Thứ Năm, 23 tháng 8, 2018

Nghĩ về nghề.

Văn chương cũng giống như cuộc đời: ở đó, có khi anh cần cực nhẹ, có khi anh cần cực mạnh.

-------------

“Take mankind in mass, and for the most part, they seem a mob of unnecessary duplicates.”
“Gộp chung loài người lại thì, hầu hết bọn họ dường như là một lũ những bản sao không cần thiết.”
- Hermann Melville
==>; Làm nghệ thuật là một trong những cách để bản thân ta không phải là một trong những “bản sao không cần thiết” (unnecessary duplicate) đó.



-------------

Văn chương/nghệ thuật không thể thay đổi thế giới. Tuy nhiên, nó có thể thay đổi một số người, và những người này có thể sẽ góp phần thay đổi thế giới.

--------------

Nhà văn lớn không phải là người viết như đang chơi một cuộc chơi, kể cả dù y là tay chơi giỏi nhất. Nhà văn lớn không phải là người viết như đang thực thi trách nhiệm của một con người trước thế giới, kể cả dù y là người thực thi hữu hiệu và mẫn cán nhất. Nhà văn lớn là người viết như đang chơi một cuộc chơi và đồng thời đang thực thi trách nhiệm của một con người trước thế giới, cả hai đều gần nhất với hoàn hảo trong chừng mực có thể.

Thứ Năm, 9 tháng 8, 2018

Nghĩ về nghề.

Có hàng trăm nhà văn tài ba mà bạn không thể và không cần đọc, cũng như có hàng vạn người đặc sắc mà bạn không thể và không cần gặp, hàng ngàn nơi hay ho mà bạn không thể và không cần đến. Bạn chỉ cần đọc một số nhà văn có hạn, gặp một số người có hạn và đến một số nơi có hạn. Quan trọng không phải số lượng; quan trọng là chất lượng và chiều sâu của các nhà văn/con người/nơi chốn đó, của sự tương giao hay cộng thông giữa bạn và các nhà văn ấy, người ấy, chốn ấy.

-----------

Ai đó nói rằng có thể chia nhà văn thành hai loại: loại viết cho những người đọc đã có sẵn, và loại tạo ra những người đọc cho riêng mình. 

Tôi thuộc loại thứ hai.

Cố nhiên, "tạo ra" ở đây chỉ là một cách nói. Nó không có nghĩa là tạo ra từ chỗ không có gì. Văn của những người viết của tôi là nhắm tới một số người đọc đang có trong thực tại, tuy nhiên họ chỉ mới là người đọc "tiềm năng", là "nguyên liệu thô" để từ đó tạo ra những người đọc cần có. Để họ trở thành người đọc cần có cho loại văn này, cần xảy ra một quá trình chuyển hóa. Quá trình chuyển hóa này sẽ thành công nếu 1) bản thân tác phẩm đủ giàu có và đủ mạnh; và 2) nếu bản thân những người đọc tiềm năng này có đủ sự cởi mở và quả cảm cần thiết để dấn vào và kinh qua sự chuyển hóa này.

Tranh của Joseph Zbukvic
----------

Một điều hiển nhiên và đơn giản: Nếu bạn viết không phải nhằm có được bất cứ cái gì, không phải để chạy theo bất cứ cái gì; không phải nhằm làm hài lòng riêng một ai; thì sự viết của bạn là trong một cõi phi thời gian. Tác phẩm của bạn, cái tạo vật nảy sinh từ bên trong bạn, được bạn cưu mang, lớn lên cùng với bạn, nó sẽ hình thành trọn vẹn và ra đời khi nó phải ra đời, theo quy luật của riêng nó.

Để ra đời được một tác phẩm nghệ thuật đúng nghĩa, một năm hay hai mươi năm chẳng có gì khác nhau: đằng nào thì cũng chỉ là một chặng thời gian. 

-----------

Ngẫm hai câu này:

"Nếu một con lừa nhìn vào một tấm gương, thì không thể có một thiên sứ từ trong gương nhìn ra được."
(Ngạn ngữ cổ)

"A great film/book gives back to you whatever it is you invest to it."
"Bạn đầu tư cái gì vào một bộ phim/cuốn sách lớn thì nó sẽ trao lại cho bằng chừng nấy."
(không nhớ của ai)

==> Một bộ phim/cuốn sách lớn giống như một tấm gương mà ẩn trong đó là một "thiên sứ". Thiên sứ này chỉ hiện ra khi người đến soi gương là một người cởi mở, thành tâm, không định kiến, vô ngã.

-----------

Tự dịch tác phẩm của mình (nếu ta thu xếp được thời gian) là một việc đầy thử thách, cần thiết và đẹp. Nếu trong khi làm việc ta đừng quên rằng, khác với khi dịch tác phẩm của người khác, dịch tác phẩm của chính mình, ta có quyền thực sự viết lại nó theo nghĩa đen, làm nó gần với ý ta muốn hơn, bằng một hệ phương tiện khác, trong một hình hài khác, với một tông giọng khác, vừa là tác phẩm gốc vừa không phải là nó, có thể không hoàn thiện hơn, nhưng khác biệt, có vẻ đẹp và sức mạnh riêng của mình.

-----------

Những dòng sau đây cũng có thể dùng để nói về tôi:

“[I write] in order to become greater than I am, for I am so little. I write because I have nothing better to do in this world: I am superfluous and last in the world of men. I write because I am desperate and weary. I can no longer bear the routine of my existence and, were it not for the constant novelty of writing, I should die symbolically each day. [...] Now I only wish to possess what might have been but never was.”

“Tôi viết để trở nên lớn hơn tôi trong thực tại, vì tôi quá nhỏ bé. Tôi viết vì tôi không có gì hay hơn để làm trên thế giới này: tôi thừa thãi và hạng bét trong thế giới người. Tôi viết vì tôi kiệt quệ và tuyệt vọng. Tôi không chịu nổi nữa sự đều đều lặp lại trong cuộc sống của tôi, và giá không có sự tươi mới thường xuyên của việc viết văn thì ngày nào tôi cũng chết theo nghĩa tượng trưng. [...] Giờ tôi chỉ muốn sở hữu những gì lẽ ra đã có thể có nhưng chưa bao giờ có.”

 - Clarice Lispector

Thứ Ba, 17 tháng 7, 2018

Về sự viết.

"Cospolist Nổi Loạn" của tôi: một dự đồ tiểu thuyết lớn hơn nhiều - về độ dày, quy mô, trữ lượng, tham vọng... - so với "Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian".

 Tôi đã dành cho nó nhiều năm - từ đầu năm 2006 (khi tôi bắt đầu thực sự viết như một nhà văn) cho tới cuối năm 2010 - khi tôi tạm ngừng "Cospolist..." để dành trọn thời gian và tâm trí cho "Life Navigator..." mà những dòng/hình ảnh đầu đến với tôi một cách bất ngờ vào giữa năm 2010.

Trong một buổi tọa đàm giữa Thuận, Nguyễn Thúy Hằng và tôi về sự viết.

Quay trở lại với "Cospolist..." và hoàn thành nó là một quá trình không dễ dàng. Có một thời gian tương đối dài - từ 2014 cho đến 2016 - tôi cảm thấy một thứ lực cản nào đó khó lý giải được, mà đến giờ tôi mới có thể tạm gọi tên nó ra: đó là sự mất tự tin, do cảm thấy bản thân mình, đến lúc này, vẫn chưa thực sự sẵn sàng cho tầm cỡ mà "Cospolist Nổi Loạn" cần và xứng đáng có.

Giờ thì, tôi vẫn đang tiếp tục tiến lên cùng "Cospolist...", thận trọng, từng bước một, không kỳ vọng, không vội vã. Tôi có lẽ như người leo núi, sau một cuộc tạm dừng khá lâu ở lưng chừng núi vì kiệt sức hoặc vì lý do nào đó, giờ đây, hiểu núi hơn và hiểu mình hơn, lại tiếp tục leo, bình tĩnh, vui với mỗi bước lên được cao hơn, đồng thời đủ khiêm nhường để biết rằng một lúc nào đó có thể mình lại sẽ phải dừng lại. Để rồi lại tiếp tục, có thể.

Thứ Ba, 3 tháng 7, 2018

Trần Tiễn Cao Đăng: Tôi là thành viên bộ tộc những người 'đau đời'

Bài đã đăng trên zing.vn ngày 23/06/2018
https://news.zing.vn/tran-tien-cao-dang-toi-la-thanh-vien-bo-toc-nhung-nguoi-dau-doi-post853913.html

--------------------------

Bốn truyện ngắn trong “Những gặp gỡ không thể có” đều có dung lượng khá dài so với mặt bằng truyện ngắn thông thường và đều có thể phát triển tiếp thành tiểu thuyết. Như vậy, nếu không xét đến yếu tố dung lượng, theo anh điều gì là điểm khác biệt giữa truyện ngắn và tiểu thuyết?

Nếu nhất định cần một sự phân định về hình thức các truyện này thì tôi nghĩ chúng là truyện vừa (novella) chứ không phải truyện ngắn.

Nhà văn đôi khi có thể biết, trước hoặc trong khi viết, rằng ý tưởng đang có trong đầu mình là phù hợp với một truyện ngắn, truyện vừa hay tiểu thuyết. Tuy nhiên, ở một số trường hợp khác thì không. Chẳng hạn, các tiểu thuyết “Cuộc săn cừu hoang” và “Biên niên ký Chim vặn dây cót” của Murakami là được triển khai từ những truyện ngắn trước đó. Ta có thể hình dung rằng, một thời gian sau khi viết các truyện ngắn đó, có thể nhiều năm, nhà văn “đột nhiên” nhận ra rằng ý tưởng ấy, câu chuyện ấy có tiềm năng của một tiểu thuyết. Mặt khác, có những truyện vừa toàn bích, tự nó là quá đủ, chẳng hạn “Hóa thân” của Kafka. Hẳn bản thân tác giả biết hơn ai hết rằng không cần triển khai nó thành tiểu thuyết.

Trên thực tế, ranh giới giữa truyện ngắn, truyện vừa và tiểu thuyết không phải bao giờ cũng rõ ràng, và không phải là điều trọng yếu.

Được biết anh rất yêu thích nghệ thuật múa, và cả âm nhạc, điện ảnh, vậy khi viết tập truyện ngắn “Những gặp gỡ không thể có”, ba bộ môn nghệ thuật ấy có tác động gì đến quá trình sáng tác của anh không, có gợi mở những phương thức viết mới cho anh không?

Tôi yêu mọi cái đẹp đích thực dưới mọi dạng thức, do tự nhiên hoặc con người tạo ra. Những cái đẹp trong các thể loại nghệ thuật hoặc loại hình hoạt động khác của con người đều có thể tác động đến văn của tôi, bằng cách này hay cách khác. Chẳng hạn, “Chika Choắt”, một chương trong “Life Navigator…”, hiển nhiên là “chịu ơn” từ cái đẹp của võ thuật. Về việc “gợi mở những phương thức viết mới” như bạn gợi ý, bản thân tôi không rõ. Cũng có thể như vậy trong tương lai. Một trong những niềm vui không gì thay được của việc sáng tạo là bản thân ta, trong phần lớn trường hợp, không thể mường tượng trước một cách chính xác hình hài cái thành quả sau cùng của mình.

Có phải “Những gặp gỡ không thể có” là một tiền truyện hay hậu truyện cho “Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian”, vì ở truyện ngắn cuối cùng “Tập kích nhà băng: Quan điểm của nhà thơ”, cho người đọc cảm giác nhân vật người phụ nữ được tôi mời kể chuyện chính là “nàng” trong cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh?

Thật ra, bốn truyện trong tập này được viết vào những thời gian khác nhau - có truyện viết cùng lúc với “Life Navigator…”, có truyện trước đó, có truyện ít lâu sau đó. Nhưng bạn đã có một nhận xét tinh tế. Bên trong các truyện này và trong “Life Navigator…” có một âm vọng chung, một cái nền chung nào đó, như thể tất cả chúng là những tiểu truyện bên trong một đại truyện mà cho đến giờ (và có thể sẽ mãi mãi) ẩn kín, chỉ phát lộ mỗi lúc một phần. Theo nghĩa này, rất có thể người phụ nữ được mời kể chuyện kia chính là “nàng” trong “Life Navigator…”, mặc dù trên thực tế “Tập kích nhà băng…” được hoàn thành sau “Life Navigator…” và tôi không có chủ ý như thế khi viết.

Trong tác phẩm của anh, ngoài đề tài tận thế, có thể thấy một đề tài cũng thường xuyên xuất hiện là về động vật, cụ thể hơn là việc động vật bị ngược đãi. Anh bắt đầu nuôi dưỡng tình yêu, sự quan tâm dành cho động vật từ khi nào và vì sao anh cảm thấy bản thân có trách nhiệm phải lên tiếng về việc bạo hành động vật thông qua tác phẩm của mình?

Tôi yêu thương loài vật - chó, mèo, chim… - từ nhỏ, như một tình yêu thương hoàn toàn tự nhiên. Tuy nhiên, chỉ đến khoảng 10-15 năm trở lại đây, tôi mới ngày càng bắt đầu thường xuyên suy nghĩ về cái gọi là “nhân tính” của loài người nói chung một khi chúng ta vẫn đang tiếp tục cư xử với mọi loài khác với sự kiêu ngạo và vô cảm như trong hiện tại.



Câu văn của anh thường rất dài và anh miêu tả chi tiết rất kĩ, anh có sợ sự tập trung quá nhiều vào chi tiết sẽ khiến người đọc bị lạc vào mê cung chữ nghĩa của anh và khó nắm bắt nội dung, tinh thần chính yếu của câu chuyện không? Hay chính sự lạc lõng giữa bộn bề chi tiết ấy là cảm giác anh có chủ đích đem lại cho người đọc khi sáng tác?

Viết câu văn dài, tập trung vào chi tiết không phải là lựa chọn của tôi - điều đó đến một cách tự nhiên. Mặt khác, tôi cũng không muốn tự giam mình trong lối viết đó. Ở một số truyện khác, tôi dùng chủ yếu những câu ngắn - tuy nhiên, điều đó là do bản thân nội dung câu chuyện quyết định.

Tuy vậy, đúng là câu dài hợp với tạng của tôi hơn. Đó có lẽ là do một đặc tính nào đó của phương thức tư duy, hay đúng hơn là hình thái của tâm thức. Không phải vô cớ mà đa phần các nhà văn tôi đặc biệt yêu thích là những người “chuyên trị” câu dài, như José Saramago, Laszlo Krasznahorkai, Bohumil Hrabal, Thomas Bernhard. Cái chung của những người này: họ không chỉ là nhà văn tài hoa, trí thức đích thực, mà còn là những tâm hồn lớn thường xuyên bận tâm đến những vấn đề lớn của loài người, của sự tồn tại - những người thường xuyên mang một nỗi lo âu lớn (Angst) nào đó về thế giới. Tôi là một thành viên trong bộ tộc những người “đau đời” này.

Bổ sung một chút: Tôi không nói rằng câu văn dài “hay” hơn hoặc “cao” hơn câu văn ngắn. Mỗi loại câu, mỗi phương thức kể chuyện đều có sức mạnh của nó, vẻ đẹp của nó.

Cái đẹp xuất hiện trong “Những gặp gỡ không thể” có hầu hết đều bị hủy diệt, vì sao anh thường chọn những kết thúc rất khốc liệt cho truyện của mình như thế? Phải chăng anh đã mất niềm tin vào việc con người ngày nay biết cách giữ gìn, nâng niu cái đẹp?

Một người bạn của tôi, là người có khả năng thẩm định nghệ thuật tinh tế mà tôi quý trọng, có nhận xét rằng truyện của tôi thường khởi đầu với một sự êm đềm, bình an, như thể sẽ không có chuyện gì xảy ra, nhưng, nếu tinh ý, người đọc có thể dần dần nhận ra một dòng chảy ngầm ở bên dưới báo hiệu sự bất an nào đó. Và rồi, ở một thời điểm tưởng như bất ngờ, bất an phát lộ và bùng ra. Theo anh ấy, đó là phong cách riêng của tôi.

Cũng có thể đúng như anh ấy nói, nhưng nếu vậy, tôi nghĩ nguyên nhân không đơn giản là mất niềm tin vào việc con người biết giữ gìn cái đẹp. Mất niềm tin vào việc con người có khả năng giữ gìn giới tự nhiên đã sinh ra mình và kể cả giữ gìn chính mình, đó mới là dòng chảy ngầm lớn và sâu nhất trong mọi thứ tôi viết.

Không phải không có niềm hy vọng nào vào con người. Chỉ là, tôi không tin vào loài người với tư cách như một toàn thể, mà chỉ tin vào một số ít con người.

Những tác phẩm của anh đều có chất fantasy, sci-fi, hiện thực huyền ảo và câu chuyện thường diễn ra ở thì tương lai giả định. Các nhân tố này tạo ra nét riêng trong sáng tác của anh. Đây có phải là phong cách anh sẽ theo đuổi lâu dài trong thời gian sắp tới hay anh sẽ có những điều chỉnh, thay đổi, chẳng hạn một tác phẩm hiện thực đặt trong bối cảnh hiện tại?

Bên cạnh nhiều thể loại khác, tôi thích văn chương và phim ảnh scifi từ nhỏ. Hồi những năm đầu đại học, tôi viết một tiểu thuyết khoa học viễn tưởng mà tôi đặt cái nhan đề đầy tham vọng là “Vũ trụ loài người”. Dự đồ đó sớm bị bỏ dở, nhưng qua đó tôi biết mình sẽ đi con đường nào.

Mặt khác, tôi không phải típ nhà văn scifi “thuần túy”, theo nghĩa là tôi không bận tâm nhiều đến các vấn đề kỹ thuật, những phát kiến khoa học hoặc phát minh công nghệ trong tương lai. Điều tôi bận tâm hơn là số phận của con người cá nhân trong tương lai xa; vì vậy, trong truyện của tôi, scifi là một thành tố quan trọng thì đúng hơn là một đặc trưng mang tính thể loại.

Vũ Lập Nhật thực hiện