Thứ Sáu, 14 tháng 7, 2023
Kinh Thánh cho một người
Thứ Sáu, 5 tháng 5, 2023
Arrobauth và Mănjíb (Trích từ "Ngoại truyện Gurun" đi kèm với "Cospolist Nổi Loạn", tiểu thuyết sắp in của tôi)
Arrobauth gặp Mănjíb trên đường cái quan từ Bergavóntai về Zänsurdén. Dù Arrobauth đã mấy lần thấy Mănjíb từ xa, song khi hai người đứng trước mặt nhau lần đầu tiên, Arrobauth cảm thấy có một cái roi bện căng bằng cây gai lạnh như băng quất vào ngực chàng. Hai người nghỉ trọ cùng lữ quán. Đêm, họ ngồi cạnh lò lửa trong căn bếp kiêm buồng ăn, sực mùi dầu mỡ, đầy bồ hóng, mỗi người ấp giữa hai bàn tay một cốc vại to bằng gỗ övgêlêm đựng rượu gừng hâm nóng. Ngoài cửa, gió rít.
Này Mănjíb, sau một hồi im lặng dài Arrobauth nói. Tôi muốn anh làm cho tôi một thanh gươm đặc biệt, thanh gươm mà dẫu là người chí thiện, chỉ cần dùng tới một lần là thành kẻ đại ác, dù ý định ban đầu của y là thế nào đi chăng nữa.Mănjíb lặng lẽ mân mê cốc rượu, mắt nhìn đăm đăm vào điểm nào đó của ngọn lửa trong bếp lò. Một cái gì đó giông giống nụ cười thoáng hiện trên mép chàng.
Anh nghe tôi nói chứ, Mănjíb?
Chầm chậm, Mănjíb ngoảnh lại, bóng tối đọng nơi gò má chàng phía khuất khỏi ánh sáng bếp lò.
Anh bạn gọi đó là thanh gươm đặc biệt. Anh thật sự tin thế sao?
Arrobauth cười xòa, đặt cốc rượu xuống sàn bếp đen nhẻm.
Mănjíb, Cha và Mẹ của Những Thanh Gươm, là một cái tên lừng lẫy, chàng nói. Nếu anh biết rõ hơn tôi thế nào là một thanh gươm đặc biệt, xin hãy chỉ giáo.
Mănjíb lại quay về phía ngọn lửa, một nụ cười mơ hồ như cái bóng của một làn khói phớt qua bên mép chàng.
Không một thanh gươm nào là đặc biệt đối với ta. Mỗi thanh gươm là độc nhất vô nhị theo cách của nó và đều tầm thường theo cách của nó.
Arrobauth im lặng, suy nghĩ.
ARROBAUTH: Cũng như con người, phải không? Người ta nói, đối với nhà làm gươm, mỗi thanh gươm như một con người, là một con người. Mỗi thanh gươm có cá tính của nó, linh hồn của nó. Cái gì làm một thanh gươm đặc sắc hơn hoặc gớm ghê hơn ngàn vạn con người?
MĂNJÍB: Có người nào mà, hơn cả thanh gươm anh vừa nói, một người chí thiện chỉ một lần gặp y, nhìn vào mắt y, chạm vào y là biến ngay thành kẻ đại ác? Anh từng biết bao nhiêu người như thế, hở Arrobauth?
ARROBAUTH (ngừng một chút): Tôi có biết. Giữa triệu người, có một người như thế.
MĂNJÍB: Và anh muốn một thanh gươm làm được cái việc mà giữa triệu người chỉ một người có thể làm?
ARROBAUTH: Tôi muốn một thanh gươm làm được nhiều hơn chứ không chỉ giết.
(Chàng ngừng một chút, dường như xúc động bởi điều mình sắp nói ra, tuy nhiên không một cơ nào trên mặt chàng động đậy).
Tôi muốn một thanh gươm có khả năng hủy diệt theo những cách vượt xa cái chết thường tình. Thanh gươm thường tình giết chết xác thân một con người. Thanh gươm tôi muốn là thanh gươm giết chết linh hồn một con người, và nó làm việc đó không phải bằng mũi nhọn hay cạnh bén của nó mà bằng chuôi của nó. Mũi và cạnh nó giết thân xác kẻ làm đích cho gươm, chuôi nó giết linh hồn kẻ cầm gươm.
MĂNJÍB: Hãy cẩn thận với điều anh nói, anh bạn. Hãy suy nghiệm lại điều anh vừa nói, để xem anh có đang nhầm lẫn không.
Cho dù kẻ chí thiện (nếu quả thật là chí thiện) có chuyển thành kẻ đại ác bởi cầm thanh gươm của anh trong tay hay không, song người ta không bao giờ có thể nói chắc rằng linh hồn hắn đã chết. Bởi, nếu trở thành kẻ đại ác là để thực hiện một nghĩa vụ mà hắn phải làm theo đúng cơ đồ của vạn vật, cho dù hắn có thu được lạc thú cho bản thân từ việc đó hay không, thì anh không thể nói về hắn như về một kẻ đã chết.
Và nếu kẻ chí thiện đó, mặc dù hoặc chính vì biết thanh gươm này có thể làm hắn trở thành gì đi nữa, vẫn cầm lấy chuôi gươm vung nó lên một cách hoàn toàn hữu thức, thì anh có thể nói gì về hắn, kẻ hoàn toàn làm chủ tâm trí và hành động của mình, hành động không phải với tư cách bản ngã hắn mà với tư cách công cụ của thiên cơ, cái vốn dĩ lớn hơn hắn?
Những kẻ làm gươm bọn ta, trong khi làm gươm, bọn ta không màng đến thiện ác. Thanh gươm, cũng như hùng tâm dũng khí của con người, tạo ra cái gì là tùy ở người sử dụng nó và điều này xét đến cùng là tùy ở thiên cơ. Cái thanh gươm anh nói với ta, anh tưởng nó là cái gì đặc biệt với ta sao. Đúng là tay ta chưa từng làm ra nó, nhưng tai ta đã nghe về những thanh gươm như thế, và dẫu chính mắt ta chưa nhìn thấy thì cũng có quan trọng gì một khi chúng chỉ là những thứ tầm thường như bất cứ con người nào ta từng gặp và không bao giờ gặp trong đời ta?
Nói vậy không có nghĩa là ta không thừa nhận rằng thanh gươm của anh, nghĩa là thanh gươm trong hình dung của anh, nổi bật vì sức mạnh. Nghề của bọn ta là sinh ra sức mạnh, sức mạnh không ngừng tăng tiến, sức mạnh hoàn hảo trong chỉnh thể của nó. Ta thừa nhận sức mạnh của nó, song ta không động tâm trước nó. Ta yêu cái ta đang làm ra, ta dửng dưng trước cái ta đã làm ra và trước cái ta biết ta có thể làm ra.
ARROBAUTH: Vậy anh có thể làm thanh gươm đó, và trong quá trình làm ra nó anh sẽ yêu nó? Tôi hiểu vậy có đúng không, Mănjíb? Nếu quả vậy, với tôi thế là đủ.
Mănjíb thong thả nhấp một ngụm rượu, ngước nhìn gié lúa tkhêbatăi chi chít hạt, màu vàng đã xỉn vì thời gian, mà chủ quán ghim lên tường bếp đầy bồ hóng để cầu may, dấu hiệu rõ ràng cho thấy y xuất thân từ tỉnh Sbergă màu mỡ của vùng châu thổ Păwgulém.
Chủ Nhật, 12 tháng 3, 2023
Ofrangan (trích từ "Ngoại truyện Gurun" đi kèm với tiểu thuyết "Cospolist Nổi Loạn" của tôi, sẽ in trong năm 2023)
Ofrangan nghe trong gió hương thơm của một loài hoa lạ không ai biết hoa gì, và chàng mơ hồ hiểu đó là dấu chỉ rằng chàng rồi sẽ ra đi, dấn vào cuộc phiêu lưu lớn đầu tiên và duy nhất của đời chàng.
Phương xa, nơi mà nếu may mắn chàng sẽ gặp những góc nhỏ
ngào ngạt những mùi hương chàng chưa từng biết, không chỉ hương hoa, và nơi mà
kể cả dù được thần may mắn hộ trì chàng có thể sẽ chết.
Phương xa, hương đậm, cuồng hoan, cái chết. Đó là bản
bi-tráng ca mà chàng sẽ tạo nên bằng cuộc đời chàng.
Có lần, hồi bảy tuổi, chàng theo anh trai Shenjuren trèo lên
cội cây cao nhất trong điền trang gia tộc. Không ai biết tuổi của Cây. Hồi đất
này được sáp nhập vào điền trang, thời ông tổ bốn đời của anh em chàng là Cây
đã có đó rồi, thân sáu bảy người ôm, rợp bóng đủ ba trăm người nương náu lúc trời
nắng gắt. Tuy nhiên chẳng mấy ai có thể đứng trong bóng râm của Cây với con tim
bình thản, hầu hết họ ít nhiều rùn lại bởi một niềm kính sợ giống như niềm kính
sợ khi nhìn ngọn núi cao nhất. Có một người (loại này ở đâu và thời nào cũng
có) phản kháng niềm kính sợ này bằng cách lấy dao khắc họ tên mình lên thân Cây
và, ba ngày sau, bị sét đánh chết tức thì trong một cơn mưa. Không cần phải nói
rằng từ đó trở đi không ai dám động đến Cây, cũng như không ai từng dám liều mạng
trèo lên Cây, hoặc nếu có thử thì không đủ lớn cật hoặc không còn sống để kể lại.
Từ tấm bé, mọi thành viên gia tộc đều được dạy về sự linh thiêng của Cây, về
chuyện kẻ nào phạm đến Cây sẽ bị bắt mất linh hồn và không bao giờ có thể trở về.
Ba láp, Shenjuren nói. Đến cuối đời Ofrangan sẽ không quên chàng
cảm thấy thế nào khi nghe câu đó. Nó là câu nói đã quyết định không chỉ cuộc đời
ngắn ngủi và chói sáng như sét hòn của Shenjuren mà cả cuộc đời cho đến giờ vẫn
lờ nhờ như nước rửa chén nhưng rồi sẽ rực cháy và chói sáng y như vậy của chính
chàng. Nhiều năm sau người ta vẫn lạnh gáy khi nghe kể về ngày hôm đó, ngày cuối
cùng người ta thấy Shenjuren trên thế gian. Cậu biến mất trên vòm lá tối tựa
hang sâu của Cây, không bao giờ xuất hiện lại. Cây xóa Shenjuren khỏi nhân gian
giống như cái chết xưa nay xóa lần lượt mỗi người khỏi nhân gian. Phần chàng,
Ofrangan, chàng không bao giờ có thể kể ai nghe về chuyện cái gì làm máu chàng
đông lại khi chàng leo lên tới chạc ba thứ nhì tính từ gốc của Cây. Gọi đó là nỗi
sợ thì cũng giống như gọi lớp bọt đầu ngọn sóng là biển và coi đó là toàn bộ biển.
Đúng hơn, chính trong khoảnh khắc đó chàng trực nhận ý nghĩa sâu nhất của thế
giới, của hiện hữu. Từ khoảnh khắc đó chàng biết.
Sau sự kiện đó, chàng, khi đó bảy tuổi, trở thành một người
khác. Đứa trẻ này giữ nguyên trong tâm khảm ký ức của mười ba kiếp trước, một
pháp sư lừng danh nói về chàng như vậy một ngày trước sinh nhật thứ mười ba của
chàng. Không ai muốn tin lời này. Không ai đủ sức bác bỏ nó. Nhìn chàng, có người
nhớ đến câu chuyện về chiếc bình bí hiểm cao bằng đầu người, trong họng nó là
bóng tối như đêm, người ta có thể trút vào đó toàn bộ nước của một con sông mà vẫn
không đầy đến miệng, như thể bên trong nó là toàn bộ hư không của thế gian. Bên
trong thằng bé Ofrangan dường như có một hư không như thế. Vào ngày sinh thứ mười
hai chàng chợt nhận ra rằng chẳng biết tự bao giờ không ai từng nhìn thẳng vào
mắt chàng. Chàng không phiền lòng vì điều đó, và không lấy làm lạ, chàng biết
hoặc mơ hồ cảm thấy rằng một người nhìn bầu trời, nhìn biển, nhìn đồng bằng rộng
lớn nhiều hơn nhìn con người thì sẽ mang bầu trời, biển, đồng bằng ở bên trong
mình nhiều hơn mang con người ở bên trong mình. Đây là sự trả đũa của người đời
một khi ta ít hoặc không quan tâm tới họ, chàng biết. Và như vậy, từ mươi mười
hai tuổi chàng đã biết một trong những sự thật sâu xa nhất, nền tảng nhất của
loài người: một giống loài gồm chủ yếu là những cá nhân hèn đớn, đê mạt, co rúm
lại trước bóng tối, cơn mê dài, giấc mơ sâu, cái chết, những gì không thể biết,
cõi vô hạn.
Năm chàng mười ba tuổi ông nội chàng mất, chàng thừa lúc
không ai để ý, leo lên giường nơi thi hài nằm chờ nhập quan, nằm cạnh thi hài.
Nhờ thân hình nhỏ bé, chàng có thể rúc dưới tấm chăn dày rộng suốt hơn nửa ngày
không ai phát hiện. Có lúc, trong bóng tối tịch lặng toàn bích dưới chăn, chàng
có cảm giác mình đã nhập làm một với thân xác người chết và, trong cái gì đó
như một giấc ngủ sâu và mênh mông ngang với cõi vĩnh hằng, một góc còn le lói
cuối cùng của ý thức chàng chợt nhận ra rằng nếu rạng sáng mai người ta cứ thế
đưa chàng vào cỗ áo quan đẽo từ thân cây chindagérn ngàn năm tuổi thì đó cũng
là điều tốt bởi vì đằng sau cơn ngủ dường như vô biên này là một cõi khác, rộng
lớn hơn, khủng khiếp hơn, kỳ diệu hơn cõi đời ngoài kia, mà chàng phải khám
phá. Tuy rằng sau đấy chàng đã chui ra khỏi chỗ nằm tuyệt diệu kia, âm thầm
không ai thấy, giống như con sâu non nhô ra từ giữa tán lá dày, song, nhiều năm
về sau, có những lúc chàng nhớ lại mà nghĩ, biết đâu chuyện sẽ tốt hơn nếu
chàng đã nằm lại đó: một phần của chàng sẽ xuống đáy mồ, phần khác của chàng sẽ
như gió lùa qua rặng cây ở một cõi khác, như sấm sét giáng xuống bãi biển ruộng
đồng ở một cõi khác mà đến chết chàng cũng không mơ thấy được. Mặt khác chàng
không hối tiếc mình đã trở dậy quay về với cõi người, bởi trong sâu xa chàng biết
một cách mơ hồ rằng ở đây chàng có việc phải làm.
Và như vậy những năm niên thiếu của Ofrangan là một sự chờ đợi
không ngừng không mệt mỏi, đợi một dấu hiệu, một cú thúc, một tiếng nói nhắc
cho chàng nhớ chàng phải làm cụ thể việc gì để hoàn thành số phận mình. Cứ như
vậy chàng chờ đợi, chờ đợi và chờ đợi trong khi lớn lên, trở thành một nam nhi
hoàn hảo chưa từng có giữa thế gian, cho đến cái ngày chàng gặp Shireki và
Hunzali và biết thời của mình đã tới. Thời của chàng. Thời giấc mơ trở thành thực
tại. Thời thực tại trở thành mơ. Thời không còn ranh chia giữa thực và mơ. Thời
không còn hôm qua, hôm nay, ngày mai, không còn sáng và tối, không còn tĩnh và
động, không còn sống và chết, không còn phải và trái, tất cả là một. Đôi lúc
chàng thảng thốt kinh ngạc trước ý nghĩ này của chính mình, nhưng rồi nhanh
chóng yên tâm: chàng biết ý nghĩ này thuộc về một cõi lớn hơn chàng vô số lần,
và đây chỉ mới là đôi lần đầu tiên nó tự hé lộ cho chàng thôi. Trước thời điểm
đó, chàng luôn có một cảm giác mơ hồ, khó giải rằng hình như chàng chưa đủ kích
thước, chưa đủ tầm cỡ để làm việc chàng sinh ra để làm. Chỉ sau khi gặp Hunzali
và Shireki chàng mới nhận ra rằng không phải vậy. Không phải chàng chưa đủ kích
thước, tầm cỡ. Sự thật là: chàng chỉ mới là một phần ba của cái chủ thể chàng cần
trở thành. Với hai cấu phần còn thiếu mà bây giờ chàng mới gặp này, chàng-và-họ
trở thành một, sinh thể duy nhất, chưa từng có, kỳ vĩ, đầu đội trời, hai chân
hai tay ở hai rìa cách xa nhau nhất của đất. Để điều này thành sự thật, có vài
việc không bình thường mà chàng phải làm. Những việc mà người phàm không ai có
khả năng làm, không ai dám làm, không ai nghĩ tới chuyện làm. Không phải ngay
lúc này: chàng biết rằng hiện tại việc của chàng là đợi - thiên cơ sẽ có cách của
mình để cho chàng biết khi thời điểm tới. Thế giới này sẽ cho chàng biết điều
chàng cần biết vào đúng lúc cần biết bởi thế giới này là mẹ của chàng. Người
yêu thương chàng theo cách của Người, điều mà không phải đứa con nào của Người
cũng có thể hiểu.
***
Hai mươi tuổi Ofrangan gặp Tawilgen, nhạc sĩ lang thang người
vùng Bongora Leiba, cuộc gặp làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời chàng.
Ofrangan gặp Tawilgen dưới bóng một cây bagrasoya lớn. Có người kể đó là một ngày nắng gắt oi nồng đến độ kẻ đầu trần đi trên đường chợt muốn cắn xé mọi thứ giống như chó dại, người khác thì cam đoan đó là một ngày mưa dầm dề tới nỗi ruột gan người bốc mùi như hai bàn chân mang giày ngâm bùn loãng quá lâu. Dẫu mưa hay nắng, dưới tán lá này là một cõi khác biệt. Tawilgen ngồi đó, quấn tấm vải thô vắt tréo che nửa thân hình gầy nhỏ dường như lúc nào cũng có thể chìm lẫn vào vùng tranh tối tranh sáng mát lạnh như chiều muộn cuối thu. Mắt Tawilgen có một vẻ là lạ, không mở, không nhắm, song vừa thoáng trông Ofrangan đã biết Tawilgen không thấy chàng. Tawilgen thấy chàng bằng một giác quan khác. Tawilgen xoay mặt về phía Ofrangan, và trong đôi nhãn cầu bất động của anh, Ofrangan thấy rõ rằng Tawilgen nhìn thấu tâm can chàng vào cái khoảnh khắc cách đây đã lâu, khi chàng còn niên thiếu, lần đầu tiên hẹn gặp được cô gái chàng si mê và, giáp mặt nàng, chợt nhớ mình quên cài cúc quần. Và Tawilgen biết rõ cái lần chàng ở trong rừng, lắng nghe tiếng hót của con chim mikoryana cuối cùng còn nán lại chưa bắt đầu chuyến thiên di hằng năm dài dặc về phương nam, mà tự nhủ chàng muốn giống con chim đó, trao cho thế gian tiếng hát cuối cùng đẹp nhất trong khả năng mình khi tất cả đồng loại mình đều đã đi hết, khi thế gian đang hoàn toàn tĩnh lặng - cái tiếng hát nó sẽ không phá vỡ sự tĩnh lặng mà ngược lại tô đậm và tôn lên sự tĩnh lặng đó, trở thành một phần khắng khít, khác biệt song hòa hợp với sự tĩnh lặng đó. Và Tawilgen còn thấy cái chốn mông lung vô dạng thể nơi tiếng hát đó của chàng có thể sẽ bắt đầu hình thành. Tawilgen nhìn thấy những lần chàng vấp ngã bươu đầu tét môi trên con đường đó, đôi lần chàng lạc lối sa xuống sình lầy hoặc rơi vào giữa lũ ác nhân, suýt nữa mất mạng và, trong phút cùng nguy cực khốn này, duy chỉ bài hát cuối đang động cựa trong ngực chàng là nguồn sức mạnh đủ cho chàng vượt qua tất cả, đưa mình về lại cõi sống nơi chàng rốt cuộc sẽ khai phóng được nó, bài hát cuối mà theo nghĩa nào đó cũng là bài hát cuối của thế gian và cần được trả về cho thế gian. Tawilgen thấy rõ những giọt nước mắt lăn trên má chàng khi mà, giữa đường lang bạt kỳ hồ, một lần chàng đột nhiên nghĩ không biết đã bao nhiêu năm rồi chàng không gặp lại mẹ. Tawilgen biết rõ cái nỗi thôi thúc khiến chàng lâu lâu lại lấy đầu lưỡi rà cái lỗ sâu hoắm còn lại sau khi thầy thuốc nhổ giúp chàng một chiếc răng sâu. Và trong tầm nhìn thông suốt của Ofrangan hình như còn có cả cảnh tượng những khoảnh khắc cuối của đời Ofrangan, những cảnh tượng mà chàng lạnh gáy khi nghĩ tới và, không đủ gan nhìn, chàng nhắm mắt lại. Trong cõi tối sau đôi mắt nhắm, chàng tiếp tục nhìn thấy đôi đường hầm không điểm cuối mà cặp mắt mù của Tawilgen xoi vào cõi vô biên thông qua chàng.
Chàng đứng trước Tawilgen, đầu cúi, như đứa con hoang đàng
trở về nhà sau nhiều năm lang bạt, đứng trước đấng sinh thành. Da mặt Tawilgen
nhẵn láng không một nếp nhăn, người thường mắt thịt sẽ nói rằng Tawilgen bất
quá chỉ lớn hơn chàng mươi tuổi song chàng thì biết Tawilgen đã sống trọn nhiều
kiếp trong nhiều thế kỷ qua và ngần ấy kiếp sống, hay còn nhiều hơn thế, tạo
nên chiều sâu của tiếng đàn mà Tawilgen cho ra đời từ cây chimmusamin của anh,
tiếng đàn mà Ofrangan chưa từng nghe song dự cảm được hai cánh tay chàng sẽ nổi
gai ra sao khi nghe, và chàng biết đó là dấu hiệu cho thấy hồn chàng đang lớn bổng
lên và, trong khi vẫn trụ chắc vào thân thể, đang vươn thẳng lên thinh không,
chạm tới các vì sao nơi mọi thứ đều khác biệt và đồng thời thân thuộc với
chàng.
Sau một hồi do dự, chàng tiến một bước, hai bước, ba bước lại
gần Tawilgen. Bình thản, trong một phong thái chỉ mình Tawilgen có, vừa uy
nghiêm vừa buông thả, vừa bỗ bã vừa cao vời, Tawilgen nhìn chàng, với nụ cười
nhẹ như người cha nhìn đứa con mình đang chuẩn bị cho cha nó thấy một bí mật,
cái bí mật mà anh ta thừa biết song làm bộ như không biết nhằm giữ vẹn niềm vui
của đứa bé giống như giữ vẹn lớp sương muối phủ trên đóa hoa dại. Ngay khi đó
Ofrangan chợt nghĩ rằng đôi mắt, cũng giống như sự sống, là một thứ không thể
thiếu, tuy nhiên nó chỉ là phương tiện để ta vươn tới một cõi khác hoàn hảo
hơn, thiện hơn, nơi mà mắt và sự sống không còn cần thiết nữa. Từ nay trở đi,
chàng sẽ học cách nhìn thế giới giống như Ofrangan, cách bước qua cái cõi khác
kia thông qua tiếng đàn vốn là hiện thân của cách nhìn đó.
Tawilgen rất hiếm khi nói. Trong hơn ba năm hai người gắn liền
nhau như bóng với hình, tất cả các lời Tawilgen nói với chàng cộng lại không
nhiều bằng những lời chàng nói với bạn thân trong một đêm đầu bốc hơi men. Đôi lúc
chàng có cảm tưởng nói bằng ngôn ngữ của loài người là một việc khổ nhọc đối với
Tawilgen. Cũng vậy, mang thể xác con người là việc cực chẳng đã đối với
Tawilgen, đó là nguyên do khiến Tawilgen đi lại, cử động chậm hơn người thường.
Không phải vì anh không có mắt như người thường nên phải thận trọng hơn, mà do
thân thể anh, nhỏ nhắn gầy gò như thế, là quá cồng kềnh, quá nặng đối với anh.
Mặt khác đôi lần Ofrangan thấy anh bật dậy khỏi giường, đi tới đi lui nhanh lẹ,
khoái hoạt khác thường giữa khi đang ngủ. Một lần, giữa khi đi tới đi lui thoăn
thoắt tuy nhiên không có vẻ gì là nôn nả hoặc bồn chồn như vậy, đột nhiên
Tawilgen chậm bước dần, dừng lại, cất tiếng hát. Đó là lần duy nhất trong hơn
ba năm gắn bó bên anh Ofrangan nghe thầy và bạn của mình hát. Tóc gáy chàng dựng
lên trước vẻ đẹp và sự quỷ dị của khoảnh khắc đó. Từ trong tủy mình chàng biết
tiếng hát này không dành cho người phàm như chàng. Chàng như vừa nghe tiếng hát
của các thiên thần dành cho các âm hồn hoặc của các âm hồn dành cho các thiên
thần. Có phải đó là một thông điệp, một tiếng kêu mà đến cả giọng đàn của
Tawilgen cũng không thể thành hiện thân được? Chàng thấy mình như kẻ dốt tự đưa
chân vào vùng cấm, có thể sẽ chết. Sau một hồi sững lặng, gần quên thở, chàng đặt
đầu xuống gối, nhắm mắt. Hơi thở khó, tim đập nặng nề, chàng tự nhủ sẽ khó ngủ
lại được. Nhưng rồi chàng ngủ lúc nào không rõ và sáng ra, trở dậy, thấy
Tawilgen đang nhìn mình, chàng hiểu rằng Tawilgen biết. Nụ cười trong mắt
anh không làm chàng vui. Chàng như lọt vào trong một đám mây đen. Cái nhìn của
Tawilgen như của người ở bên kia một vực sâu mà chàng vô phương vượt qua, đang
nhìn chàng đầy cảm thông nhưng cũng đầy thương hại bởi vì ở đó, bên kia vực, mới
có cái gì đó thực sự vô giá với linh hồn chàng. Và lần đầu tiên, phải, lần đầu
tiên chàng cảm thấy Tawilgen xa lạ với chàng. Sáng hôm sau, lúc Tawilgen chào
đón chàng bằng nụ cười sáng như nụ cười đứa bé trong nôi, hỏi chàng đêm qua ngủ
ngon không, chàng đáp có với một cảm giác hể hả mà chàng biết rằng lý ra phải khiến
chàng xấu hổ. Và chàng ngộ ra, như trong ánh sáng một sao băng, rằng nếu có lúc
chàng chợt muốn ăn tươi nuốt sống Tawilgen và tự nhủ đó là cách tốt nhất để
chàng có thể giữ gìn mãi mãi tâm hồn của bạn, tinh thần của bạn ở trong mình,
thì thật ra đó là bởi trong thâm tâm chàng cũng muốn bằng cách đó xóa Tawilgen
khỏi thế gian để chỉ còn duy mình chàng. Chàng sẽ còn đó để nhớ tới Tawilgen chứ
không phải Tawilgen còn đó để nhớ tới chàng. Một sự hòa hợp tuyệt đối, một sự bất
tử đích thực mà nếu khởi đầu từ chàng thì làm chàng an lòng hơn là khởi đầu từ
Tawilgen.
Một lần, buổi sáng đẹp, Tawilgen và chàng ngồi trong vườn
trước nhà, nhìn khói tỏa lên từ ống khói một căn nhà bên kia sông, nhìn sông chảy.
Tịch lặng như thể là sông kia, khói đó thảy đều chảy ra, tỏa lên từ Tawilgen, từ
cõi tịch lặng an nhiên vô biên và đáng sợ ở bên trong anh. Duy chỉ một nơi sâu
kín và tịch lặng như vậy mới là nơi Quả Trứng sinh ra thế giới đang âm thầm nảy
nở hình hài. Ngay tại đó, ngay lúc đó, một lằn chớp lóe lên trong óc và tim
Ofrangan rằng Tawilgen đến thế giới này không phải để sống mà để chết. Ánh ngời
trong tiếng đàn của Tawilgen là ánh ngời đưa anh vào cõi chết, đi cùng anh vào
cái chết, và không có gì đáng buồn đáng tiếc trong chuyện đó bởi vì riêng với
Tawilgen cái chết là cửa để anh bước vào cõi vĩnh hằng.
Đột ngột, trước khi nhận ra mình đang làm gì, chàng nói với
Tawilgen:
Anh biết khi nào mình sẽ chết, phải không?
Nụ cười của Tawilgen khiến chàng hiểu rằng ngay từ đầu anh
đã biết sẽ có ngày chàng hỏi anh câu đó. Và, sâu trong mắt anh, một tia sáng
khiến chàng nghe rợn sống lưng, rằng anh biết, chàng, Ofrangan, chàng sẽ gắn liền
với giờ chết của Tawilgen, cái chết của Tawilgen. Trong khoảnh khắc đó chàng cảm
thấy rõ rệt điều chàng từng đọc trong một cuốn sách, rằng toàn bộ thế giới đang
gào thét trong máu chàng. Và chàng hiểu, như trong một lằn chớp, rằng tiếng gào
thét này và tiếng đàn của Tawilgen, của chàng, của tất cả các danh cầm đã, đang
và sẽ hiện hữu trên cõi thế, tiếng rì rầm của hạt giống trong lòng đất, tiếng
nước rỉ không ai nghe thấy trong hang sâu, tiếng máu tuôn từ họng con nai tơ bị
bắn, tất cả là một. Sự ngắn ngủi của một tia chớp, sự trường cửu của bầu trời,
tất cả là một.
Chàng cúi đầu, cảm thấy rõ mồn một, như cảm thấy trái tim
chàng đang đập, cái sự thật rằng từ khoảnh khắc này trở đi, mỗi lời chàng nói,
mỗi việc chàng làm đều có thể sẽ được lưu giữ trong vĩnh hằng. Nếu chàng có làm
gì đó. Miễn chàng có làm gì đó. Như chàng đã làm trong hơn hai năm qua. Đàm đạo
với Tawilgen. Im lặng cùng Tawilgen. Quan sát Tawilgen. Học từng ngón đàn của
Tawilgen. Nhập vào từng xao động li ti trong tâm khảm Tawilgen.
Tawilgen nhìn chàng bằng cặp mắt đột ngột có vẻ đen như đêm.
Sau một hồi, Tawilgen cười nhẹ. Và bằng gan ruột mình Ofrangan biết Tawilgen sắp
nói một câu mà chàng sẽ nhớ đến chết.
Giờ của ta sắp mãn, Tawilgen nói.
Tim Ofrangan hẫng đi một nhịp. Cái bóng đen kịt một con chim
khổng lồ như vừa vụt qua mắt chàng. Như thể Tawilgen vừa mời gọi chàng hãy rút
ra con dao chuôi đồi mồi chàng mang trong người để phòng thân, và không ngần ngại,
không run tay đâm thẳng vào ngực anh. Chàng cảm thấy, nhìn thấy, như trong một
linh thị trong suốt, rằng nếu trong khoảnh khắc cuối tay chàng run lên và khựng
lại ngoài khả năng kiểm soát của chàng, Tawilgen sẽ bật cười bạt tai chàng, hơi
mạnh so với một cái tát yêu và bỡn cợt bình thường song vẫn là cái bạt tai bỡn
cợt và thân thiết. Và lông gáy chàng dựng lên bởi chàng nhận ra rằng cái bạt
tai này, bỡn cợt và thân thiết vô biên, là cử chỉ cuối cùng của Tawilgen trên
cõi thế trước khi mũi dao của chàng biến trái tim anh thành hòn đá rơi vĩnh viễn
vào hư vô và cái còn lại là bàn tay cầm dao của chàng, bàn tay cầm đàn của
chàng, bàn tay chàng chôn sâu xuống đất những dấu vết hữu hình cuối cùng của
chính chàng trước khi chết.
Ba tuần sau ngày không quên đó bên sông, Tawilgen chết. Về
sau nhiều người kể rằng trong ba ngày trước khi Tawilgen chết có vài sự lạ xảy
ra, tuy nhiên trong ký ức Ofrangan ba ngày đó là những ngày hoàn toàn bình thường.
Chàng không nhớ có bất kỳ sự lạ (mà người ta suy ra là điềm gở) nào, chàng nhớ
chẳng hạn như trong ba ngày đó chàng chỉ tắm một lần, phần vì trời mát mẻ, phần
khác bởi chàng có lúc cảm thấy mình gây gấy sốt. Chàng hoàn toàn thoải mái với
điều này, ngoại trừ một lần duy nhất chàng bỗng nghĩ tới chuyện nách mình có lẽ
đang bốc mùi ra sao giữa khi chàng đang đọc một câu chuyện đẹp về tình mẫu tử.
Chàng không khó chịu về bản thân mùi nách khá nồng của mình, chàng khó chịu vì
không thật hiểu tại sao lại nảy ra mối liên tưởng đó. Tuy nhiên chàng mơ hồ hiểu
rằng liên tưởng này có gì đó chung với chuyện, ngay khoảnh khắc hay tin
Tawilgen chết, thứ đầu tiên chàng nghĩ tới là mấy cọng lông mũi mọc hơi quá dài
mà sáng đó chàng phát hiện lúc soi gương cạo râu và đã định sẽ cắt đi nhưng sau
đó lơ đãng thế nào chàng lại quên mất. Chàng biết đó không phải là trạng thái đờ
đẫn, trống rỗng, vô cảm của một số người trước cái chết bất ngờ của một người họ
rất yêu thương, như một cách để bảo vệ trái tim mình không bục vỡ và trí óc
mình không sụp đổ. Chàng biết đó là do chàng tiếp nhận sự biến này như một điều
tất yếu, một chuyện tất đến, mà chàng hẳn không mong muốn nhưng cũng không căm
ghét và khiếp sợ. Chàng luôn sẵn sàng cho chuyện này cũng như luôn sẵn sàng cho
cái chết của bản thân chàng.
Có người gọi Tawilgen ra khỏi nhà giữa khi anh cùng Ofrangan
đàm đạo trong đêm. Đợi bạn quay vào, Ofrangan ngồi cạnh bếp lò, đắm mình trong mênh
mông sa mạc Sürülekh mà một câu nói dường như vu vơ của Tawilgen trước đó vài
khoảnh khắc đã đưa chàng đến. Sa mạc mênh mông, chỉ mình chàng. Trong nhập nhoạng
hoàng hôn đang xuống rất nhanh, chàng không thấy Tawilgen đâu. Căng mắt tưởng
chừng bục mí, không thấy, tuy nhiên trong đáy tim chàng biết Tawilgen đang ở không
xa và đang dõi theo chàng, trông chừng chàng. Rất có thể Tawilgen ở ngay cạnh
chàng, mà chàng không thấy. Hình tướng của anh không phải để mắt thịt của chàng
thấy. Nó thuộc về một cõi cao hơn, đẹp hơn, một sự cao và đẹp mà chàng không thể
thấy chừng nào chàng còn đi đứng, ngồi, nằm trong thân thể thô, nặng, mong manh
này. Thô, nặng, mong manh, dễ bẩn và dễ hoại. Có nhiều từ khác nhau trong nhiều
ngôn ngữ khác nhau hòng cố gọi tên dạng hình tướng này. Chàng biết hầu hết các
từ đó, song chàng không dùng bất cứ từ nào để gọi Tawilgen bởi, dù anh là gì đi
nữa đối với thế gian, anh luôn luôn và mãi mãi là thầy, anh, bạn của chàng, là
bản thân chàng. Rồi chàng chợt nhớ không rõ từ bao lâu rồi Tawilgen không trở lại.
Ghế của Tawilgen, đối diện chàng, trống trơ như lòng giếng cạn. Sự trống trơ
này chất đầy đá vào tim chàng. Ofrangan đứng dậy, lao qua sân, ra cổng, và một
khoảnh khắc trước khi mở cổng chàng đã biết từ trong ruột rằng mình sẽ không
bao giờ thấy lại Tawilgen nữa, không bao giờ nữa.
Không ai biết những kẻ nào đêm đó đã gọi Tawilgen ra khỏi
nhà và sau đó Tawilgen đi đâu, còn sống hay đã chết, những gì đã xảy ra với anh
trong những giờ khắc cuối cùng của anh. Không ai có thể nói một cách xác quyết
Tawilgen có những kẻ thù nào muốn trừ khử anh. Và với một cái rùng mình
Ofrangan nhớ tới giai thoại về sự biến mất của người thầy, người bạn lớn của
Rumi, thi hào xứ Ba Tư ở thế giới Terra huyền thoại, cái bóng đổ của thế giới
chàng sống, câu chuyện chàng từng được một ca nhân lang thang kể cho nghe cách
đây đã lâu và chàng chẳng mấy khi nhớ tới, coi đó chỉ là chuyện huyễn hoặc chỉ
đáng quan tâm đối với những kẻ không đủ sức và đủ gan để sống hết mình với cõi
đời có thật. Té ra chuyện như thế này đã từng xảy ra thật sao? Phải chăng, bởi
nó là bóng đổ cho nên, tùy theo hướng và góc của nguồn sáng mà có những lúc
bóng đi trước hình, xuất hiện trước hình? Rốt cuộc, có gì thực sự khác nhau giữa
chuyện chàng và Tawilgen là hình còn Rumi và thầy-bạn của anh ta là bóng với
chuyện Tawilgen và chàng là bóng còn cặp kia mới thật là hình? Trong khi đứng
trước cổng nhà, để cho dần dần ngấm vào trong thịt và tủy mình cái thực tế rằng
từ nay trở đi chàng hoàn toàn đơn độc, chàng có lúc nhìn xuống bàn tay mình nhờ
nhợ trong tranh tối tranh sáng, tự hỏi phải chăng lúc này sự phân biệt giữa
hình và bóng ở chính chàng không còn rạch ròi dễ thấy và có thể không còn hiện
hữu. Nếu chàng và toàn bộ thế giới quanh chàng thật ra là bóng, thì phải chăng
Tawilgen giờ đây đang là bóng của bóng và nếu vậy thì đối với một cõi khác
Tawilgen đã từ chỗ một bóng không có thực chuyển thành một hình có thực?
Cảm trạng lưỡng phân, nhập nhằng bất định này từ đó về sau
trở thành một trong các đặc chất của Ofrangan, khiến cho mọi điều chàng nói, mọi
thứ chàng làm đều vừa như là hình vừa như là bóng. Shireki nhận thấy điều này
khi, lần đầu tiên gặp Ofrangan thổi sáo giữa bãi chợ chiều vắng người, nàng bất
giác vòng tay ra trước, như đang ôm lấy một Ofrangan vô hình, tuy hai là một với
Ofrangan bằng xương thịt đang cách nàng hơn ba chục bước. Không ai ngoài
Shireki biết có phải cũng trong khoảnh khắc đó Ofrangan đã nhận ra nàng giữa
cõi người hay không. Người ta chỉ biết rằng không lâu sau đó đã diễn ra ngày định
mệnh khi Shireki và Ofrangan đối mặt nhau, nói lời đầu tiên với nhau, cái ngày
sẽ đi vào truyền thuyết của người Bongora như một trong những ngày đẹp nhất và
bất hạnh nhất từng có trong trời đất. Chẳng phải vô cớ mà có đôi người nói rằng
trên thực tế Bộ Ba Tuyệt Bích Ofrangan - Shireki - Hunzali không phải Bộ Ba mà
là Bộ Bốn hoặc Bộ-Gần-Như-Bốn bởi vì có cả Tawilgen trong đó. Hoặc đó là Số Ba
Thiên Giới, Số Ba Đen (bởi một trong các điểm xuất phát của nó là một Số Không
thuộc về Cõi Khác, một Số Không mà hiện thể ở cõi này là một vùng, một lõi ánh
sáng đen. Phần lớn là do ánh sáng đen này, Số Không Cõi Khác này mà bộ ba
Ofrangan - Shireki - Hunzali có được sức mạnh gắn kết không rời đến độ phi thường
đó, một sức mạnh không thuộc về cõi người thường. Để thắng được sức mạnh đó,
hòng phá vỡ Bộ Ba này, thì phải có một sức mạnh lớn hơn nó nhiều lần, và sức mạnh
ấy chỉ có thể tìm ở một cõi khác. Cõi khác đó, người đời chỉ lâu thật lâu, có
khi cả đời chỉ một lần chợt nhớ thoáng qua và một cách mơ hồ bảng lảng giống
như bờ bên kia xa tít của một dòng sông mênh mông chìm trong biển sương mù.
Ofrangan không đi tìm Tawilgen. Đúng hơn là chàng có đi tìm,
tới một số nơi, hỏi một số người, giống như người khác ở địa vị của chàng sẽ
làm, tuy nhiên chàng làm giống như cậu thiếu niên mơ mộng và kiêu hãnh vốn chẳng
ưa gì các bước tuần tự theo nhau của nghi thức trưởng thành tuy nhiên vẫn cứ
làm theo, bình tĩnh, xa cách, thâm tâm luôn hướng về phẩm giá đích thực của
mình, cái phẩm giá chỉ có thể đạt được bằng một con đường khác. Nếu đó không phải
là con đường băng qua những vùng nhẹ tênh đầy ánh sáng thiên giới, thì nó chỉ
có thể là con đường dấn sâu vào những vùng chưa ai biết và sởn gáy của cõi âm. Với
chàng, đó là ánh sáng thiên giới hay bóng tối cõi âm cũng không khác gì nhau,
điều quan trọng là chàng băng qua được đến bên kia, chàng thấy, chàng biết. Mặt
trời thiên đỉnh lúc nửa đêm hay một quầng đen kịt vây quanh mặt trời lúc thiên
đỉnh, cả hai đằng đều đẹp và cuốn hút như nhau đối với chàng. Chàng sẽ tuyệt đối
sung sướng nếu có thể bước từ cõi này sang cõi khác mà ở đó Tawilgen là bóng của
chàng hoặc chàng là bóng của Tawilgen, cái bóng đen mà vào khoảnh khắc nào đó,
trong hoàn cảnh thuận thiên cơ nào đó, rực sáng. Mặt khác chàng biết sự tồn tại
của chàng và tiếng đàn chàng trong trời đất cần phải giống như sự tồn tại của
đóa hoa dại bên vệ đường, mà màu sắc và hương thơm chỉ tỏ lộ trọn vẹn với số ít
những ai đủ thông tuệ và hồn nhiên để dừng chân quỳ xuống lặng nhìn. Chàng
không nên giống như một thứ huyền lực khiến búp hoa mới nhú trong nháy mắt bừng
nở thành đóa mãn khai hoặc một đóa mãn khai hiện ra từ chỗ trống không, bởi vì
đã có thứ huyền lực tạo ra chuyện đó thì tất có thứ huyền lực chấm dứt chuyện đó.



