một cử động trong một chuyển động. Dường như, một khoảnh khắc với anh vẫn còn quá lớn, anh muốn nắm trọn cả những tiểu khoảnh khắc trong một khoảnh khắc. Do đó, tác phẩm của anh còn có thêm một phẩm tính nữa: khả năng ngưng đọng và chọn lựa khoảnh khắc để ngưng đọng của nghệ thuật nhiếp ảnh.

Mang nhiều yếu tố đặc trưng của nghệ thuật trình diễn và nghệ thuật nhiếp ảnh hơn là bản thân nghệ thuật kể chuyện, vì vậy Những gặp gỡ không thể có không phải là tập hợp tường thuật về những gặp gỡ bất khả. Chính xác hơn, nó là tập hợp sắp đặt để những-gặp-gỡ-có-thể-xảy-ra khi trình hiện dưới sự chứng kiến của người đọc lại mang vẻ chắc chắn của những-gặp-gỡ-tất-yếu-xảy-ra. Trong tiến trình này, tác giả vừa là người sắp đặt, vừa là người tham dự trình diễn (với vai trò là nghệ sĩ trình diễn hay khán giả theo dõi), vừa là người ghi/chụp lại những khoảnh khắc đáng giá.

Tranh của Paul Klee

Thế nhưng, vì sao tác phẩm này lại đậm tính sắp đặt và cho người đọc thấy rõ sự sắp đặt đó?

Những gặp gỡ không thể có ban đầu vốn có thêm một tiêu đề phụ là: Chuyện kể lúc cận kề tận thế. Và quả thực, những truyện ngắn trong tập truyện này luôn đem đến cho người đọc dự cảm bất an về một điều gì đó đã băng hoại, thối nát hay sắp sửa mất đi ngay cả khi cái đẹp còn đang hiện diện. Cao Đăng không dùng cái xấu để nói về cái xấu, anh dùng chính cái đẹp để nói về cái xấu. Cái đẹp của anh nằm trong xã hội bao phủ bởi cái xấu; vì vậy, cái đẹp hiện ra càng xót xa, cái xấu hiện ra càng tàn nhẫn. Chẳng hạn, một đám đông phấn khích tột độ khi chứng kiến cảnh ngọn lửa thiêu trụi hai con người (Nghệ thuật trình diễn, một sáng mùa hè, Granada), một cô gái muốn bảo vệ chó hoang nhưng cô quá mỏng manh trước bọn người săn chó tàn bạo (Kinh Tình yêu - Dị bản của tôi), một nhóm nhà thơ cướp nhà băng (Tập kích nhà băng: Quan điểm của nhà thơ). Ở một xã hội không trân trọng cái đẹp thì chuyện cận kề tận thế là điều không thể tránh khỏi. Đó có lẽ cũng là một trong những thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm.

Vậy nên, cũng có thể hiểu Những gặp gỡ không thể có là một nỗ lực sắp đặt của Cao Đăng để mai mối cho những cái đẹp gặp gỡ nhau trong một xã hội mà những cuộc gặp gỡ như thế ngày càng trở nên hiếm hoi đến mức gần như bất khả. Yếu tố sắp đặt của nghệ thuật trình diễn luôn nằm đó để nhắc nhở ta rằng những gì đang diễn ra không phải tự nhiên mà có, không còn gì tự nhiên hiện diện sẵn để ta hoang phí nữa, tất cả đều là những nỗ lực (và sự nâng niu) của chúng ta để một điều gì đó còn có mặt ở đây. Có thể là cái đẹp. Có thể là những gặp gỡ không thể có.

Vũ Lập Nhật

Thứ Ba, 29 tháng 5, 2018

Sách mới của tôi.

.. Chúng tôi thấy mình sống hơn hết khi chúng tôi nói về cái chết của mình. Nói thế không có nghĩa là chúng tôi coi việc chúng tôi làm như một biện pháp để tự sát hoặc tương đương với tự sát. Chúng tôi kiêu hãnh (hoặc kiêu căng) hơn thế nhiều. Nói đúng ra là: Càng gần sát cái chết, chúng tôi càng cảm thấy mình sống. Trong khi thực thi phi vụ của mình chúng tôi cảm thấy một ánh sáng phi phàm và một bóng tối phi phàm cùng một lúc, giống như khi chúng tôi làm thơ, những bài thơ mà khi viết xong chúng tôi cảm thấy như mình vừa chết và vừa sống lại trong một cái xác khác đỡ xấu hơn, đỡ cũ hơn, đỡ hôi hơn dù bên trong vẫn lại đầy cứt.

- trích từ "Những gặp gỡ không thể có", tập truyện mới của tôi vừa xuất bản (tháng 5/2018).

Các bạn quan tâm có thể tìm mua trên tiki hoặc qua trang nhà của Tao Đàn: https://www.facebook.com/sachtaodan/

Tác phẩm của Igor Mitoraj

Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2017

NHÀ THƠ

(Viết vào khoảng năm 1989-1990, khi tôi đang học đại học - một phần của một tiểu thuyết bỏ dở có nhan đề "Vũ trụ loài người").

Cho đến giờ tôi vẫn khó hình dung bản thân mình, tại đất nước Việt Nam những năm đó, một thằng sinh viên ốm đói, hoàn toàn không có ý niệm về chuyện tương lai sẽ đi về đâu, lại dành thời gian và có tâm trí để viết một thứ như thế này.

Đầy nhiệt huyết và không ít ngây thơ. 

-----------------------

NHÀ THƠ

Nhà Thơ khi ấy một bông huệ trắng cầm tay
Anh mang nhiệt tình trong đôi mắt;
Nhưng hoa huệ bỗng chốc hóa máu đào,
Và máu đào bỗng chốc thành cái chết.

Nicolas Guillen

 … Cái hình ảnh đau buồn và bi thương ấy - bông hoa bé nhỏ dịu dàng bị vài chục gót giày chà đạp, xéo nát - đã không bao giờ buông tha Nhà Thơ, đã trùm lên giấc ngủ anh như tảng bóng tối kinh khủng khiến những giấc mơ anh nặng nề và thoang thoảng mùi cái chết. Hình ảnh ấy là con dao nhọn hoắt chọc thủng ngực anh và rạch nát tim anh; là tia sáng ảm đạm và khắc khoải rọi suốt cuộc đời kỳ lạ của anh. Một người Đông Nam Á với cái tên bí hiểm Susu Durakôn viết tắt là S. Dur nhưng người Hoa gọi một cách trìu mến và kính cẩn là S. Long - S. Con Rồng, anh sinh ra như hiện thân cho đứa con của sự cùng khổ và sự Tự Vượt Thoát Lớn mà nhờ nó những dân tộc này đã đạt được những bước nhảy vó đại vào thế kỷ XXIII “hoàng kim” mà người ta mãi mãi nhắc tới với niềm kiêu hãnh. Thiết tha yêu đời một cách dữ dội và yêu phụ nữ đến cuồng si, anh có người chị - người mà anh yêu quí vô hạn - bị một lũ chiếm đóng nước ngoài bắt cóc vào một đêm sáng trăng rồi hãm hiếp đến chết, xác chặt làm mười lăm mảnh vứt cho chó ăn. Đó là một vết thương rộng toác hoác trong lòng anh; anh như ổ bánh mì bị moi hết một nửa ruột. Nhưng anh vẫn cố gắng làm việc, và người phụ nữ đã luôn luôn là nhân vật - người bạn đường thân yêu nhất của anh. Ai từng biết về thời Phục Hưng Văn Hóa vó đại từ thế kỷ XXI đến XXIV của châu Á trong đó có Đông Nam Á với tên tuổi các danh nhân khổng lồ cùng những công trình bất hủ của họ không thể nào không nghe đến tên anh: những bộ tiểu thuyết - sử thi đồ sộ vừa khủng khiếp vừa huyền hoặc và nên thơ của anh, những vở kịch khác thường hay đến mức siêu thực trong đó anh nói về phụ nữ và tình yêu của nàng với sự am tường và trìu mến khôn tả cũng như làm sống lại những kỹ thuật diễn xuất và lối cảm nhận không gian độc nhất vô nhị của Rom Robam, của Wayang Kulit và Hát Bội tưởng đã vĩnh viễn chôn vùi vào lãng quên, những bộ phim trong đó sự vận dụng táo bạo đến liều lĩnh những khả năng biến ảo khôn cùng và ngoài sức tưởng tượng của Điện ảnh Phi Ơclit đã làm cho Riêm Kê và Aria Chăm Bơni dưới bàn tay tuyệt vời của anh trở thành những thế giới vừa hoang đường vừa có thật mà kẻ lọt vào trong đó vừa thấy e sợ đồng thời háo hức, đau lòng, phẫn nộ và bâng khuâng - đó chỉ là một ít trong những gì S. Dur đã làm cho dân tộc anh và Đông Nam Á của anh cũng tức là cho toàn thể thế giới. Và trong suốt cuộc đời kỳ dị luôn luôn tràn ngập từ ngữ, âm nhạc và ánh sáng của anh, những hình hài phụ nữ đã không một phút nào rời khỏi bóng đôi vai rộng của anh; anh từng yêu rất nhiều người, từng đau khổ, và cả tình yêu lẫn nỗi đau của anh đều luôn luôn cực kỳ mãnh liệt. Anh đã từng, như cách nói người xưa, đi khắp cùng trời cuối đất, đã nếm qua tất cả niềm vui cùng bất hạnh, lạc thú và tai ương của cuộc đời người. Cõi thế vô tận hằng mến yêu anh nâng đỡ anh cũng vững chắc như bầu không khí vững nâng những cánh đại bàng; vinh quang làm rạng rỡ năm tháng của cuộc đời anh cũng như Bắc cực quang khiến những đêm trường đài nguyên trở thành lung linh huyền ảo. Nhưng MỘT CÁI GÌ đã luôn luôn không có trong đời anh; anh đã luôn luôn tìm kiếm một cái gì vượt khỏi tay anh và chân trời mộng tưởng của anh; và anh đã chỉ tìm thấy nó vào những năm tháng sau cùng - những tháng năm đẹp nhất - của cuộc đời anh (chính xác hơn là cuộc đời anh với tư cách một Con Người) khi anh truc tiếp tham gia cuộc kháng chiến đã thành huyền thoại của hành tinh Chulakorn 10 chống sự nô dịch thô bỉ từ phía Tập đoàn liên hành tinh Ngoại Sirius.

Người ta nói anh từng phẫn nộ một cách khủng khiếp và lập tức ghi tên vào Lữ đoàn Tình nguyện Bolivar - một việc mà bấy lâu nay anh lần lữa - khi nghe kể câu chuyện không dành cho kẻ yếu tim về loại vũ khí trứ danh người ta dùng để khử những kẻ yêu tự do, cái vũ khí được gọi một cách giàu chất thơ là Skull Squeezer - Vắt Sọ. Người ta kể rằng những kẻ chống bạo quyền tự bảo vệ bằng những bộ Siêu Giáp (SA - Super Armor) dày đặc mà mọi thứ sóng cũng như hạt đều không thể nào lọt qua - đó là sự vận dụng Hiệu ứng Trở Tuyệt đối. Bằng bộ Siêu Giáp này người ta không sợ bất kỳ thứ gì trong số những vũ khí quang học lợi hại nhất - kể cả đại bác laser và bom hồ quang, kể cả Vòi Rồng Tử Ngoại và loại súng bắn tia Sáng Đặc kinh hồn V. Killer. Khi đó những kẻ muốn thống trị kẻ khác, vốn vô cùng sáng tạo và tuyệt vời thông minh, đã làm ra cái vũ khí phi thường này - Skull Squeezer - Vắt Sọ. Đó là một thứ tia hoàn toàn bí mật, cho đến nay là thứ sóng độc nhất có thể xuyên qua lớp vỏ của Siêu Giáp vốn không cho xuyên qua bất kỳ thứ gì. Vắt Sọ không tấn công toàn bộ cơ thể người, Vắt Sọ chỉ nhắm vào sọ não anh ta. Trong vòng 1/15 giây sau khi được tắm mình trong tia Vắt Sọ, bộ não người liền tan ra thành một thứ dịch loãng màu xám nhờ như tro; dịch này tiết ra ngoài qua mọi ngả có thể: mũi và tai, mắt và chân răng. Dịch chảy ra đều đều và chậm, sánh hơn sữa bò mới vắt một chút. Dịch càng chảy thì cái đầu càng tóp lại, quắt lại, nhàu nát, nhăn nhúm - cũng như quả cà chua thối; thử bóp mạnh cho phần ruột bầy nhầy phọt ra, bạn sẽ thấy cái xác còn lại quắt queo và nhăn nhúm như thế nào. Mà thật, điều Vắt Sọ làm giống việc vắt nước một quả thối đến nỗi người thứ dịch màu xám tro thu được sau cùng ấy bằng cái tên không kém chất thơ là Brain Sauce - Xốt Não. Và đúng như dự kiến của nhà phát minh thiên tài, Skull Squeezer đã làm được điều mà tất cả các vũ khí quang học (Optical Weapons, OW) khác đành chịu bó tay: hàng đàn những kẻ chống đối - những tên Người Dưới xấu số và cũng khá can đảm - đã gục chết như rạ cách hàng nghìn kilômét trước khi chúng bén mũi chân đến được vòng đai bảo vệ các nhà sáng chế vô địch kia; và ai lại không biết rằng trong những bộ Siêu Giáp màu xanh lưu ly nằm ngổn ngang chất chồng như sau cơn động đất kia, trong những cái mũ trùm kín khum khum như mai rùa kia không còn những cái đầu, mà chỉ còn những cái vỏ quắt lại, bẹp dúm nhầy nhụa trong vũng Xốt Não nhờ nhờ màu tro... Hình ảnh ấy thật mới lạ, kỳ thú và gây cảm hứng đến nỗi người ta đâm ra khoái dùng Vắt Sọ; người ta dùng nhiều và thường xuyên một cách đôi khi không cần thiết với một sự cuồng nhiệt đôi khi hơi quá đà; người ta thấy thật hả hê và dễ chịu khi không ai khác ngoài mình lại có dịp ngồi vào sau bàn điều khiển hình ovan màu da cam, viết bằng ý nghĩ lên màn hình trong suốt những chữ và số màu xanh ngọc bích - địa điểm và thời gian mà các Sọ sẽ được Vắt -, rồi, một tay đặt lên cần maníp màu vàng chanh, tay kia nâng cốc rượu vang hảo hạng màu hổ phách, nốc một hơi cạn đến đáy, khà một tiếng ngon lành, chép miệng, rồi nhìn các chiến hữu với nụ cười của Mars Thần Chiến tranh, nói bằng giọng hân hoan và đầy phong vị chiến thắng:“Well, let's cook them!” - “Nào, ta hãy nấu chúng!” - "chúng" ở đây là những cái đầu người.

(Có mối liên hệ giữa động từ "to cook" - "nấu" với cái tên Vắt Sọ - Skull Squeezer: số là, từ hai chữ Skull Squeezer, một người nào đó với óc tưởng tượng trào lộng đã chế ra cái tên lóng này mà về sau thành thông dụng đến nỗi có người quên hẳn xuất xứ - thay vì "Skull Squeezer" người ta chỉ gọi "KUKKEE"; cái tên này, như bạn sẽ thấy, lại gợi nhớ từ "Cookie" - "bánh mì con, bánh dẹt, người nấu nướng". Và nghĩ sâu hơn nữa thì không thể không nhận thấy có gì đó khá gần gũi giữa Skull Squeezer và Ku-Klux-Klan khét tiếng, vì hình như chính từ Ku-Klux-Klan mà có Kukkee (Ku + K (lux) + K (lan) + EE).

Tất nhiên S. Dur chẳng phải là người đầu tiên cảm thấy không thể nào ưa nổi Vắt Sọ. Quả thật đứa con út kỳ lạ và ghê gớm này của kỹ nghệ vũ khí không thể làm nhẹ nhõm trái tim một người bình thường. Vắt Sọ là một cái tên dễ thương; sự dễ thương mang lại cái chết. Trước S. Dur đã có những người nói chung không thiếu tự trọng lập nên cái gọi là Tổ chức Quốc tế Những người Chống Vắt Sọ (IOSSA - International Organization of Skull Squeezer Againsters). Họ gọi Vắt Sọ là cặn bã đáng tởm (disgustful offal) của nền văn minh; điều này cũng đáng lưu ý, vì có những người khác tôn xưng Vắt Sọ là thành tựu kỳ vĩ (monumental achievement) của chính nền văn minh ấy. Các iossani (thành viên của IOSSA) coi bản thân sự hiện hữu của Vắt Sọ là biểu hiện thuần khiết cho sự cùng kiệt của lương tri con người. Đấy là chưa nói đến việc sử dụng nó, tán dương nó và nhớ ơn nó. Và, như người ta nói, IOSSA đã tranh đấu. Kể cũng khá nực cười cái ý nghĩ rằng có thể đấu tranh có kết quả với một thế lực vĩnh hằng như các Tập đoàn Liên hành tinh. Nhưng iossani là những kẻ thông minh; họ biết việc họ làm không điên như nhiều người - chẳng hạn các chủ Vắt Sọ - thường nghĩ. (Ngược lại, chẳng có gì điên hơn là ngồi yên cho Vắt Sọ tiếp tục làm cái công vụ quý hóa của nó). Chủ Vắt Sọ là những người lịch lãm; họ biết lấy lòng thiên hạ, nhưng iossani còn lịch lãm hơn thế. “Vắt Sọ có một great dignity; mọi kẻ hoàn thành sứ mạng của mình đều như vậy”, một kẻ nói, nhưng kẻ khác trả lời: “Con quái vật kinh tởm (A monstruous monster)! Nó không có khả năng cư xử khác hơn với những cái đầu người”. Mà giống người, trước tiên là những cái đầu người (chứ không phải là những ngực và đùi); việc IOSSA làm là thiêng liêng chính vì lẽ đó. ... Phải, và IOSSA bắt đầu từ việc đơn giản nhất: đòi IA thông qua Nghị quyết về Cấm Dùng Vắt Sọ. Việc ấy dễ làm?... Không, không phải. Chấp nhận điều đó với một số người hóa ra lại khó khăn một cách quỷ quái, đơn giản vì ở đây không phải ai khác mà chính công dân thuộc hành tinh đẳng cấp cao nhất bị buộc phải suy nghĩ về những gì kẻ khác nghĩ về họ. Nhắc đến điều đó đơn giản là một việc nằm ngoài ý niệm. Và cho dù lời của IOSSA có làm rung động những con tim, người ta vẫn không thể nào thông qua nổi một Nghị quyết như thế và khi đã thông qua thì chẳng cách nào thực thi một Nghị quyết như thế. Đấy là do thế lực của Ngoại Sirius - tức là của New Earth mà nó là hiện thân - đối với thiên hà địa phương là toàn diện và tuyệt đối: người ta chỉ có thể phản đối họ - bằng nước bọt và media -, người ta chẳng đời nào có thể ngăn họ làm những việc cực đoan nhất họ muốn, vì lợi ích của họ. Bởi thế nên Nghị quyết Cấm Dùng Vắt Sọ, thông qua ở Đại Hội đồng IA ngày 17 tháng 4 năm...., về sau mệnh danh là Nghị quyết Cấm Nấu Sọ (No Brain-cooking Resolution), cho đến ngày 31 tháng 12 cùng năm vẫn là Nghị quyết Liệt (Paralytic Resolution, "Pralute"), đến ngày 26 tháng 2 năm tiếp theo vẫn cứ vậy và được đổi tên là Nghị quyết Chết (Dead Resolution, "Delute"), và như thế ở hành tinh nhỏ bé xấu số kia những cái đầu người vẫn tiếp tục được nấu.

Sunyuan & Pengyu - If I Died (2013)

Về sau ta đọc được tất cả những điều đó trong tác phẩm của anh. Bằng giọng văn chính xác, mãnh liệt, đau đớn, anh miêu tả một cách hiện thực khủng khiếp cái tính hung triệu ghê gớm và âm thầm của một thế giới nơi mà nghìn triệu cuộc đời bị chém, bị chặt, và bị chết nghẹt. Từ những trang sách ứa ra từng giọt nước mắt đục chát xít; hòa sang trong mắt Hanuman, chúng thành chì lỏng, còn qua mắt ta, chúng trở thành axít đặc. Càng đọc càng cảm thấy ruột gan ta dần dần biến thành carbon nguyên thuỷ. Ta đau đớn khủng khiếp. Và ta không thể nào không trút bớt bầu phún thạch này từ bụng ta sang kẻ khác; ta mong chờ ở lòng vị tha và tình thương của họ. Ta chưa muốn chết. Ta chưa được phép chết. Còn quá nhiều kẻ phải đau đớn thê thảm rồi mới chết; mà ngoài ta,không ai kể về cái chết của họ. Và như vậy chẳng biết bao lâu ở Chulakorn không gì khác hơn là bóng đêm quái đản và mông muội, bóng đêm khủng khiếp và đồng nghĩa một cách kinh dị với Cái Chết. Nhưng không, bóng tối ấy… Kinh dị đến nỗi không chỉ đồng nghĩa với cái chết. Nó ghê rợn và hãi hùng đến nỗi… ghê rợn và hãi hùng đến nỗi… Hình như người đời chẳng có lời gì khác hơn nỗi kinh hồng ngập lút trong bóng đêm, và Cái Chết dâng lên làm cổ họng tắc nghẹn. Chưa bao giờ thế giới đen ngòm đến mức đó!... Bạn thấy mình chỉ là một giọt trong biển mực tàu không đáy và rộng hơn cả vũ trụ. Bạn khiếp vía khi thấy mực tàu nuốt chửng bạn, bạn chóng mặt buồn nơn, muốn kêu thét, muốn gào lên rằng bạn đang chết. Nhưng Cái Chết đà tiện phăng tiếng thét của bạn. Đó là chính là Màn Đêm tuyệt đối mà người ta nói trước đây nhiều thế kỷ. Quà Thiêng liêng, Quà Tối thượng mà người Văn minh - Công dân siêu trái đất (CIV-Supertric) dành cho lồi Hai Cẳng Đáng Thương ở Chulakorn IO khốn nạn chính là Màn Đêm này đây. Mãi mãi không còn được thấy ánh sáng, mãi mãi không còn được Mặt Trời sưởi ấm; đó là câu trả lời dành cho những yêu sách bình đẳng và tự do.

... Xamba! Nàng là Niềm Vui là ánh sáng của S., là Mặt Trời thân yêu, Hy vọng nặng trĩu và tròn đầy của S. Hào quang ngời chói của tuổi thanh xuân từ tấm thân Nàng, mãnh liệt và làm đắm say hơn bất kỳ thứ ánh sáng hữu hình nào; có Nàng, Màu Đen Tuyệt Đối trở thành nhu mì như đêm trăng tròn. S. nhìn nàng, nín thở,chống cằm, bâng khuâng; S. khóc. S. chưa bao giờ gặp ai hoàn mỹ hơn người con gái này; mà những người hoàn mỹ như vậy; S. thấy mình bất lực nếu chỉ có thể hiến dâng cả cuộc đời S., sinh mạng S. S. yêu nàng, yêu dữ dội, yêu ghê lắm, nhiều lắm...và Nàng, Nàng cũng yêu S., Nàng tự hiến mình làm Nàng Thơ của Nhà Thơ. 

HOA HUỆ CỦA NHÀ THƠ

Nghiệt ngã xiết bao thân phận con người! Xamba đích thực là Hoa huệ của S., Hoa huệ của Nhà Thơ, mặc dù Nàng không trắng, Nàng đen. Nàng như một hạt huyền thật lớn, nàng như đúc bằng đồng đen; nàng như mặt hồ loang loáng một đêm trăng non. “Ông cố nội em tuyền trắng; ông nội em hầu như trắng, ba em gần như đen. “Con cần phải đen. Con cần có màu da đen như tổ tiên ngàn đời trước của con. Con phải tự hào với màu da đen của con. Ba sung sướng rằng con đen hơn ba; rằng con gái ba đen như bất kỳ người con gái Xuđăng nào. Đó là thành quả của cuộc đời ba; hãy cám ơn ba”. Ba thật là giống Seydou Okucha; râu ba rậm dày, mặt ba phúc hậu nhất là khi ba nhìn em mỉm cười. Em hôn trán ba, hôn bộ râu xồm của ba; đấy là em cảm ơn ba. Em xúc động vô cùng; em cảm thấy niềm vui của cả cuộc đời ba nằm trong một nụ hôn trìu mến của em. Ba đã từng mong mỏi màu da đen một cách da diết và dữ dội. Đã từ bao giờ người ta không còn thấy màu da đen nguyên thủy? Màu da ấy chết rồi ư? Không, nó vẫn còn; nó ở nơi em đây. Cuộc sống thật là vĩ đại!

S. nghe nói, mắt cười hoan hỉ dịu dàng. Nữ tính là Nàng; Nàng hiền thục lắm thay! Sau khi em đã hôn ba, ba lại chỉ hai má mình mà bảo: “Nào, hôn đây nữa, con gái!” Thế là em hôn má ba; em sung sướng làm sao; bởi ba không chối từ để em bày tỏ lòng biết ơn vô bờ bến. Rồi ba bảo: Đi đi; em ngần ngừ; ba lại bảo: đi đi! Em hiểu rằng ba muốn ở một mình; đấy, có mặt em mà ba quay lưng lại thế... Nhưng em biết rằng buổi tối, ba sẽ lại chờ em đến để hôn ba... Đó là Tình Yêu kỳ lạ của ba; em là Tình Yêu không gì thay thế được của ba. Em rất giống mẹ; bác Ng’u em bảo: mẹ em bỏ ba con em khi em còn rất nhỏ... Nàng cười, e ấp, lặng im. Nàng là cái túi đựng phần tinh hoa huyền diệu nhất của đêm; hàm răng nàng là hào quang tất thảy trăng sao luyện thành đôi chuỗi ngọc. “Các mẹ em khen rằng em xinh hơn cả Um’ban. Em hỏi Um’ban là ai, xinh đến cỡ nào; các mẹ cười mà bảo Um’ban là người đẹp huyền thoại, nàng không còn đã lâu, lâu lắm rồi; từ cái thời chúng ta chưa ra khỏi Hệ Mặt trời-Mẹ của chúng ta. Thiên hạ bảo người da đen đẹp như nàng chỉ có một. Nhưng nay Um’ban ở số hai, số một chính là em. Điều đó em không tin; các mẹ lại cười và mang em đi tắm. 

Nàng tắm trong lâu đài nước vĩ đại hình tinh thể kim cương sáng lóa mắt mà điểm cao nhất ngang tầm con hải âu chao cánh liệng bên chàng thủy thủ trên cột buồm. Những cột nước - những giải lụa nước, những con rồng bằng nước khổng lồ óng ánh ngũ sắc - biến nàng thành giọt nước trong veo, xoay nàng tít mù trong điệu múa cuồng hoan, hút nàng vào hạt nhân của muôn ngàn asymmétrie ảo diệu mà mỗi phần tử dù nhỏ nhất cũng là một aformisme huyền bí. Các mẹ nàng cũng tham gia vào vũ điệu phi thường này: họ hát lên bằng giọng trầm trầm, và lâu đài nước, chói lòa và lóng lánh như pha lê, đáp lại - hay dội lại? - những tiếng cười ngân nga, lanh canh, thánh thót. Đó là nghi lễ dành riêng cho buổi tắm đầu năm của nàng - Người Da Đen Đẹp Nhất; điều này sẽ tuyệt biết bao ở cái thời người ta không còn khái niệm về màu da và những ranh giới chủng tộc thời xa xưa chỉ còn là bài học chua chát và nực cười về sự ấu tró của tâm thức loài người.

Nhà Thơ vô cùng hứng khởi trước sự dịu dàng vô hạn của Xamba; anh không còn cách nào hơn là nhảy với nàng. Nàng chưa hề biết thế nào là xarikakeo; nhưng nhiệt tình hừng hực bùng lên từ cặp mắt anh, từ đôi tay cuồn cuộn bắp của anh, từng thớ thịt trên thân thể anh, nó làm cho không khí rực lửa; không khí cuộn thành vòi rồng;nàng bị cuốn theo vòi rồng, nàng xoáy tõm vào vòi rồng (nàng dường như quá nhẹ); nàng cũng múa xarikakeo; anh truyền sinh lực và linh hồn cho nàng - linh hồn của anh, của xarikakeo - và nàng trở thành người múa xarikakeo thần diệu nhất thế giới. Rồi trong cơn tuyệt thú anh vọt sang múa trống Chăm H’roi; lưng anh mềm và dai, dẻo và sóng cuộn tràn trề như con trăn thật lớn bóng nhẫy; đầu anh chạm đất, rồi anh bật lên mạnh và dữ dội với tiếng rền vang oai hùng từ cổ họng kim khí làm ta nhớ lại phát cung siêu phàm của Arjuna ; nó làm cho bóng đêm kinh hoàng ở Chulakorn phải rùng mình run rẩy và nhường chỗ cho ánh sáng; tiếng rền của con người này, nó rực lên như chớp, và người ta thấy rõ từng giọt mồ hôi trên trán những người Irôca đang chơi trò săn bò rừng. Bóng tối đen như mực và nặng hơn nghìn triệu quả núi chẳng làm họ sợ hơn tiếng voi gầm; tự họ làm nên ánh sáng bằng cặp mắt tươi cười và hàm răng toe toét - cũng cười - của họ. Và ánh sáng huyền hoặc của muôn vàn loài cây phát quang chỉ là phần đóng góp khiêm nhường và hân hoan vào ánh sáng rực rỡ lấp loáng trên thân họ bóng mồ hôi, ánh sáng của hàm răng họ lên nước tựa ngà voi và thở rọi niềm vui còn nặng và tràn trề hơn ngàn vạn chuỗi cười của bọn gây chiến vô sỉ. Vậy đó: Chulakorn 10 là hành tinh của Người Dưới. Rồi thình lình gầm lên một thứ tiếng ngàn lần dữ dội hơn sấm rền,cũng cực kỳ vật chất như một chiếc búa tạ mà diện tiếp xúc vượt từ chân trời này đến chân trời kia, vượt quá xa khỏi đường chân trời, và búa từ trên trời vô hình - nhưng choáng ngợp kinh khủng - nện thẳng cánh xuống mặt đất: Ình! Ình!Ình! Đó là chày vồ nện xuống đồng bạc cắc; mặt đất quắn lại, tê liệt, chết cứng. Và tiếng vọng chết chóc bục từ lòng đất giộng đầy tim bạn, lèn chặt tim bạn.

Đó là lời Cảnh Cáo Cuối Cùng của New Earth báo hiệu một cách cuồng đắm và rợn người về Cái Chết Tuyệt Mỹ không tránh khỏi cho những Người Dưới nhỏ nhoi và đầy bi kịch kia mà lời kêu gọi hòa bình cuối cùng từ trung khu thần kinh thống thiết của họ đối với những hộp sọ Người Trên thì cũng chẳng hơn gì tiếng vù vù của con ong bầu giãy giụa trong cái hộp kín. Người ta không còn lạ gì cái giọng cầu hồn kinh khiếp của New Earth, nhưng lần này nó thụi vào tim người và quai vào màng tang người bằng một sức mạnh giết người mới về chất. Người ta hiểu lần này New Earth không trù trừ gì nữa sẽ hất tung Người Dưới Chulakorn 10 xuống vực thẳm Cái Chết. Đại diện không chính thức của New Earth, xưa cũng là Người Đen, phát biểu bằng giọng suy lý và thâm trầm: “Phải, các người nên chết.Chúng ta đây sẽ nhớ ơn các người đã chịu chết. Các người cần chết, nhường hành tinh lại cho những Người-Khó-Chết; Người-Khó-Chết là bọn ta”. Những Lời Thông Thái này, chỉ người Chulakorn được nghe; đối với phần còn lại của thiên hà, hành tinh tội nghiệp này chết vì mặt trời của họ nguội. Nguồn tin chính thức của New Earth bảo thế; người ta biết thế. Đó là Sự Ngu hóa ảo diệu.

(...)

Trần Tiễn Cao Đăng