Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012

Máu đổ toa tàu và những gì xảy ra sau đó (trích tiểu thuyết sắp in "Life Navigator 25: người tình của cả thế gian" - Phần 2)

Tàu đang đi trên những nóc nhà. Không phải trên những nóc nhà theo nghĩa cách xa các nóc nhà một quãng, như đi dọc một đường ray treo giữa không trung. Không phải vậy. Bằng cách nào đó mà đường ray - hai đường ray hai bên và các thanh tà vẹt ngang - được lắp ngay trên nóc từng ngôi nhà một, ngay trên nóc các dãy nhà liên kế, các tòa chung cư, cao ốc văn phòng, và điều ngoạn mục nhất là nó uốn lượn lên lên xuống xuống tùy theo sự biến thiên cao thấp khác nhau về cao độ của các tòa nhà đó, mềm như dải lụa, song đồng thời, ngồi trên tàu, nàng vẫn có cảm giác mình đang tiến theo phương thẳng tắp nằm ngang, ngoài tiếng xình xịch khe khẽ đều đều ra còn thì nếu nhắm mắt hẳn nàng có thể mường tượng mình đang được đưa đi trong chân không, thi thoảng rung nhè nhẹ do một nhiễu động bên ngoài bí ẩn nào đó song về cơ bản là êm đến bất ngờ, đến nỗi hầu như gây bất an. Tuy vậy nàng không nhắm mắt, nàng muốn thu nhận vào mắt, vào tâm trí mình mọi thứ. Và quả thật hàng bao nhiêu thứ thật hay đáng để nàng nhìn. Này là những đàn chim từ các lùm cây cao nhất bên trên thành phố túa ra như vãi trấu mà bay tán loạn ra mọi hướng khi đoàn tàu lướt qua sượt vào một trong các đầu cành - có gì đó khác thường trong sự hoảng loạn cuống cuồng của chúng: làm như chúng biết rằng đoàn tàu này là điềm báo cho hoặc chính là hiện thân cho cái thảm họa tối hậu sẽ dẫn tới sự chấm dứt vĩnh viễn thế giới loài chim của chúng và có thể của mọi sinh vật.


Thế rồi tàu đi qua một nơi mà rợp trời là những cánh diều - phải mất mấy giâu quay phải quay trái nhìn trước nhìn sau nàng mới nhận ra đây là một trong những bãi đất trống hiếm hoi còn lại lọt thỏm giữa những tòa chung cư mới xây hoặc đang xây dở của quận nằm ở phía nam thành phố (quận mà tên của nó nàng không nghĩ tới nên không chắc là nàng nhớ, tuy nhiên nàng biết đúng là nó, không thể lầm được) -, diều đủ màu đủ cỡ đủ hình đủ dạng nhan nhản khắp nơi, nhiều đến nỗi nàng chợt nghĩ thế nào cũng có vài con bị vướng vào nhau và vướng vào tàu mình. Và ngay khi nàng nghĩ như vậy, lập tức nàng có cảm giác đoàn tàu vừa đảo mình rất nhẹ, từ trái sang phải và hơi nghiêng đi so với phương nằm ngang nhưng liền trở lại thế cân bằng gần như ngay lập tức, hình như tàu vừa mới tránh một con diều, với sự thoải mái, điềm nhiên, điêu luyện và lịch lãm như của một con người. Nhưng dù là một đoàn tàu hay một con người thì làm được thế cũng là quá giỏi, thực sự xuất chúng, mà nàng thì luôn luôn thích và ngưỡng mộ những người hay những gì xuất chúng cho nên, hoàn toàn thoải mái tự nhiên, nàng bật lên một tiếng cảm thán to không thể ký âm hay diễn thành lời, không bận tâm đến chuyện đang có ai xung quanh và nếu có thì họ nghĩ gì hay có thể nghĩ gì.

Và gần như liền sau đó nàng thấy mình đang đi qua phía trên một công trình kiến trúc mà nàng nhận ra lập tức là một đình làng cổ, đình làng cổ đằng trước là một cây đa to và một cái ao trong đó có hoa sen, một đình làng cổ rất dễ nhìn thấy ngay khi ra khỏi Hà Nội hay thậm chí giữa lòng Hà Nội. Ven cái ao trước mặt đình làng ấy, gần một chỗ có những bậc tam cấp xây bằng gạch (rất cũ) dẫn xuống mép nước, có một đám trẻ con đang chơi dở một trò gì đó mà nàng không thể đoán ra, song khi đoàn tàu lướt ngang qua tít cao trên đầu chúng thì chúng thảy đều ngừng lại ngẩng lên nhìn. Lập tức, không hiểu sao, nàng có cảm giác chúng đang nhìn chính nàng. Hoặc chúng nhìn đoàn tàu và đồng thời nhìn chính nàng. Từ vị trí của mình và trong trạng thái di chuyển của mình (kỳ thực không nhanh lắm, ít nhất là nàng cảm thấy thế) nàng nhìn lại chúng. Trong khoảng một giây đầu nàng tưởng như sẽ thấy chúng nhìn với vẻ sửng sốt của những kẻ thấy một đoàn xe lửa chạy cao tít trên trời như thế lần đầu tiên, nhưng té ra không phải. Mà chắc cũng chẳng phải là bởi bọn trẻ này đã quen thấy dạng xe lửa treo như ở nước ngoài hay bởi Hà Nội đã có xe lửa treo từ lúc nào đấy rồi mà nàng không hay biết: đoàn tàu nàng đang đi không giống bất cứ thứ xe lửa nào nàng từng thấy, trên phim ảnh cũng như trong đời thực: một đoàn tàu chạy trên duy nhất một đường ray uốn lượn giữa không trung như dải lụa, không bệ đỡ, không cột chống, không thanh treo, không gì cả. Dù thế nào đi nữa, nhìn kỹ trong một thoáng, nàng dần dần nhận ra trong dáng vẻ của đám trẻ con tít dưới kia - đứa nào đứa nấy không lớn hơn một đốt ngón tay nàng -, trong cung cách nhìn lên của chúng hình như có một cái gì đó giống như là vừa thản nhiên vừa chả chớt, lại thêm cái gì đó tựa như thù địch, nanh ác, mặc dù nàng không thể hiểu do đâu lại thế. Nàng hình dung ra những đứa trẻ chăn trâu một dạo hay ném đá lên tàu Thống Nhất làm chết người, chắc hẳn chúng trông cũng hao hao như thế này khi chúng đứng nhìn đoàn tàu từ xa tới, tay cầm sẵn đá hay gạch, mặc dù dĩ nhiên cho tới giờ và mãi mãi về sau không ai thực sự nhìn thấy cụ thể những đứa trẻ ấy vào các khoảnh khắc ấy.

Vài đứa trong bọn bắt đầu thọc mấy ngón tay vào mồm huýt sáo (dĩ nhiên tiếng huýt của chúng như thế nào nàng không thể nghe thấy, nhưng nàng cảm thấy được nó, âm sắc cao của nó cứa vào không khí một cách gần như có tính vật thể). Một đứa khác thì bắn ná (mất khoảng một giây để nàng nhận rõ và tin chắc là nó bắn ná thật chứ không chỉ làm bộ bắn, bởi ở quá xa nên nàng không thể nhìn ra có chiếc ná thật hay không), và trong một thoáng nàng bị xâm chiếm bởi cái cảm giác phi lý, hoặc không phi lý lắm, gần như hoảng tuy không phải hoảng, rằng nhỡ đâu cái thứ mà thằng bé bắn lên (dù nó là gì đi nữa) có thể vượt qua ngần ấy khoảng cách mà vẫn giữ được động năng nguyên vẹn để phá vỡ cửa kính và gây thương tích cho nàng hay ai đấy hoặc nếu không thì gây hại cho đoàn tàu dưới dạng nào đó. Nàng gần như căng tai chờ nghe tiếng cạch, tiếng póc, tiếng keng, tiếng xoảng, tiếng phập hay tiếng gì tương tự khi vật ấy chạm vào tàu, chạm vào da thịt nàng hoặc da thịt một người khác, ai thì thực chất cũng không khác nhau lắm. Bất giác nàng ngoảnh sang nhìn hai đứa trẻ cùng với người mẹ nếu đó đúng là người mẹ. Một trong hai đứa tự lúc nào không rõ đã nằm lên ghế bên cạnh ghế mẹ nó ngồi (mẹ nó mua cho mình và cho đứa con cả hai ghế hay là chỉ mua một ghế nhưng vì toa xe thưa người nên mẹ nó nghĩ hẵng cứ tạm chiếm thêm một ghế cũng không phiền ai, điều đó nàng không biết được). Nó nằm trong thế cuộn tròn “như bào thai trong bụng mẹ hoặc như con tôm”, một tấm chăn mỏng đắp hờ lên mình nó từ quãng thắt lưng trở xuống, ngủ tít thò lò, tuồng như nó đã ngủ như vậy từ hàng mấy giờ rồi. Trẻ con dễ ngủ làm sao! Đứa còn lại đang ngồi trong lòng mẹ nó, dúi mặt vào ngực mẹ nó mà thủ thỉ gì đó còn mẹ nó thì khẽ khom mình tới trước, gí mũi vào vùng đầu cổ nó, chốc chốc lại gật đầu, một nụ cười không ngừng nở trên đôi môi không son phấn có phần nhợt nhạt. Đoạn nàng nhìn sang năm cô gái tuổi teen mà mới đây thôi, trong một thoáng, nàng đã nghĩ tới chuyện gọi luôn bằng cái tên Ngũ Cô Nương. Cả năm cô không quan tâm gì đến xung quanh. Mỗi người cầm một điện thoại di động (đang mở ra theo nhiều cách, cái thì nắp lật cái thì nắp xoay cái thì nắp trượt), túm tụm vào nhau châu đầu vào nhau (các cô ngồi ở giữa toa nơi có hai dãy ghế đối diện nhau qua một cái bàn nên khá tiện làm như thế), không ngừng chìa máy cho nhau xem, cười rinh rích và rủ rỉ rù rì.


Nàng lại nhìn xuống dưới, nhưng đình làng và ao nước và lũ trẻ đã đi qua, mất dạng không còn dấu vết, như đã bị bàn tay khổng lồ nào đó xóa sạch. Lúc này dưới kia có vẻ lại là một khu vực đông dân cư khác của thành phố. Thoạt tiên nàng nghĩ đây hẳn là thị trấn Văn Điển, nhưng rồi nàng bỗng nhận ra một hình dáng quen thuộc mặc dù nói đúng ra thì nàng chỉ thường nhìn nó từ tầm mặt đất chứ đã có khi nào nhìn nó từ rất cao trên không trung như thế này. Bót Hàng Đậu. Chính nó, bởi cùng một lúc nàng nhận ra tất cả hoặc gần như tất cả các con đường mà nàng thuộc nằm lòng ở chung quanh nó - đây phố Hàng Đậu, nọ phố Quán Thánh, kia phố Hàng Than nơi nàng từng cuốc bộ ngược lên trên dốc đến chỗ bánh cốm Nguyên Ninh nổi tiếng, này là đầu phố Lý Nam Đế còn đây là phố Hòe Nhai, những con đường nàng biết hằng ngày, tuy lúc này chỉ có thể nhìn phớt qua song nàng vẫn nhận ra, cũng như trực cảm thấy được có gì đó khang khác, có một cái gì khác biệt. Phố xá thưa thớt người một cách không bình thường so với thời điểm này trong ngày, sau một thoáng thì nàng nhận ra. Mắt nàng đang nhìn thấy nhiều khoảng trống và sự tĩnh tại hơn ở nơi nàng không chờ đợi nó. Song hình như không chỉ có thế. Điều này thật khó tả, nàng trực cảm được nó chứ không phải tiếp nhận qua mắt nhìn. Không giống như sự thưa thớt, sự vắng lặng của Hà Nội vào ngày mồng một Tết, cái thưa thớt vắng lặng này chỉ là vẻ ngoài hoặc là hệ quả của một cái gì đó nàng không biết và có lẽ không bao giờ có thể biết nhưng đang làm nàng thấy bất an. Dường như đằng sau sự thưa thớt vắng lặng này đang có một thứ lực ghê gớm nào đó tác động, kiểu như một áp suất không khí lớn gấp bội lần bình thường hay một lực hấp dẫn lớn gấp bội lần lực hấp dẫn quen thuộc của trái đất, và những người ít ỏi đang đi lại lác đác dưới kia là thiểu số hiếm hoi những sinh thể mà bằng cách nào đó đủ sức thích nghi được với điều kiện mới này để di chuyển, hoạt động và sinh tồn, theo những cách mà giá như trong hoàn cảnh khác thì là khác thường nhưng ở đây thì không khác thường nữa. Thế còn đại đa số những sinh thể không thích nghi được, điều gì xảy ra với họ rồi? Nàng không đủ thời gian để dấn theo hướng nghĩ ngợi này, bởi rất nhanh sau đó lại có một đối tượng khác thu hút toàn bộ hoặc gần như toàn bộ tâm trí nàng.

Nơi ngả tư Quán Thánh-Hòe Nhai (nàng đang di chuyển dọc theo Quán Thánh hướng về phía chùa Trấn Quốc), có một bà cụ đang đứng nhìn lên tàu. Bà cụ trông nhỏ xíu - cả một khoảng cách lớn đến thế ngăn cách hai người -, nhưng nàng có cảm giác mình nhìn thấy bà cụ rất rõ. Trong nháy mắt hay một khoảng thời gian ngắn đại loại như thế nàng có cảm giác như nhìn thấy bà cụ qua ống nhòm, một thứ ống nhòm nằm ở trong nàng. Hoặc là có một thứ thiết bị vô hình nào đó, trong nháy mắt, phóng to hoặc “zoom-in” hình ảnh bà cụ cho riêng nàng thấy. Một cú zoom-in chính xác tuyệt hảo, không khoan nhượng, có tác dụng tức thời như một cú đấm. Thật sự là như một cú đấm, nàng hầu như giật nẩy người về phía sau, nếu không phải ở bên ngoài thì ít nhất ở bên trong. Là bởi nàng thấy bà cụ đang ràn rụa nước mắt. Có một nỗi đau to lớn, xé ruột trong nước mắt đó, loại nỗi đau khiến cho một số - không phải tất cả - những người nhìn thấy cũng nghe xé ruột. Không hẳn là ngay khi đó nàng nhớ tới - mặc dù có thể là lúc nào đó về sau, hồi tưởng lại, nàng sẽ cảm thấy rằng chính lúc đó nàng nhớ tới hoặc liên tưởng tới - nước mắt của bà ngoại nàng khi người ta đang xúc từng xẻng đất hắt xuống quan tài ông ngoại, nhớ tới và sống lại cảm giác của mình trong những giây phút đó, những cảm giác đau nó không còn chỗ nào để ta phân biệt đâu là của tâm hồn còn đâu là của thân thể. Sau đó thì gần như ngay lập tức bà cụ vuột ra khỏi tầm nhìn của nàng. Song điều này không làm thay đổi một điều khác, đó là hình ảnh nước mắt của bà cụ, hay ấn tượng của nàng trước nó, tiếp tục xuyên sâu vào trong nàng như một vết chém. Nó như làm cho từng phân tử máu và mô cơ của nàng trong nháy mắt trở thành vật chất chết và lạnh như băng. Nàng trực cảm được ngay sự khác biệt khôn cùng, sự ngăn cách không thể vượt qua - không phải chỉ là khoảng cách không gian - ngăn giữa bà cụ và nàng, sự ngăn cách giữa sống và chết nếu không phải còn lớn hơn thế. Trong giây lát câu hỏi này bóp nghẹt nàng: nếu đây đúng là khoảng cách giữa sống và chết thì chỗ bà cụ dưới kia và chỗ nàng ở trên này, đâu là sống và đâu là chết, tức là không phải sống nữa tuy vẫn đang tồn tại. Gần như kinh hoảng hoặc thực sự là kinh hoảng, nàng quay phắt sang phía chàng, khẩn thiết tìm cái nhìn của chàng. Lập tức nàng gặp mắt chàng và nụ cười của chàng. Chàng nhìn nàng mà mỉm cười như đang nhìn thấu ruột gan nàng! Trong thoáng chốc nàng cảm thấy chàng đang thấy tất cả những gì nàng đã thấy (dù nãy giờ chàng có nhìn cùng hướng với nàng hay không) và cả những gì nàng không thấy dù lẽ ra phải thấy. Nàng cảm thấy mình trong suốt như không khí, tuy không hẳn là không hiện hữu. Nàng nghe vị đắng nghét ở trong miệng. Nàng mở miệng toan nói, tuy trong đầu không biết mình sẽ nói gì, nhưng thay vì nói nàng chỉ nuốt nước bọt. Thế rồi, bất ngờ với chính mình, nàng khẽ hất cằm về phía chàng, giống như nàng vẫn hay làm thay vì nói với chàng, Thì đấy, đây là thế đấy, làm gì được nhau. Điều duy nhất hơi khác là lúc này nàng làm vậy không kèm theo một nụ cười hay một nét miệng gần với cười, hẳn có thể nói là với vẻ nghiêm trọng hơn bình thường, mặc dù chàng hiểu điều đó như thế nào thì chưa rõ và có thể là nàng chẳng bận tâm. Dù sao thì chắc hẳn chàng có nhận thấy các cơ mặt nàng căng lên, nàng đang phải chiến đấu với cái gì đó rất mạnh - không dễ gì kháng cự - ở trong nàng. Do dự một thoáng, chỉ một thoáng, chàng dịch người lại gần nắm lấy tay nàng.

Thôi thúc tức thì bên trong nàng, mạnh và nhanh hơn ý thức, là hẩy tay chàng ra, như thỉnh thoảng vẫn làm những khi nàng đột nhiên thấy muốn làm vậy hơn hết. Song lần này nàng để yên tay mình trong tay con người mà trong thoáng chốc nàng thấy hình như xa lạ kia. Không, chàng không xa lạ với nàng, cái nắm tay của chàng - sức mạnh vừa phải và hơi ấm của nó - cho nàng thấy vậy. Sau khoảng một giây, chừng như thấy thế chưa đủ, chàng siết tay nàng mạnh hơn. Nàng nhìn sâu vào mắt chàng và thấy ở đó niềm mong muốn chân thành là làm sao giúp được nàng vượt qua dễ dàng hơn những khoảnh khắc này. Nàng cảm động. Nàng hầu như cảm thấy có lỗi, và đột nhiên quyết định sẽ không nói gì về những điều nàng thấy, sẽ không hỏi chàng, Anh có thấy bà cụ nơi góc phố kia không. Môi nàng nở ra gần thành nụ cười, không hẳn là cười, một nụ cười không tới độ vì bị cái gì đó - một lượt sương giá, một lớp đất vô hình - đè lên. Nàng lại quay ra cửa sổ, biết chắc chàng nhìn cùng hướng với mình. Lần này cái nàng thấy chỉ là bầu trời, bầu trời màu xanh xám, xám nhiều hơn xanh, một góc có một đám mây lớn hay đúng hơn là nhiều đám mây co cụm vào nhau, một vùng mây, mặt dưới được mặt trời đang lặn tô màu vàng như mỡ gà, phía trên màu đen-xám như chì than, hoặc có thể nói là hao hao như màu lông chuột. Nghển cổ, nghiêng người, nhìn xa hơn một chút, nàng vẫn chỉ thấy bầu trời, không gì hơn. Tít bên dưới cũng không có gì, tuyệt không có gì ngoài một biển mây dày đặc giống như một đàn cừu nhà trời khổng lồ. Chỉ trong mấy giây, cùng lắm là mười giây ngắn ngủi mà mình đã lên cao đến ngần này sao! Nàng quay sang chàng, song hóa ra không phải chàng đang nhìn cùng một hướng với nàng như nàng nghĩ. Nàng chỉ thấy nửa nhìn nghiêng khuôn mặt chàng, chàng đang ngoảnh nhìn một cái gì đó trong toa tàu. Cái gì có thể khiến chàng lạc hướng tập trung một cách chóng vánh như vậy? Tại sao chàng cảm nhận được nó trước chứ không phải nàng? Nàng nhìn chàng trong khoảng một giây, hơn một giây, chú ý (mà không biết tại sao) đến đường nét quai hàm chàng mà nàng luôn luôn thấy và đôi khi trêu là mềm như của đàn bà, mặc dù lúc này các cơ ở vùng hàm đó đang đanh lại theo một cách hoàn toàn đàn ông, và chỉ sau đó nàng mới xoay đầu theo hướng chàng đang nhìn để xem nó là cái gì vậy.

(Còn tiếp)

Thứ Hai, 8 tháng 10, 2012

Máu đổ toa tàu và những gì xảy ra sau đó (trích tiểu thuyết sắp in "Life Navigator 25: người tình của cả thế gian" - Phần 1)

Hôm nay mình đến một nơi đặc biệt, chàng nói.


Đặc biệt tới cỡ nào hả? nàng nói.

Đặc biệt, chàng nói.

Đến đó thì nàng biết nàng chỉ cần chờ đợi. Nàng bắt đầu giải trí bằng cách nhìn kỹ mọi thứ xung quanh. Toa tàu họ đang đi, cảnh sân ga ngoài cửa sổ bên, một mảnh trời xanh hiếm hoi, góc cạnh, lộ ra giữa những khối nhà ngoài cửa sổ bên kia. Toa ghế ngồi, ghế toàn bằng gỗ, tuy nhiên không phải là toa ghế cứng rẻ tiền, hoàn toàn không, chỉ cần nhìn chất gỗ trắng bóc chạy những đường vân sóng cuộn tinh tế màu cà phê sữa, cùng với nệm ngồi và đệm tựa lưng vừa dày vừa êm như mơ, bọc bằng thứ lụa mịn láng có những hình thêu nổi cỏ cây hoa hòe chim bay cá lội mây trời vừa tinh xảo vừa đầy sức gợi lạ lùng đến nỗi không đời nào thêu bằng máy được, chỉ có thể là những tạo vật mang hồn cốt của một kẻ tạo tác nếu không phải thiên tài thì ít nhất cũng là khí lực hơn người. Dĩ nhiên thật khó hình dung là một người như thế có thể đảm nhận việc bọc nệm cho tất cả các ghế của toa tàu này, toàn bộ đoàn tàu này, tất cả các tàu đồng hạng và ai biết còn những tàu nào nữa của ngành đường sắt quốc gia. Chắc hẳn có rất nhiều người sao chép lại từ mẫu gốc của người đó, song điều này không làm giảm niềm ngưỡng mộ sâu xa trong lòng nàng khi nàng nhìn những bức thêu. Ngược lại là khác, niềm ngưỡng mộ này càng lúc càng tăng, bởi vì rõ ràng một bức sao lại Mona Lisa không phải là bản gốc Mona Lisa, song một bức sao toàn bích, giống bản gốc như hai giọt máu theo liền nhau rỏ ra từ cùng một vết thương, thì không thể không hàm chứa một hàm lượng thiên tài của nó.

Đoạn nàng chuyển sang nhìn những hành khách đi cùng toa với hai người. Toa không đông, chính xác hơn là rất thưa người - dễ đến hơn ba phần tư số ghế còn trống -, kể cũng là hơi lạ so với tuyến đường này và thời điểm này trong năm. Nàng ghi nhận điều này song chẳng bận tâm mấy, ở đời thiếu gì những lúc mọi sự không theo quy luật, đấy là một quy luật khác, chẳng có gì lạ hết, ấy là chưa kể biết đâu chừng đến các ga sau là sẽ có hàng đoàn hành khách mới lũ lượt kéo lên, căng thẳng, quyết liệt, sấn sổ giành nhau đi trước chẳng khác gì chạy loạn. Một vài hành khách trong toa nàng nhìn đến chỉ một lần, mắt nàng chạm đến họ, dừng lại trong không đầy một giây rồi chuyển sang đối tượng khác. Ở một vài người thì mắt nàng và tâm trí nàng lưu lại lâu hơn, dĩ nhiên là ở họ có gì đó đặc biệt hơn, không hẳn là khác thường song đơn giản là có gì đó đáng để nàng nhìn. Chẳng hạn như ba mẹ con này (hẳn vậy, hoặc nàng muốn tin thế, mặc dù cũng có thể là ba dì cháu, hay một bà chị và hai đứa em chênh tuổi nhau hơi quá nhiều, những dạng quan hệ khác nữa thì loại ra, xét vì sự giống nhau chút nào đó về ngoại hình của ba người mà nguyên nhân có vẻ hiển nhiên và chắc chắn là mối liên hệ huyết thống). Người mẹ rất trẻ, như chỉ mới hai mươi hăm mốt, có lẽ hơi quá trẻ để làm mẹ hai đứa con ở lứa tuổi kia, song có nhiều phụ nữ giữ được nhan sắc và sự tươi trẻ một cách bền bỉ đến kỳ lạ nên cũng không thể nói chắc được điều gì. Hai đứa trẻ tầm bốn năm tuổi, sinh đôi, điều này thì không thể nhầm, chúng giống nhau như hai giọt nước dù một trai một gái, cùng đẹp như nhau, khiến nàng không khỏi hình dung vào năm hai mươi tuổi chúng sẽ là một cặp khiến mọi người xung quanh ngỡ ngàng đến mức nào, một nam thanh mang đôi nét mềm mại dịu ngọt như thiếu nữ và một nữ tú thi thoảng để lộ vẻ cương nghị và lòng đam mê sự hiểm nguy ẩn đằng sau dáng yêu kiều. Nàng nhìn hai đứa trẻ rất lâu không rời mắt được. Không phải là nàng thích tất tật trẻ con, song trẻ con đẹp đến thế và gợi lên cảm xúc ở nàng một cách tức thì như thế thì nàng có thể ngắm hàng giờ nếu không thể sờ tới được, sẽ ghi sâu vào tâm khảm và hẳn sẽ không quên cho đến hết đời nàng. Chàng có lần nói với nàng điều tương tự, rằng đối với nàng những đứa trẻ - của loài người và của loài vật - khỏe mạnh, xinh đẹp, vui vẻ và bình an đang ở bên cha mẹ chúng hay ít nhất bên những kẻ chúng có thể tin cậy, đó dương như là một thứ báu vật ngày càng khó gặp và khó giữ hơn trên thế giới này.



Tuy nhiên mãi rồi nàng cũng rời mắt khỏi hai đứa trẻ - nàng không thể nhìn chúng cả ngày được - mà tiếp tục đưa mắt ra xa hơn, đằng sau ba mẹ con đó, để thấy một nhóm thiếu nữ, năm người, tất cả đều trạc tuổi mười lăm mười sáu, cao nhất là mười bảy, không hơn. Nhìn năm cô gái mới lớn đó, nàng dường như thoáng cười mặc dù đó là một nụ cười khá mong manh. Năm cô gái, hai cô khá xinh, hai cô nhan sắc bình thường, một cô hiển nhiên là một mỹ nhân, cả năm đều mặc quần jean, những chiếc jean xanh bình thường, cổ điển, không tẩy trắng, không xé, không hoa hòe hoa sói, không đính cườm cũng không nhằng nhịt túi con và phéc mơ tuya, duy chỉ giày dép, áo mũ, kiểu tóc và thêm vài thứ phụ tùng là thứ duy nhất để phân biệt. Nàng nhìn cô gái hơi lâu hơn bình thường (so với loại đối tượng này) một chút: nàng cảm thấy hơi thú vị muốn thử xem liệu mình có thể đoán được trong bộ năm này có một người nào kiểu như là thủ lĩnh hay không, nếu có thì có phải là cô xinh đẹp nhất - người đẹp đích thực duy nhất trong cả đám - hay không, và nếu không phải cô mà là người khác thì cô thủ lĩnh kia có cái gì? Nàng đang cảm thấy mình đã bắt đầu nhìn ra được chút gì đó liên quan đến điều này - như tưởng chừng cảm nhận được sức nổ sắp sửa bung ra từ bên trong khẩu súng đã lên nòng hay quả lựu đạn - thì chàng đã giật tay nàng, lôi nàng về phía đối tượng chàng đang lưu tâm. Theo ngón tay chàng chỉ, nàng nhìn ra cửa sở phía đối diện, nơi mà ban nãy, khi tàu còn đứng ở trong ga, nàng đã thấy mảng trời lộ ra giữa những khối nhà, còn bây giờ là cảnh phố phường tuần tự lướt qua. Tàu chuyển bánh từ lúc nào, điều đó đã hoàn toàn lọt ra ngoài tri giác của nàng, trong khi nàng mải nhìn mấy mẹ con kia, và sống trong thế giới của riêng nàng! Tàu chạy, giờ thì nàng đã nhận ra, và lập tức các quan năng của nàng chuyển sang một chiều kích khác, “sang số khác”, hiện hữu của nàng từ lúc này gắn liền trực tiếp hơn với chuyển động của thực tại quanh nàng.

Nàng nhìn những ban công gác xép, những mái hiên, những dây kẽm phơi quần áo, những búi dây điện treo lơ lửng nối nhau lướt qua bên kia cửa kính toa tàu, gần đến nỗi tưởng như thò tay ra là chạm tới và sự thực chỉ cần thò tay ra là chạm tới. Ở Sài Gòn, như chàng nói, và như nàng sau đó đã tận mắt thấy, giữa các dãy nhà dân với đường xe lửa ở đoạn gần ga có một hàng rào song sắt khá kiên cố nghe bảo là do dân tự bỏ tiền xây nên để ngăn không cho xe lửa dù không muốn song vẫn cán chết người, người lớn hay con nít - con nít tự khiến cho xe lửa cán mình là bởi không biết, người lớn thì bởi khinh suất, đằng nào thì cũng, như có người nói, là bởi vô tri. Nàng không muốn từ đó đi đến kết luận rằng ở đây người ta bao dung hơn hoặc ít nhạy cảm hơn với sự vô tri, có thể chỉ là ở đây người ta quen hơn với việc hằng ngày sống kề bên sự hiểm nghèo, tức là ở vào một vị trí chênh vênh hơn bên bờ vực thẳm giữa ở đây-lúc này và chốn hư vô. Rất nhanh sau đó, những dãy nhà lùi xa khỏi đường xe lửa, hay nói là đường ray xe lửa bắt đầu đi men theo một con đường lớn hơn cũng được, một barie - chỗ đường ray giao cắt với một đường dành cho xe cộ - lướt qua, một barie nữa, và không lâu sau đó một barie nữa. Nàng nhìn những khuôn mặt người phía trên các xe hai bánh ở phía bên kia các barie, những khuôn mặt sốt ruột, những khuôn mặt căng thẳng, những khuôn mặt bơ thờ, những khuôn mặt sưng sỉa, những khuôn mặt điềm nhiên, một khuôn mặt tít phía xa hình như sáng lên do một nụ cười, những khuôn mặt vô cảm, những khuôn mặt hoàn toàn dửng dưng, đoàn tàu đi qua không gây nên ở họ ấn tượng nào lớn hơn ấn tượng gây nên bởi một đàn kiến bò qua sân.

Thế rồi đến một cây cầu lớn ở rìa phía nam thành phố, cầu tên gì nàng đột nhiên không nhớ, điều thỉnh thoảng vẫn xảy ra với nàng hay bất cứ ai nàng biết, tên một con đường, một nơi chốn, một con người mà tưởng như ta luôn luôn biết nằm lòng đột nhiên một ngày nào đó, một giây nào đó tựa hồ biến mất hoàn toàn khỏi ký ức ta, như thể trong tâm trí ta có một vùng mù trắng hay một điểm mù vừa tự dưng xuất hiện không có điềm báo trước và dường như không cơn cớ. Song ấn tượng mà cây cầu gây nên cho nàng thì mãnh liệt. Tiếng ồn của bánh đoàn tàu - trọng lượng và động năng của đoàn tàu đang tiến đều - đè lên các thanh dầm sắt của cây cầu “dường như xé rách tai nàng và cắt sâu vào trong tủy sống nàng”. Nàng lấy hai tay bịt chặt tai và ngoảnh sang nhìn chàng, tìm mắt chàng, hả miệng thật to như muốn hét lên với chàng một tiếng hét câm lặng song đinh tai nhức óc mà cả đời chưa một lần nàng hét, như thể đó là cách độc nhất nàng có hầu cưỡng lại sức mạnh tàn phá và hủy diệt của tiếng ồn kia, bằng cách tạo ra một tiếng ồn khác dẫu còn rất xa mới đủ mạnh để làm đối trọng nhưng cũng đã là thứ tiếng ồn có sức tàn phá nhất khả dĩ sinh ra từ cổ họng và toàn bộ bản thể nàng. Chỉ có nhìn sâu vào mắt nàng thì mới nhận ra nàng đang đùa: nàng làm bộ thế thôi, lâu lâu nàng thích giỡn hơi mạnh tí cho vui. Lâu lâu nàng lại thích đùa thích giỡn cho vui với nỗi sợ, đùa với sự kinh hoàng, chẳng hạn như, (nàng nói thẳng với chàng như thế), có lúc nàng ước gì mình có thể đổi mặt mình lấy mặt cô vũ nữ Cẩm Nhung lừng tiếng một thời ở đất Sài Gòn nhất là từ sau khi cô bị bà vợ ông đại tá hay trung tá gì đó nhân tình của cô thuê người tạt a xít, nàng muốn đổi mặt mình lấy mặt Cẩm Nhung sau khi chứ không phải trước khi cô bị tạt a xít, cái khuôn mặt mà ai đã thấy một lần là sẽ còn thấy lại trong ác mộng cho đến hết đời, đổi trong vòng một giây, không hơn (nhất định là không được hơn!) và nàng sẽ dàn xếp sẵn sao cho chàng ngẫu nhiên quay lại nhìn nàng đúng vào một giây đó trong trạng thái tuyệt đối bình an tin cậy, hoàn toàn không được chuẩn bị, không sẵn sàng để nhận thức và hấp thu nổi cái hình ảnh vừa mới thấy là đã biến đi này. Chà, nếu làm được thế thì quả là một cú hù vô tiền khoáng hậu muôn năm khỏi đụng hàng, nàng nói, cười rinh rích cứ như nàng đã làm thế thiệt, có chăng là ở trong phim ma của tụi Nhựt hay tụi Hàn thì mới có thôi. Lúc này khuôn mặt nàng tạo ra là do nỗ lực của chính nàng - nhờ huy động tới hai trăm phần trăm khả năng biểu đạt của tất cả các cơ mặt và của cặp mắt cộng thêm hai bàn tay và hiệu quả gây nên chẳng phải là không mỹ mãn: nàng thấy điều đó trong mắt chàng. Chỉ có thứ tiếng thét câm lặng mà dường như làm không gian xung quanh như xoắn vặn cong vênh đó, như trong bức tranh lừng danh của tay họa sĩ Na Uy thì mới gây được trong mắt chàng sự căng thẳng hầu như có thể khiến nhãn cầu rách toác được tới nơi như thế. Trong khoảng một hai giây đầu tiên chàng như không thực sự nhận thấy nàng đang đùa. Có, chàng nhận thấy, song hình như trong một hai giây đầu đó nàng đùa hay không thì với chàng cũng chỉ là một. Dĩ nhiên ngược lại cũng có thể đúng: chàng đang đùa với nàng hay không, hay trong vài giây đầu tiên chàng đùa hay không đùa cũng chỉ là một, điều đó chỉ sau vài giây đầu tiên nàng mới bắt đầu nhận ra. Có khi chính chàng cũng không có khả năng phân biệt đâu là ranh giới giữa sự kinh hoàng vờ và sự kinh hoàng thật của mình, có thể là hoặc chính bởi vì một ranh giới như vậy vốn dĩ không hiện hữu. Hoặc có thể đúng hơn là ở chàng bất cứ lúc nào cũng đều có một chút đùa và một chút tiếng thét câm lặng, thét thực cũng như đùa thực. Bằng cách nào đó nàng hiểu đó không phải là tiếng thét của bản thân chàng - nó không liên quan đến hoặc xuất phát từ một sự kiện hay biến cố có thật trong đời chàng, ít nhất là theo chỗ chàng đã cho nàng biết về cuộc đời chàng cho đến giờ. Ở chàng có phần nào đó nữ tính giống nàng, và phần khác hoàn toàn trái ngược với nàng, có lẽ chính vì vậy nàng và chàng hình như không bao giờ rứt khỏi nhau được. Nàng và chàng không thể rứt khỏi nhau được dù chỉ vì gắn liền với nhau bằng sợi dây nhau không đầu không cuối một phần cấu tạo bằng sự đùa bất tận còn phần khác thì bằng tiếng thét (không phải của riêng mình) bất tận ấy.

Thế rồi, bằng một cái ngoắt đầu mạnh, đột ngột, chàng nói với nàng rằng khoảnh khắc vừa rồi đã chấm dứt, cần chấm dứt. Chàng ngoái đầu qua cửa sổ phía đối diện, rồi thì, với một nụ cười (thật bất ngờ sau tất cả những gì vừa diễn ra trong mấy giây qua), chàng ngoảnh sang nàng mà hất cằm về phía chàng vừa mới ngoái nhìn, như mời nàng chiêm ngưỡng một phần cái thế giới mà nàng chưa hề biết tới và chàng cũng vừa phát hiện. Và, như một đứa trẻ háo hức, nàng buông ngay tay ra khỏi tai (quên khuấy là trước đó nửa giây mình đang làm vẻ như sắp nứt đầu ra đến nơi bởi tiếng ồn), nàng xoay đầu nhìn theo hướng cằm của chàng, miệng khẽ hé, và điều nàng thấy khiến cho miệng nàng liền há to hơn, như mở đường cho một tiếng kêu sắp sửa bật ra.

(Còn tiếp)

Thứ Hai, 10 tháng 9, 2012

Đầu của hoa hậu Ấn



Người đàn bà tên Huỳnh Thị Liên, 67 tuổi. Bà đến làm thủ tục tạm vắng cho con trai.

Con trai bà, Phùng Anh Tuấn, 33 tuổi, kỹ sư xây dựng, được biệt phái công tác ra Hải Phòng sáu tháng, bắt đầu từ 15 tháng 6.

Nghĩa là thứ hai tuần sau.

Tại sao Phùng Anh Tuấn không tự đến?

Tôi không biết; tôi đang tìm hiểu đây.

Anh có nghe tiếng sấm không?

Cái thứ tiếng ầm ừ, rặn từng tiếng này, thời tôi còn bé, mẹ tôi thường bảo là “Ông Trời đau bụng”. Còn bây giờ nó giống gì? Anh có nghĩ ra gì không? Có phải những quả bi bằng sắt nặng trịch lăn qua bầu trời mà Rip Van Winkle đã nhìn thấy không? Cái tiếng ấy ta không chỉ nghe bằng tai. Anh có thể nghe cái tiếng ấy âm âm trong cơ thể mình; không phải cái cơ thể bằng xương thịt, mà cái cơ thể thanh, nhẹ hơn, rung nhanh hơn, bằng loại hạt ở sâu hơn, tận bên trong, mà hiện nay người ta gọi là hạ nguyên tử còn trong tương lai sẽ có từ thích hợp hơn để gọi. Anh có hiểu tôi không?

Anh nghĩ đến tiếng máy bay mà (đôi khi) ta cảm thấy trong giấc mơ? Có thể. Nếu sống ở Gò Vấp, hay Tân Bình, khu vực gần sân bay Tân Sơn Nhất, anh sẽ thường xuyên thấy máy bay cất cánh và hạ cánh. Tình cờ nhìn lên, anh sẽ thốt nhiên kinh ngạc vì kích thước của chúng, lừng lững bơi qua bầu trời, càng ấn tượng hơn vào ban đêm với thân mình màu đen nhuốm bạc và chấm sáng xanh nhỏ xíu nhấp nháy. Tai anh không nghe tiếng động cơ, nhưng cái anh thấy, nó rền vang và tiến sâu vào anh, một chuyển động không nằm trong vật chất và xâm chiếm anh không phải như xâm chiếm một thể xác.

Đây là nhà thơ. Mỗi khi gặp một phụ nữ thiếu nhan sắc, anh bất giác cúi đầu như thấy mình có lỗi trong một công trình không thành công của Tạo hóa. Người ta không thoải mái với cái nhìn của anh, lúc nào cũng như muốn (hoặc đã) nhìn thấu chân tướng vạn sự. Nhà thơ tới đăng ký tạm trú cho cô gái bán bánh canh ở đường Hàn Thuyên, tuần trước đột ngột từ Huế vào tìm đến nhà anh, xin tá túc một thời gian, đặng “tìm cơ hội ở thành phố”. “Em biết anh là người tốt. Anh cứ coi em như đứa em gái; em sẽ nấu cơm, giặt đồ, lau nhà cho anh, và khi anh buồn, em sẽ kể chuyện cho anh nghe”.

Anh nhìn thấy khoảng tối chứ?

Đôi khi, trên một khuôn mặt người, dù dưới ánh sáng ban ngày, anh vẫn thấy khoảng tối ấy. Bầu trời như có đám mây đen lớn bay qua, kỳ thực chẳng có đám mây nào, nhưng khoảng tối cứ lan dần trên bầu trời quang, và anh không thể không cảm thấy nó.

Bây giờ anh thấy bóng tối - hay sự thiếu vắng ánh sáng, sự thoái biến ánh sáng - đó ở vùng không gian bên trên chiếc bàn, giữa nhà thơ và đại diện chính quyền; như có kẻ vô hình hay cái gì đó vô hình, cực lớn, đang chọc một ống rơm vĩ đại vào chỗ đó, hút hết ánh sáng, chừa lại vùng không ánh sáng hình chiếc phễu úp ngược, với đường viền mịn, khẽ động, như làn hơi nước một ngày nắng. Anh có thấy ánh sáng không? Đấy, ngay chỗ ấy! Chưa thấy à? Chuyển hướng nhìn một chút... Thử nhìn dưới một góc khác. Hoặc đổi vị trí một chút, chẳng hạn dịch sang trái... Hãy quên rằng trước đó anh không nhìn thấy.

Giờ anh thấy rồi chứ? Bên này anh thấy không-ánh-sáng, bên kia anh thấy ánh sáng. Nhưng chỉ một vùng đó thôi.

Quan tâm lớn nhất của tôi là thân phận con người, với vũ trụ. Có khi, tất cả những gì tôi quan tâm là một vạt cỏ chưa có chân người giẫm qua. Và màu sắc của một hạt bụi trong nắng.

Từ trong đá, một cái gì đó không đuợc nói ra, và lựa chọn của tôi là im lặng về nó.

Cũng có nghĩa là cái đó im lặng về chính mình.

Phòng tiếp dân của chính quyền có bốn chiếc bàn gỗ, sổ sách, nhiều tập giấy, ấm chén, phích nước, điện thoại, tủ hồ sơ, hai khung cửa sổ, và vài thứ khác. Nhà thơ cảm thấy nơi đây vừa nhỏ bé vừa to lớn hơn anh. Trời nóng, anh nghe mồ hôi rịn ra nơi kẽ ngón chân.

Người ta bảo nhà thơ cần bổ sung giấy đăng ký tạm vắng từ địa phương gốc của cô gái. Nhà thơ đứng dậy. Khi nhà thơ đã quay lưng đi, bàn tay trái anh ta còn khẽ bíu lấy gờ trên của chiếc ghế vừa ngồi thêm mấy giây. Trên quãng đường dăm mét ra cửa, bàn tay trái anh ta - bàn tay rảnh, vì tay phải bận cầm mớ giấy tờ - chụm ngón vào nhau như thể nắm giữ một cái gì nhỏ bé, không rõ rệt, rồi các ngón lại dãn ra như thể buông cái đó xuống đất. Đám nhà thơ thật rắc rối, phải không? Mà thôi, hãy cứ quan sát anh ta. Anh ta sắp biến hình đấy. Thú vị lắm. Bản thân anh ta không biết đâu. Với anh ta, việc đó như là không có anh ta nữa. Xem nhé! Kìa, thấy chưa? Chân anh ta bắt đầu nhấc lên. Chầm chậm thôi, nhưng bây giờ đã cách sàn nhà khoảng mười xăngtimét. Có điều, anh ta không bồng bềnh như Neil Armstrong trên Mặt trăng đâu. Không phải sức hút trở nên nhẹ hơn đối với anh ta, mà dường như có những bậc thang vô hình - cái sau cao hơn cái trước - liên tiếp trồi lên trước mặt anh ta. À, có lẽ không phải. Không thể là những bậc thang, vì đầu gối anh ta chẳng hề nhấc cao như ta thấy ở kẻ phải vận động đi lên. Có lẽ nên nói dường như ai đó vừa chắp cánh vào chân anh ta: anh ta bước bình thường như kẻ đi trên đất bằng, nhưng cứ mỗi bước anh ta lại xa sàn nhà thêm chừng 10 xăngtimét. Hơi giống Tề Thiên Đại Thánh đằng vân; liên tưởng tạm được đó. Bây giờ, khi đã đến sát ngạch cửa, bàn chân anh ta cách sàn nhà khoảng một mét. Anh đang lo nhỡ ra anh ta không biết khom mình xuống và sẽ cộp đầu vào khung cửa? Nhưng anh ta có ra khỏi cửa đâu. Nhìn xem! Anh ta từ từ xoay nghiêng, và từ từ tan ra, biến thành một cái gì đó như tia nắng chiều xiên khoai, với hằng hà sa số những vi thể lấp lánh màu vàng tinh khôi. Vạt nắng ấy từ từ trôi ngược về giữa phòng và, ngay trên bàn làm việc của viên chức Nhà nước (mà lúc này phía sau bàn đột nhiên chẳng còn viên chức nào nữa) liền tụ lại thành một cái lồng kính, một cái bể cá, nhưng không có nước, không có cá, mà bên trong là một cái đầu người, một cái đầu tuyệt đẹp, với mái tóc bới cao, làn da màu sôcôla, cặp mắt to đen, mũi cao thanh tú, đôi môi mọng, và, trên trán có một chấm đỏ! Đích thị là cái đầu một người đẹp Ấn độ, trông quen quá chừng... Thôi, còn ai vào đấy nữa! AISHWARYA RAI! Nàng hoa hậu Ấn độ, đoạt vương miện Hoa hậu thế giới vào thập niên 90 thế kỷ trước, anh nhớ không! Chẳng việc gì phải giấu, ngay từ phút đầu tiên thấy Aishwarya trên họa báo, tôi đã mê cô ta... Mặc dù cuộc đăng quang qua đã lâu, chẳng mấy ai còn nhớ, tôi vẫn mê cô ta... Làm sao ngờ nổi tôi lại thấy Aishwarya ở đây, dù chỉ cái đầu cô ta... Cái đầu sống, anh ạ. Nó - không, nàng Aishwarya của tôi - ngước đôi mắt đen láy mà mỉm cười với tôi.

Tôi không tin mắt mình nữa!

Xem kìa. Góc dưới bên phải cái bể cá, mặt đối diện với anh, anh có thấy vết trầy như mèo quào không? Còn góc trên bên trái, mặt phía tay phải anh, có chút cợn bọt khí, anh thấy không? Trừ hai khuyết tật nhỏ ấy, nhìn chung là vật liệu thủy tinh tốt, trơn nhẵn, trong suốt. Lấy vật gì đó bằng kim loại, chẳng hạn cái que đan mà gõ nhẹ vào thành bể, anh sẽ nghe tiếng lanh canh trong vắt như suối chảy trên núi.

Còn đầu của Aishwarya... Trên cần cổ, gần chỗ lẽ ra là xương quai xanh bên phải, có một cái bớt nhỏ màu sắc như ngón tay ngâm nước quá lâu, chẳng rõ hồi thi hoa hậu nàng Aishwarya có để lộ ra không, nhưng không đến nỗi vì vậy mà hỏng ấn tượng chung về cái đẹp. Anh cũng nghe mùi hương thoang thoảng, mùi hương đích thực của thân thể đàn bà, chứ không phải thứ nước hoa nào đó. Và toàn bộ không gian trong căn phòng chật hẹp chốn công quyền bỗng bừng lên trong một thứ ánh sáng khó tả, vàng như nắng chiều, nhưng không tuôn vào từ cửa sổ, mà hình như phát ra từ trên trần nhà, từ các bức tường, và mọi vật không có bóng, anh hiểu không...


Cái đầu hay nhà thơ? Câu hỏi hay, phải không? Có bao nhiêu phần nhà thơ còn lại trong cái đầu? Liệu khi có cái đầu thì có còn nhà thơ? Nhưng sao chúng ta chỉ nghĩ tới nhà thơ mà không nghĩ tới cái đầu nhỉ? Nó-Nàng đẹp quá đi chứ! Có lẽ trên đời khó có tạo vật nào đẹp hơn thế: cái đầu màu ô liu với đôi mắt nhung của Aishwarya Rai. Xét cho cùng, nhà thơ chỉ là một giai đoạn, còn cái đẹp là vĩnh cửu, phải không? Nhưng anh vẫn chưa hiểu chuyện gì xảy ra, tôi đoán thế. Anh không hiểu làm sao có thể có sự biến hình phi lý, kỳ dị này - ít nhất là với anh. Anh vẫn chưa nhận ra anh đang nhìn một thế giới khác, thế giới của chúng tôi, hay sao? Ờ, anh không thể nhận ra được.

Thế giới của chúng tôi là một thế giới nhân tạo, giả lập, có thể kiểm soát, có thể tùy biến. Nó là món quà của một công dân đáng kính tặng đứa con bảy tuổi của ông ta. Một món đồ chơi, dĩ nhiên. Cậu nhỏ này, giàu tưởng tượng và nghịch như quỷ, là Thượng đế tuyệt đối, toàn năng của chúng tôi. Ngài toàn hiện (có mặt ở mọi nơi). Không có gì thuộc vũ trụ này - từ một hạt nơtrinô cho đến ông mặt trời đang làm chúng ta mướt mồ hôi như nhểu mỡ kia - mà không là một mẩu nhỏ xíu trong trò chơi của Ngài. Ngài kiểm soát và điều khiển thế giới này bằng ý chí hung bạo và ngây thơ của một đứa trẻ. Không một biến cải nào trong thế giới này tuân theo một trật tự hay lôgic nào đó như cách người ta hiểu ở thế giới các anh. Nhà thơ biến thành cái đầu tuyệt đẹp của hoa hậu ấn, anh chàng sumo vụt hóa thành gã tí hon không cao hơn chú gà choai, bản thân tôi, nửa phút nữa bỗng thành con ếch đầy ghẻ hay thành lưỡi cưa cùn - tất cả tùy thuộc vào cảm hứng bất thần và tưởng tượng bất kham của Thượng đế nhỏ. Anh định nói gì? à phải; anh từng biết một cái gì tương tự, và miệng anh định thốt ra: phải chăng lại là trò hiện thực ảo cũ rích? Hẳn thế. Nhưng với tôi, anh nên nhớ là với tôi, đây không là thế giới của những hư tượng, những virtual image, bởi vì tôi, một nhân vật của nó, tôi có ý thức và đang ý thức về bản thể của tôi, thế giá của tôi, thân phận tôi, về (cái gọi là) sự sống và tự do của tôi.

Dĩ nhiên, tôi không chỉ là một nhân vật trong thế-giới-đồ-chơi này. Tôi có một bản thể song hành (đang sống) trong thế giới của anh, cũng với cái tên tôi, thân phận tôi, tinh thần tôi. Tôi là một bản đúp phái sinh, một bản đúp thứ nguyên, một degenerated duplicate của anh ta. Rất có thể ngày nào đó anh sẽ gặp tôi ở chỗ anh, và tôi gặp (bản đúp của) anh ở chỗ tôi. Dĩ nhiên, với điều kiện ta chưa kịp biến thành một thực thể khác.

Anh tự nhủ: Tinh thần nào có thể chịu nổi sự tồn tại trong một thế giới mà bất cứ giây nào tiếp theo anh đều có thể biến thành cái đầu hoa hậu Ấn, hòn đá, con thạch sùng hay lưỡi cưa cùn? Nhưng nghĩ lại xem, ở thế giới của anh: một quan chức đáng kính của công ty bảo hiểm, buổi sáng nọ trên tầng cao chót vót một tòa nhà New York, vừa thắng lớn một thương vụ cổ phiếu và, ngả người vào ghế, chắp hai tay sau đầu, mơ đến tòa biệt thự nghỉ mát tuyệt đẹp bên bờ biển Sardegna nơi chỉ có nắng, sóng vỗ bờ và tiếng hải âu, thế rồi đột nhiên trời đất rung chuyển, và lửa, lửa, lửa, và trời đất quỷ thần ơi, nóng, nóng, nóng quá, nóng quá, nóng quá!!! thế là anh ta bê chiếc ghế xoay ném bể bức tường kính đặng lao ra ngoài không khí, cách mặt đất hàng trăm mét, mà thậm chí có lẽ không biết mình đang làm gì, không biết mình đang tránh một mối nguy chết người cấp kỳ này bằng cách lao thẳng đến một cái chết ngay tắp lự khác. Từ chỗ coi như an toàn tuyệt đối, anh ta rơi tõm một lần và vĩnh viễn vào hư vô. Cái gì là sự hữu lý của thế giới này đối với anh ta, riêng anh ta, nếu trong sát-na cuối cùng của đời mình anh ta có thể nghĩ đến nó? Còn chúng ta, những kẻ đang tồn tại và có khả năng luận giải sự hữu lý theo luật nhân quả của sự kiện, làm sao chúng ta có thể mang sự hữu lý ấy đến cho anh ta, một Vũ trụ đã mất và không thể lặp lại?

Tôi hiểu anh hỏi gì. Tôi cũng tự hỏi thế, và tự trả lời: không phải kẻ nào sống trong thế giới-trò chơi này cũng ý thức được tình thế thực sự của hắn. Nhưng, nhìn lại xem : có phải, trong thế giới thượng tầng của các anh, những kẻ vô minh đã và sẽ luôn luôn nhiều hơn không?

Sự phi lý trong một thế giới được điều khiển bởi tính ngông của một Thượng đế trẻ con có gì khác - và tệ hơn - so với sự phi lý trong một thế giới nơi nhiều kẻ ngông muốn và nghĩ mình có thể giành ngôi Thượng đế, và điều đó, cùng bản thân sự phi lý này, nằm trong ý hướng của Thượng đế, hay đúng hơn, trong tính vô sở ý bản nguyên của Thượng đế?

Mặt khác, anh không thấy rằng trong tính ngông và sự vô trật tự biểu kiến của Thượng đế trẻ con này cũng có chút chất thơ đấy sao?

Ý thức về tính cá biệt, độc nhất vô nhị, không thể lặp lại của mình, cho đến sát-na cuối cùng trước khi nó biến mất; đó là tự do của tôi. Tôi tự do khi ý thức được và tự điều hòa bản thân với sự hữu hạn nghiệt ngã của tự do ấy. Trước những bất trắc và biến dịch phi lý nhất của thế giới này, không sợ hãi, không loạn động, không phát điên.

Tôi tự do khi nói với anh bằng tiếng người, một giọng nói hữu thức. Khi tôi chỉ còn phát ra tiếng tặc lưỡi vô minh của con thạch sùng hay tiếng rít vô tri của lưỡi cưa cùn, tôi vẫn còn lại như một cá nhân đơn nhất và tự do. Bởi vì, khoảnh khắc cuối cùng của tự do - tinh thần tự do, ý chí tự do, cái tự do có khả năng nhận thức mình là một Vũ trụ -, khoảnh khắc đó là vĩnh cửu của nó, cõi phi thời gian của nó.

Tôi yêu thế giới này, và sự hiện tồn của tôi trong đó, với sự ngắn ngủi và bất định của nó; không đặt tình yêu đó trên cơ sở sự trường cửu.

Nếu muốn, hãy dành sự thương cảm cho những ai không ý thức được tình thế mình, thân phận hiện tại của mình. Chẳng hạn cô gái Huế kia, kẻ ngồi bên mâm cơm sắp nguội đợi nhà thơ mà không biết mình nằm trong số hàng triệu người đàn bà, trong hàng triệu ngôi nhà trên trái đất, suốt hàng ngàn năm, đợi mãi một người đàn ông không trở về. Khi quay lại thế giới của mình, nếu gặp cô ta, anh hãy thử làm gì đó cho cô ta.