Thứ Sáu, 10 tháng 5, 2013

Bốn mẹ con, một cabin (hay Tự sự của một di dân II - Phần 1) (trích tiểu thuyết)


Rốt cuộc thì tôi cũng mua được chỗ cho ba đứa con tôi và tôi trên con tàu ấy, một trong những con tàu cuối cùng đưa người tị nạn rời khỏi Trái Đất Mẹ. Tôi sẽ không kể lại ở đây tất cả những nhọc nhằn tôi đã trải qua, những trở ngại tưởng chừng ngàn năm nữa cũng không vượt qua nổi song rồi cũng đã vượt qua. Tất cả đều chẳng đáng gì so với điều tôi đã đạt được... Kết quả của tất cả những thứ đó mới là đáng kể.

Kể ra cặn kẽ chi li về những gì tôi đã làm nào có ích gì. Có chăng là chỉ để minh họa cho cái câu lắm người đã nói, rằng vì con một người mẹ có thể làm được tất cả. Thậm chí tôi sẵn sàng trao thân cho trăm gã đàn ông, ngàn gã đàn ông nếu đó là việc nhất thiết phải làm để có được vé lên tàu cho mấy mẹ con tôi. Không phải tôi nói thế thì có nghĩa là tôi đã làm thế thật, mặc dù… Thôi được, người ta muốn hiểu thế nào thì hiểu.Họ nghĩ gì tôi không bận tâm. Nếu họ là đàn ông tôi lại càng không bận tâm. Không một người đàn ông nào trên thế giới này có quyền hay tư cách để phán xét tôi hay những gì tôi làm. Kể cả Chúa Trời, bất cứ Chúa Trời nào, họ là đàn ông cả mà. Và tôi chả cần họ tha thứ hay cảm thông với tôi. Chỉ cần tôi tự tha thứ và cảm thông cho mình là đủ...quá đủ. Tự tôi là Chúa Trời của tôi. Và Chúa Trời của tôi nói: Con đã làm quá tốt, con hãy tự hào về mình. Con không có gì phải hổ thẹn. Hoặc đúng hơn là: Bồ làm thế là quá oách rồi, đứa khốn nạn nào dám nói gì bồ kia chớ, vui lên đi.

Vậy nên, bằng cách của mình, tôi đã lo được vé lên tàu cho cả bốn mẹ con tôi. Bốn người, bốn vé, xin hãy nhớ! Không có chuyện phân biệt vé trẻ em vé người lớn đâu nhé. Vào cái lúc có những kẻ sẵn sàng giết một trăm người hay một ngàn người để giành cho được một tấm vé cho riêng mình thì bốn tấm vé của tôi chẳng khác gì một phép mầu. Phép mầu của chính tôi. Thế đâu đã hết. Bốn mẹ con tôi còn có được một cabin cho riêng mình nữa. Cabin hai giường, thì đã đành, nhưng ba đứa connhỏ của tôi nào có cần gì hơn. Ngoài kia người ta chỉ còn thiếu nước nằm chồng lên nhau ba lớp trên sàn, nhiều đứa nhỏ trạc tuổi con tôi bị vùi dưới đống ngườiđó mất tăm mất tích trong khi cha mẹ chúng phát điên hoặc trong khi lúi húi tìm chúng thì cũng bị người ta giẫmđạp mà mất mạng. Mẹ con tôi thì ngồi trên giường ôm nhau, không khí đủ cho mình thở, khoảng trống đủ cho mình duỗi thẳng chân khi mỏi và nhúc nhích mười đầu ngón khi mình thấy ngứa ngáy muốn ngọ nguậy tí ti hay để làm trò vui đặng giết thì giờ, ai chứ mẹ con tôi thì Đất Hứa hay Thiên Đàng đã có ngay đây rồi, cầngì phải đợi sau mấy tháng hành trình dài dặc nữa.

Nỗi lo duy nhất của tôi là những kẻ luôn luôn chăm chăm muốn đột nhập vào cabin của mẹ con tôi. Đành rằng cabin của mẹ con tôi nằm ở khu vực được bảo vệ nghiêm ngặt, cách ly hẳn khỏi các tầng dưới của những đám đông dở điên dở khùng ấy, nhưng ai mà nói chắc được điều gì… Làm sao có thể hoàn toàn tin cậy vào kẻ khác được chứ? Ai dám bảo đảm chắc chắn với tôi rằng chính những kẻ chịu trách nhiệm bảo đảm an ninh cho mẹ con tôi, chính họ, sẽ không một đêm nào đó bất thần xông vào cabin của mẹ con tôi để đòi, ồ không, việc gì phải đòi, để chiếm lấy cái họ muốn chiếm, mà mẹ con tôi thì chắc chắn có nhiều thứ họ muốn chiếm lắm. Cho nên gọi nó là thiên đàng hay địa đàng gì đó để cho vui thôi, chỉ thỉnh thoảng tôi mới cảm thấy nó đúng như thế, trong một ngày tôi chỉ có thể thực sự tin là mình có thiên đàng của riêng mình trong vòng vài tiếng đồng hồ hay có khi chỉ vài phút, thế cũng đã hơi nhiều, thời gian còn lại thì tôi còn mải điên đầu nghĩ ra những cách khả thi đặng bảo vệ cho cái cõi thiên đàng nhỏ bé yếu ớt tội nghiệp của tôi,nghĩ và căng mình ra để làm những việc mình có thể làm, bất cứ việc gì mình có thể làm, những lúc ấy thì tôi là tên lính canh đứng trước cửa thiên đàng chớ bản thân nào có được hưởng thiên đàng. Trên thực tế có những lúc tôi cảm thấy cái cabin của mẹ con tôi chả khác gì một cái cũi chó, một cái hộp, hộp đựng giày chẳng hạn. Tôi không thích thế chút nào, trời ạ, không. Nhưng không làm sao cảm thấy khác được. Điều tệ hại nhất là nhiều khi thậm chí đang ở bên lũ con mà tôi vẫn cứ cảm thấy như thế. Điều tệ hại nhất là có những lúc tôi lại cảm thấy phấn chấn hơn, thấy mình đang thực sự sống hơn khi ở xa ba đứa con tôi, khi tôi ở ngoài cái ổ thiên đường yêu dấu và đáng thương của mẹ con tôi. Làm sao tôi lại có thể vui hơn hớn đến thế mỗi khi rời khỏi con tôi để tới phòng của sĩ quan chỉ huy đội an ninh,làm sao tôi lại có thể cứ ngong ngóng đợi những lúc ấy, giống như hồi nhỏ ngong ngóng chờ từng dịp được bố dẫn đi chơi hội? Hắn thì là cái thá gì đối với tôi chớ? Hắn là cái thứ gì khác ngoài một con heo kinh tởm khốn nạn lợi dụng tình cảnh mẹ con tôi đặng thỏa mãn cái thói heo của hắn? Mà cái thói heo của hắn thì dường như vạn con đàn bà như tôi cũng không làm thỏa mãn được,trời ạ. Vâng, vạn con đàn bà như tôi.Trời xui đất khiến làm sao để cho rốt cuộc tôi phải gặp đúng một gã đàn ông nhưthế, một thằng đực như thế đúng trong tình cảnh này! Thêm một lý do để tôi căm thù chúa trời, bất kỳ thứ chúa trời nào, một thằng đực già khốn nạn thừa độc ác và bệnh hoạn để bày ra cái trò đó. Chao ôi, làm cách nào đây để cho tôi thôi đừng ngong ngóng muốn rời khỏi con tôi để tới cái chuồng heo bẩn tưởi đó nữa, làm sao đây để cho tôi thoát ra được khỏi cái cơn thèm muốn không ngừng nó cứ bám lấy tôi dai như đỉa đói, như một chứng bệnh truyền nhiễm, một cơn hôn ám, một cơn điên?!! Tôi nào có cần phải đến chỗ hắn nhiều đến như vậy thì hắn mới chịu để tâm tới chuyện bảo đảm an toàn cho mẹ con tôi. Có cần phải vậy đâu chứ. Tôi biết rõ như vậy mà! Nếu muốn tôi chỉ cần cho hắn một phần tư hay một phần ba như thế thôi là cũng đủ cho hắn phải làm tất tần tật những gì tôi thủ thỉ vào tai hắn rồi (cái tai to đùng cáu ghét đen đúa lông lá của hắn, đúng là tai heo, không phóng đại một chút nào, trời ạ). Hắn thèm tôi quá, khổ thân hắn. Cho nên hắn mới cho người tâm phúc của hắn thường trực canh gác ngay trước cửa cabin của mẹ con tôi. Cho nên dù tôi không ở trong cabin thì ít nhất lũ con tôi cũng có thể ngủ yên, không phải cứ mỗi phút một sực tỉnh vì một âm thanh nào đó dù nhỏ nhất có trời biết ở đâu ra, mà ở trên con tàu như thế này thì thiếu gì những âm thanh như thế, nhiều lắm. Thành ra trên thực tế suốt mấy đêm đầu trong cái cabin này mẹ con tôi gần như hoàn toàn không ngủ được tí nào, có chăng chỉ là những mẩu vụn manh mún nặng như chì của giấc ngủ mà thôi. Bất cứ cái gì cũng khiến mình giật thót được,con mình thở ra một cái thật to giữa lúc mình không nhìn nó cũng khiến mình giật mình, đã một chặp lâu rồi không giật mình thì khi mình nhận ra điều đó là cũng lại giật mình. Chỉ tội cho con tôi, từ khi mẹ đẻ tới giờ chưa khi nào phải chịu cái cảnh này. Trước khi lên cái tàu này chúng chưa biết địa ngục là thế nào, giờ thì chúng đã biết. Tội nghiệp con tôi! Dù sao thì cũng may, khi chúng nó phải nếm mùi địa ngục thì bên cạnh chúng nó còn mẹ nó. Thôi được, miễn là có mẹ bên cạnh, chúng nó sớm biết được thế nào là địa ngục âu cũng tốt. Cũng tốt, cũng tốt… Âu cũng là điều tốt nếu như chúng ngay từ tuổi nhỏ thế này đã biết được sự thực sâu xa nhất về thế giới, rằng thế giới này về thực chất là địa ngục và tất cả những gì người lớn xưa nayvẫn làm là che giấu không cho bọn trẻ biết điều đó được lâu chừng nào hay chừng nấy nhưng đáng lẽ họ phải làm ngượclại mới phải. Chuyện đó là cần thiết, mà cũng không thể tránh, đối với hai đứa con gái nhỏ của tôi, hai bông hồng mới nhú đáng thương của tôi. Thật ra tôicũng chỉ nghĩ được như vậy khi những phút cùng nguy cực biến đã qua, còn ngay trong những phút ấy thì tôi nào cónghĩ được gì, lúc thì tôi chỉ biết ôm chặt chúng mà khóc ròng chỉ còn thiếu nước chính tôi cũng gào lên cầu cứu mẹ tôi, lúc thì tôi dữ như cọp cái bị thương (giờ thì tôi biết như cọp cáibị thương là như thế nào rồi). Cũng tốt khi hai đứa con gái tôi mới tí tuổi đầu mà đã có dịp biết mẹ nó có thể trở nên nguy hiểm đến nhường nào khi cần bảo vệ con mình. Chúng sẽ nhớ lại những giây phút này khi đến lượt chúng cần bảo vệcon chúng (dĩ nhiên là tôi không muốn, trăm lần không, ngàn lần không, không muốn những lúc như thế sẽ lại xảy ra trong đời con tôi hay đời bất cứ ai). Vớithằng con trai tôi thì khác. Thì nó là con trai mà. Dĩ nhiên tôi biết khôngphải con trai nào cũng thế, nhưng mà con trai thứ thiệt thì hành động như nó.Nó cũng khóc bù lu bù loa, cũng gào gọi mẹ, cũng biết sợ, nó mới có năm tuổi, thế nhưng mà miệng khóc, mũi dãi lòng thòng, một tay quệt mắt, tay kia nó thủ con dao rọc giấy để bất cứ kẻ nào lọt vào được qua cửa kia là nó đâm, để tự bảo vệ nó và bảo vệ chị em gái nó thì đã hẳn nhưng trước hết và trong sâu xa là để bảo vệ tôi. Là vì tôi, mẹ nó, lý ra là kẻ bảo vệ nó, tôi cũng đang khóc. Tôi lúc ấy cũng cầm dao, cầm dao nhưng mà khóc, khóc nhưng tay cầm dao, như nó (một tay tôi cầm dao, tay kia tôi ôm đứa con gái út), tôi cầm dao song biết rằng vạn nhất nếu cửa kia rốt cuộc không chịu nổi những cú dộng kinh khủng từ bên ngoài mà bật tung ra thì chắc chắn dao trong tay thằng nhóc con tôi sẽ đâm tới trước tiên. Cho dù có thể chả trúng ai, chả làm cho thằng đốn mạt nào phải đổ máu thì cú đâm đầu tiên vẫn phải được kể tới và đó là cú đâm của nó. Ngay lúc ấy tôi cảm thấy vừa thương nó đến đứt ruột cũng như thương hai đứa con gái tôi, nó là con tôi cơ mà, con tôi, con tôi! đồng thời cũng thấy cảm động vô cùng, cảm động và biết ơn nó, thậm chí là khâm phục và ngưỡng mộ nó… trong những giây phút ấy nó đúng là người đàn ông của tôi. Nhưng rồi sau đó, khi phút ấy đã qua đi, ngồi nhớ lại thì… mặc dù vẫn thấy thương, cảm động, biết ơn nó, và ngưỡng mộ nó y như thế, mặc dù những cảm xúc ấy vẫn nguyên vẹn không suy suyển, song tôi lại còn cảm thấy cái gì đó giống như là ghét nó, ghét cái bản tính đàn ông… Cái bản tính đàn ông lồ lộ ở nó, quá rõ ràng, quá mạnh thế kia, trong khi nó là gì, một đứa trẻ, một thằng nhóc con như thế, cái thằng nhóc là con tôi…Tôi thấy vừa ghét vừa sợ nó... nhưng đó là, xin làm ơn hiểu cho tôi, đừng lầm ở chỗ này: tôi ghét và sợ đây là ghét và sợ cái đứa nhóc miệng khóc còn tay cầm dao rất chắc, không run, sẵn sàng đâm, nó mới là cái đứa có khả năng gây nên ởtôi cái cảm giác đó, chứ không phải cái thằng nhỏ cuộn tròn như con cún con mà ngủ trong lòng tôi. Cái đứa nhỏlàm tôi vừa ghét vừa sợ, nó chỉ tồn tại trong một giây lát ngắn và giây lát đó đã qua rồi, tất cả những gì tôi làm là để sao cho cái đứa nhỏ đó đừng bao giờ xuất hiện thêm lần nữa, ít nhất là đừng xuất hiện trước mắt tôi, bên cạnh tôi, ít nhất là sao cho nó đừng mang hình dáng con tôi. Nó có thể mang hình dáng bất cứ kẻ nào, bất cứ cái gì nhưng nó đừng bao giờ mang hình dáng con tôi.

Mà cái lũ đàn ông mới thật khốn nạn. Thằng nào mà chẳng khốn nạn, đời nào mà chúng chẳng khốn nạn, nhưng không bao giờ chúng khốn nạn cho bằng khi quyền lực nằm trong tay chúng, khi số phận của tất cả, của mọi thứ nằm trong tay chúng. Thằng trưởng ban an ninh, tôi phải có gì cho hắn thì hắn mới cho mẹ con tôi đúng sự an toàn mà mẹ con tôi cần. Thằng kỹ sư phụ trách cung cấp không khí sạch, Mr. Air như mọi người gọi, tôi phải cho thứ hắn đòi thì hắn mới ưu tiên phần khí sạch đầy đủ, thường xuyên cho cabin của mẹ con tôi. Thằng cha chuyên trông coi đồ ăn thức uống nhìn hau háu vào ngực tôi bất cứ khi nào gặp tôi, không hề giấu giếm là hắn cũng thèm cái thứ đó và nói huỵch toẹt với tôi hắn biết chắc rằng khi mọi thứ trở nên khan hiếm, bánh mì đâm ra đắt hơn vàng thì chừng đó tôi sẽ đến phòng hắn như đang đến phòng những kẻ khác để bảo đảm cho con tôi không đêm nào phải ngủ thật sớm để quên rằng mình chưa ăn tối và khốn nạn nhất là bản thân tôi cũng biết như thế. Thằng cha phụ trách vệ sinh trên tàu, Mr. Clean như mọi người gọi, cái thằng già lùn tịt nhìn dáng y như cóc và tởm y như cóc, nó cũng nhìn hau háu vào ngực tôi và vào cả cặp giò tôi bất cứ khi nào nó viện cớ này cớ kiacớ nọ để vào cabin của mẹ con tôi và theo thông tin tôi nắm được thì chắc rồi tôi cũng phải sớm tính tới cả con cóc đó nữa bởi vì ở các tầng dưới đã có nơi hệ thống tự tiêu chất thải đã hỏng hoàn toàn do quá tải và người ta phải “nằm ngủ giữa cứt”, là họ nói thế và tôi biết chả có lý do gì để cho là họ phóng đại. Rồi lại còn gã béo ị nắm phần cung cấp nước sạch nữa chớ. Rồi lại có thằng oắt để ria con kiến vắt mũi chưa sạch có trời biết ăn phải cái thứ gìmà leo lên được cái chức bác sĩ trưởng chăm lo phần xác cho cả vạn con người. Thôi thì sao cũng được miễn là tôi cho được con tôi tất cả những gì trong khả năng của tôi. Chỉ có điều không hiểu tại làm sao mà tất tật những kẻ nào có trong tay chút quyền, dù chỉ một tí ti quyền trên cái tàu này cũng đều là những con đực cả vậy? Đực cả một lũ, thật khốn nạn. Đàn bà chết rấp đâu cả rồi? Cứ như tôi đang lạc trong một cái thời cách đây hàng mấy trăm năm.Nhưng mà dĩ nhiên so với cái thảm cảnh mà mấy mẹ con tôi cùng với cả loài người đang lâm vào lúc này thì chuyện đó chẳng là gì, xét cho cùng thì suốt mấy ngàn năm qua loài người nào có tiến được một bước nào, ít nhất thì tôi cũng có thể tự lý luận với mình như vậy, để bớt tởm và bớt cay cho cái số phận mình. Rốt cuộc thì điều duy nhất mà tôi thực sự lo là phải làm sao, phải tính toán thời gian chi li và chu đáo thế nào để cho dù tôi vắng mặt ngày càng nhiều hơn thì chuyện đó cũng không ảnh hưởng đến tâm lý vốn đã bấn loạn sẵn rồi của lũ con tôi, nếu có ảnh hưởng thì ít nhất cũng đừng ảnh hưởng quá nhiều. Nói gì thì nói, rốt lại thì ngoài con tôi ra tôi còn có gì để mất nữa, còn có gì đáng cho tôi giữ nữa? Ai đó biết rằng còn có thứ khác đáng cho tôi giữ hơn thì làm ơn nói cho tôi nghe. Ai đó làm ơn nói cho tôi biết tôi có thể có cách khác hay hơn đi. Nhưng trước khi ai đó nói thì làm ơn nghe tôi nói điều này. Tôi biết cái gì thì tôi cần phải trả và khi nào trả, bao nhiêu là đủ, không thừa không thiếu, sòng phẳng. Bất cứ khi nào tôi thấy thứ gì đó là thứ tôi không cần phải trả hoặc chưa đến lúc tích lũy đủ để tôi phải trả thì cả lũ chúng nó đừng hòng động tới được cái lông chân tôi.Trong chuyện đó, gì chứ trong chuyện đó thì làm ơn đừng dạy tôi. Tôi chỉ xin mọi người nhớ rõ như thế. Tôi vẫn còn biết kinh tởm là như thế nào chứ… Tôi không phải loài lợn, ơn trời (chậc, đấy, lại cái thói quen khốn khiếp bị nhiễm từ bé mãi không sao gột tiệt được, hễ có chuyện gì là lại kể ơn cái lão già chẳng những vô dụng mà còn vô đạo ấy, xin hãy bỏ hai chữ vừa rồi ra, coi như tôi chưa hề nói được không), chúng nó là lợn còn tôi không phải lợn.

Điều thực sự làm tôi đau là các con tôi hình như hiểu biết nhiều hơn tôi tưởng. Đó mới là cái làm tôi đau. Chúng nó, ít nhất là một, hai đứa lớn hơn, chúng nó hình như biết là lũ đàn ông, không, lũ lợn kia đòi cái gì ở mẹ chúng. Chúng không biết một cách cụ thể, rành rõ đó là cái gì, lớn hơn tí nữa thì đương nhiên chúng sẽ biết đấy, nhưng mà chúng cảm được, mà đã cảm được như thế thì không bao giờ có thể gạt ra khỏi tim óc được và nhất là không bao giờ có thể sai được, trời ạ. Chúng nó biết. Con bé lớn, nó cho tôi biết rằng nó biết bằng cách cứ đăm đăm nhìn tôi, còn thằng nhóc ở giữa thì có những lúc tôi có cảm giác cứ như nó sắp phá lên cười hay là nháy mắt một cách rất ư ranh ma thậm chí là đểu với tôi vậy. Cũng may con bé út thì còn nhỏ quá nên không biết gì, chắc là không biết gì. Nó chưa đủ lớn để biết. Nó chưa đủ lớn để biết giống người của nó là nguy hiểm và đồi bại đến đâu. Chao ôi, con bé bỏng của tôi! Nhiều lúc tôi lạnh cả sống lưng khi nghĩ tới chuyện cái thế giới nào đang chờ đợi nó…

(còn tiếp) 

Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2013

Faínâhind: một trong những người nói tiếng Siră Kăntânări.


Chú thích cách phát âm tên Faínâhind:
fa: "a" phát âm như "a" trong tiếng Việt.
í: như "i" trong tiếng Việt. Trọng âm rơi vào âm tiết này. Chú ý: "fa" và "i" là hai âm tiết riêng biệt.
nâ: "â" phát âm tương tự "i" trong "bird" của tiếng Anh.
hind: phát âm gần như "hind" trong "hindsight" của tiếng Anh.



Faínâhind-sti, zägâr-ü, kuŏmen kéinsti uthîrmóisy, koin san’êdérăhîdêtî, iskutégănd. Dārhim, koin san’anêljímănêtî, kuŏmen kéinsti dŏynsîdríjānéun-i-dŏyndrúnăyinnyákhon êsgúdăzgü, dîm beychárîm.

Faínâhind tìm người nào có thể uống rượu cùng nàng, người mà nàng có thể ngưỡng mộ. Đó sẽ là người nàng có thể yêu và chia sẻ những cảm xúc sâu xa nhất, những đam mê thầm kín nhất của nàng.

Nếu một người như vậy xuất hiện, nàng sẽ muốn hắn. Nàng sẽ muốn hắn đánh nàng thật đau. Nàng sẽ bắt hắn đóng những chữ cái đầu tên hắn bằng sắt nung đỏ lên ngực nàng. Nàng cất trong phòng những súc lụa quý mà nàng sẽ lần lượt xé trong khi làm tình với hắn; nó khiến nàng thêm hưng phấn, cái tiếng xé lụa ấy. Nàng có thói quen chỉ nói về mình ở ngôi thứ ba - không phải “Tôi đi” mà “Faínâhind đi”, không phải “Tôi muốn” mà “Faínâhind muốn”. Thân thể nàng (được cho là) vừa lạnh vừa nóng - có người sau khi nắm được bàn tay nàng đã mô tả nó “mát lạnh như một miếng thạch đông”, trong khi nhiều người khác kể cho bạn bè hay thuật lại trong du ký của mình rằng mỗi khi Faínâhind xuất hiện, họ cảm thấy “một hơi ấm rực lên trong huyết quản, như sau khi ta nốc nửa vò rượu mạnh”. Faínâhind cao hơn hầu hết đàn ông - người ta nói nàng chỉ thấp hơn nửa cái đầu so với người cao nhất của đội cấm vệ hoàng gia. Nàng nuôi một con chó nòi Tadhŏgin thuần chủng cũng to lớn như nàng, con vật không rời nàng nửa bước và là vệ sĩ vô tiền khoáng hậu của nàng. Bốn ngày trong một tuần nàng chỉ ăn rau quả, và một câu nàng thường nói là “Người đàn ông ta có thể yêu là người sẽ xuất hiện sau khi ta chết”. Một câu nói khác được cho là của Faínâhind: “Kẻ thù lớn nhất nằm trong nếp áo của ta”. Động tác của Faínâhind thường chậm rãi, uể oải, như thể nàng luôn tính toán sao cho ít tốn năng lượng nhất, hoặc, như có người mô tả, “dường như không có gì trên đời này xứng đáng để nàng phí sức”, nhưng cũng có thể đột nhiên chớp nhoáng như con báo vồ mồi. Cặp vú nàng, cũng lừng danh như bản thân tầm vóc (và mọi cái) của nàng, là chủ đề của vô số lời đồn đại và truyền tụng. Một du ký Üganlar thời kỳ sau viết: “trước một cặp vú như vậy lão già hom hem nhất cũng hóa thành trai tân”, và phơi trần cặp vú đó “là cách chắc chắn nhất để dương vật kẻ hấp hối có thể ngỏng dậy lần cuối trước khi chết”. Một du ký khác, lần này của một người từng là sứ giả nước Ko-Yo tại Zänsürdén, viết rằng “hai bầu sữa của Faínâhind đủ làm nguôi cơn khát của bốn zăchfâhel” - zăchfâhel là đơn vị chuẩn nhỏ nhất của quân đội chính quy Siră Kăntânări, gồm có 20 người. Tính cường điệu của con số này là hiển nhiên, song có lẽ không quá xa sự thật, xét theo con số lớn bất thường những người đàn ông tuyên bố mình từng được diễm phúc mút từ bầu sữa của Faínâhind. Tóc Faínâhind dài gần đến thắt lưng, hồng như than trong lò đang rực cháy, dày và nặng đến nỗi những khi nàng nghiêng đầu xõa tóc, dường như bản thân sức nặng của mái tóc là đủ để kéo đầu và phần trên cơ thể nàng xuống và nàng không cần phải vận dụng bất cứ một cơ nào để giữ mình ở động tác đó. Một số nhà thơ Bongora Mande-Bandora từng viết về dư ảnh màu hồng của mái tóc nàng, màu tím ngát của đôi tay nàng và màu quả đào của cặp má nàng, “vẫn còn vương lại mãi sau khi nàng đi khỏi, chập chờn và làm lay động nơi nào đó sâu kín như trong một giấc mơ”.

Ở ngoại ô kinh thành Zänsürdén, trong một khu vườn cam ngát hương vào mùa xuân là tòa tửu lâu lừng danh của Faínâhind nơi nàng đón tiếp những người đàn ông được coi là xuất sắc nhất bằng những cách khác nhau - quân nhân, nhà thơ, chính khách, triết gia, kiếm sĩ, thương gia… - đến từ bất cứ đâu trên thế giới, khoản đãi họ những loại rượu ngon nhất nàng tìm được, đàm đạo cùng họ, thử tài nghệ của họ, ái ân với họ nếu nàng muốn, và, qua đó, tìm người đàn ông của nàng. Tất cả du ký của tất cả những ai từng đến hoặc tự xưng là đã đến đế quốc Siră Kăntânări đều dành một phần không nhỏ để nói đến Tửu lâu của Faínâhind, một thứ “Chiêu Anh Quán” theo cách gọi của người Trung Hoa hay Dwe-Sung-Sóh với nghĩa gần như vậy trong tiếng Ko-Yo. Trong ngôn ngữ bình dân Siră Kăntânări, Tửu lâu của Faínâhind được gọi là Faínâhinder-jyba, có thể dịch là “Giếng của Faínâhind” song cũng có thể diễn giải thành “Hĩm của Faínâhind” - một trò chơi chữ dựa trên sự gần như đồng âm - và sự gần gũi về liên tưởng - giữa hai từ jiba jybă. “Faínâhind-jibayim usúlgymy” hay “chết trong hĩm của Faínâhind” là một thành ngữ thông dụng trong đám tao nhân mặc khách cũng như giang hồ tứ chiếng của đế quốc Siră Kantânări, trong đó là cả một nỗi cay đắng lẫn niềm hạnh phúc và kiêu hãnh cùng tột. Sự thực là không một cái chết nào thực sự diễn ra trên lãnh địa Tửu lâu của Faínâhind, song điều đó không làm giảm sức quyến rũ sâu thẳm và đáng sợ của mấy chữ này. Có một thứ hào quang đặc biệt tỏa ra từ những người đàn ông từng một lần “chết trong hĩm của Faínâhind”, một thứ ấn chứng cho phẩm chất của thể xác và tinh thần y. Faínâhind-jibayim’usúldy, “kẻ từng chết trong giếng/hĩm của Faínâhind” là người đàn ông trong mơ của các cô gái và phụ nữ Siră Kăntânări; người ta đổi giọng khi phát âm từ này, và một công việc không hề kém quan trọng của các bà mối cũng như các quan tòa, trưởng lão và thầy phù thủy Siră Kăntânări là kiểm chứng xem liệu gã đàn ông nào đó có thật là “đã chết trong giếng/hĩm của Faínâhind” hay không. Mặt khác, có những người đàn ông không muốn hạ mình tìm sự ấn chứng cho phẩm chất của họ thông qua cái hĩm của Faínâhind; họ hợp thành một thứ hội riêng - bằng phát ngôn và hoạt động của mình, hội này nhằm đến việc giải trừ một (và mọi) huyền thoại về Faínâhind, buộc người ta phải xét lại niềm tin của mình vào cái có thể gọi là quyền năng của giếng/hĩm Faínâhind trong việc định đoạt các giá trị. Nhiều cuộc tranh luận và thậm chí ẩu đả khốc liệt xảy ra xung quanh tổ chức này, có những mưu đồ chống lại nó, những vận động hòng kiềm chế ảnh hưởng của nó, và những âm mưu nhằm loại bỏ nguyên nhân đầu tiên và tối hậu của các xung đột đó là chính Faínâhind và Tửu lâu của nàng.

Thống kê chưa đầy đủ của một cá nhân Siră Kăntânări cho biết, có không dưới ba ngàn người đàn ông thuộc loại “chọc trời khuấy nước” sẵn sàng đổ máu để bảo vệ thanh danh và tính mạng của Faínâhind, tuy nhiên một việc còn khó hơn nhiều - mà đại đa số bọn họ không thể kham nổi - là tự kiểm soát mình để không làm hại - thậm chí giết - nhau để giành quyền bảo vệ Faínâhind. Các cơ quan hữu trách của chính quyền Siră Kăntânări không phải không nhận ra mầm mống bất ổn xã hội ở người đàn bà này, nhưng vì nhiều lý do, trong đó có mối quan hệ cá nhân khắng khít giữa Faínâhind với một số nhân vật thuộc hàng quyền thế nhất mà chưa bao giờ có một động thái dứt khoát và có thực chất nào từ phía nhà cầm quyền nhằm khống chế nguồn lực tự nhiên bất kham đó. Mềm mỏng và khôn ngoan, Faínâhind sẵn sàng trình diễn những điệu múa lừng danh của nàng trước công chúng trong những dịp lễ trọng của quốc gia cũng như trước những yếu nhân ngoại quốc theo lời mời của chính quyền. Đi trên dây, bước chân không trên than hồng dường như là những việc quá tầm thường và tẻ nhạt đối với Faínâhind. Nàng làm đàn ông phát điên, vờn họ, ve vuốt họ, thoắt chuồi khỏi họ trong đường tơ kẽ tóc, đón họ vào lòng, để rồi cho thấy còn bao xa nữa họ mới thực sự đến được nàng. Một lần bị hãm hiếp - bởi một bọn đàn ông tủi hổ và phẫn chí - dường như không làm nguôi chút nào ở Faínâhind niềm đam mê cái giống đực nguy hiểm và đáng thèm khát ấy, nỗi háo hức đòi sự hợp nhất tối hậu dữ dội ấy.

Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2013

Cái chết của Mặt Sắt




Ghi chú: Truyện này viết vào khoảng năm 2002-2003, giữa cao trào giai đoạn "hậu hiện đại" của tôi. Cũng may là cái giai đoạn ấy qua nhanh.

Kể từ tai nạn hi hữu đó, khuôn mặt thịt của Đ. được thay bằng một bộ mặt sắt. Sau một thời gian, người ta biết rằng máu chảy trong bộ mặt sắt này chậm hơn. Dần dần, máu trong toàn bộ cơ thể Đ. cũng chảy chậm hơn, và người ta bắt đầu chỉ gọi Đ. là Mặt Sắt.

Số là, trong khi hắn đang lúi húi buộc một chiếc monitor vào yên sau xe hắn, dây chun bất ngờ đứt; một trong hai đầu dây với cái móc nhọn bung ra bắn phập vào má phải hắn. Máu phọt ra, nhưng phải mất một thời gian áng chừng hút hết một điếu thuốc nó mới chạm đất. Và, khi chạm đất, chính xác là sàn xi măng, nó không vội loang ra mà tụ lại thành giọt tròn. Hay hơn hết là cái giọt đó không đặc; nó loãng, nhưng ổn định, giống như giọt sương trên lá, chừng nào ta chưa chạm đến nó một cách thô bạo, phá vỡ sự ổn định của nó. Nhưng cũng như bất cứ khi nào nhìn thấy giọt sương trên lá, xung động đầu tiên, bản năng, vô điều kiện của chúng ta là chọc ngón tay cho cái vật thể đẹp đẽ, ngon lành, bình an đó vỡ tan ra; nhìn thấy nó vỡ, nhìn sự ổn định bị phá vỡ. Cũng vậy, một trong những kẻ chứng kiến, không hẳn hiếu thắng nhất, nhưng nhất định là nôn nóng nhất, và quyết đoán nhất, chỉ cho phép không hơn nửa phút trôi qua trước khi chậm chạp, cẩn thận lấy mũi giày dí lên giọt máu tròn, có lớp màng mỏng tang, óng ánh tuyệt đẹp ấy. Khi mũi giày nhấc lên, ta thấy máu đã phẹt ra trên nền xi măng thành một vết thâm sịt, nhoe nhoét.

Mọi người thở ra.

- Thế đấy! - một người nói.

Lại có những kẻ biết có thể làm ra cái gì từ những giọt máu-chậm của Mặt Sắt.

Họ đem camera đến.

- Này Mặt Sắt! Chúng tôi sẽ rạch mặt anh, máu sẽ chảy, chúng tôi sẽ quay, anh đứng yên đến khi máu chạm đất, chúng tôi bấm giờ, chúng tôi hỏi, anh trả lời, chúng tôi ghi, chúng tôi trả tiền.

Mặt Sắt:
- Nếu mẹ tôi thấy? Nếu người yêu tôi..?

Họ bảo Mặt Sắt:
- Nghĩ kỹ coi, anh có thể cho ai cái gì với thứ máu ấy? Anh có thể hiến máu cho ai? Có hệ tim mạch nào kham nổi thứ máu chậm-mà-không-đặc của anh? Hoặc nếu chính anh bị tai nạn, người ta phải lấy thứ máu nào để truyền cho anh?

Thôi đi! Các anh biết chó gì về cuộc đời. Bất cứ khi nào tôi rủi ro, bất cứ khi nào máu tôi chảy, người yêu tôi sẽ kịp hứng từng giọt máu tôi trước khi chúng rơi xuống đất. Việc đó sẽ đỡ vất vả hơn đối với cô ấy. Để làm gì ư? Đó là hành động của tình yêu. Mà cho dù đó không là hành động của tình yêu, chỉ là sự tinh nghịch giống như sự tinh nghịch của một con thú, tôi yêu hành động ấy, bởi nó là của cô ấy.


Các chuyên gia quân sự nghĩ ra một điều tài tình.

- Cần thay mặt cho toàn bộ quân đội. Tất cả binh lính chúng ta sẽ có bộ mặt sắt. Cùng với giáp thép, xe thép, pháo thép, chúng sẽ có mặt sắt. Chúng sẽ không sợ mảnh bom phạt đứt nửa mặt, chiến trường sẽ ít máu hơn, quân y sẽ ít tốn gạc và bông băng hơn, các nhà làm phim ít tốn phẩm màu hơn, các bà mẹ đa cảm ít khóc hơn (lẽ ra không khóc hẳn thì tốt, nhưng dù sao đi nữa vẫn không khỏi thấy chút máu). 

Nơi đây hoa bắt đầu nở
Mặt Sắt ngồi lặng im

Sự rung của những miền không tên
Im reo trong máu Mặt Sắt.

-       Bạn nghe thấy không?
-       Nghe gì?

- Vườn thở rất chậm. Máu cũng thế.

Vườn lặng gió là khi máu ngừng chảy. Tôi chết.

Anh biết điều đó?

Máu sẽ lặng.

Tôi nghe thấy những thanh âm tỏa từ đất.

Chất sắt trong mặt làm chậm máu.

Mười chín triệu bảy trăm ngàn giọt máu
Rơi vào khuôn mặt định chết.

Và khi chất sắt trong mặt chết
Máu sẽ reo, sẽ bốc hơi, hay sẽ làm gì, ôi máu.

Có tiếng đàn bà.

Người yêu tôi đấy!

Người yêu của Mặt Sắt.

Người yêu máu thường của Mặt Sắt.
Người yêu máu chậm của Mặt Sắt.
Người yêu máu nhanh của Mặt Sắt.
Người yêu máu vón của Mặt Sắt.
Người yêu máu tóe của Mặt Sắt.
Nguời yêu máu nóng của Mặt Sắt.
Nguời yêu máu lạnh của Mặt Sắt.
Nguời yêu máu cứng của Mặt Sắt.
Người vẫn sẽ sống sau cái chết của Mặt Sắt.
Người vẫn sẽ sống.



Thứ Bảy, 27 tháng 4, 2013

Zänsürdén: trái tim của Siră Kăntânări


Thêm chút hương vị Siră Kăntânări, cho những ai quan tâm, dĩ nhiên...
(Dĩ nhiên, tiếng Siră Kăntânări là ngôn ngữ chính thức được dùng ở đế quốc này...)

Zänsürdén: thủ đô của đế quốc Siră Kăntânări, thành phố đông dân nhất - trên 1.400.000 người vào thời điểm cực thịnh -, quan trọng nhất về mọi mặt của nước này, một trong những thành phố có vai trò và ảnh hưởng lớn nhất trên toàn lục địa Eonga. Vào khoảng năm 600 trước Năm 0, khi đế quốc Bongora Mande-Bandora về phía nam đang cường thịnh, Zänsürdén hãy còn là một làng chài nhỏ nơi hai con sông AgynŏtlîŎrü hợp lưu và đổ ra vịnh Sigérmarăt (hay Sgyrmît). Từ khi chinh phục được đế quốc Bongora Mande-Bandora vào đầu thế kỷ 4 trước Năm 0, người Siră Kantânări làm tất cả những gì cần làm để kinh đô Kadoakona của người Bongora - mà từ nay (chỉ) là thủ phủ của một đơn vị hành chính lớn của đế quốc Siră Kăntânări gọi là spirthon - trở nên khiêm nhường so với kinh thành Zänsürdén, Mặt Trời của Đế Quốc Siră Vĩ Đại. Họ có làm được điều đó không, ngay cả với một số người Siră Kăntânări đó vẫn là một dấu hỏi.
Dĩ nhiên những khác biệt giữa hai thành phố thì thật nổi bật. Trong thâm tâm biết rõ mình không thể đọ với cái tráng lệ, tinh tế, phóng túng và có thể gọi là ưu nhã ở người Bongora và ở Kadoakona - trong bố cục của thành phố dựa trên vô vàn biến thể của đường tròn, trong danh mục những chất liệu và màu sắc hết sức khác nhau của các công trình kiến trúc, trong những cách xử lý táo bạo và kỳ khu đối với trang trí nội thất và thiết kế không gian mở của nó -, người Siră Kantânări tự khẳng định mình bằng một phong cách tối giản nghiêm ngặt.
Về kích thước vật lý, Zänsürdén quả thật lớn hơn Kadoakona về tất cả mọi chiều. Quảng trường trung tâm Zänsürdén là quảng trường rộng nhất, tháp trung tâm Zänsürdén là ngọn tháp cao nhất, hồ trung tâm Zänsürdén là hồ nhân tạo sâu nhất, cung điện hoàng đế Siră Kantânări là cung điện có nhiều phòng nhất, vườn thượng uyển rộng nhất với những loài cây, chim và thú quý nhất, đài phun nước cao nhất và hai bức tượng chầu hai bên cổng vào chính điện là hai bức tượng khổng lồ nhất trên toàn lục địa Eonga. Thiết kế chủ đạo của thành phố là dạng bàn cờ dựa trên sự giao nhau vuông vức giữa các đường thẳng. Ba màu duy nhất được cho phép đối với vật liệu kiến trúc và các bề mặt trang trí là trắng, xám và lục, ba màu trên lá cờ và quốc huy của đế quốc. Người Siră Kăntânări thiếu cái khả năng vừa tô đậm mình vừa tự xóa mình của người Bongora Mande-Bandora, và họ chấp nhận rằng, Zänsürdén, thành phố tiêu biểu nhất của họ, tốt nhất hãy để nó như thế: vĩ đại và đầy sức nặng đến mức hằn dấu ấn vĩnh viễn lên ký ức bất cứ kẻ nào thấy nó chỉ trong chốc lát, lành lạnh, vuông chằn chặn, hơi đơn điệu, song hiện diện sừng sững, ngự trị trên trái đất và trên thời gian.