Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2019

Faínâhind và Ăltâhind (trích từ "Cospolist Nổi Loạn")

Đoạn dưới đây trích từ "Ngoại truyện Gurun" trong tiểu thuyết "Cospolist Nổi Loạn" sắp hoàn thành của tôi.

 I
Mùa đông đã trở lại. Cũng như phần lớn người Siră Kăntânări, Faínâhind yêu cái lạnh của mùa đông. Nhưng có lẽ không nhiều người giống như Faínâhind, kẻ luôn cảm thấy rằng, trên tất cả, duy chỉ mùa đông mới là mùa “của nàng”. Nàng biết điều đó là vì chẳng hạn nếu vào mùa đông nàng tựa lưng vào một cây cột nhà bằng gỗ ăphn’gálun trong chừng một canh giờ, thì sau đó một người không mặc quần áo ấm có thể ôm cột này mà sống được qua đêm khi trời lạnh đến nỗi nước đựng trong vò đông cứng nứt cả vò.
Vào mùa đông, những khi trời đặc biệt rét, nàng sưởi ấm cho một số người có mặt ở Lâu đài Trắng của nàng bằng cách đó. Đôi lúc nàng yêu cầu họ cởi giày, đi chân trần trên mặt hồ Otsinowen đóng băng, nếu họ muốn tới Lâu đài Trắng nằm giữa hồ. Nàng yêu cầu họ cứ chân trần như vậy đi quanh Lâu đài từ ba đến mười lần lần, nhiều hay ít lần tùy thuộc họ là ai; nàng đặc biệt thích làm vậy khi tuyết rơi và sẽ không làm vậy nếu đang bão tuyết. Sau đó nàng thích ngắm những bàn chân tím tái của họ kề sát vào những cây cột nàng vừa ôm trước đó không lâu, nàng thích nhìn khuôn mặt họ đỏ bừng vì khoan khoái, vì hưng phấn, vì biết ơn, vì phẫn nộ. Những cốc rượu tmísik đun nóng sẽ được đám nữ tì mang ra, và trước khi tự tay trao cho từng người một, nàng sẽ kề môi vào vành cốc, không quá lâu khiến họ sốt ruột hoặc hiểu lầm rằng nàng thiên vị một ai đó, vừa đủ lâu để hơi ấm và mùi hương môi nàng sẽ vào trong tất cả bọn họ như nhau cùng với rượu. Có người bảo rằng trong khi môi nàng chạm vành cốc, nàng có thể đọc thầm một câu nào đó, một thông điệp, một lời khiêu khích, sự hứa hẹn, một câu bí hiểm, một lời nguyền…, mà chỉ riêng người nhận cốc sẽ nghe thấy, không phải bằng tai mà bằng nước bọt và máu y, bằng tâm can y.
Tuy nhiên, mùa đông năm nay, 214 trước Năm 0, đến với một phẩm chất khác. Nàng cảm thấy ở góc sâu nào đó trong tim mình, từ khá lâu trước khi những bông tuyết đầu tiên rơi xuống, rằng sẽ có những điều, nhiều điều không bình thường xảy ra. Dự cảm đó làm chậm lại những động tác quen thuộc của nàng sau khi thức dậy vào buổi sáng. Chiếc khăn mặt dừng lại lâu hơn trên mặt nàng; cái chậu đồng phải đợi lâu hơn để hứng những ngụm nước nàng nhổ xuống; các đầu ngón chân nàng ngọ nguậy trong mũi giày lâu hơn bình thường một chút - giống như bầy trẻ đang phấp phỏng chờ đợi điều gì đó - trước khi nàng quyết định đứng dậy. “Này em,” nàng chợt thốt lên với Ăltâhind trong lúc cô này vừa bê chậu nước quay đi.
Ăltâhind đứng lại, ngoái đầu nhìn nàng.
“Hôm nay ta thấy khang khác,” nàng nói.
Vâng, Ăltâhind nói nhỏ nhẹ.
Em thử nhìn mây xem, rồi nói cho ta nghe.
Vâng, Ăltâhind đáp, đoạn ra khỏi phòng như một cái bóng.
*** 
Snêkhânúngblăth, nhìn trời đất mà đoán định tương lai, là một trong những truyền thống lớn của huyền học nước ta, các vị biết đó. Tukwanamúk Đại đế xứ Phnŏdhílur là một trong những đấng quân vương tin tưởng ở nền minh triết này với lòng nhiệt thành sâu xa nhất; bản thân Ngài có thể nhìn hình dáng, màu sắc những đám mây, tương quan giữa chúng với nhau, giữa chúng với nền trời và với mặt đất, mà đoán trước vị tướng nào dưới trướng Ngài sẽ bị thương vì ngã ngựa trong trận đánh diễn ra sau đó hai canh giờ ở một nơi cách Ngài hơn nửa ngày ruổi ngựa. Sự linh diệu đến rợn người trong một số lời tiên báo của Ngài khiến người ta gọi Ngài, trong số nhiều biệt danh khác, bằng cái tên Tukwanamúk Tösüdkhâlun - Tukwanamúk Kẻ Truyền Tin Định Mệnh.
Bản thân tôi chưa bao giờ dám cả gan có ý nghĩ mình sở hữu dù chỉ một phần nhỏ cái năng lực phi phàm giống như của Ngài. Là đấng quân vương, Ngài sinh ra đã mang sẵn nó như mang sẵn con ngươi trong cặp mắt Ngài; cũng như, là một phụ nữ, thì từ khi nằm trong bụng mẹ tôi mang sẵn mầm mống của bộ ngực này, bộ ngực hoàn hảo mà mẹ tôi trao lại cho tôi, một trong những truyền thống huy hoàng nhất của gia tộc tôi và thành quả viên mãn nhất của con người trên mặt đất. Mỗi chúng ta, mỗi sinh thể trên thế giới đều là sự nối dài một số những gì tồn tại trong thời gian. Có lẽ những vật vô tri vô hình cũng vậy. Ăltâhind chẳng hạn. Nó không phải là sự nối dài một thứ thân thể khả dĩ so sánh được với thân thể của mẹ con tôi, song mặt khác nó là sự tương tục của một huyền thuật Snêkhânúngblăth tồn tại tự nhiều, rất nhiều đời trước nó. Cũng lạ rằng một thứ thần năng như thế lại là sở hữu chung của một đấng quân vương và một dòng họ chưa bao giờ thoát kiếp tiện dân, song có lẽ đó chỉ là một trong rất nhiều những bí ẩn nằm trong ý đồ của Thượng đế. Tội nghiệp Ăltâhind, hai tay vầy trong nước cọ sàn, khuôn mặt mang cái mũi và cặp lông mày của một bậc công nương. Nếu đó không phải là chút dư ảnh cuối cùng sót lại của một thứ cội rễ vương giả bị lấp dưới hàng trăm thước đất và vùi dập bởi hàng trăm năm bị truy bức hoặc lãng quên, thì chỉ có thể hiểu rằng đó là do một thứ lời nguyền tàn nghiệt đã áp triện lên số phận nó. Theo tôi biết, tất cả những ai nắm được ít nhiều huyền nhiệm của Snêkhânúngblăth đều có một số phận mà kẻ khác không mong muốn. Điều đó không loại trừ ngay cả Tukwanamúk Đại đế, dẫu rằng tất cả những gì xảy ra trong đời Ngài đều xứng hợp với số phận của một bậc vua chúa.
Sáng nay thật sự có gì đó khang khác. Thật thế. Mặc dù tôi có không có khả năng đọc bầu trời và mặt đất như đọc một trang sách viết bằng một ngôn ngữ huyền bí và thứ mẫu tự huyền bí giống như Ăltâhind có thể làm, nhưng tôi nghe được trang sách ấy, nó có một âm vang mà tôi cảm nhận được, giống như sự thay đổi trong cái im lặng của một rặng núi sâu hút khi có một thân người rơi xuống vực, hay cái âm hưởng vi tế, mảnh hơn hơi thở, từ nơi nào đó bên trong tôi khi có bước chuyển từ bậc thứ ba ăgdusíth sang bậc thứ tư igtébdăsíth của nỗi khoái lạc khi tôi múa. Thân thể tôi, cũng như bầu trời, có ngôn ngữ của riêng nó, và những đàn ông đáng kể đối với tôi là những người đã cố gắng đọc được dù chỉ bập bõm những câu từ dễ nhận ra hơn của thứ ngôn ngữ này - cái đáng yêu của họ là nỗi khao khát thấu hiểu không chỉ tầng thứ nhất mà cả tầng thứ hai, thứ ba, thứ tư ý nghĩa đằng sau những câu chữ đó. Chẳng hạn, cánh tay trái tôi úp xuống, nhưng lòng bàn tay xòe ngửa, đầu các ngón tay hơi chếch lên trên, dưới ánh mặt trời khi sáng khi tối của một ngày mây phủ, nghĩa của nó là gì? Một chàng trai xứ Ko-Yo đã đọc được nó, và bởi vậy chàng đã không vượt ngàn dặm trường đến gặp tôi một cách vô ích.
Tranh của Michael Parkes
Lúc này thì tôi, với một nỗ lực và khao khát tương tự như ở những đàn ông của tôi, cố nắm bắt và thấu hiểu hàm nghĩa ẩn mật của bầu trời. Dĩ nhiên Ăltâhind sẽ giúp tôi. Nhưng không lẽ điều bí ẩn và mới mẻ này, mà tôi tin chắc xuất hiện trên trời dành riêng cho tôi, lại không tự nói với tôi dù chỉ một phần những gì tôi cần hiểu bằng cách của nó? Dĩ nhiên là tôi nhờ Ăltâhind giúp, duy có điều nó biết rõ rằng nó chỉ đóng vai trò kẻ nhắc tôi một điều tôi đã quên song một khi tôi nhớ ra thì điều đó là của tôi, nó thuộc về một tầng bậc khác mà, ngoài Faínâhind, không kẻ nào tiếp cận được. Điều ấy khác với khi tôi nhắc Ăltâhind nhớ lại một điều gì đó, bởi lúc này thì tôi là kẻ nắm giữ điều đó ở tầm cao hơn nó.
Những con tàu nào sẽ cập cảng Sgöntăsíd ngày hôm nay? Chừng nào nước chưa đóng băng, những con tàu còn đến. Tại sao bỗng dưng tôi nghĩ đến điều đó? Liệu có phải vì cái gì đó tương tự như khi cây săgdétai cuối cùng còn sót lại nở hoa khiến hẻm núi trở nên khác biệt đến nỗi cách hàng dặm người ta cũng nhận ra? Một cái gì đó khác đang được những con tàu mang tới cho tôi. Sao tôi tin chắc như vậy? Đó là bởi quyền năng của Đấng Tối cao: quan trọng không phải là thông điệp được gửi cho tôi bằng cách nào, qua mật ngữ gì. Quan trọng là tôi cảm nghiệm được yếu nghĩa của nó từ trong tim tôi.
Đây là Ăltâhind: lúc nào cũng khiêm cung, không ngẩng cao đầu trước mặt ai, mắt nhìn xuống luôn luôn, như thể trên mặt đất có ghi sẵn những chỉ thị dẫn dắt từng khoảnh khắc kế tiếp của cuộc đời nó. Có những lúc tôi bắt gặp nó đột ngột ngẩng lên nhìn trời. Những lúc đó, dù đang cách một quãng xa đi nữa tôi vẫn cảm thấy mắt nó sáng rực, như thể nó nghe thấy một tiếng nói từ trên trời, có thể dưới dạng một tiếng sấm vọng xuống, tôi thì không nghe thấy bởi giọng này dành riêng cho nó. Ấy là một cảm giác khó chịu, mặc dù tôi không buồn hỏi nó rằng thực ra thì cái gì, trong khoảnh khắc đột khởi ấy, đã nối liền nó với bầu trời, và liệu trong khoảnh khắc ấy mặt đất có tiếp tục buộc chặt lấy nó không. Kia, nó đã trở lại từ lúc nào, lặng lẽ như cái bóng, một cái bóng mà tôi đã quen cảm thấy hiện diện dù không nhìn thấy. Tựa lưng vào khung cửa, đầu cúi, hai tay duỗi dài, bàn tay xếp lên nhau đặt trên bụng dưới, ngay phía trên gò Sügel, vừa sẵn sàng hành động vừa sẵn sàng thụ nhận, đúng như thân phận nó đòi hỏi, song cũng tương hợp với một cái gì đó khác mà tôi không biết. Ăltâhind, tôi có yêu nó, phải, như yêu đứa em gái lớn lên bên tôi từ thuở thơ ấu. Đồng thời, nhiều lúc tôi nhận thấy, trong thâm tâm, tôi ước phải chi nó không phải là nó như thế này.
- Nào, nói ta nghe em thấy gì.
Im lặng một lát, mắt nhìn xuống, như để quen dần với tầm vóc và sự hiện hữu uy nghiêm của điều mình sắp nói, Ăltâhind cất lời.
- Sắp xuất hiện ở đây người đàn ông sẽ làm thay đổi số phận cô. Trong vòng ba ngày kể từ hôm nay, cô phải nhận ra người đó. Nếu cô không nhận ra được, người đó sẽ chết, và cô sẽ không bao giờ tha thứ cho mình đã vừa mù vừa điếc cả bên ngoài lẫn bên trong đúng vào giây phút một trong những hiện thể của Đấng Tối cao trực tiếp đến với cô. Nỗi ân hận sẽ khiến cô thật sự mù vào một lúc nào đó trong đời cô, và từ đó trở đi người ta sẽ biết đến cô như một người mù, tuy là người mù đẹp nhất.
Khi nói gần hết câu cuối, đột ngột Ăltâhind ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt tôi, và trong khoảnh khắc tôi cảm thấy mình đang đối diện ánh mắt Ăltâhind - hay không còn hoàn toàn là Ăltâhind - những khi nó đột ngột hướng về tia sét vô hình và tiếng sấm vô thanh của bầu trời. Ăltâhind, bầu trời và tôi, trong khoảnh khắc dường như không còn sự chia cách và khác biệt giữa ba cái đó: bầu trời nhìn tôi qua Ăltâhind, Ăltâhind nhìn tôi mà thấy bầu trời, tôi thấy bầu trời qua Ăltâhind và thấy đó là tôi.
- Em vừa nói điều em biết. Ta hỏi em thấy những gì?
- Mép trời phía Tây Nam có màu cánh vạc. Chếch lên một chút về phía chòm sao Bò Tót nền trời có màu giống như lá cây ăgtâki vào tiết sương giá, chừng như đã mất hết sự sống nhưng nếu nhìn bằng con mắt bên trong thì sẽ nhận ra ở nó dáng tươi nhuần của một cái cây sắp trổ hoa… Đó là những gì em thấy, thưa cô, song thông điệp của Đấng Tối cao không phải đến với cô qua những gì thấy được bằng mắt thịt.
- Ta biết, - tôi đáp, giọng hơi gắt, tôi không muốn thế. - Ngôn ngữ của bầu trời không dễ giải đối với ta, nhưng ta có những cách khác chẳng kém hiệu quả hơn để thấu hiểu ý đồ kẻ sử dụng nó. - Miệng tôi nói, nhưng Ăltâhind không còn tồn tại trong tâm trí tôi. Lời tôi như hướng đến chính tôi, hoặc tới kẻ duy nhất có thể và cần phải nghe nó. Đồng thời, trong thâm tâm, tôi nhìn thấy những gì tôi sẽ làm ngày hôm nay, những gì tôi sẽ làm trước khi điều đó tới, chuẩn bị bản thân mình cho giây phút cánh tay vươn dài của Đấng Tối cao chạm vào số phận tôi.
- Ăltâhind, kiểm tra tất cả các loại rượu có trong nhà ta, - tôi nói. - Ta muốn bảo đảm rằng các mỹ tửu dành riêng cho tri kỷ của ta sẽ có khi thời điểm đến, sao cho giọt cuối cùng của chúng thấu vào trong tim người ấy, như giọt máu cuối cùng trong huyết quản ta.
Những mỏm núi lởm chởm của rặng ŏystúrêu - có thể nhìn thấy từ bất cứ chỗ nào trong Hương Viên của tôi, song rõ nhất là từ cửa sổ phòng tôi, chính vị trí này - dường như se mình lại và lùi xa hơn một chút vì cái lạnh; ánh mặt trời làm cho những mép rìa của chúng trở nên vàng ươm hơi ươn ướt, như mật. Đó vẫn là ánh sáng của mùa thu; những cạnh sắc vô hình của mùa đông còn chưa xuất hiện ở cuối tầm nhìn làm đau cặp mắt kẻ nhìn, nhưng môi tôi và hõm ngực tôi, bằng cách nào đó, đã dự cảm được chúng.
- Vâng, em biết phải làm gì, - Ăltâhind nói. - Xin cô yên tâm. Em sẽ làm tất cả và trông nom tất cả, với trái tim như trái tim cô và đôi mắt như Đấng Tối cao, bởi em là một phần không thể tách rời của số mệnh cô.
Nào, liệu bạn có hiểu được tâm trạng khi nghe những lời như nó vừa nói không? Quay lưng đi khỏi ngay nửa chừng chữ cuối cùng, nó dường như biết rõ, không, chắc chắn nó biết rõ, rằng cái gì đó vô hình ẩn trong điều nó nói lẫn sự hiện diện của bản thân nó vẫn còn đó hồi lâu trong tâm trí tôi, và tôi hơi ngạc nhiên, thậm chí hơi khó chịu khi nhận ra rằng tâm trí tôi vẫn còn chỗ cho điều đó. Thôi được, tôi sẽ không nói thêm với các bạn về Ăltâhind. Nếu đúng như nó nói, thì sớm muộn gì tôi cùng các bạn sẽ còn gặp lại nó.
@Trần Tiễn Cao Đăng

Thứ Năm, 27 tháng 12, 2018

Cospolist Nổi Loạn

(trích tiểu thuyết đang hoàn tất của tôi) 

... Hắn trèo lên hàng lan can. Việc này với hắn không khó vì hắn cao, có cặp chân dài, rắn chắc dẻo dai nhờ nhiều năm chạy bộ và chơi tennis. Hắn ngồi xổm trên đó trong một thoáng rồi đứng hẳn lên, gần như thẳng người dù thật ra có hơi chúi về phía trước do lực hút của khoảng không dưới kia. T., tôi kêu to hoặc nghĩ là đã kêu to, nghe một cú thót nhanh và gắt ở tim. Xuân Phong vừa chạy tới và khựng lại cạnh tôi. Có vài tiếng thốt không thành âm tiết, những cú hớp hơi đột ngột do bất ngờ, sửng sốt và khiếp đảm của phái nữ. Trong khi hắn tiếp tục đứng đó, lưng gần như thẳng, trên hàng lan can, trong khoảng thời gian tưởng như bất tận, tôi tiến thêm vài bước lại gần, dợm túm chân hắn lôi xuống, một phần thoáng sợ lỡ đâu chẳng những không thể lôi hắn xuống mà còn, do hắn giãy giụa phản kháng, làm hắn ngã xuống dưới kia sớm hơn, một phần khác thì ngạc nhiên, không thể hiểu bằng thứ năng lực nào hắn đứng được như thế, chẳng khác một diễn viên xiếc nổi cơn chơi ngông, một anh chàng chuyên làm những trò tối hiểm nghèo để được lưu danh Guinness.

 Tôi không kịp làm việc đó. Miệng tôi vừa kêu lên gì đấy đại loại như “Làm gì vậy?” hay “Đừng làm vậy, T.”, đồng thời tay tôi vươn ra, song, cũng gần như tôi ngỡ đã vồ được một con chim thì trong phần mười giây cuối nó kịp bay vụt đi ngay dưới tay tôi, cổ chân và bắp chân T., cùng với toàn bộ thân hắn, rời khỏi ban công trong nháy mắt trước khi tôi tưởng chừng đã với tới tóm được nó, khi mà trong tâm trí tôi đã thấy trước cảnh mình tóm được nó.

Kèm theo sự biến mất này là một tiếng thét thất thanh - một lần nữa lại giọng nữ - từ phía đám người nơi sảnh đợi thang. Đó là thứ tiếng thét đánh dấu sự xé rách chỗ nào đó trên tấm màng mỏng ngăn giữa sống và chết. Không còn việc nào khác cho tôi làm ngoài khom mình qua lan can kia, nhìn theo cảnh T. rơi xuống, gặp sàn dưới đó hoặc có thể là gì đó. Thế nên tôi lao về phía lan can, khom mình qua hết cỡ, nhìn.

Tôi không thể ngờ mình đang ở chỗ cao đến như vậy, phía dưới mình có thể mở ra một khoảng rỗng mênh mông sâu hút đến vậy. Những người đang đi lại ở mặt nền tít dưới kia nom không khác lũ bọ. Ở khoảng cách thế này thì chỉ hoặc tôi hoặc lũ bọ kia là có thật. Tôi không có thật thì hẳn đúng hơn, bởi vì dưới kia rõ ràng đang lôi cuốn tôi về phía nó, ngược lại thì không. Tuy nhiên ấn tượng này chỉ choán trọn tôi trong khoảng một nháy mắt. Gần như lập tức sau đó tôi đã bị hình ảnh của T. thu hút.

Fall of Icarus (1978), Rudy Schnee Weiss

Tôi thấy hắn rất rõ. Hắn đang lao xuống nhanh như một khối đá, một pho tượng bằng đá hình người và to bằng người, một viên đá được tự nhiên đẽo gọt tình cờ mà có dạng người. Cú rơi của một vật vô tri, một kẻ đã chết từ trước khi chạm đất. Một cái gì đó trong tôi phủ nhận điều này, muốn khẳng định với chính tôi rằng điều thực sự đáng thấy còn chưa diễn ra. Và quả nhiên, đến một lúc, khi thân hình T. đã thu nhỏ lại hầu như chỉ bằng con chim lợn mà đôi khi tôi thấy vụt bay từ mái nhà nào đó ngang qua không trung, nó bắt đầu cử động dưới mắt tôi. Tôi thấy hai tay hắn bắt đầu khuỳnh khuỳnh ra, nom hao hao giống con chim sè hai cánh, chuẩn bị có những biến chuyển về chất trong hành trạng của mình. Tuồng như hắn vừa bất ngờ nhận ra rằng, cả hắn nữa, có lẽ hắn cũng làm được như thế, điều mà hắn không bao giờ nghĩ mình có thể làm: tự làm chủ hành trạng của mình khi đang ở giữa không trung chứ không chỉ biết có rơi. Dường như hắn, giữa khi đang rơi, đột ngột nghĩ ra rằng điều đó không nhất thiết là bất khả; nó là một khả năng có thật, cứ cho là rất hiếm xảy ra. Hắn nhận ra là mình có thể bay, bay để kịp làm việc gì đó vô cùng quan trọng mà hắn phải làm, chỉ mình hắn có thể làm, bởi hắn đã có lời nhắn hay tiếng gọi khẩn thiết nào đó, của M. chăng, hay một người khác, người đó đang trong lúc nguy nan chăng, một cơn cùng nguy cực biến - mà dường như hắn đã có thể linh cảm từ trước - khiến người ấy cần hắn đến như vậy và khiến hắn cần bay, sự bay mà hắn có được không phải bởi hắn là siêu nhân hay nhân vật trong một tiểu thuyết hiện thực huyền ảo mà bởi hắn, với nỗi đau thiêu đốt và khát khao hành động của mình, hắn xứng đáng với sự bay ấy. Quả thực, trong vài khoảnh khắc tôi hình như thấy hắn không còn rơi nữa mà đang bốc ngược trở lên, dường như không khí đã bất ngờ quyết định không để hắn xuyên qua nó nữa mà chuyển sang nâng hắn lên, hoặc cuối cùng hắn đã thành công trong việc buộc không khí chuyển sang nâng hắn lên. Như thể đệm theo hoặc hòa điệu theo, vài tiếng ồ dài và sâu cất lên đâu đó quanh tôi, rất khó phân định được bao nhiêu phần trong đó là trầm trồ ngưỡng phục còn bao nhiêu là bất ngờ kinh ngạc. Có lẽ trong một phần giây cuối trước khi nhảy xuống hắn đã biết trước hoặc mong đợi chuyện này chăng. Nhưng chỉ một thoáng sau hình dáng T. tiếp tục thu nhỏ lại với tốc độ đáng sợ thuần túy cơ học. Hai tay hắn vẫn tiếp tục khuỳnh ra hai bên song bất động, vô sinh khí, bộ phận chìa ra ngẫu nhiên của một khối vật chất trơ. Chuyện gì vậy T., tôi nghe mình hét lên. Bay đi, T. Vỗ cánh đi, tôi hét. Tôi không chắc có phải là nỗi khiếp đảm hay sửng sốt đã làm hắn tê liệt.

(còn tiếp)

Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2018

Performance Art, A Summer Morning, Granada

Một phần bản dịch của tôi từ truyện "Nghệ thuật trình diễn, một sáng mùa hè, Granada" đã in trong tập "Những gặp gỡ không thể có" của tôi.

Đây mới là bản dịch thô. Sau khi được chỉnh lý, hiệu đính bởi một người bản ngữ có chuyên môn giỏi, nó có thể, theo nghĩa nào đó, "hay hơn bản gốc".

-------

They agreed they would meet in Granada and she did not arrive until after three days. In these three days he seemed to be carrying a bunch of cindering straw tinder in his stomach. When she did appear on the fourth day, a glance at her face was enough for him to decide the better way is not to ask her anything. He restricted himself to show her how glad he was to see her and how ready he was to share with her anything.

They were having breakfast at a restaurant on the slope of the hill, with a view to Sacromonte with its coutours clear-cut like a laser etched photo. His eating became more interesting because he had a chance to eat and at the same time watch how her face seemed to catch the light from the pink ceramic disk, making her facial skin gleam with a pinky hue both organic and mineral. She did not seem to be aware of this pristine trait of herself, and if she was, she did not care. To the left, on the slope of the adjacent hill (La Golondrina, wasn’t it?), at a slightly lower level, unfolded a gorgeous picture: the patio of a hotel. All the walls of the tall buildings surrounding that patio were of a eye-piercing green: a carpet of creepers so thick that none of the adobe brick was able to break through. One could easily think of incredible walls made entirely of branches and leaves. This green backround was criss-crossed with the canopies of the windows all the way from left to right, from top to bottom, following zigzag lines that seemed at the first glance to be chaotic and, if you looked at it more closely, turned out to stick to a common regular and sophisticated pattern. The canopies, of soft fabric, were scarlet and delicate like rose petals.

He knew she was watching the scene as he was. More than once he was on the verge of speaking out the queer, ambivalent doubt that was slightly disturbing him. As far as his memory did not betray him, this hotel had not been existed at this position until several days before; as far as he remembered, there had been, until several days before, a series of breathtaking houses at disparate levels, he wanted to tell that to her and he kept silent. At this very moment, out of blue, she said, “Last night I had a dream where I am a girl from a fishing village…” He felt a shiver down his back. She looked as if she wanted to add something. Instead, she made a brusque, slightly offbeat, incomprehensible laugh. She gazed directly into his eyes, as if to gauge the effect of what she had recently said, then squinted her eyes, gently shaking her head, as if to drive out of her mind what she had just perceived in him. A fishing village in which region, which country, I have no idea, she continued, so gently, so calmly or at least it seemed so to him. Not that I can remember what happened to me there, but when I woke up I wanted to cry. Funny, isn’t it, she said. He continued to look at her smile and then he himself began to smile. She looked at him for about two seconds more and then, the smile intact, again she switched her gaze to the patio down below with its foliary walls and scarlet, delicate canopies.

And an idea occurred to him: what, if even this moment, where they were sitting here having breakfast at a restaurant on a slope of Albaycin, Granada, were also a dream? If this were true, then she had just in fact told about a dream within a dream and, if this was the case, then nobody could ever know there still existed how many layers of dreams, how many dreams overlapping, enveloping each other, whether they were innumerable, and whether the path leading back to their point of departure, their origin was an endless one?

Look, she said, cutting short this flow of thought. He looked at her eyes, then noticed the direction to which she turned, so slightly, her head. He, too, looked at that direction and, for a second or two, wondered whether this was the right one she wanted him to heed. There existed nothing unusual there, at least as compared to one minute earlier. Or it seemed at least. There was the sea, the same sea like yesterday but not necessarily like it had been all the time, with the well-known Mediterranean azure, the all too pure azure, like the dream of an impossible sea, a dream that persisted in daylight. Be that as it may, the fact was that he was failed to see what she wanted him to.

Or was he wrong? Along the coast of this impossible azure sea run a long stretch of toy-like houses of all possible designs and colours – colours disparate yet similar: they all were soft, subdued ones. Light yellow, like beginning-to-ripe apricots. Light green, like young banana leaves. Half-ripe oranges. Sakura blossoms. Colours and houses he had never imagined to be that beautiful, capable of such a perfect harmony with the unreal azure of the sea. It might also be likely this was what she wanted him to see, what he had seen yesterday and had not seen until now. Still, he felt uneasy, wondering whether she was expecting him to see something she alone could see. What was she seeing? Something concrete, special? Something undistinguished, mundane? He stretched his eyes, pouring into them the intensity in the gaze of an eagle up high in the sky pursuing a chicken on the ground.

And then it came to a point when he felt he had grasped the infinitesimal motion of a tiny object in the background of that scene, tiny because of the distance, not because of its size, perhaps a human hand drawing a curtain. Or was it a slight budging, maybe a sudden respiration of one of or all of those houses, or of the slope onto which they were clinging like children onto the body of a giant mother? His heart seemed to shrink back at the feeling. He drew in a long breath, calming himself by dismissing it as a mere illusion.

And then he realized an infinitesimal motion on the background of that seemingly serene landscape (serene partly because of the absence of winds, partly owing to the fact that the sunshine, though abundant, still had yet to be able to make faraway objects seem to be vaguely vibrant). He blinked once, twice, three times, in order to ensure that was not a hallucination. He continued to sense he was able to discern something moving, albeit in the same way you can sense the movements of a big fish under the surface of a not so transparent body of water. It seemed he would be able to truly take hold of it, that motion, its subject or cause only if he had possessed the eyes capable of seeing through the particle structure of things. Yet he was really able to pin it down! He was aware of this because he was feeling as if an iron ball was slowly rolling on the walls of his heart in rhythm with that motion, which he was sensing more than seeing.

It was something moving in the air, amid the houses. It was flying not very fast and not very slowly, at least to his perception and at least if you take into account the fact that at such a large distance any feeling about the speed of the observed may not be very accurate. His first thought: it was a bird. Simply a bird. If the truth were that simple, however, he would have not been continuing to feel so discomfortingly, incomprehensibly uneasy. Unknowingly he glanced to her, as if to look for an affirmation of this intuition of his. She was looking at that direction like him, and, as if by accident, she squinted her eyes, in an almost inperceptible manner. And a question occurred to him: how could she perceive this movement long before him, and, more importantly, how she did not show any unexpectedness or surprise or uneasiness or excitement: she appeared to be aware of its arrival, waiting for it with considerable patience, an apparent self-restraint, and something like a readiness to accept what is destined to come, what will be, will be.

Juan Miro - "Painting"

He took a closer look and now he was sure it was not a bird. It was simply too big in relation to those houses. Perhaps it was an unusually big bird, a bird the size of a normakl human, flying slowly (either in a dignified and majestic or a lethargic, exhausted manner), at a height perhaps similar to the attics of the houses. No, not exactly. Because those houses were situated at different heights according to the terrain of the slope, at times that creature was flying higher than the roofs, almost grazing the top of the antennas planted on the rooftops, while at other times it seemed you can stand on a balcony at the second floor (amid blossoming flowerpots) and extend you hand to grasp one of the parts of this creature, or perhaps, sitting on the last step of the stone stairway leading to your house, look down this creature like you do a winged horse serenely flying upward from the bottom of the valley. A huge, abnormally large bird, now he decided that was the most probable scenario. The reality, however, might not be that simple. With a world like this, a sunlight like this, a ground landscape like this and a crisp and humid air like this, everything could happen.

Now the object had detached itself from the houses along the slope. It had changed its direction and now was heading toward this side of the valley where they were sitting. Abruptly he felt fear, however unreasonable it might be. He looked at her. No doubt she had also perceived the change in the object’s behavior like him, only that she looked and waited for it with an undescribable expression, with calm and love, with melancholy and maybe a bit of nostalgia, as if she was expecting an ex-lover whom she wanted and did not want to meet again. When the thing had considerably shortened the distance and now was moving in the open space between the two slopes of the valley, he begun to discern something with relatively clear form and outlines. It was a creature the size of a normal adult human, a human, not a bird. The distance was still large, he could not make out whether it was a man or a woman, whether he or she was old or young, ugly or beautiful, fat or thin, well-dressed or nude. Nevertheless, the first thing he could record about the human being was: a) yes, it was a human, exactly a human like himself, it could not be any misunderstanding on his part; b) this human had no wings, nor was he/she spreading his/her arms as if they were actual wings, and he/she was not using a parasail, which was the reason why he had been suspecting this was not a bird.

He felt a sudden acute thirst that make his throat dry like dust, despite the water he had drunk a few minutes before. Apart of this, however, he no longer had feelings about his own body, so completely had the object occupied him. It was approaching, growing larger, very fast. Now, at the distance of fifty or sixty meters, he could see clearly it was a man. That was all what he could discern at this point based on the shape of the skull and the bone structure. More exactly, he was able to tell the gender of the flying being thank to something deep inside him that he would hesitate to call sixth sense. Were he a woman, he would have been ready to say he could sense it with something inside his pelvic cavity rather than with his eyes.

A short while later he was able to pick out more details about the object and the newly received knowledge made knots in his heart. When the object came to be no more than fifteen or twenty meters away from him and not too high above him, he knew he no longer needed to dout his senses. And it was not until then, with the odd silence that his senses had failed to record so far, that he realized everybody around the two of them were also looking at that creature with the same way like him, namely, like hypnotized.

It was a very young man, a boy. One of the handsomest boys he had ever seen. The very moment you see such a creature, you understand why humans always crave for and believe in the existence of that which cannot exist. His face, with its infallible perfectness, worked like a knitting needle jabbing into your heart. A masterpiece the Creator had produced only once out of sheer negligence before He came to understand what mistake He had made. And the pain in your heart at seeing such a creature is a reminder that it was the worst mistake of the Creator, much worse than the one He made when He was producing the ugliest or evilest being.

His body went in perfect harmony with his face, an oblong figure, on the lean side rather than the muscular one, taut, exuding vigor, seemingly bursting from inside the close-fitting pale blue shirt and cream-colored khaki trousers. His legs stretching straight, his arms holding tighly to the sides, he glided through the air much like synchronized swimmers do through water, when the kinetic energy accumulated before could give him enough momentum to move for a considerable amount of time without having to do anything, like a leaf drifting along a stream or a feather floating in a breeze, or, what was more, the space itself acted as the default transmission medium for him: it was as if he were able to move in this fashion and also to stop and stay motionless in the space for many hours in a row or else to drop right downward like a stone and then, at the distance of ten centimeters or so from the ground, abruptly dart upward like an arrow, the space being his home, where he can do anything he wants. It was the absolute calm and dignity in the manner and behavior of the young man that struck him most.

Now the hot boy had come closer, hovering nearly right over his head, at the height of perhaps four meters, and he realized, with a bit disappointment, that this flying man/creature/human would not land where he was standing. He turned his head, following the creature as it/he came flying past (and, after a blink of the eye, reached a position at around thirty meters away from him) and, all the time, he had the gut feeling that this head-turning of his was part of a general motion, much larger, consisting of hundreds of similarly insignificant, simultaneous, perfectly synchronized head-turnings of all the people around him. He felt an unconscious impulse to turn back, look to both sides so as to see those people, but a sudden move of the flying-man captured his eyes.

The flying-man, all of a sudden, stopped, changed direction: both of these actions, stopping and changing direction, taking place in a single moment, a single phase in the same uninterrupted fluid. In this one motion, his oblong, lean, taut curled into a curve as tender and elastic as the winding of a sea snake, and he heard all too clearly that from everywhere around him rose a prevailing, low-pitched, thick sound, unevenly undulating like the sea in strong winds, which was the almost simultaneous breathing out from hundreds of human throats. They were witnessing a motion far beyond any known law of the universe.

And then immediately he held his breath, realizing that the flying man was now heading straight toward him. Without knowing it, he stepped back. Right then a hand, a very strong one, grasped his shirt, holding him tight at the spot. Without turning his head he knew whose hand it was. Still holding him, she fixed her eyes at the approaching flying man, and her face exuded a special intensity that struck him as if it were being ablaze. It was as if the appearance of the flying man, not his touch, was enough to set her to fire and the closer he came, the more fuel got added to the fire which was herself. He could almost feel the heat on his face.

(to be continued)

@Tran Tien Cao Dang

Thứ Ba, 30 tháng 10, 2018

Asrimkhan và Mattai (trích từ “Cospolist Nổi Loạn”)

Một trong những tuyến truyện chính của “Cospolist Nổi Loạn”, tiểu thuyết đang gần hoàn tất của tôi, diễn ra trên hành tinh Gurun, một hành tinh vừa rất khác vừa giống một cách lạ lùng với hành tinh Trái đất. Một trong những phần mà tôi viết với nhiều cảm hứng hơn hết. 

... Ngọn gió mang vị mặn của muối từ vịnh Sgîrmyt thổi tới lấp đầy mũi và lưỡi tôi, tuy không quyện với mùi hăng hăng cay cay của rừng thông giống như ngọn gió từ biển Thangali trên bãi biển thời thơ ấu của tôi, song vẫn mang lại cho tôi hoài niệm mơ hồ và khẽ nhói về một chốn quê nhà tôi không biết rõ và không bao giờ đến được. Hoài niệm đó dường như chỉ càng sắc nhọn hơn bởi cái lạnh của biển phương Bắc vẫn chưa thể ấm lên dù đã sang tới tháng thứ hai của mùa hè. Tiếng kêu của lũ mòng biển chao liệng trên những ngọn sóng dồi nghe như cũng lảnh lói hơn so với tiếng mòng biển mà tôi để lại ở quê nhà Bongora; đối với tôi, dường như một chút âm sắc cao hơn đó là kết quả một hành động của Thượng đế, Người đã điểm thêm nó vào tiếng mòng biển Bongora vốn quen thuộc với tôi, như người thợ-nghệ sĩ bồi thêm một nhát dao cuối cùng, cực nhẹ, lên đường cong vốn đã hoàn hảo của một gợn sóng trên bức phù điêu. Bằng cách đó Người thông báo với tôi rằng Người có mặt bên tôi, như Người vẫn hằng có mặt ở mọi nơi, dù con đường tôi chọn không hợp ý Người đi chăng nữa. Cho dù tôi có làm những việc mà trong mắt người đời là vô đạo, Người biết rằng tôi luôn luôn hướng đến Người, đi trên con đường Người đã định sẵn cho riêng tôi, tiến tới cái hạn kỳ để vượt qua Người, cái hạn kỳ mà chính Người không rõ. Chỉ cần cái biết đó của Người là đủ với tôi.

Kẻ nào đó giẫm lạo xạo lên mặt cát sau lưng tôi. Duy chỉ một kẻ vừa luôn luôn e dè vừa luôn luôn khao khát như Mattai thì mới có bước chân vừa âm thầm vừa dằn mạnh như thế. Tôi đợi một hồi, lắng nghe sự im lặng xuất hiện sau khi những tiếng chân đã ngừng, sự im lặng như một dải khói chừng như đã bị gió ù ù thổi nuốt gọn và làm tiêu biến tức thì song kỳ thực vẫn lẩn quất, còn nguyên đó, như một sợi chỉ vô hình căng thẳng giữa hai chúng tôi. Chầm chậm, tôi ngoái lại nhìn hắn, mái tóc dài của hắn rối bời, bay loạn lên trong làn gió đột ngột trở mạnh. Và tôi nhớ lại một câu của Imshawi, đại ý rằng một mái tóc bay trong gió ẩn chứa sự định tĩnh và chiếm ngự của riêng nó.

Asrimkhan nhìn tôi với cái nhìn mà như có kẻ nói “khiến người ta run rẩy” tuy đứng trước nó tôi không run rẩy. Thì vâng, cứ cho là tôi luôn luôn trong thế sẵn sàng rơi vào trạng thái run rẩy thích hợp bất cứ khi nào cảm thấy cái nhìn của Asrimkhan sắp hướng vào tôi. Trạng thái run rẩy đó hợp với tôi và đúng là tôi đến nỗi tôi không tự nhận ra nó, cũng như người ta không bao giờ có thể nhìn thấy mắt của chính mình trừ phi soi xuống nước hay nhìn vào một cái gương. Phải, tôi là hiện thân của trạng thái run rẩy mà thế giới này cảm thấy mỗi khi nó là đối tượng nhìn của Asrimkhan; nếu điều đó là sự thật thì tôi hạnh phúc vì nó.

Thêm chú thích
Asrimkhalan, anh có lạnh không? tôi nói.

Mi, kẻ sinh ra ở xứ Üganlar nơi người ta nghe nói tới tuyết cũng như gã mù bẩm sinh nghe nói tới màu xanh của biển trong mắt người con gái đẹp. Cái lạnh này chưa làm cái củ của mi teo quắt lại như bộ ngực mụ phù thủy già khú đế đó chớ?

Đó là tất cả những gì Asrimkhan nói với tôi trước khi ngoảnh đi, tiếp tục nhìn ra biển, quay lưng lại tôi, như thể tôi không hề có mặt. 

Tôi nói:

Asrimkhan tôn quý! Có nhiều cái ở tôi không bao giờ có thể teo đi được chừng nào tôi còn ở bên anh.

Tôi cảm thấy không cần phải nói thêm rằng mọi cái của tôi là của Asrimkhan bất cứ khi nào chàng cần tới.

Ngừng một chút, tôi nói:

Bữa sáng đã dọn. Ta cần lên đường sớm, Asrimkhan.

Tốt lắm, sau một lát chàng nói, không ngoái lại nhìn tôi. Tôi đã quá quen với việc không thể nhìn thẳng vào mắt Asrimkhan khi nói chuyện với chàng đến nỗi mỗi khi muốn nói điều gì mới là tôi lại tìm gáy của Asrimkhan và hướng lời của tôi vào đó, như thể chàng có một cái tai vô hình ở đấy dành riêng cho tôi. Tôi chưa bao giờ cảm thấy cái gọi là “phẩm giá bị hạ thấp” khi chỉ có thể nói chuyện với tấm lưng của Asrimkhan, mặc dù tôi cũng chưa bao giờ coi đó là dấu hiệu của một thứ đặc ân mà Asrimkhan dành riêng cho tôi. Đơn giản đó là cách duy nhất để tạo thành và duy trì mối tương giao liên kết giữa chúng tôi, cách duy nhất, không giống bất cứ cách nào khác, nó khiến cho hai chúng tôi, khi ở bên nhau, khác biệt với toàn thế giới, tách ra ngoài thế giới.

Tôi càng yên tâm hơn về điều đó bởi biết rằng ở đâu đó trên kia, trong cõi tiên thiên có một cặp sinh thể đang hiện hữu, giống hệt chúng tôi nhưng hoàn hảo hơn chúng tôi, và, bằng cách sống trọn vẹn mỗi ngày trên thế giới này, Asrimkhan và tôi đang nhích dần từng tí một về phía hai sinh thể toàn hảo đó. Con đường hướng thượng với mục tiêu duy nhất này là số phận của chúng tôi.

Do vậy mà, chẳng hạn những khi hai chúng tôi đi trên đường, tôi thường hát những bài hát từ trong đáy lòng tôi, dù Asrimkhan không bao giờ tỏ ra là có để tâm lắng nghe, nhưng tôi biết, một phần cái nghiệp của tôi là làm đầy không gian quanh Asrimkhan bằng những gì được tạo nên từ cảm xúc và tâm hồn tôi; với Asrimkhan, tôi có thể làm được bất cứ điều gì còn hơn thế.

Mẹ ơi, đừng khóc
Con sẽ về đừng khóc mẹ ơi
Dù đi xa bao nhiêu chăng nữa
Con sẽ về
Đùi mẹ đâu, cho con gối, mẹ ơi.

Tôi hát như thế mà nghĩ đến chuyện Asrimkhan không bao giờ biết mẹ chàng là ai.

(còn tiếp)

@Trần Tiễn Cao Đăng