Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2025

Huệ và tôi: Café Brindisi (Trich từ tiểu thuyết "Cospolist Nổi Loạn")


Em hỏi anh điều này nhé. Lần gần đây nhất anh ngạc nhiên là khi nào?
Tôi im lặng, nhìn mắt Huệ. Cặp mắt như vùng nước sâu, tối, tuy nhiên từ bên dưới có gì đó tỏa sáng, như nắng tràn ra quanh bức rèm dày.
Tiếp đi. Em hỏi không phải để anh trả lời, tôi nói.
Lần này thì anh lầm, Huệ nói Anh tránh né một câu hỏi trong khi chính anh luôn thích đặt câu hỏi. Thế không công bằng.
Chắc anh không hay ngạc nhiên như em, tôi nói. Có thể anh không còn khả năng ngạc nhiên như em chăng? Hay anh ngạc nhiên đủ nhiều rồi? Liệu có phải nếu anh ít ngạc nhiên hơn thì anh mạnh hơn?
Có thể chính vì anh ít ngạc nhiên hơn nên anh cảm thấy mình mạnh hơn. Em thì không. Có lẽ đúng là vì em trẻ hơn anh… Nhưng có thật vậy không? Em thì thường xuyên thấy lạ về nhiều thứ quanh mình, nhiều thứ… Chẳng hạn có lần em gặp chuyện thế này. Em vào quán cùng mấy đứa bạn. Bàn gần đó có một bà ngồi một mình... bà ấy chả có gì đặc biệt nên bọn em chẳng để ý… bọn trẻ như em thiếu gì chuyện đáng quan tâm hơn đúng không. Thế rồi đến một lúc bà ấy rút khăn mùi soa lau miệng. Tình cờ khi đó em hướng mắt về phía bà ấy, bỗng em cảm thấy có gì đó không bình thường... có gì đó vừa xảy ra… cảm giác khó tả lắm, nó như… một cơn choáng nhẹ... hoặc như khi ta ở trong phòng tối một hồi lâu rồi đột ngột bước ra ngoài trời nắng gắt ấy… mất một lúc sau em mới nhận ra mình vừa thấy cái gì... cái gì khiến mình bị “sốc” như vậy. Anh có đoán được là gì không?
Huệ ngừng một chút, đẩy cốc nước cam ra xa rồi kéo lại gần.
Cái khăn mùi soa của bà ta… nó chói sáng, như… như gương phản chiếu ánh nắng giữa trưa vậy... hay như khi mình bị đèn flash rọi thẳng vào mặt. Phải mất một lát mới nhìn mọi vật xung quanh như bình thường trở lại được.
Phản ứng đầu tiên của em là trấn tĩnh càng nhanh càng tốt, rồi lý giải xem chuyện gì vừa xảy ra. Liệu mình có ảo giác không? Hay là một hiệu ứng quang học ngẫu nhiên nào đó? Nhìn kỹ lại thì khả năng thứ hai khó xảy ra lắm. Lúc đó xế chiều, không còn nắng nữa... bà ấy thì ngồi trong góc khuất, dưới một ngọn đèn mờ tím tím... bà ta không rút ra tấm gương hay chiếc kính lúp nào hết, em nhớ như thế, em tin mình không lầm, bởi trước đó em nhìn bà ta dù không có chủ định gì, em vốn vậy, đã nhìn là quan sát, ghi nhận, không nhất thiết là để làm gì.
Vâng, ngoài chiếc khăn tay bà ấy không cầm trong tay cái gì khác cả. Ban nãy em vừa nói rằng cái ánh sáng chói lòa đó giống như ánh mặt trời buổi trưa hội tụ trong kính lúp hay ánh đèn flash anh hiểu không. Thật ra đó chỉ là nói cho dễ hình dung, chứ nó rất tương đối, không thật chính xác... cái ánh sáng chói lòa em thấy đó… nó không cho cảm giác rắn, sắc cạnh của kim loại, nó không phát ra từ một nguồn đều đặn, cơ giới… em thấy, đúng hơn là cảm thấy rằng cái ánh sáng đó, nó có… bề mặt… trải rộng… có những nếp gấp và cũng mềm mại như chiếc khăn mùi soa kia, nó có kiểu như những hõm tối, tức là đáy những nếp gấp sâu, quanh đó là những gờ sáng hơn, đấy là những sống cuộn nhô lên… Anh có thể khó hình dung làm thế nào chỉ trong vòng không quá một tích tắc mà em có thể có một hình ảnh rõ ràng chi tiết đến thế… Anh đừng hỏi gặng, đừng vặn vẹo gì em hết... em cũng như anh, không biết chắc được điều gì, em cảm thấy như vậy có lẽ bằng trực giác.
Đó là ánh sáng mềm mại, sống động, hữu cơ, ánh sáng như của một sinh vật, nó khác với thứ ánh sáng đều đặn, cơ giới của một nguồn vô tri như ngọn đèn. Bản thân em ban đầu cũng lấy làm lạ về cảm nhận của mình, về kết luận này từ quan sát của chính mình. Nhưng anh thử hình dung sự khác nhau giữa bóng tối nơi đồng trống vào một đêm không trăng và bóng tối ở trên núi vào một đêm không trăng xem. Hai bóng tối ấy khác nhau, phải không? Sự khác nhau giữa hai ánh sáng này cũng như vậy.
Em đã quay lại nhìn các bạn… Chẳng phải để xem họ có thấy cái em vừa thấy hay không đâu… không hiểu sao em biết chắc rằng cái ánh sáng ấy chỉ một mình em thấy và chỉ trong nháy mắt thôi. Với các bạn em thì chẳng có gì xảy ra hết. Chúng nó vẫn đang hoàn toàn vô tư thoải mái trong thế giới của chính mình. Lúc ấy em rơi vào một trạng thái hụt hẫng, bàng hoàng, gần như nuối tiếc nữa. Khi em hoàn hồn nhìn lại thì bà kia không còn ở đó. Đến giờ em vẫn không chắc đó không phải là ảo giác hay một cơn mơ kéo dài chỉ mấy giây thôi… song cũng có thể không phải là ảo giác hay mơ lúc đang thức chứ, phải không? Em không thể nào hết ngạc nhiên vì điều đó.
Huệ ngừng nói, gại gại mặt bàn.
Em có kể với ai khác về chuyện chiếc khăn mùi soa không?
Không, Huệ nói.
Ngừng một lát, cô nhìn ra nơi khác, nheo mắt, đưa tay sửa kính. Rồi cô quay lại, nhìn tôi một chút và nhắc lại.
Không. Đó đâu phải là loại chuyện có thể dễ dàng chia sẻ với người khác.
Sau đó em thấy gì nữa?
Cũng như với câu hỏi trước Huệ lộ vẻ căng thẳng, di di ngón tay dọc mép ly. Nhưng rồi một làn sóng ánh sáng dâng lên trong cô.
Điều làm em ngạc nhiên nhất là bản thân sự có mặt của mình trên đời này. Có một người như em chứ không phải ai khác và một người như anh chứ không phải ai khác cùng ngồi đây nói về chuyện đó. Anh thấy có đáng ngạc nhiên không? Như em đây, em đang định trả lời câu hỏi của anh, cảm thấy mình biết rõ điều mình sắp nói, thậm chí cảm thấy mình biết nhiều hơn thế nữa, nhưng bỗng nhiên lại nhận ra rằng mình chẳng biết gì hết. Em định nói với anh về những gì khiến em ngạc nhiên, tức những gì mình chưa biết, nhưng khi nói như vậy thì dù muốn em cũng phải quy chiếu về những gì mình biết... biết hoặc tin là biết... mà càng nghĩ lại càng thấy những gì mình gọi là biết chắc thật ra là càng ít ỏi, nhỏ nhoi biết bao. Nhỏ nhoi, vô nghĩa... Ngay khi em đang nói đây, hàng triệu triệu điều ta không biết đang diễn ra quanh ta, bên trong ta, ngoài phố kia, bên kia dãy nhà kia, bên kia biển, dưới lòng đất, trong lòng biển, trong vũ trụ này, ngoài vũ trụ này... ta không biết chúng là gì, ta không biết là có chúng và gần như chắc chắn chẳng bao giờ ta biết được cả. Ngạc nhiên trước mọi sự, luôn luôn ngạc nhiên, lẽ ra đó phải được coi là trạng thái bình thường, lành mạnh của con người mới đúng... trạng thái tự nhiên nhất... Lẽ ra đó là điều đầu tiên không có gì đáng ngạc nhiên khi nói về con người… anh có đồng ý với em không?
Huệ nhìn tôi bằng ánh mắt là lạ.
Em muốn kể với anh về những nỗi ngạc nhiên còn lớn hơn của em, nhưng em cứ phải tự hỏi mình mãi, liệu anh có thuộc số những người thường xuyên mang câu đó trong đầu không.
Em uống thêm gì nhé? tôi nói.
Huệ nhìn thẳng vào mắt tôi như không hiểu tôi nói gì. Nước khoáng, gì cũng được, cô nói. Tôi gọi bồi, bảo cho nước khoáng. Vừa hay lúc đó một nhóm thanh niên lục tục kéo vào ngồi xuống bàn cách chúng tôi dăm mét. Một người trong bọn cao lớn đến nỗi chiếc bàn và không gian xung quanh như bị bùa chú làm cho thu nhỏ lại. Chiều cao, những tảng thịt cuồn cuộn, sức nặng áp đảo của y tưởng như chỉ có thể nhìn thấy trong một trận wrestling giữa các đô vật hạng nặng hay cuộc thi Người khỏe nhất thế giới. Khó hình dung y là người Việt, tuy nhiên vừa kéo ghế y vừa nói oang oang gì đó với các bạn bằng giọng đặc Hà Nội. Ngồi chưa yên chỗ trên chiếc ghế quá nhỏ so với y, mắt y đã bị hút về phía Huệ. Một bên tai y đeo toòng teng chiếc vòng bạc có hình dạng kỳ khu dài cỡ hai đốt tay, trông hao hao như Yul Brynner trong “Quân vương và thiếp”.
Huệ không bận tâm tới sự xuất hiện của y. Cô nhìn ra ngoài cửa sổ. Hai bàn tay cô đặt trên bàn, tay này úp chéo tay kia. Hai bàn tay thon dài, ngón khỏe, dường như thấy được làn da phập phồng theo từng hơi thở đều. Tuy nhiên, dưới da có gì đó căng lên, như sự căng thẳng của con thú rình mồi trước khoảnh khắc tung mình vào cuộc săn đuổi.
Bồi mang nước khoáng lên. Tôi mở nắp, rót cho Huệ. Đoạn tôi nhìn gã khổng lồ. Y mặc pull trắng, gi lê đen. Hai cánh tay y, cuồn cuộn bắp, trông như gò bằng đồng thau, to cỡ bắp vế tôi. Y nhìn lại tôi, đưa mắt từ chân lên đầu tôi như để ước lượng xem có thể nhấc tôi lên cao bao nhiêu bằng một tay.
Em đang nhìn thấy gì vậy? tôi hỏi.
Huệ nhìn tôi một chút rồi mới đáp, miệng hơi mỉm cười.
Sao anh không hỏi em đang nhìn gì?
Tôi chưa biết trả lời sao thì Huệ lại ngoảnh ra cửa sổ. Huệ đeo vòng cổ gồm những mẩu đá màu hồng như san hô gọt khéo thành hình ngói lưỡi hài. Chiếc vòng có vẻ hiện diện “ở đây-lúc này” một cách trọn vẹn hơn, vật chất hơn so với chủ nhân của nó. Gã hộ pháp không nhìn tôi nữa. Lúc này y cùng mấy người bạn y chú mục vào Huệ, chốc chốc trao đổi với nhau những cái nháy mắt, nụ cười, những bình phẩm không giấu giếm. Không rõ có phải do sắp xếp hay chăng mà cả ba người kia ngồi ở một phía bàn, đối diện gã khổng lồ ngồi phía bên kia, như chùm vệ tinh châu về hành tinh lớn nhất và mạnh nhất.
Anh có biết chuyện nàng Sirin không? Huệ hỏi tôi.
Sirin, hay Shirin? Có phải Shirin trong câu chuyện chàng Husrev và nàng Shirin không?
Không, không phải. Thật ra em chỉ mới đọc được về nàng Sirin cách đây không lâu thôi. Nàng Sirin này, Si chứ không phải Shi, nàng ấy là nhân vật trong thần thoại Nga, có họ hàng xa với nàng tiên cá trong thần thoại Hy Lạp, nhưng không phải tiên cá mà là một sinh vật có đầu và ngực đàn bà, mình chim. Nàng ấy biết tất cả mọi bí mật của thế gian này, tường tận mọi điều, nhưng nàng không có miệng, vì vậy dù có muốn đến đâu nàng cũng không thể tiết lộ với ai những gì nàng biết, không thể tâm sự với ai về những lo âu của nàng… lo âu vì chính những gì nàng biết. Nàng là kẻ thông tuệ nhất mà cũng là kẻ cô đơn nhất. Có một nữ họa sĩ người Ukraina vẽ tranh khắc về Sirin, rất đẹp, em tìm thấy ở trên mạng...
Cô ngừng một chút.
Anh thử nghĩ xem tại sao em lại nghĩ đến nàng Sirin vào lúc này? Huệ nhấp nước khoáng rồi nói, khẽ gạt lọn tóc bên má.
Nhóm thanh niên kia bắt đầu nói chuyện khác. Miệng nói, mắt thỉnh thoảng hướng về Huệ. Trong mắt họ tôi không khác chiếc ghế trống.
Em nói đi, anh nghe, tôi nói.
Huệ nhìn tôi rồi ngoảnh ra cửa sổ. Cô không cần câu trả lời của tôi. Có cảm giác Huệ và tôi đang đi cùng một hướng trên hai xe khác nhau, cô đi nhanh hơn tôi, càng lúc càng vượt trước tôi và chốc chốc ngoái đầu lại nói to gì đó mà không chắc tôi nghe được hay không. Tuy nhiên, giữa xe cô với xe tôi luôn có một sợi dây vô hình, không trọng lượng, không bao giờ đứt, giữ cho chúng tôi không lạc nhau.
Mấy người kia không thôi nhìn Huệ. Cái nhìn của họ làm tôi cảm thấy không khí đầy bụi kim loại nóng. Tôi muốn cùng Huệ rời chỗ này càng sớm càng tốt.
Mình đi ăn gì đi, tôi nói với Huệ.
Em chưa đói, cô nhìn thẳng mắt tôi.
Tôi đang nhìn cô, chưa biết nói gì, thì cô đã nhẹ nhàng tiếp:
Anh không nên dị ứng với họ như vậy. Họ không khác anh nhiều như anh nghĩ đâu.
Tôi mỉm cười, hẳn khá gượng gạo.
Có một người sẽ đến, Huệ chợt nói.
Tôi ngoảnh lại nhìn cô. Dường như khi nói câu ấy Huệ nhìn tôi, song khi tôi ngoảnh sang thì Huệ đã lại quay ra cửa sổ.
Một người? Là ai? im lặng một chút, tôi nói.
Huệ quay lại nhìn tôi. Lần đầu tiên tôi thấy trong mắt cô một thoáng xao động, như thể có một sinh vật mà ta không kịp nhận ra vừa lướt nhanh qua dưới tầng nước sâu.
Em không biết, cô nói.


Huệ từng kể với tôi, có lần cô nằm mơ thấy mẹ mình chết đuối, hôm sau thì nhận được tin mẹ bị đắm đò, nhưng vẫn sống. Trong số hơn chục người trên đò, bà là một trong ba người sống sót gần như nhờ một phép màu - bà không biết bơi.
Một người? Là ai?
Em không biết.
Câu trả lời của Huệ hơi quá nhanh, không hợp với bản tính cô. Có gì đó hẫng đi trong thân tâm tôi, như thể thời gian vừa nhảy cóc về phía trước vài giây, vài phút.
Nhưng em biết người đó sẽ đến?
Em biết.
Bằng cách nào?
Huệ lại nhìn ra cửa sổ. Có chấm sáng đỏ của một chiếc máy bay đang bay qua.
Anh không thật sự chờ đợi một câu trả lời rõ ràng, phải không?
Tôi nhìn cái ly đang uống.
Anh hiểu. Tự em không biết tại sao mình biết như vậy. Em biết, vậy thôi, im một lát Huệ khẽ nói.
Cô im lặng thêm một lát, khuấy khuấy ly nước cam kỳ thực không còn gì để khuấy.
Làm sao em biết điều ấy thì em cũng chẳng biết hơn anh. Em không biết liệu mình có phải một trong những kẻ người ta gọi là có giác quan thứ sáu, khả năng ngoại cảm không. Với người như em, có một khả năng như thế là điều tự nhiên. Ngay từ khi biết nhận thức về thế giới, những người như em đã thấy mình có cái đó rồi, nó là một phần hiển nhiên của mình, chẳng khác gì mình có hai tay, muốn lấy vật gì thì vươn tay về phía vật đó mà nắm lấy vậy... Phần đông người ta không có khả năng đó, cũng không có cách nào để biết một cách trực tiếp nó là như thế nào, thì họ nghĩ về nó cũng giống như người mù bẩm sinh nghĩ về đôi mắt của kẻ sáng vậy. Em nghĩ vậy đó... Em không phải người mù bẩm sinh, cũng không thuộc cái số đông kia nên em không thể nói thay ai, em chỉ có thể nói thay cho em thôi... chỉ nói về chính em, cảm nhận và trải nghiệm của bản thân em, bằng không thì hãy im lặng.
Huệ im lặng.
Nhưng ít nhất hẳn em cũng cảm nhận được, nếu không nói là biết được rằng kẻ sắp đến đó là một người rất đặc biệt... rất khác biệt phải không? tôi nói.
Trên mặt Huệ thoáng qua một vẻ là lạ, như làn gió bất chợt làm những vồng lúa gợn sóng trong khoảnh khắc rồi biến mất đột ngột như khi xuất hiện. Tôi không biết vẻ mặt đó nói lên cái gì. Huệ dường như bất giác liếc sang bàn của nhóm thanh niên - lần đầu tiên. Cả bốn cặp mắt gần như lập tức hướng về phía cô, như theo một mệnh lệnh sẵn sàng cho một pha mới, nhiều kịch tính hơn, của sự sống.


Liền sau đó gã hộ pháp đứng dậy bước lại bàn chúng tôi. Không gian xung quanh lập tức tối đi như khi có tảng mây khổng lồ che khuất mặt trời. Y kéo ghế trống đối diện tôi và cạnh Huệ, ngồi xuống.
Ban đầu Huệ có vẻ không biết tới sự hiện hữu của y. Nhưng rồi cô ngoảnh sang nhìn y, và mắt cô ánh lên một tia sáng tôi chưa từng thấy ở cô.
Tôi cảm thấy một cách mãnh liệt rằng mình muốn rứt khỏi vòng xoáy này. Tôi bất giác ngả người ra phía sau, ép mình vào lưng ghế, bấu chặt hai quai tựa. Trong khoảnh khắc tôi tưởng như mình quả thật đang đẩy xa y ra, nhưng đấy chỉ là một cảm giác.
Tôi ngồi được chứ, y hỏi, khi đã yên vị.
Trái ngược với thân hình y, giọng y cao và sắc, mảnh như tấm thép cán.
Mời anh, Huệ nói, trên môi thoáng qua gì đó có thể gọi là nụ cười.
Anh cho phép chứ? y hỏi, mắt nhìn tôi. Thật ra, câu hỏi đầu tiên y chỉ hướng đến Huệ.
Nếu anh tự thấy không làm phiền chúng tôi, tôi nói.
Bỗng tôi cảm thấy dâng lên trong mình một cảm giác chán ngán ghê gớm, như thể mình đang buộc phải đóng một màn kịch tồi mà hàng triệu người từng diễn hàng triệu lần trên khắp thế giới ở mọi thời. Cảm giác đó bắt đầu đeo lấy tôi một cách khó chịu, như kẹo dừa chảy nhão dính bết vào tay.
Y nói, bình thản, chuyển cái nhìn từ Huệ sang tôi rồi sang Huệ, lộ rõ phong thái của người quen cầm chịch mọi cuộc nói chuyện.
Nếu không có tôi, cuộc nói chuyện của anh chị có thể vẫn rất thú vị, như là nó đang thú vị. Điều đó không ai biết chắc được. Còn nếu có tôi, cuộc nói chuyện chắc chắn sẽ chuyển sang một hướng khác, có thể rất thú vị. Dĩ nhiên là cũng có thể không thú vị, ai biết được. Chừng nào nó chưa xảy ra thì không ai biết cả. Ta không thể biết nếu ta không thử. Không biết anh chị thế nào, còn tôi, tôi rất thích thử các khả năng, nói tới đây thì mắt y chuyển từ tôi sang Huệ và dừng lại ở Huệ.
Ba người còn lại ở bàn bên kia theo dõi những gì đang diễn ra. Tay bé nhỏ có cái đầu như quả trứng giơ một ngón cái lên.
Chúng tôi cũng thích thử các khả năng, Huệ nói. Cô đã đổi tư thế, chống cùi chỏ lên bàn, tựa cằm lên hai lòng bàn tay. Miệng cô vẫn vậy, giữ khẩu hình giống nụ cười, nụ cười khó lý giải, đầy ẩn nghĩa.
Còn những gì không do ta chọn và không tránh được thì ta thích ứng với chúng. Tùy cơ ứng biến. Dĩ bất biến ứng vạn biến, như người ta nói. Anh chị thấy chưa, câu chuyện giữa chúng ta bắt đầu thú vị rồi đó. Ít nhất là hứa hẹn sẽ thú vị.
Có thể, tôi nói, giọng không tự nhiên lắm. Nhưng nếu anh cho rằng đây là một thứ mà chúng tôi không tránh được thì anh lầm. Chúng tôi có thể tránh nó dễ dàng, ngay bây giờ, bằng cách đi khỏi đây. Đúng không em?
Tôi quay sang Huệ chờ cô đồng tình. Nhưng cô không đổi tư thế, không gật đầu, không nháy mắt, không gạt tóc, không gật đầu, chỉ khẽ nhún vai - và cái nhún vai ấy không nhằm vào gã kia mà nhằm vào tôi.
Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ - tôi không biết nên để cái nhìn vào đâu khác.
Dĩ nhiên là anh có thể tránh bằng cách đó, gã hộ pháp nói, bình thản. Hình như có âm sắc chế giễu trong giọng y, nhưng có thể chỉ là tôi có cảm giác thế. Nhưng chắc chắn anh sẽ không bỏ đi một mình mà không có bạn anh, y nói.
Dĩ nhiên anh ấy sẽ không đi, Huệ lên tiếng, với một nụ cười mà tôi không thể ngờ cô có thể có trong tình huống này.
Một trang mã thượng như anh ấy sẽ không bao giờ làm vậy đâu, Huệ vừa nói vừa ngửa bàn tay trái hướng về phía tôi, một trong những động tác trang nhã quen thuộc của cô. Nếu không thì tôi đã chẳng ngồi với anh ấy, Huệ tiếp.
Cái ấy thì rõ, y nói, miệng cười, đầu gật. Đoạn y nhìn sang tôi, nheo nheo mắt phải, đồng thời bàn tay phải giơ lên, khum khum dưới lông mày phải, như người ta hay làm khi nhìn những vật ở xa giữa trời nắng. Và dĩ nhiên giữa hai anh chị đã từng có những cuộc trò chuyện thú vị, rất thú vị, y nói, cuộc trò chuyện của anh chị mới rồi mà tôi đã mạo phạm cắt ngang chắc chắn là cũng rất thú vị. Chỉ có điều, theo tôi quan sát thấy thì cuộc trò chuyện của anh chị vẫn thiếu một cái gì đó, cái gì đó tí ti thôi nhưng không có không được, như mẻ phó mát chỉ còn thiếu tí enzym là lên men tới độ vậy. Cứ thử hình dung phó mát Roquefort tới độ thì ngon đến thế nào. Y chúm môi, đầu nghiêng nghiêng, như đang đắm mình thưởng thức thứ phó mát Roquefort ngon tuyệt kia.
Có phải đây chính là kẻ mà Huệ nói?
Có vẻ anh rất thích phó mát Roquefort, Huệ mỉm cười nói.
Không chỉ Roquefort mà nhiều loại phó mát Pháp khác nữa, y nói, giang rộng hai tay ra. Và không chỉ phó mát Pháp mà cả rượu vang Pháp. Ẩm thực Pháp. Thời trang Pháp. Quán cà phê Pháp. Bài hát Pháp. Ga lăng kiểu Pháp. Thông minh kiểu Pháp. Và dĩ nhiên, cả tiếng Pháp nữa. Anh chị hẳn cũng biết. Ngôn ngữ Pháp, chà... cái thứ tiếng sang cả... sạch sẽ... Sang cả và sạch sẽ đến mức, mỗi khi người ta chêm cái gì đó không phải tiếng Pháp vào giữa một đoạn tiếng Pháp, tỉ như “Je viens de Hà Nội et j’aime Paris”, ý tôi là phát âm Hà Nội theo kiểu an-na-mít ấy, thì tôi sẽ thấy như bị xúc phạm, phải, người ta không phải đang xúc phạm tiếng Pháp mà là xúc phạm tôi. Đã nghe tôi nói vậy thì anh chị có cho rằng tôi yêu nước Pháp không? Ấy, câu hỏi nghiêm túc đó. Thì đây, tôi trả lời luôn: tôi ghét nước Pháp. Phải, y nhắc lại, dằn rõ từng chữ, Tôi-ghét-Pháp. Tôi thích rất nhiều thứ của Pháp, nhưng tôi không chịu nổi bản thân cái concept “Pháp”, không ngửi được cái sang cả, sạch sẽ kiểu Pháp. Nghịch lý quá phải không? Nhưng xin hỏi anh chị, còn gì ngao ngán cho bằng sống trong một thế giới toàn những cái thuận lý?
Ba người ở bàn bên từ lúc nào chẳng rõ không còn nhìn Huệ mà dán mắt vào tay hộ pháp, uống từng chữ của y. Có lẽ cảnh này diễn ra khá thường xuyên: y nói, ba người kia ngồi nghe.
Anh nói khá hay về những nghịch lý, tôi nói. Phải, tôi có thể thích những điều anh nói nhưng không thích anh. Dĩ nhiên đó chỉ là ví dụ. Nghĩ cho kỹ thì đó vị tất đã là nghịch lý.
Huệ lắng nghe gã kia nói, mắt không chớp, nhoẻn cười, nụ cười tràn ánh sáng. Hình như cô không đợi ai nữa, không cần phải đợi ai nữa. Chỉ có một lần cô ngoảnh nhìn ra cửa sổ, động tác hơi đột ngột, khiến diềm mái tóc dày lay động, vắt qua vai, choàng lên cánh tay trên.
Một tay bồi đi qua, tôi gọi thêm nước. Đợi bồi đi khỏi, gã hộ pháp nhìn tôi mỉm cười. Mãi bây giờ tôi mới nhận ra một điều: từ nãy tới giờ tôi không nhìn thấy răng y. Y thuộc típ người nói chuyện hầu như hoàn toàn không hở răng.
Y nói.
Rất cám ơn anh nói thẳng điều anh nghĩ. Điều đó chứng tỏ anh đúng là một trang mã thượng, chính nhân quân tử. Chỉ có điều cho tôi làm rõ hộ anh hai điểm. Thứ nhất, anh đã nói: đây chỉ là ví dụ thôi. Anh có cần phải thòng thêm như vậy không? Anh không thật sự tin ở mình, đấy là kết luận từ quan sát của tôi. Thứ hai, anh bảo vị tất đó đã là nghịch lý. Anh có thể thích những điều tôi nói song không ưa tôi, và theo anh đó có thể là thuận lý. Dĩ nhiên anh thoải mái với cái thuận lý đó, anh gò nó thành thuận lý, bởi nếu không làm vậy thì anh không thoải mái với nó được. Về điểm đó, bạn anh mạnh hơn anh. Cô ấy thừa sức đón nhận những nghịch lý, một cách điềm nhiên, ung dung, vô ngại, vô úy. Anh nên thừa nhận điều đó. Và tôi biết, là một trang mã thượng, đương nhiên anh thừa nhận điều đó.
Huệ lên tiếng, vẫn giữ nguyên nụ cười ngời sáng.
Anh ấy cũng như bất cứ ai, anh ấy không phải là người hoàn hảo, cũng không có ảo tưởng mình hoàn hảo. Anh ấy biết thừa nhận tất cả những gì còn khuyết thiếu của mình và luôn nỗ lực để vượt qua. Về điểm đó anh ấy hơn khá nhiều người khác đấy. Có thể tôi còn trông đợi nhiều điều khác ở anh ấy, nhưng như anh ấy bây giờ là đủ để tôi ngồi với anh ấy rồi.
Chị nói rất hay về bạn mình, điều đó nói lên những điều còn hay hơn về bản thân chị, gã hộ pháp nói. Nghe y, tôi thấy thôn thốn thế nào đó. Định thần một chút, tôi nhận ra rằng ấy là do y không gọi Huệ là “em” như tôi hình dung lúc đầu. Dĩ nhiên, y nói (gạt tay, một động tác dứt khoát), tôi có thể hình dung bạn của chị là người thế nào. Anh ấy là người luôn luôn nghiêm túc trước mọi vấn đề. Anh ấy dĩ nhiên là người nghiêm túc, suy nghĩ nghiêm túc về những điểm yếu của mình, hành động nghiêm túc để khắc chế, hóa giải điểm yếu. Rất đáng quý, đáng trọng. Chỉ có điều hình như anh ấy hơi quá nghiêm túc. Anh ấy có thể biết tự cười chính mình, nhưng điều đó không đủ để tạo thành cái cười. Anh ấy hơi thiếu tính khôi hài, đáng tiếc là vậy.
Trong tôi nảy ra câu hỏi: gã này từ đâu ra? Người đàn ông nào và người đàn bà nào đã sinh ra y, ấy là nếu y xuất hiện trên đời theo cách giống như mọi người? Y đã học những cái gì? Thường thì có những cái gì trong đầu y? Có bao nhiêu người giống như y, sở hữu một núi thịt và một núi sức mạnh như thế và đồng thời dẻo lưỡi đến thế? Y có bao giờ tự hỏi mình một điều gì đó khi chỉ có một mình y, trong bóng tối? Có cái gì với y là thực sự quan trọng? Y sẵn sàng làm gì khi cảm thấy buồn chán? Điều gì xui khiến y sang bàn chúng tôi? Y muốn cái gì?
Những câu hỏi đó như lưỡi xẻng xắn vào óc tôi, càng làm thốn lên cái cảm giác rằng mình đang ở nhầm chỗ, lẽ ra tôi phải ở một chỗ khác. Tuy nhiên ở đâu đó trong tôi, như một dòng chảy ngầm, râm ran một cảm thức khác rằng, đúng, lẽ ra tôi phải ở một chỗ khác, nhưng để được vậy thì tôi nhất thiết phải có mặt chính ở đây, chính lúc này. Có lẽ, để trở về được cái chỗ khác kia, nơi chắc hẳn có chiếc răng lợn lòi bằng ánh trăng thời thơ ấu của tôi, nơi nó sẽ không biến mất và người ta sẽ không cười cợt hay hạ nhục hay nện tôi khi tôi nói về nó, mơ đến nó và tin ở nó, thì tôi phải tồn tại đến cùng chính ở chỗ này, tôi cần phải để bản thân bị đào xới đến tận cùng và lật ngược từ trong ra, từ dưới lên. Song biết đâu tôi cũng có thể cùng một lúc ở hai nơi chăng?
Khác với tôi chờ đợi, Huệ không đáp lại nhận xét vừa rồi của gã hộ pháp. Cô ngả người vào ghế, tay khoanh trước ngực, mỉm cười nhìn y. Khó mà nói được nụ cười biểu hiện cái gì. Nhưng một điều chắc chắn: cô không khó chịu, cô đang thấy thú vị. Và những cặp mắt từ bàn bên kia lại dán vào cô, bởi vì thật khó cưỡng lại nụ cười ấy. Nó là ánh sáng ẩn trong cô: xuyên qua ngần ấy vật chất - xương, thịt, da, quần áo - ta cảm nhận được sự thuần khiết của nó, hồi quang của một miền ánh sáng khác.
Trong giây lát, im lặng bao trùm. Y cầm chai Heineken, ấp mấy ngón tay to gấp đôi người thường quanh thân chai, giữ vài giây, như để kiểm tra xem bia lạnh đủ chưa, hoặc để dùng thân nhiệt của mình điều chỉnh độ lạnh của bia thêm chút, hoặc để cảm nhận, thưởng thức cái lạnh. Sau nghi thức này y nhấc chai lên, ngửa cổ tu một hơi rồi đặt chai xuống bằng động tác quyết đoán, nhẹ không, như tay cao bồi đặt súng xuống bàn sau khi đột ngột cầm lên nã một phát trúng boong. Bia trong chai còn chưa tới nửa.
Chắc anh chị đang tự hỏi thằng cha này là ai? Hắn phá đám chúng mình nhằm mục đích gì? Những câu hỏi tự nhiên, chính đáng. Nhưng chắc anh đồng ý với tôi rằng có những lúc ta nên đặt câu hỏi khác, có những lúc ta nên quên tất tật những gì gọi là “tự nhiên, chính đáng” kia đi. Sao không đặt câu hỏi như: Gã này có thể mang lại cái gì? Gã có cái gì mà ta không có? Cuộc gặp gỡ không ngờ trước này có thể kéo theo cái gì, mở ra cái gì? Một nhân vật mới mẻ xuất hiện trong đời ta liệu có khả năng làm ta có một cái nhìn mới mẻ về thế giới chăng? Ấy là câu hỏi nên đặt ra hơn.
Dĩ nhiên, y nhướn mày, giang rộng hai tay, khi tôi nói vậy thì chính tôi cũng thường xuyên kiểm nghiệm những câu hỏi tôi tự đặt cho mình. Một số câu tầm thường, a dua, không xứng đáng thì loại đi. Một số câu đặc sắc, không theo lối mòn, không giống ai, tôi đào sâu thêm. Tự đặt cho mình những câu hỏi hay, là cả một nghệ thuật. Trả lời câu hỏi của người khác, và đồng thời, nhiều khi từ câu trả lời của chính mình đó, tự đặt cho mình những câu hỏi khác. Đó là một việc mà tôi say mê, xứng đáng để ta say mê.
Suốt thời gian nói hầu như y chỉ nhìn tôi, dù y dùng chữ “anh chị”. Tôi không hoàn toàn tập trung vào việc đáp lại cái nhìn của y. Hơn nửa thời gian y nói, tôi quan sát những người khác. Khi chuyển sự chú ý ra khỏi tay hộ pháp, tôi có cảm giác mơ hồ mình sẽ thấy một cái gì đó thuộc về thế giới của tôi - như thể là ở đâu đó đằng kia, trong góc xa của quán, nơi mắt tôi không nhìn thấy nhưng tim tôi cảm nhận rõ, có cái răng lợn lòi bằng ánh trăng của tôi nằm trên bàn hoặc dưới gầm ghế, không ai để ý. Nhưng không. Đó không thật là cái tôi đang cảm thấy lúc này. Thật ra tôi không định tìm một cõi khác, mà đúng hơn, tôi đang cố nhìn rõ hơn thế giới này, thấy những gì trước nay không thấy được. Có phải tôi đang cố nhìn thấy những gì trước đây không thấy được ở ngay trong thế giới này, trong khi vẫn giữ trong tầm mắt và ý thức mình sự hiện diện của gã hộ pháp và tất cả những gì giống y, từ y, liên quan đến y?
Tôi cũng là người thích đặt câu hỏi và không mấy tin ở câu trả lời, Huệ nói. Chẳng hạn những câu như thế này nhé. Tại sao cái tay này, tức là anh đấy, lại quyết định mò sang bàn mình chứ không phải bàn ai khác? Một số câu trả lời sẽ tự bật ra trong đầu, đương nhiên rồi, chẳng hạn những câu gì thì anh tự biết, nhưng liệu câu trả lời đúng có nằm trong số đó không? Tôi từng hỏi nhiều người một số câu hỏi nghiêm trọng (trong ngoặc ấy nhé!) đại loại như “Ý nghĩa tồn tại của con người là gì?” và bất cứ khi nào người ta trả lời bằng những câu có cánh trơn tru, đẹp đẽ, như đọc từ trong sách ra, thì tôi cho vào tai này rồi cho ra tai kia. Vậy thì bây giờ anh có thể cho tôi câu trả lời nào đối với câu hỏi này?
Lý do là vì tôi thích anh chị, tay hộ pháp nói, đầy nhiệt thành, hai tay vung rộng hai bên. Phải, đơn giản thế. Câu trả lời ấy ai mà chẳng nghĩ ra được, phải không? Nhưng tại sao chẳng mấy ai nói ra điều đó một cách giản dị, tự nhiên như tôi? Nói thẳng ra rằng mình thích ai đó, ngay từ lần gặp đầu tiên, không che chắn, không màu mè, không vòng vo úp mở, đó là cái tạo nên sự khác biệt, ít nhất là trong nền văn hóa thiếu máu của chúng ta. Tôi yêu sự khác biệt. Dĩ nhiên tôi cũng là kẻ đầu tiên vứt bỏ sự khác biệt ngay khi nhận ra nó không còn là khác biệt nữa, ngay khi đường mới mở đã thành ra đường cái. Nhưng riêng trường hợp này, tôi nghĩ sự thẳng thắn và chân thành là có giá trị trường cửu, nó sẽ luôn luôn là thế, không có gì mới, đồng thời nó chính là sự khác biệt, và nếu ta đi theo nó một cách khiêm nhường, vô niệm, vô sở cầu, thì sự thẳng thắn và chân thành của ta rồi sẽ có lúc được đền đáp. Liệu tôi có lầm không?
Sau khi Hộ Pháp ngừng nói, im lặng lại trùm xuống. Phải, trùm xuống, bởi đó không phải là im lặng đầy sức căng giữa hai lời đối đáp đầy hứng khởi và liền mạch - có cảm giác như đầu bên kia của những quãng lặng đó, mà từ nãy tới giờ do Huệ nắm giữ, lần này đã bị buông ra, hay cánh tay nãy giờ giữ nó ở tư thế căng giờ đã chùng xuống. Trong khoảnh khắc Huệ không còn chú ý đến lời gã nói, không còn quan tâm tới gã. Mặt cô vẫn hướng về gã, nhưng mắt cô chuyển sang cánh cửa đằng sau lưng gã.
Tôi cũng bất giác nhìn ra cửa. Chẳng ai vào. Có thể Huệ đang thấy cái mà tôi không thấy? Có phải cô đang hấy trước sự xuất hiện của kẻ cô chờ đợi nãy giờ? Dù đó là một kẻ không ai thấy ngoài Huệ, kẻ rất có thể chẳng là gì hơn một bóng ma, tôi mong kẻ đó hãy tới.
Huệ chợt ngoảnh lại nhìn chúng tôi. Thần thái cô có gì đó thật lạ; dường như cô mới trở về từ một nơi rất xa và chưa hoàn toàn nhận thức được mình đang ở đâu.
Em đang đợi ai à? một giọng lên tiếng. Tôi quay lại nhìn. Đó là một trong ba người còn lại ở bàn của Hộ Pháp. Một giọng trầm, chắc, mạnh.
Huệ không bỏ qua giọng đó. Cô nhìn thẳng vào mắt y. Một thoáng bỡ ngỡ trong mắt cô - dường như y là thực thể đầu tiên cô nhận thức trở lại trong thực tại này. Tuy nhiên, cái bỡ ngỡ nhanh chóng biến mất, như một ánh mờ quét qua làn nước rồi mất hút không dấu vết. Một cái gì đó dịu đi trong mắt cô, một chỗ nào đó tối lại. Chính khi đó dường như cô đã hoàn toàn nắm lại được cảm thức về thực tại. Trong cái dịu đi và ánh tối này Huệ như muốn nói: “Vâng, tôi đang đợi một người” hoặc “Không, tôi không đợi ai cả”. Dù câu trả lời là gì, nó không hướng vào Hộ Pháp.
Cô ấy không phải đợi ai đó mà đợi cái gì đó, Hộ Pháp khoanh tay trước ngực nói, bình thản. Hình như có thoáng giễu cợt nơi môi y. Cô ấy muốn sự thay đổi, nhưng mà các cậu đừng tưởng bở, không phải vì sự xuất hiện của bọn ta đâu. Cô ấy bất cứ lúc nào cũng muốn sự thay đổi, y nói.
Phải, cô ấy luôn muốn sự thay đổi, tôi nói. Đúng hơn không phải luôn muốn sự thay đổi, mà là luôn sẵn sàng đến với nó. Tôi không biết các anh học được gì ở cuộc đời, còn tôi, tôi đang học điều đó ở cô ấy.
Ta đi đi, Huệ nói.
Trong một thoáng mọi người nhìn cô, không ai nói gì. “Ta” là ai? Khi nói câu ấy Huệ không nhìn ai, mắt cô chuyển sang một điểm không xác định trong khoảng không đằng sau tôi và Hộ Pháp.
Vậy là người đẹp rốt cuộc cũng quyết định rời khỏi nơi này, Hộ Pháp nói với vẻ trầm tư. Đúng như tôi hình dung về bạn của anh, khi nói câu này y không nhìn sang tôi, cô ấy luôn là người đầu tiên nói lên điều mọi người đều nghĩ. Xin mạn phép hỏi, nếu tôi không tỏ ra quá tò mò, các vị sẽ đi đâu?
Sao ta không đến Apocalypse? một trong ba người kia hét lên. Nhảy đi! Vận động đi! Quậy tá lả tình đời đi! Nói nhiều quá rồi, nhức đầu lắm!
Hộ Pháp không tỏ ra nghe thấy gã nói.
Ừ, mình đi, tôi nói với Huệ, đặng ngoái đầu tìm bồi bàn, nhưng ngay trước đó Hộ Pháp đã búng ngón tay đánh tách về phía quầy.
Huệ đứng dậy đi về phía cửa, không nhìn ai. Tôi cũng đứng dậy, nhưng lập tức nhận ra mình chưa thể đi ngay. Còn phải trả tiền.
Đợi anh! tôi gọi theo Huệ, suýt nữa đã bật ra tên cô.
Đi theo cô ấy đi, đừng lo, gã hộ pháp nói, hất cằm về phía cửa, mắt nhìn tôi - từ đầu đến giờ chẳng mấy lúc y nhìn tôi, lần này trong mắt y có cái gì đó gần như dịu dàng, tôi buộc phải thừa nhận điều này.
Huệ đi thẳng, không ngoái lại. Dường như cô đang bước về phía một sức hút mãnh liệt mà cô không cưỡng lại được, không, không phải không cưỡng lại được, chính cô đang tìm kiếm nó, muốn nhập vào nó.
Kìa, ở đây chết hết cả rồi sao? Chê tiền à? một trong ba người kia rướn cổ về phía quầy thét lên, dáng như chỉ chực đứng dậy.
Tôi rút ví lấy tiền đặt lên bàn rồi đẩy ghế đuổi theo Huệ. Đi được vài bước tôi nghe sau lưng tiếng gã hộ pháp.
Chúc vui vẻ! Chúng ta sẽ còn gặp nhau nhiều đấy. Và đừng quên rằng đời anh sẽ thay đổi không ngờ từ khi anh gặp chúng tôi.
Huệ đã ra khỏi cửa và rẽ về bên trái.
Anh đừng theo em nữa được không? Em muốn ở một mình, không ngoái lại nhìn tôi, Huệ nói.
Thế ban nãy em nói “Ta đi đi” là với ai? tôi thốt lên, và chợt thấy mình thật ngu xuẩn.
Như thể nhớ ra, Huệ quay lại nhìn tôi.
Em xin lỗi. Thực tình em không muốn...
Tôi bất giác ngoái lại đằng sau. Không có ai sau lưng chúng tôi. Hai thằng bé mặc đồng phục học sinh đang dợm băng qua đường.
Thôi được, tôi nói. Em có cần anh...
Huệ nhìn trước, nhìn sau, hẳn để tìm chiếc tắc xi nào đó. Rồi đột nhiên cô ngoảnh lại, bước nhanh đến gần tôi và vuốt má tôi.
Lúc nào đó em sẽ nói với anh. Bây giờ thì em không thể...
Tôi nhìn sâu vào mắt cô và nhận thấy, tuy cô đang đứng đó nhìn tôi, song dường như thật ra cô đang ở một nơi khác, thậm chí một thế giới khác, và cô đang nhòm qua một khoảng mở từ thế giới kia mà nhìn tôi ở thế giới này, như qua cửa sổ. Và tôi chợt lờ mờ hiểu, chừng nào tôi chưa có nổi một ý niệm về thế giới đó thì tôi chưa thể đi cùng cô được.
Thôi được, tôi nói. Bất cứ lúc nào có thể nói được, hoặc thấy cần anh thì gọi cho anh, ngừng một chút, tôi nói thêm.
Huệ rút di động, hẳn là gọi xe công nghệ, nhưng sau một hai động tác đầu tiên thì ngón tay chậm dần, dừng lại. Vẫn cầm di động trong tay, cô nheo mắt nhìn vào khoảng không. Một chiếc tắc xi sơn màu trắng và da cam trờ tới, giảm tốc, rà sát vào vệ đường. Lái xe hơi nhoài qua cửa sổ, nhìn chúng tôi, đúng hơn là nhìn Huệ, có ý dò hỏi, nhưng cô khẽ lắc đầu, không nhìn anh ta.
Tài xế làu bàu gì đó rồi dấn ga chồm lên, song xe vừa tiến được dăm mét y lại ngoái nhìn Huệ. Chính trong khoảnh khắc đó tôi có cảm giác thật kỳ lạ: Huệ đang đứng cạnh tôi, quanh chúng tôi có người qua kẻ lại, ô tô xe máy vẫn dòng qua dòng tới trước mặt, nhưng tôi thấy Huệ đang đứng hoàn toàn đơn độc ở một nơi tuyệt không có gì chung với thế giới này, một chốn không có gì gợi nhớ đến thực tại của nhân loại, như một vệ tinh toàn bằng đá hoặc tinh thể băng của một hành tinh xa đến mức con người không thể hình dung. Lại nữa, tôi thấy Huệ đứng kia, trong khoảnh khắc hiện tại này, nhưng điều đó chẳng có gì khác so với nếu Huệ đang đứng đó, cũng trong tư thế đó song ở một thời điểm trước hoặc sau đây ngàn năm. Trong nháy mắt, như trong một lằn chớp, Huệ như đã bật ra khỏi tọa độ không-thời gian này, chuyển tức thời sang một tầng không gian khác nơi thời gian vận động theo cả hai hướng mà cũng có thể không còn cái mà ta thường quan niệm là thời gian. Siêu không gian và phi thời gian, cái thực thể đó dẫu vậy vừa thoáng hiện trong một phần giây trước mắt tôi. Trong khoảnh khắc cực tiểu ấy, toàn bộ cái thực tại kia ập vào tôi như một tia sét. Và sau đó, nhìn cô đứng trước mặt, tôi có cảm giác như tia sét đó vừa mang trả cô từ nơi khác về - đúng là cô đấy nhưng cũng không còn là cô như trước khoảnh khắc đó.
Mình đến Apocalypse đi, nhìn thẳng vào tôi, Huệ nói.
Tôi nhìn cô, rồi ngoảnh đầu lại. Không, bốn người kia vẫn không xuất hiện phía sau chúng tôi. Nhưng dính chặt vào tôi, như miếng cao dán vào lưng, cái cảm giác rằng họ vẫn đang hiện diện ở chỗ nào đó không xa chúng tôi, và từ nay trở đi, trong cái thế giới của mình, tôi không thể không tính tới họ.
Không, không phải họ. Thật ra, người duy nhất tôi đang nghĩ tới là Hộ Pháp.
Đến đó ta có thể gặp lại gã kia đấy, tôi lưu ý cô.
Ai cơ? cô buột miệng. Nhưng rồi, nhận ra cái gì đó trong mắt tôi, cô nói: Thì đã sao? Chúng ta đến đó không phải để gặp ai hết. Chỉ là em... đang cần một sự đổi khác, anh hiểu không?
Hay ta tới Grand Hyatt đi. Nghe nói tối nay có ban nhạc từ Colombuela tới diễn ở đó, chỗ quán bar ấy...
Em không biết, cô nói. Nhưng ngồi một chỗ thì em không thích. Em muốn vận động. Em cần chuyển động. Một cái gì đó trong em đang đòi sự chuyển động.
Tới đó ta có thể vừa nghe nhạc vừa nhảy. Người ta làm vậy được mà.
Thôi được, im lặng một chút, cô nói. Nhưng vậy thì ta đi nhanh lên.
Ước gì anh là Fred Astair bên cạnh em, tôi bất giác nói khẽ.
Không cần vậy đâu. Anh chỉ cần là chính mình và hơn vậy một chút là được.
Không, không được, tôi nói, sau một thoáng lặng.
Tại sao?
Huệ im lặng một lát, nhìn tôi.
Em luôn luôn cảm thấy anh là một người đặc biệt... Đặc biệt như thế nào em không biết, mà chắc anh cũng không tự biết.

Tranh của Rafał Olbiński 


Thứ Tư, 23 tháng 7, 2025

Hai truyện ngắn từ những giấc mơ

(Viết vào khoảng 2000-2001)

-----

Giấc mơ thang

***

(Có lần) tôi (mơ) thấy một phụ nữ lớn tuổi đi lên cầu thang; mái tóc bạc trắng. Chợt tôi có cảm giác đó chính là mẹ tôi; mặc dù khi bà ngoảnh lại nhìn và cười với tôi, đấy không phải là khuôn mặt mẹ tôi. Nụ cười ấy khiến dâng lên trong tôi một nỗi trìu mến da diết. Nó lôi cuốn tôi, không phải như sợi dây của tình mẫu tử đơn thuần, mà, như tiếng chim hót lẻ loi trên cánh đồng u tĩnh, khơi dậy trong tôi cái gì đó mà tôi đã quên mất.

Tôi nhìn theo Mẹ tôi.

Khi bà ngoảnh lại lần thứ hai, đó là gương mặt của một phụ nữ xấp xỉ năm mươi, đóng khung trong mái tóc đen chớm bạc. Một cái gì xưa quen và mới mẻ đã làm biến mất những vết chân chim nơi đuôi mắt bà, và gờ má trơn láng của bà bắt ánh hồng như rạng đông.

Và bỗng một nỗi sung sướng lạ lùng tràn ngập tâm hồn tôi; bởi đôi má láng mịn như cánh hồng kia, dường như tôi đã thấy một lúc nào đó trong dòng thời gian trước khoảnh khắc này, ở nơi nào đó trên thế giới này mà ký ức tôi chưa nhớ ra được; cũng đôi gò má trơn láng ấy, đóng khung trong mái tóc đen chớm bạc, đó là người phụ nữ tôi yêu, đó là người phụ nữ đã hay sẽ là mẹ tôi. Và như vậy tôi không còn ngạc nhiên khi một khoảnh khắc sau, người phụ nữ lên tới đầu thang và ngoái lại nhìn tôi lần nữa, cái tôi nhìn thấy là gương mặt thiếu nữ mười tám tuổi với cái mũi như bằng sứ và bím tóc đuôi sam đen như mực tàu buông trước ngực; tôi biết đó là người con gái chưa biết - chưa đến lúc biết - sẽ có ngày sinh ra tôi, người chưa biết mình sẽ đi cùng tôi suốt phần đời còn lại và sẽ sinh ra những đứa con tôi.

Và tôi không ngạc nhiên nữa, không chờ đợi những cảm xúc dâng lên từ đáy lòng nữa khi người con gái đột nhiên biến mất, hình như đúng lúc nàng rời chân khỏi bậc thang trên cùng. Nàng không còn ở đó, nàng như đã bốc hơi, như người ta nói, hoặc nàng đã trở lại thời gian trước khi nàng sinh ra. Nhưng tôi biết nàng không ở đâu khác ngoài nơi đó, nơi nàng đang ở và hiện hữu, trên kia, hướng nhìn lên của tôi, và tôi cũng ở đó, vốn dĩ ở đó. Và như thế, không chần chừ, tôi vọt lên cầu thang, xoạc cẳng hết cỡ, thấy mình bay như gió, những bậc thang lướt bên dưới tôi mà không bén gót tôi. Tôi biết mình đi đâu và về đâu; tôi chưa bao giờ bình tâm và hoan hỉ như vậy.


-----


Đầu của hoa hậu Ấn


***

Người đàn bà tên Huỳnh Thị Liên, 67 tuổi. Bà đến làm thủ tục tạm vắng cho con trai.

Con trai bà, Phùng Anh Tuấn, 33 tuổi, kỹ sư xây dựng, được biệt phái công tác ra Hải Phòng sáu tháng, bắt đầu từ 15 tháng 6.

Nghĩa là thứ hai tuần sau.

Tại sao Phùng Anh Tuấn không tự đến?

Tôi không biết; tôi đang tìm hiểu đây.

Anh có nghe tiếng sấm không?

Cái thứ tiếng ầm ừ, rặn từng tiếng này, thời tôi còn bé, mẹ tôi thường bảo là “Ông Trời đau bụng”. Còn bây giờ nó giống gì? Anh có nghĩ ra gì không? Có phải những quả bi bằng sắt nặng trịch lăn qua bầu trời mà Rip Van Winkle đã nhìn thấy không? Cái tiếng ấy ta không chỉ nghe bằng tai. Anh có thể nghe cái tiếng ấy âm âm trong cơ thể mình; không phải cái cơ thể bằng xương thịt, mà cái cơ thể thanh, nhẹ hơn, rung nhanh hơn, bằng loại hạt ở sâu hơn, tận bên trong, hiện nay gọi là hạ nguyên tử còn trong tương lai sẽ có từ thích hợp hơn để gọi. Anh có hiểu tôi không?

Anh nghĩ đến tiếng máy bay mà (đôi khi) ta cảm thấy trong giấc mơ? Có thể. Nếu sống ở Gò Vấp, hay Tân Bình, khu vực gần sân bay Tân Sơn Nhất, anh sẽ thường xuyên thấy máy bay cất cánh và hạ cánh. Tình cờ nhìn lên, anh sẽ thốt nhiên kinh ngạc vì kích thước của chúng, lừng lững bơi qua bầu trời, càng ấn tượng hơn vào ban đêm với thân mình màu đen nhuốm bạc và chấm sáng xanh nhỏ xíu nhấp nháy. Tai anh không nghe tiếng động cơ, nhưng cái anh thấy, nó rền vang và tiến sâu vào anh, một chuyển động không nằm trong vật chất và xâm chiếm anh không phải như xâm chiếm một thể xác.

Đây là nhà thơ. Mỗi khi gặp một phụ nữ thiếu nhan sắc, anh bất giác cúi đầu như thấy mình có lỗi trong một công trình không thành công của Tạo hóa. Người ta không thoải mái với cái nhìn của anh, lúc nào cũng như muốn (hoặc đã) nhìn thấu chân tướng vạn sự. Nhà thơ tới đăng ký tạm trú cho cô gái bán bánh canh ở đường Hàn Thuyên, tuần trước đột ngột từ Huế vào tìm đến nhà anh, xin tá túc một thời gian, đặng “tìm cơ hội ở thành phố”. “Em biết anh là người tốt. Anh cứ coi em như đứa em gái; em sẽ nấu cơm, giặt đồ, lau nhà cho anh, và khi anh buồn, em sẽ kể chuyện cho anh nghe”.

Anh nhìn thấy khoảng tối chứ?

Đôi khi, trên một khuôn mặt người, dù dưới ánh sáng ban ngày, anh vẫn thấy khoảng tối ấy. Bầu trời như có đám mây đen lớn bay qua, kỳ thực chẳng có đám mây nào, nhưng khoảng tối cứ lan dần trên bầu trời quang, và anh không thể không cảm thấy nó.

Bây giờ anh thấy bóng tối - hay sự thiếu vắng ánh sáng, sự thoái biến ánh sáng - đó ở vùng không gian bên trên chiếc bàn, giữa nhà thơ và đại diện chính quyền; như có kẻ vô hình hay cái gì đó vô hình, cực lớn, đang chọc một ống rơm vĩ đại vào chỗ đó, hút hết ánh sáng, chừa lại vùng không ánh sáng hình chiếc phễu úp ngược, với đường viền mịn, khẽ động, như làn hơi nước một ngày nắng. Anh có thấy ánh sáng không? Đấy, ngay chỗ ấy! Chưa thấy à? Chuyển hướng nhìn một chút... Thử nhìn dưới một góc khác. Hoặc đổi vị trí một chút, chẳng hạn dịch sang trái... Hãy quên rằng trước đó anh không nhìn thấy.

Giờ anh thấy rồi chứ? Bên này anh thấy không-ánh-sáng, bên kia anh thấy ánh sáng. Nhưng chỉ một vùng đó thôi.

Quan tâm lớn nhất của tôi là thân phận con người, với vũ trụ. Có khi, tất cả những gì tôi quan tâm là một vạt cỏ chưa có chân người giẫm qua. Và màu sắc của một hạt bụi trong nắng.

Từ trong đá, một cái gì đó không đuợc nói ra, và lựa chọn của tôi là im lặng về nó.

Cũng có nghĩa là cái đó im lặng về chính mình.

Phòng tiếp dân của chính quyền có bốn chiếc bàn gỗ, sổ sách, nhiều tập giấy, ấm chén, phích nước, điện thoại, tủ hồ sơ, hai khung cửa sổ, và vài thứ khác. Nhà thơ cảm thấy nơi đây vừa nhỏ bé vừa to lớn hơn anh. Trời nóng, anh nghe mồ hôi rịn ra nơi kẽ ngón chân.

Người ta bảo nhà thơ cần bổ sung giấy đăng ký tạm vắng từ địa phương gốc của cô gái. Nhà thơ đứng dậy. Khi nhà thơ đã quay lưng đi, bàn tay trái anh ta còn khẽ bíu lấy gờ trên của chiếc ghế vừa ngồi thêm mấy giây. Trên quãng đường dăm mét ra cửa, bàn tay trái anh ta - bàn tay rảnh, vì tay phải bận cầm mớ giấy tờ - chụm ngón vào nhau như thể nắm giữ một cái gì nhỏ bé, không rõ rệt, rồi các ngón lại dãn ra như thể buông cái đó xuống đất. Đám nhà thơ thật rắc rối, phải không? Mà thôi, hãy cứ quan sát anh ta. Anh ta sắp biến hình đấy. Thú vị lắm. Bản thân anh ta không biết đâu. Với anh ta, việc đó như là không có anh ta nữa. Xem nhé! Kìa, thấy chưa? Chân anh ta bắt đầu nhấc lên. Chầm chậm thôi, nhưng bây giờ đã cách sàn nhà khoảng mười xăngtimét. Có điều, anh ta không bồng bềnh như Neil Armstrong trên Mặt trăng đâu. Không phải sức hút trở nên nhẹ hơn đối với anh ta, mà dường như có những bậc thang vô hình - cái sau cao hơn cái trước - liên tiếp trồi lên trước mặt anh ta. à, có lẽ không phải. Không thể là những bậc thang, vì đầu gối anh ta chẳng hề nhấc cao như ta thấy ở kẻ phải vận động đi lên. Có lẽ nên nói dường như ai đó vừa chắp cánh vào chân anh ta: anh ta bước bình thường như kẻ đi trên đất bằng, nhưng cứ mỗi bước anh ta lại xa sàn nhà thêm chừng 10 xăng ti mét. Hơi giống Tề Thiên Đại Thánh đằng vân; liên tưởng tạm được đó. Bây giờ, khi đã đến sát ngạch cửa, bàn chân anh ta cách sàn nhà khoảng một mét. Anh đang lo nhỡ ra anh ta không biết khom mình xuống và sẽ cộp đầu vào khung cửa? Nhưng anh ta có ra khỏi cửa đâu. Nhìn xem! Anh ta từ từ xoay nghiêng, và từ từ tan ra, biến thành một cái gì đó như tia nắng chiều xiên khoai, với hằng hà sa số những vi thể lấp lánh màu vàng tinh khôi. Vạt nắng ấy từ từ trôi ngược về giữa phòng và, ngay trên bàn làm việc của viên chức Nhà nước (mà lúc này phía sau bàn đột nhiên chẳng còn viên chức nào nữa) liền tụ lại thành một cái lồng kính, một cái bể cá, nhưng không có nước, không có cá, mà bên trong là một cái đầu người, một cái đầu tuyệt đẹp, với mái tóc bới cao, làn da màu sôcôla, cặp mắt to đen, mũi cao thanh tú, đôi môi mọng, và, trên trán có một chấm đỏ! Đích thị là cái đầu một người đẹp ấn độ, trông quen quá chừng... Thôi, còn ai vào đấy nữa! AISHWARYA RAI! Nàng hoa hậu ấn độ, đoạt vương miện Hoa hậu thế giới vào thập niên 90 thế kỷ trước, anh nhớ không! Chẳng việc gì phải giấu, ngay từ phút đầu tiên thấy Aishwarya trên họa báo, tôi đã mê cô ta... Mặc dù cuộc đăng quang qua đã lâu, chẳng mấy ai còn nhớ, tôi vẫn mê cô ta... Làm sao ngờ nổi tôi lại thấy Aishwarya ở đây, dù chỉ cái đầu cô ta... Cái đầu sống, anh ạ. Nó - không, nàng Aishwarya của tôi - ngước đôi mắt đen láy mà mỉm cười với tôi.

Tôi không tin mắt mình nữa!

Xem kìa. Góc dưới bên phải cái bể cá, mặt đối diện với anh, anh có thấy vết trầy như mèo quào không? Còn góc trên bên trái, mặt phía tay phải anh, có chút cợn bọt khí, anh thấy không? Trừ hai khuyết tật nhỏ ấy, nhìn chung là vật liệu thủy tinh tốt, trơn nhẵn, trong suốt. Lấy vật gì đó bằng kim loại, chẳng hạn cái que đan mà gõ nhẹ vào thành bể, anh sẽ nghe tiếng lanh canh trong vắt như suối chảy trên núi.

Còn đầu của Aishwarya... Trên cần cổ, gần chỗ lẽ ra là xương quai xanh bên phải, có một cái bớt nhỏ màu sắc như ngón tay ngâm nước quá lâu, chẳng rõ hồi thi hoa hậu nàng Aishwarya có để lộ ra không, nhưng không đến nỗi vì vậy mà hỏng ấn tượng chung về cái đẹp. Anh cũng nghe mùi hương thoang thoảng, mùi hương đích thực của thân thể đàn bà, chứ không phải thứ nước hoa nào đó. Và toàn bộ không gian trong căn phòng chật hẹp chốn công quyền bỗng bừng lên trong một thứ ánh sáng khó tả, vàng như nắng chiều, nhưng không tuôn vào từ cửa sổ, mà hình như phát ra từ trên trần nhà, từ các bức tường, và mọi vật không có bóng, anh hiểu không...

Cái đầu hay nhà thơ? Câu hỏi hay, phải không? Có bao nhiêu phần nhà thơ còn lại trong cái đầu? Liệu khi có cái đầu thì có còn nhà thơ? Nhưng sao chúng ta chỉ nghĩ tới nhà thơ mà không nghĩ tới cái đầu nhỉ? Nó-Nàng đẹp quá đi chứ ! Có lẽ trên đời khó có tạo vật nào đẹp hơn thế: cái đầu màu ô liu với đôi mắt nhung của Aishwarya Rai. Xét cho cùng, nhà thơ chỉ là một giai đoạn, còn cái đẹp là vĩnh cửu, phải không? Nhưng anh vẫn chưa hiểu chuyện gì xảy ra, tôi đoán thế. Anh không hiểu làm sao có thể có sự biến hình phi lý, kỳ dị này - ít nhất là với anh. Anh vẫn chưa nhận ra anh đang nhìn một thế giới khác, thế giới của chúng tôi, hay sao? ờ, anh không thể nhận ra được.

Thế giới của chúng tôi là một thế giới nhân tạo, giả lập, có thể kiểm soát, có thể tùy biến. Nó là món quà của một công dân đáng kính tặng đứa con bảy tuổi của ông ta. Một món đồ chơi, dĩ nhiên. Cậu nhỏ này, giàu tưởng tượng và nghịch như quỷ, là Thượng đế tuyệt đối, toàn năng của chúng tôi. Ngài toàn hiện (có mặt ở mọi nơi). Không có gì thuộc vũ trụ này - từ một hạt nơtrinô cho đến ông mặt trời đang làm chúng ta mướt mồ hôi như nhểu mỡ kia - mà không là một mẩu nhỏ xíu trong trò chơi của Ngài. Ngài kiểm soát và điều khiển thế giới này bằng ý chí hung bạo và ngây thơ của một đứa trẻ. Không một biến cải nào trong thế giới này tuân theo một trật tự hay lôgic nào đó như cách người ta hiểu ở thế giới các anh. Nhà thơ biến thành cái đầu tuyệt đẹp của hoa hậu ấn, anh chàng sumo vụt hóa thành gã tí hon không cao hơn chú gà choai, bản thân tôi, nửa phút nữa bỗng thành con ếch đầy ghẻ hay thành lưỡi cưa cùn - tất cả tùy thuộc vào cảm hứng bất thần và tưởng tượng bất kham của Thượng đế nhỏ. Anh định nói gì? à phải; anh từng biết một cái gì tương tự, và miệng anh định thốt ra: phải chăng lại là trò hiện thực ảo cũ rích? Hẳn thế. Nhưng với tôi, anh nên nhớ là với tôi, đây không là thế giới của những hư tượng, những virtual image, bởi vì tôi, một nhân vật của nó, tôi có ý thức và đang ý thức về bản thể của tôi, thế giá của tôi, thân phận tôi, về (cái gọi là) sự sống và tự do của tôi.

Dĩ nhiên, tôi không chỉ là một nhân vật trong thế-giới-đồ-chơi này. Tôi có một bản thể song hành (đang sống) trong thế giới của anh, cũng với cái tên tôi, thân phận tôi, tinh thần tôi. Tôi là một bản đúp phái sinh, một bản đúp thứ nguyên, một degenerated duplicate của anh ta. Rất có thể ngày nào đó anh sẽ gặp tôi ở chỗ anh, và tôi gặp (bản đúp của) anh ở chỗ tôi. Dĩ nhiên, với điều kiện ta chưa kịp biến thành một thực thể khác.

Anh tự nhủ: Tinh thần nào có thể chịu nổi sự tồn tại trong một thế giới mà bất cứ giây nào tiếp theo anh đều có thể biến thành cái đầu hoa hậu ấn, hòn đá, con thạch sùng hay lưỡi cưa cùn? Nhưng nghĩ lại xem, ở thế giới của anh: một quan chức đáng kính của công ty bảo hiểm, buổi sáng nọ trên tầng cao chót vót một tòa nhà New York, vừa thắng lớn một thương vụ cổ phiếu và, ngả người vào ghế, chắp hai tay sau đầu, mơ đến tòa biệt thự nghỉ mát tuyệt đẹp bên bờ biển Sardegna nơi chỉ có nắng, sóng vỗ bờ và tiếng hải âu, thế rồi đột nhiên trời đất rung chuyển, và lửa, lửa, lửa, và trời đất quỷ thần ơi, nóng, nóng, nóng quá, nóng quá, nóng quá!!! thế là anh ta bê chiếc ghế xoay ném bể bức tường kính đặng lao ra ngoài không khí, cách mặt đất hàng trăm mét, mà thậm chí có lẽ không biết mình đang làm gì, không biết mình đang tránh một mối nguy chết người cấp kỳ này bằng cách lao thẳng đến một cái chết ngay tắp lự khác. Từ chỗ coi như an toàn tuyệt đối, anh ta rơi tõm một lần và vĩnh viễn vào hư vô. Cái gì là sự hữu lý của thế giới này đối với anh ta, riêng anh ta, nếu trong sát-na cuối cùng của đời mình anh ta có thể nghĩ đến nó? Còn chúng ta, những kẻ đang tồn tại và có khả năng luận giải sự hữu lý theo luật nhân quả của sự kiện, làm sao chúng ta có thể mang sự hữu lý ấy đến cho anh ta, một Vũ trụ đã mất và không thể lặp lại?

Tôi hiểu anh hỏi gì. Tôi cũng tự hỏi thế, và tự trả lời: không phải kẻ nào sống trong thế giới-trò chơi này cũng ý thức được tình thế thực sự của hắn. Nhưng, nhìn lại xem : có phải, trong thế giới thượng tầng của các anh, những kẻ vô minh đã và sẽ luôn luôn nhiều hơn không?

Sự phi lý trong một thế giới được điều khiển bởi tính ngông của một Thượng đế trẻ con có gì khác - và tệ hơn - so với sự phi lý trong một thế giới nơi nhiều kẻ ngông muốn và nghĩ mình có thể giành ngôi Thượng đế, và điều đó, cùng bản thân sự phi lý này, nằm trong ý hướng của Thượng đế, hay đúng hơn, trong tính vô sở ý bản nguyên của Thượng đế?

Mặt khác, anh không thấy rằng trong tính ngông và sự vô trật tự biểu kiến của Thượng đế trẻ con này cũng có chút chất thơ đấy sao?

ý thức về tính cá biệt, độc nhất vô nhị, không thể lặp lại của mình, cho đến sát-na cuối cùng trước khi nó biến mất; đó là tự do của tôi. Tôi tự do khi ý thức được và tự điều hòa bản thân với sự hữu hạn nghiệt ngã của tự do ấy. Trước những bất trắc và biến dịch phi lý nhất của thế giới này, không sợ hãi, không loạn động, không phát điên.

Tôi tự do khi nói với anh bằng tiếng người, một giọng nói hữu thức. Khi tôi chỉ còn phát ra tiếng tặc lưỡi vô minh của con thạch sùng hay tiếng rít vô tri của lưỡi cưa cùn, tôi vẫn còn lại như một cá nhân đơn nhất và tự do. Bởi vì, khoảnh khắc cuối cùng của tự do - tinh thần tự do, ý chí tự do, cái tự do có khả năng nhận thức mình là một Vũ trụ -, khoảnh khắc đó là vĩnh cửu của nó, cõi phi thời gian của nó.

Tôi yêu thế giới này, và sự hiện tồn của tôi trong đó, với sự ngắn ngủi và bất định của nó; không đặt tình yêu đó trên cơ sở sự trường cửu.

Nếu muốn, hãy dành sự thương cảm cho những ai không ý thức được tình thế mình, thân phận hiện tại của mình. Chẳng hạn cô gái Huế kia, kẻ ngồi bên mâm cơm sắp nguội đợi nhà thơ mà không biết mình nằm trong số hàng triệu người đàn bà, trong hàng triệu ngôi nhà trên trái đất, suốt hàng ngàn năm, đợi mãi một người đàn ông không trở về. Khi quay lại thế giới của mình, nếu gặp cô ta, anh hãy thử làm gì đó cho cô ta.
Tranh của Rafał Olbiński


@Trần Tiễn Cao Đăng

Thứ Tư, 25 tháng 6, 2025

Răng heo rừng bằng ánh trăng

 Trích "Cospolist Nổi Loạn"

(tiếp theo "Lời nói đầu")

***


Hồi tôi bảy tám tuổi gì đó, có lần, giữa đêm, tôi thấy ba tôi múc ánh trăng trên bậu cửa sổ cho vào tô nhựa rồi dùng chất liệu đó nặn thành một cái răng heo rừng.

Việc này dường như khiến ông hao tổn sức lực nhiều lắm. Thỉnh thoảng, đang cắm cúi trên công trình làm dở, ông ngẩng nhìn về cánh cửa nơi tôi đứng núp quan sát ông; tôi rúm người, nhưng rồi nhận ra ông không thấy tôi. Định thần lại, tôi nhận ra mắt ông có một vẻ kỳ lạ, mở to mà bằng như đang nhắm, vừa tỉnh giác vừa đờ đẫn và vô tri. Lúc đó tôi còn nhỏ, chưa từng thấy người mộng du, chưa từng nghe nhắc chứng mộng du, nhưng chắc hẳn lúc đó ba tôi rất giống người mộng du, và điều tôi thấy làm tôi lạnh sống lưng.

Cái răng heo rừng ấy, làm bằng ánh trăng, chưa thành hình trọn vẹn nhưng cũng sắp, tôi nhìn thấy nó chỉ trong vài giây, nhưng nó còn lại đó trong tâm tưởng tôi suốt nhiều năm sau. Đến giờ tôi vẫn nhìn thấy nó, ngời sáng như ánh trăng, một thứ ánh trăng tôi có thể sờ vào được, thì nó là một cái răng mà. Tôi nghe nói, đôi khi, hồn người đã chết hiện ra trước mặt chúng ta với hình dáng y như người sống và ta có thể sờ vào được như sờ vào người sống. Cảm giác của chúng ta về tính vật chất của một vật gì đó hoàn toàn không phải là cơ sở để nói chắc vật đó có thật hay không, ngay từ tuổi đó tôi đã mơ hồ cảm thấy thế dù không biết cách diễn đạt như vậy. Lớn hơn một chút, tôi biết rằng ‘có thật’ cũng là một khái niệm cũng chông chênh và mong manh như cái răng bằng ánh trăng ấy.

Có lần, nằm trên giường lấy lưỡi rà rà lỗ hổng trong miệng mình nơi cái răng sâu đã bị nhổ đi, tôi tưởng tượng lỗ hổng này được lấp đầy bằng cái răng ấy, và bởi vậy bên trong tôi, thịt tôi, máu tôi bắt đầu có chút gì đó, nhỏ xíu thôi nhưng mà có, của ánh trăng hay thứ gì đó giống như ánh trăng, trắng mờ như thế, sáng dịu tuôn chảy như thế, ám ảnh như thế.

Và từ đó trở đi, cho dù có những lúc tôi tự thuyết phục mình rằng điều tôi thấy đêm đó chỉ là một giấc mơ (và không phải là hoàn toàn không có khả năng đó là một giấc mơ), tôi thường xuyên cảm thấy bên trong mình thực sự có phần nào đó không thuộc về thế giới quanh tôi.

"Landscape with Lantern" của Paul Delvaux

Một lần, tôi nằm mơ thấy (lần này đúng là một giấc mơ) rằng hình như cũng chính vào đêm hôm đó, chẳng hiểu sao ba tôi chẳng thấy đâu, cái răng heo rừng do ông tạo ra từ ánh trăng, giờ đây đã trọn vẹn hình hài, thì nằm đó trên bàn, rắn, ngời sáng, mềm, đằm dịu. Tôi ngẩn ra nhìn nó, không tin được mình đang ở ngay cạnh nó, chỉ có tôi và nó bên nhau trong một nơi kín riêng khuất khỏi cõi người. Tôi không biết mình sẽ làm gì, hình như tôi quên thở. Không biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua, thế rồi bỗng không khí rung lên, mọi thứ rung lên tuy ít hơn, mắt thường không thấy nhưng con mắt thứ ba thì thấy. Một đoàn xe tải lớn, ba bốn chiếc sầm sầm phóng qua, nặng trịch, hung bạo, đầy cái chết, dọc theo quốc lộ phía trước nhà tôi. Bỗng tôi khom xuống, lấy thân mình che lấy cái răng. Cái răng, nó nằm đó, hình như chỉ một mình nó không rung lên trước sầm sầm xe tải. Tôi không rõ đó là nhờ có tôi che cho nó, hay là chính nó luôn luôn như thế và truyền sự bình an của nó sang tôi, bình an của ánh trăng, của nước ngầm, của hồ lặng, của cây ngủ của chim mỏi của đất im, khiến tôi làm cái động tác ấy, cúi xuống che cho nó, với một cảm giác bình an lớn lao mà từ nhỏ cho đến phút đó tôi chưa từng biết tới.

Thứ Ba, 17 tháng 6, 2025

Lời mở đầu "Cospolist Nổi Loạn"

Tôi không nghĩ rằng cần kể lại chi tiết những gì Trungku, kẻ được gọi là Cospolist Nổi Loạn, đã làm tại Quán Chó Lớn vào cái thời điểm ấy mà về sau nhiều người sẽ nhớ, cũng như những gì xảy ra tiếp theo, hệ lụy của việc Trungku làm. Không cần kể lại, không hẳn vì tôi không muốn và không ai muốn, mà vì tôi không thể và không ai có thể. Nhưng tôi không nên nói thay người khác, tôi chỉ nên nói về bản thân.

Có thể là duyên do ở chỗ tôi không phải người kể chuyện tài ba. Điều duy nhất tôi mong ở người đọc chuyện tôi kể sau đây là: đừng thắc mắc về căn cước và nhân thân của tôi. Còn, cái gì đã khiến tôi nghĩ cần phải kể chuyện này cho người đọc ở một thế kỷ xa trong quá khứ? Mọi nhà văn, mọi người kể chuyện xưa nay đều kể cho hiện tại và cho tương lai (khi dùng chữ ‘tương lai’, họ không nhiều thì ít nghĩ tới sự vĩnh hằng). Tôi thì kể cho hiện tại và cho quá khứ, không quan tâm tới vĩnh hằng. Và khi tôi nói “không quan tâm tới vĩnh hằng”, ý tôi là như vậy, không hơn. Lời này của tôi không có hai mặt khác nhau. Nó chỉ có một mặt duy nhất. Nó là một dải Mobius.

Khi kể chuyện cho người nghe thuộc về quá khứ xa xăm, tôi buộc phải dùng thứ ngôn ngữ họ có thể hiểu, thứ ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ với tôi. Ồ dĩ nhiên tôi cần nói rõ hơn ở chỗ này, để những người nghe ở quá khứ xa xăm đó - người thế kỷ 21 - biết rằng, ở thời của tôi, loài người đã không còn biết tới bất cứ rào cản nào về mặt ngôn ngữ nữa. Ở thời của tôi, cho dẫu anh sinh ra và sống ở đâu và tiếng mẹ đẻ của anh là tiếng gì đi nữa, bất cứ khi nào gặp một người khác từ bất cứ đâu trong Đế chế của loài người trải khắp bảy hệ hành tinh, anh có thể nói với người đó bằng cách truyền thẳng ý nghĩ của mình vào đầu họ, các người hiểu không. Cố nhiên việc này diễn ra được là nhờ có một loạt công nghệ nào đó, song anh không cần phải biết những công nghệ ấy thì mới có thể chuyện trò với bất cứ cá thể nào thuộc loài người, cũng như các người không nhất thiết phải am tường về vi mạch thì mới có thể dùng máy vi tính và điện thoại di động. Cho nên, thực tế là tôi có thể nghe mà hiểu các người như thể các người đang nói tiếng mẹ đẻ của tôi và các người có thể nghe mà hiểu những gì tôi muốn truyền đạt như thể tôi đang nói với các người bằng ngôn ngữ thế kỷ 21 của các người. Chỉ là, tôi không muốn thế. Niềm sướng khoái bất tận, với tôi, là khi tôi có thể dùng tâm trí của mình, không thông qua bất kỳ ngoại vật hỗ trợ nào, mà có thể học được ba mươi tám ngôn ngữ của Trái Đất Mẹ thuộc những dân tộc khác nhau nhất, từ Kazakh tới Iceland, từ Bahnar tới Ainu, từ Oromo tới Yanomami, từ Khmer tới Thổ Nhĩ Kỳ, thuộc những thời khác nhau nhất, từ thế kỷ 23 trước Công nguyên cho tới thế kỷ 21 Công nguyên, đến độ có thể nghe hiểu tất cả những gì họ nói và nói cho họ hiểu tất cả những gì tôi muốn nói. Như vậy, chỉ có như vậy tôi mới sánh được ngang hàng với những nhà thám hiểm ngày xưa, những thương nhân đầu tiên sau ngàn dặm gian truân đặt chân tới vùng đất lạ, những nhà tu hành đầu tiên tiếp xúc với một bộ tộc ở chốn tận cùng thế giới mà suốt hàng ngàn năm chưa bao giờ ra khỏi mảnh đất của mình. Nếu trong toàn cõi người ở thời của tôi, thế kỷ 35, chỉ còn một cá nhân duy nhất leo lên đỉnh Everest bằng cơ thể thô (cấu tạo bằng xương thịt) của mình, thì đó là tôi. Nếu trong toàn cõi người ở thời của tôi, thế kỷ 35, chỉ còn một người duy nhất sử dụng được chiếc bàn tính cổ giống như bất cứ thương nhân Trung Hoa thế kỷ 19 nào, thì đó là tôi. Trong mắt tất cả người cùng thời với tôi, tôi là kẻ đi sau tất cả và theo nghĩa nào đó thì đúng như vậy, tuy nhiên đó là nếu ta không nghĩ đến chuyện, trên thực tế, mọi kết thúc đều đồng thời là khởi đầu. Một điểm cuối của hướng này có thể là điểm đầu của một hướng khác.

Thôi tạm đủ những tự sự dông dài vô vị về tôi. Vậy, hỡi người đọc của quá khứ, tôi viết những dòng này dành cho các người. Chính xác hơn là cho những ai trong các người đủ may mắn để sống sót tới cái ngày đọc được những dòng này (trước cả khi chúng xuất hiện trên thế gian). Phải, tôi có cách để đưa những dòng này đi ngược chiều thời gian, đến gần các người hơn, giảm được chừng nào hay chừng nấy khoảng cách thời gian giữa các người và tôi. (Nói đúng ra, “đi ngược thời gian” là cách nói thích hợp về phía các người trong chuyện này, thống nhất với cách hiểu thô sơ của các người về thời gian, còn với tôi thì đơn giản là tôi cho chúng di chuyển trong thời gian. Sẽ đến lúc các người hiểu như tôi rằng thời gian không chỉ tiến theo một chiều từ quá khứ tới tương lai, thời gian là một vòng lặp không đầu không cuối, và thời gian là một hệ đa tuyến. Và, thề có Thượng đế chứng giám theo cách nói của các người, tôi chẳng ưa sự phức tạp này của thời gian đâu. Chẳng phải là chưa từng có lúc tôi thèm được sống trong một thời gian đơn giản, đơn tuyến, chỉ tiến theo một chiều duy nhất, thời gian theo cách hiểu của các người. Nó có sự nghiệt ngã của nó, đúng, nhưng nó đơn giản và đôi khi sự đơn giản là điều duy nhất chúng ta cần, cái duy nhất chúng ta có thể chịu được. Một thế giới chỉ có hai đối cực tốt và xấu, sống và chết thì đơn giản hơn và dễ xử hơn nhiều so với một thế giới có cả một dãy không biết bao nhiêu cấp độ trung gian, quá độ, chuyển tiếp, chồng chập một phần lên nhau giữa tốt và xấu, giữa phải và trái, giữa sống và chết, giữa quá khứ và tương lai. Tôi nói điều này có thể các người sẽ thấy bất ngờ, song tôi có đầy lúc muốn đổi vị trí của mình với ai đó trong các người. Phải, đổi phận mình để làm một trong những con người đơn giản, ngờ nghệch, dốt nát của quá khứ, chuyện đó có chút gì thú vị và hạnh phúc. Điều này, nghĩ kỹ, không khó hiểu. Điều này, nghĩ kỹ, rất người. Ta sẽ giống con người hơn nếu như, thỉnh thoảng, ta chợt muốn mình giống đứa trẻ, được như đứa trẻ.

Vậy thì rốt cuộc chúng ta hãy hành xử như thể chúng ta là lũ trẻ, vậy tốt hơn phải không? Tôi sẽ kể cho các người và các người sẽ nghe tôi kể giống như một đứa trẻ kể cho lũ trẻ khác nghe và lũ trẻ nghe một đứa trẻ kể chuyện, vậy hay hơn chăng? Ai trong chúng ta hồi nhỏ là trùm kể chuyện? Ai trong chúng ta hồi nhỏ hau háu nghe không chán những trùm kể chuyện?

Tôi thèm cái khoảnh khắc người kể chuyện dựng tóc gáy, chảy nước mắt vì câu chuyện mình đang kể tuy nhiên không phải vì vậy mà giọng kể run lên hoặc đẫm ướt theo mà vẫn vững vàng, tiết chế, tự chủ, sáng rõ, đầy sức mạnh. Tôi thèm cái cảm giác khi, mặt đối mặt, ta biết người nghe không tin ta, thế rồi một phút sau họ tin, một phút sau họ nghi ngờ, nửa phút sau họ à to chợt hiểu, một phút sau nữa mắt họ trào lệ vì đau và phẫn nộ, trán họ nhăn lại suy tư, họ kêu to trong sung sướng hoặc trong niềm kính sợ. Tôi thèm cái cảnh người nghe và người kể cùng hít thở một bầu không khí, bầu không khí tích căng năng lượng cộng hưởng từ cảm xúc và tư duy của tất cả mọi người, cũng như đầy nhóc thán khí và vi trùng quyện lẫn vào nhau từ ngần ấy con người. Sự lan tỏa những kỳ thú đi liền với mối rủi ro lan tỏa những nguy cơ: càng khăng khăng đòi sự vô trùng, vô nhiễm, tinh khiết, chúng ta càng xa khỏi những cơ hội cộng sinh, tự tái tạo, đổi mới, thực sự tiến hóa.

Ở chừng mực nào đó tôi có thể nói như Wislawa Szymborska thế kỷ 20, rằng một nửa của tôi sống ở 50 năm trước, nửa kia của tôi sống ở 50 năm sau, chỉ có điều tôi muốn sửa lại chút ít, rằng một nửa tôi sống ở 500 năm sau còn nửa kia ở 500 năm trước. Và điều ê chề nhất cho tôi là tôi thực sự không có can đảm hình dung bản thân mình trong một thế giới 500 năm sau tôi. Tôi có thể tưởng tượng ra thế giới sau mình 500 năm nhưng tôi biết nó chỉ là sản phẩm của riêng tôi, còn cái thế giới 500 sau mà có khả năng xảy ra hơn hết thì tôi không đủ sức, không đủ liều, không đủ gan, không đủ điên để nghĩ tới. Thế nên tôi thấy thoải mái và bình thản hơn khi nói và kể chuyện cho các người bởi vì ít nhất tôi không cần phải hình dung ra các người, các người đã có mặt trước tôi trong dòng thời gian, thế nên tôi có thể nhìn thấy các người và biết các người đã thực sự tồn tại đúng như thế chứ không phải do tôi tưởng tượng ra, theo nghĩa nào đó tôi thấy thân thiết với các người như thể các người là anh chị em ruột thịt của tôi. Mong các người dù gì cũng thông cảm mà bỏ qua cho chút đa cảm này của một hậu duệ xa đến vậy của các người. Về phần mình tôi thông cảm mà bỏ qua cho các người cái chuyện rằng các người, có trời biết dựa vào đâu, cứ một hai tin chắc như đinh đóng cột rằng hậu duệ nhiều đời của các người, như tôi chẳng hạn, nhất định là sẽ ít cảm xúc hơn các người. Đơn giản là các người suy từ bản thân mình ra. Hiển nhiên là các người, những kẻ văn minh hơn các thế hệ trước các người (hoặc các vị tự cho là vậy), các người đồng thời cũng ít cảm xúc hơn tiền bối của mình, và chẳng có gì bảo đảm rằng cái xu hướng càng-ngày-càng-ít-cảm-xúc-hơn của loài chúng ta có thể sẽ ngưng lại hoặc tự đảo ngược một lúc nào đó. Suy từ bản thân mình ra, các người tin chắc rằng hậu sinh của mình sẽ văn minh hơn mình và đồng thời hoặc chính vì vậy mà ít cảm xúc hơn mình; với các người, chẳng có gì tự nhiên và hợp lẽ hơn thế. Chao ôi, thật đáng chán, các người. Tôi chán các người. Tôi chán bản thân tôi. Vậy mà vẫn phải tiếp tục tồn tại, bởi vì tự hủy mình thì cũng chẳng ít chán hơn một chút nào. Theo nghĩa nào đó, chúng ta tồn tại là để sự tồn tại của mình không đến nỗi quá chán và sao cho thế giới này đừng đáng chán thêm vì sự tồn tại của chúng ta, tôi nghĩ vậy các người thấy có phải không? Tôi kể chuyện này cho các người, một phần lớn là để tôi bớt chán chính mình, để tôi bớt chán các người, để các người bớt chán bản thân các người và để thế giới này bớt chán chúng ta.

Câu chuyện này sẽ là cái tát cho các người tỉnh trí lại và trưởng thành hơn một chút song trước hết nó phải đủ hấp dẫn để dụ được các người. Chao, nói gì thì nói, các người rốt cuộc chỉ là một đám con nít dù các người có đỏ mặt tía tai cãi là không phải. Việc của tôi, người kể chuyện, là đánh lừa các người, làm các người bất ngờ, làm các người khóc, làm các người cười, làm các người nổi khùng, làm các người tỉnh ra, làm các người lớn lên, như với một bầy trẻ nít. Cần phải nói ngay rằng con người ở thời đại của tôi cũng y chang như các người, tức là không có gì thay đổi, không có gì khá hơn sau nhiều thế kỷ. Những bước tiến khổng lồ về kiến thức, công nghệ và của cải trong nhiều thế kỷ đã không thể làm được cái việc mà một số người trông đợi là đưa loài người thoát khỏi giai đoạn ấu niên về nhận thức và tinh thần. Nhận thức này từng có lúc làm tôi bứt rứt và ngao ngán vô cùng tuy nhiên sau một thời gian dài nghiền ngẫm và tự truy vấn, một cách kịch liệt, tôi đi đến chỗ ngộ ra rằng không phải vô cớ mà Hóa công tạo ra loài người đúng như thế: chúng ta mãi mãi là bầy trẻ nít, điều này một mặt là tai họa cho chúng ta song mặt khác là một phước lành. Lúc nào cũng vậy, ở đâu cũng vậy, chỉ cần và chỉ nên có một số ít người trưởng thành giữa bầy trẻ nít này mà thôi, và, là người trưởng thành giữa bầy trẻ nít, anh phải chấp nhận toàn bộ cái gánh nặng dẫn dắt chúng, khép chúng vào kỷ luật khi cần thiết, và chịu đựng sự rắn mắt, ương ngạnh, đồng bóng, ranh ma, nổi loạn, càn rỡ, ích kỷ, độc ác của chúng khi thời gian khó đã qua và chúng nghĩ chúng không còn cần anh. Điều đáng nói, điều mà mấy người trưởng thành hay quên, đó là có những lúc quả thật lũ trẻ nít không cần sự có mặt của người trưởng thành.

Vậy, điều duy nhất tôi cần suy nghĩ và lựa chọn là, tôi sẽ kể chuyện cho các người giống như một đứa trẻ kể cho bọn trẻ khác nghe, hay là giống như một người lớn kể cho bầy trẻ con nghe. Cả cách này lẫn cách kia đều hấp dẫn tôi. Tôi ghét cái chuyện mình hoàn toàn là người lớn hoặc hoàn toàn là đứa trẻ. Tôi coi thường những ai khăng khăng làm người lớn mọi nơi mọi lúc và những ai nhất định làm trẻ nít mọi nơi mọi lúc. Một đứa trẻ muôn đời muốn làm người lớn, nghĩ mình là người lớn trong thân hình đứa trẻ, và một người lớn muôn đời mơ là đứa trẻ song không thể, hay một người lớn không thể nào tưởng tượng mình thật ra là đứa trẻ trong thân hình người lớn, đó là tình thế lưỡng phân khôn giải muôn đời xé rách con người. Trước khi nghe chuyện của tôi, hãy cùng tôi nhớ và nghiệm lại chân lý này, rằng chúng ta một mực nghĩ và tin mình là người lớn, chính vì chúng ta là một lũ trẻ nít mãi mãi không thể lớn.

Ý thức về điều này chẳng làm chúng ta thôi không còn trẻ nít mà thành người lớn, song ít nhất nó khiến chúng ta thành thật với chính mình hơn, đỡ lố bịch hơn, và chừng đó cũng đáng kể.

Vậy thôi nhỉ. Giờ là câu chuyện.