Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013

Faínâhind-Arrobauth-Mattai (trích tiểu thuyết)


Nheo mắt nhìn ánh sáng nóng dịu tỏa ra từ đống than âm ỉ cháy có màu gần giống mặt trời mới mọc, Faínâhind nói:
“Bài hát của dân Shwevakenara, có câu gì về đá girin ấy, nó như thế nào, Ăltâhind?”
Ăltâhind nói:
“Là thế này, thưa cô.”
Và cô bắt đầu hát bằng giọng kim lanh lảnh, có một cạnh sắc rõ rệt hơn và một mặt êm, mềm, ẩn kín hơn:

Khi tôi cất cao tiếng hát tràn ngập niềm vui
Tự bên kia bờ chàng nhìn tôi say đắm
Ngực chàng tựa đá girin xanh thẫm.
Chàng không biết tôi, song chàng biết rõ như tôi
Rằng chàng với tôi, ai đã là kẻ mạnh.

Ở đây Ăltâhind dừng lại, như thể luôn luôn biết rõ Faínâhind muốn cô hát đến đâu là vừa, im lặng đến đâu là đủ. Và rồi, giữa chừng quãng lặng nối theo sau câu hát cuối cùng của Ăltâhind, khi dư âm vô thanh của nó đang tiếp tục làm rung động những gờ vách mỏng mảnh của tâm hồn người, Arrobauth cất giọng, bình thản và khô khốc, nói.
“Bài hát của ngươi nghe khá hay đó, bằng tiếng Bongora. Song ngươi có cho rằng nó sẽ hơi rúm ró lại nếu nó phải chuyển sang tiếng Siră Kăntânări của bọn ta, theo lệnh của bọn ta, hay không? Ta e rằng bất cứ bài hát Bongora nào, khi bị chuyển sang tiếng Siră Kăntânări, đều sẽ lộ nguyên hình là quá thừa chất lỏng chất nhầy, thừa mỡ, nhưng lại rất thiếu xương, thiếu cơ bắp rắn, thiếu gân, thiếu máu. Ngươi có nghĩ thế không, tên dân xứ Bongora?”
Ngồi trong một góc xa hơn, tối hơn của tấm thảm dài, Mattai thong thả ngẩng đầu lên, không để một cái gì từ bên trong mình lộ ra trên mặt chàng, khuôn mặt đang làm nền cho trò hoán vị và biến đổi không ngừng của vô số sắc độ khác nhau giữa ánh sáng và bóng tối.
“Arrobauth bạn ta đây là con người quá thừa kiêu hãnh,” Faínâhind nói. “Giữa đêm khuya, nếu lắng tai, ngươi có thể nghe thấy các vì sao thì thầm trong khi kính cẩn đợi lúc chàng ta quyết định lên giường ngủ. Máu trong huyết quản chàng ta chảy chậm gấp đôi máu trong huyết quản ngươi, không phải một cách lờ đờ uể oải, mà một cách đường bệ và cao nhã. Này Mattai, hãy coi chừng chàng ta.”
“Phải, máu người Bongora chảy nhanh hơn và dễ đổ ra ngoài hơn so với máu Siră Kăntânărî,” chậm rãi, sau một hồi lặng im “như quả xoài chín rụng trong vườn”, Mattai nói. “Máu chúng tôi chảy càng nhanh và đổ ra ngoài càng nhiều thì chúng tôi học được càng sâu sắc hơn về niềm tôn kính đối với sự sống. Ngài nói đúng, thưa Arrobauth Rất Mực Tôn Quý. Cơ thể Bongora luôn luôn thiếu máu; máu nó nằm ở bên ngoài nó cũng nhiều ngang với ở bên trong nó. Người Bongora chúng tôi, từ trong bản chất, lớn hơn nhiều so với người Siră Kăntânărî. Chúng tôi có cả vũ trụ này là cơ thể lớn của mình; chúng tôi rướn ra ngoài vũ trụ nhiều hơn, bởi chúng tôi cảm thấy thiếu cái cơ thể lớn hơn kia một cách mạnh mẽ hơn so với các ngài. Với người Siră Kăntânărî, bản thân các ngài là đủ lớn để các ngài mãn nguyện và ngưỡng phục. Người Bongora chúng tôi nhường điều đó cho các ngài. Nó không dành cho chúng tôi.”
“Người Bongora các ngươi không hổ danh là những kẻ hơi quá lớn so với thân phận mình,” Arrobauth nói, cười nhạt. “Ta không lạ rằng các ngươi nằm trong số những giống dân bịa chuyện giỏi nhất trên thế gian. Thêu dệt nên từ trí tưởng tượng giống như loài ngựa hoang của các ngươi những câu chuyện không có thật, hòng mua vui cho đám phàm nhân chẳng biết làm gì hơn để sống qua những giờ những ngày những tháng những năm rảnh rỗi của đời mình và lấp đầy khoảng trống không gì lấp nổi bên trong mình, đó là việc tốt nhất nòi giống các ngươi đủ khả năng làm, niềm tự hào duy nhất của các ngươi, di sản tinh thần độc nhất - độc nhất và hèn mọn - của các ngươi. Các ngươi biết rõ rằng các bậc đế vương và những người quyền thế, những người thuộc dòng dõi tôn quý, họ thích thú câu chuyện của các ngươi chứ không thích thú bản thân các ngươi. Nàng công chúa mê mẩn là mê mẩn tiếng hót con họa mi chứ không mê mẩn đống phân của nó. Ta ưa là ưa trái tim con chim trĩ, ta không cần phải ưa những thứ hạt tầm thường mà con chim trĩ ăn. Bản thân ta, người Siră Kăntânărî, thì khác. Ta có cần phải nói về điều đó không?”
Sau khi Arrobauth dừng lời, có một thoáng im lặng, rồi Faínâhind nói.
“Này Mattai! Ta biết rõ và đánh giá cao khả năng ứng đáp của ngươi. Tuy nhiên ngươi có cho rằng, vào lúc này, thay vì lại nói, ngươi hát một bài thì tốt hơn không? ‘Một đêm nghe anh hát hơn mười năm cùng anh trò chuyện’, người Bongora có câu như thế, theo ta nhớ.”
Nàng ngừng nói, và, sau khi thấy Mattai lặng một thoáng, đồng thời nhận ra một cái gì đó đang tự kìm nén, phập phồng trong im lặng này, nàng quay sang Arrobauth với vẻ điềm nhiên và đường hoàng nhất nàng có, rồi nàng hướng về phía những người còn lại, cao giọng nói.
“Mattai đây là người biết rõ hơn ai hết khi nào thì một bài hát về tình yêu không được đền đáp là đáng được nghe hơn khúc tráng ca của một chiến binh. Những lời đanh thép nhất của chàng ta luôn tự biết khi nào chúng phải nhường chỗ trong khí trời và trong trái tim con người cho tiếng của con chim đầu tiên hót lúc rạng ngày. Ta có nói quá không, Mattai?”
Sau khi một quãng lặng dài hơn vài nhịp tim trôi qua, Mattai ôn tồn và đĩnh đạc nói.
“Những bài hát hay nhất và những lời đẹp nhất trên thế gian đáng được cất lên và đáng được sinh ra dù chỉ vì lý do duy nhất là có cô nương Faínâhind hiện hữu. Nếu ngày tháng của tôi cho phép, tôi chẳng tiếc gì mà không cho bao nhiêu bài hát cùng bao nhiêu lời ấy tuôn hết cả qua tôi mà về với cô nương như trăm sông đổ về biển, chúng không làm biển đầy hơn và biển không làm chúng vơi đi, chẳng qua sông thì đi về biển, âu đó là cơ đồ của vạn vật. Trong cái cơ đồ ấy, tôi là lòng sông đầy bùn, cũng như tôi là bầu không khí qua đó biển ban sức sống và cảm hứng cho sông trong hình dạng những cơn mưa. Kẻ hát những bài hát này và nói những lời này là những cái bóng vô hình không tên, không tồn tại tự thân. Kẻ như tôi tuyệt không có lý do gì để được người đời biết và nhớ tới, đúng như Arrobauth đại nhân nói. Chúng tôi chẳng có lý do gì để đòi tồn tại song song với tinh túy của tâm hồn chứa đựng trong chúng tôi và lưu chuyển qua chúng tôi. Chúng tôi là mạch máu, lý do tồn tại duy nhất của chúng tôi là để máu không đổ tràn trên cỏ.”
Và, ngừng một nhịp, chàng hát.

Và hãy ném cho tôi miếng bánh
Khi máu nóng đổ tràn trên cỏ
Gió qua kẽ núi
Mưa tưới đồng bằng
Ối a!
Kìa hãy ném cho tôi miếng bánh.

Trong im lặng sau đó, Faínâhind bình thản nhìn Arrobauth.
Nghiêm trang vỗ tay ba lần, hai nhặt một khoan, không quá nhẹ và không quá mạnh, Arrobauth lạnh nhạt nói.
“Ta từng nghe bài này. Ta cũng thích nó một chút đó. Ồ, nhưng có thể ta nhớ lầm. Có thể ta vừa định nói tới một bài khác, được coi là khác, dẫu cho nó có gì đấy giống hệt. Giống ở cái gì, để ta nghĩ một chút. Máu. Dĩ nhiên. Giống ở chỗ máu. Những chữ và những cung bậc khiến người ta cảm thấy máu của chính mình đang chảy ra ngoài, như nước bẩn rút ra khỏi lỗ thoát trong bồn tắm. Đó là thứ tinh túy của tâm hồn mà ngươi ám chỉ, phải không Mattai. Cái thứ tinh túy có thể hiện hữu dưới muôn ức triệu dạng thức và điệu thể khác nhau song kỳ cùng ra thì vẫn là nó và chỉ dành cho những con mắt cái tai nào biết nhận ra nó. Các ngươi, dẫu biết muôn triệu bài hát tưởng như khác biệt, các ngươi có khi nào chuyển tải được cái gì khác thế đâu, đúng không, hở tên Bongora. Chẳng lấy gì làm nhiều nhặn cái gọi là tinh túy của tâm hồn mà ngươi nhắc tới với vẻ trang trọng tức cười và ngây thơ kia. Và toàn bộ tài khéo của các ngươi, tất thảy tinh túy của tim óc các ngươi nằm ở chỗ trưng ra cái dúm chả lấy gì làm nhiều nhặn kia dưới nhiều, thật nhiều dạng thức khác nhau, tạo ra bức màn hư ảo trá ngụy về một cõi thế gian phồn phức, muôn mặt. Các ngươi ăn nhờ vào sự thích thú của đám đông - mà vốn dĩ tầm vóc tâm trí chẳng lớn hơn con ngan con vịt - trước cái vẻ ngoài phồn phức đa tạp kia, các ngươi kể một điều và làm mọi cách để làm điều đó có vẻ như mới mẻ, đồng thời giấu đi, bít đi, ỉm đi cái sự thực rằng điều đó từng được nói rồi, cho dù bằng lời lẽ khác hay không. Các ngươi sợ đến phát ốm với ý nghĩ rằng một ai đó, khi nghe những gì từ miệng các ngươi, sẽ cảm thấy những thứ này mình đã nghe đâu đó rồi, đã biết rồi, quen thuộc lắm rồi, tuy rằng từ lúc nào, bằng cách nào thì chưa thể nhớ ra được.” 
“Arrobauth đại nhân của chúng ta là người khó tính và đầy lý tưởng,” Faínâhind nói. “Nghe một khúc nhạc, xem một vở kịch, nhìn một bức tranh, chàng ta dùng đầu nhiều hơn là tai, mắt, ruột và tim. Chàng ta nhận định và phán xét trước khi cười và khóc, thay cho cười và khóc. Cái đó đôi khi ta ngưỡng mộ, có khi ta cũng thích. Còn ngươi, Mattai, hẳn ngươi biết hơn ta ngươi làm gì là tốt nhất lúc này. Ngươi biết cách tạo nên một bầu khí khác, một cõi khác trong giây lát, vậy sao ngươi không làm vậy đi? Nếu không phải là máu tràn trên cỏ và trong làn gió ta nghe nơi vách mũi thì đó sẽ là gì đây?”
Và Mattai, thoáng cười, bắt đầu hát.

Có cô gái kia ra chỗ dòng sông
Mẹ hỡi, xin cho con đôi mắt
Cho con đôi cánh chim ưng
Để con bay đi tìm chàng trai của lòng con
Thế là dòng sông cho cô đôi cánh chim ưng
Cho cô đôi mắt chim ưng
Thế là cô bay đi
Tìm chàng trai yêu dấu của lòng cô.

Lặng một hồi, cho đến khi âm hưởng cuối cùng của bài hát lắng đi như muối tan vào trong máu, Mattai nói.
“Để Arrobauth đại nhân không phải băn khoăn, tôi xin nói rằng bài hát này chắc hẳn đại nhân từng nghe, dẫu là qua quá nhiều con đường và dạng thức trung gian đến nỗi giờ đây đại nhân dẫu có muốn cũng không thể nào nhớ ra nguồn cội nguyên thủy của nó. Đó là bài “Malka Moma” của một nữ nhân tên Neli người xứ Bulgaria ở Terra, cái thế giới mà nghe nói không một ai trong chúng ta từng đặt chân tới và sẽ đặt chân tới song dẫu vậy vẫn hiện diện cùng chúng ta trong từng khoảnh khắc, từng hơi thở, cái bóng của chúng ta đổ vào trong lòng chính mình. Những bài hát của Neli, cũng như bản thân hiện hữu của nàng, chẳng khác gì tia nắng đầu tiên, ngọn gió đầu tiên, làn bụi nước đầu tiên của thế giới vào ngày đầu tiên sau khi thế giới sinh thành; không cách nào và không bao giờ chúng tôi có thể như nàng và hát giống nàng được. Dẫu vậy, không phải vì điều đó mà chúng tôi không hát nàng thông qua chúng tôi, không sống nàng bằng sự sống của chúng tôi. Và cho dẫu khi tôi hát

Khi người ta mang quả táo về
Trên cành con ong treo cổ
Và tôi đứng dựa tường này
Khóc

thì cứ để ai đó nghe ra trong đấy âm vang một cái gì họ từng nghe, có thể trong một cuộc đời khác hoặc trong một giấc mơ hay một giấc mơ trong một giấc mơ; cái mà với ai đó là tiếng vọng hoặc dư âm hoặc im lặng nối liền theo một dư âm thì với chúng tôi là âm thanh nguyên tuyền; tiếng nói nguyên tuyền của một phần nào đó của vũ trụ, một kết hợp khác ngẫu nhiên và không thể khác trong cơ đồ của Tạo hóa, cái cơ đồ mà theo đó tiếng nói nguyên tuyền của một ai đấy rất có thể chỉ là tiếng vọng của một cái gì thân quen đối với chúng tôi, tuy nhiên còn có gì giản dị hơn thế: mỗi chúng ta vừa là máu thịt và tiếng nói nguyên tuyền vừa là hình bóng và tiếng vang của chính mình và của nhau, đối với chính mình và đối với nhau. Việc của chúng tôi không gì hơn là cất lên thành lời, tạo hình hài cho sự xoắn xuýt không rời hòa quyện bất phân này giữa bóng và thân, giữa thanh âm nguyên thủy và tiếng vọng. Chúng tôi tự hào rằng mình hiện hữu, độ lớn của chúng tôi được đo bằng độ dài mối liên thông bất tận ấy giữa mọi vật và mọi sinh thể.”
Trong quãng lặng dài sau đó, chỉ còn nghe tiếng lách tách phát ra từ một cái gì đang chuyển hóa bên trong ngọn lửa mà đám gia nhân chăm chút không để tàn, và một cái gì đó cất lên tiếng nói không thanh âm, không đòi được lắng nghe, song, hoàn toàn tự nhiên, tâm trí con người nghe thấy nó.
Arrobauth nói.
“Kărâdángy, một trong các sư phụ ta ở Börâkhon, chắc chắn sẽ nhận ngươi làm môn sinh mà không cần phải sát hạch ngươi như đã sát hạch ta.” Chàng cười nhạt. “Bằng cái lưỡi sẵn có của ngươi, được mài bén và luyện dẻo đến mức tột cùng nhờ những năm dài siêng năng tập tành dưới sự trông nom của Thầy, ngươi sẽ chỉ cần dùng đôi lời để biến vị anh hùng thành kẻ đớn hèn, người tận trung thành tên phản phúc, đứa con hiếu thảo thành phường phá gia chi tử. Và dĩ nhiên, ngược lại cũng vậy. Ngươi đang khiến ta bắt đầu cảm thấy mình kém cỏi và bé mọn bởi ta không có khả năng nhìn thấy Hình của ngươi ở trong ta và Hình của ta ở trong ngươi. Cái khả năng mà hình như ngươi có, hử. Ta đang tự hỏi liệu ta có cần phải tự hỏi điều đó không. Cái cảm giác tự thấy mình lớn ở mi, nó có đáng để ta phải dành một góc tâm trí ta cho nó trong chốc lát trà dư tửu hậu hay không, hở tên Bongora?”
Tiếng vỗ tay chậm rãi, gồm nhiều nhịp cách đều nhau của Faínâhind như xé rách dần bầu không khí thẳng căng và đáng lẽ đã im lặng.
Faínâhind nói.
“Arrobauth của ta luôn khắc nghiệt với thế giới cho dù chàng ta yêu thế giới, hay là, chà, điều này ta mới nghĩ ra thôi: hay chính vì chàng ta yêu thế giới. Này Mattai tội nghiệp! Nếu ngươi tin chắc hay đinh ninh hay cảm thấy rằng Arrobauth đây không yêu những bài hát đi qua mồm ngươi, không yêu những linh hồn trú ngụ trong các bài hát đó và lưu chuyển thông qua chúng thì ngươi lầm. Arrobauth biết vũ trụ này đủ lớn để chàng ta phải luôn mở rộng mình hứng lấy và ôm chứa nó. Nếu ngươi có cảm thấy chàng ta rẻ rúng ngươi và nghệ thuật của ngươi, hãy coi đó là một biểu hiện của tình yêu. Ngươi chưa bao giờ biết tới gã đàn ông nào rẻ rúng ả đàn bà hắn yêu hơn hết sao? Bản chất của sự luyến ái giữa đàn bà và đàn ông không thể khó lường đến mức ấy ru? Ta không tin rằng những bài hát của ngươi không ôm chứa cả điều đó.”
Im lặng một chút, Mattai nói.
“Tôi chưa bao giờ nói rằng những gì tôi cảm thấy trong lòng mình đối với Arrobauth đại nhân không phải là một biểu hiện của tình yêu. Cũng bằng cách đó tôi yêu vẻ đẹp và sức mạnh của một tia sét khi nó tỏa những cành nhánh ảo diệu và chết chóc của nó trên bầu trời. Có một điều khắc sâu trong tâm trí những người kể chuyện chúng tôi, hay đúng hơn tâm trí chúng tôi được tạo hình dựa trên tinh túy của điều này: mọi hành vi sáng tạo đều là một hành vi của tình yêu. Dù cho tình yêu ấy trộn chung với cái gì đi nữa, và do đó có vẻ ngoài khác với tình yêu đến thế nào đi nữa, song, nếu ta đón nhận nó bằng cái tâm rộng mở, không phân biệt, cách đón nhận mà tự thân nó cũng là một hành vi của tình yêu, thì ta sẽ nhận ra nó.
“Mỗi lần chúng tôi hát một bài hát, và có một người đón nhận nó vào trong tâm khảm mình, là thêm một hành vi của tình yêu được thực hiện và viên thành. Mỗi lần một hành vi của tình yêu đó hiện hữu, chúng ta cảm thấy nó trong xương tủy mình, và ngay khi đó ta ngộ ra rằng bí mật của hiện hữu thật ra là rất giản dị: ngay khi đó cái chết có thể tới, không còn gì ngăn trở giữa nó với sự sống của chúng ta nữa. Cái chúng ta vừa cho ra đời là đủ để chúng ta không cần sống nữa.”
“Phải, toàn bộ sự sống của mi vừa vặn ngang giá với khoảnh khắc mi khiến kẻ khác phải nhỏ lệ, mơ màng hoặc cười ré lên,” Arrobauth nói, với một nụ cười mà chàng muốn người ta phải hiểu là độ lượng. Nói đoạn, chàng nhìn chằm chằm vào đôi mắt bình thản của Mattai, bình thản và sâu như đáy một vịnh kín. “Thôi được,” sau một chốc ngắn chàng nói. “Ta sẽ nói rõ hơn, để mi không hiểu lầm ý ta, với cái đầu nhỏ nhặt và chật hẹp của mi.
“Mi có biết chuyện Oglosméten và ngón đàn thần diệu hoặc quái dị của hắn ta chứ? Rằng từ tiếng đàn của hắn hồn ma các dũng sĩ và chiến binh tử trận lại hiện về sát vai cùng các chiến hữu còn sống đặng tiếp tục cuộc giao tranh kéo dài mãi mãi không dứt với những kẻ thù xứ Kinka hùng mạnh như chính Chúa Trời? Phải nói ngay với mi rằng ta không tin cái khía cạnh huyền hoặc ma mị của câu chuyện đó. Ta, một kẻ đầy lý trí và xây dựng phẩm giá của mình dựa trên lý trí, ta chỉ chấp nhận những sự thật nào không bị che đậy hoặc tự che đậy trước mắt ta. Ta nói thêm như thế để cho mi, kẻ có thể sâu sắc hơn nhưng nhất định là u mê hơn ta, chớ có bị cái bầu khí tối tăm u huyễn của câu chuyện đó lay động hoặc lôi cuốn mi, mà hãy tập trung vào một và chỉ một điểm cốt yếu: phải chăng làm sống lại những kiếp sống đã chấm dứt bằng cách đó, dựng người chết dậy và tiếp tục sử dụng họ, cho đến khi không cần tới họ nữa thì để họ nằm xuống lại và tiếp tục chết, phải chăng đó là điều tốt nhất cái nòi những kẻ như ngươi có thể làm? Linh hồn một ả đàn bà sống cách đây ngàn năm, hay một đứa con gái ở Terra, cái thế giới không-thể-nào-tới-được như mi nói, nó sống dậy, động đậy, làm rung động, làm đắm đuối, làm nức nở. Đúng. Trong một khoảnh khắc. Một khoảnh khắc tương giao với vô tận, như mi nói. Đúng, có thể. Song, khi khoảnh khắc đó đi qua rồi, cái còn lại là tất cả các khoảnh khắc khác, và cuộc đời thực của chúng ta hợp thành từ các khoảnh khắc ấy, dù có cái một-khoảnh-khắc kia hay không. Chẳng phải thế ru? Mi có thể nói gì thì nói, và nói một cách đầy sức mạnh, cao nhã, minh triết, ừ, quả có thế thật. Thế nhưng, một sự thực khác mà mi không nói, ta đây nói, và không một cái gì từ mi mà ra có thể làm thay đổi hay động tới nó đâu: Với thế giới này, cái thế giới  ta, của ta, bởi ta, cho ta, mi và những kẻ như mi không là gì khác ngoài một hạng người chuyên mua vui bằng cách dựng cái chết thành cái sống và buộc người ta nhận đó là cái sống. Làm ra sự sống đích thực là việc quá khó khăn và quá lớn lao so với bọn mi. Ta coi là bạn ta và bằng vai phải lứa với ta những người làm việc để đắp nên từng dặm đường lát đá của Đế quốc, làm ra từng cái cúc áo đẹp mà ta mân mê trong ngón tay ta, đưa tới cho ta những quả nho mà ta chậm rãi, trang trọng cho vào mồm từng quả một, dâng lên ta từng mũi tên mà ta âu yếm cho thoát khỏi cánh cung, lấp loáng dưới nắng rồi tìm đến đúng chỗ thịt mềm của một con chim và hân hoan hối hả ngập sâu vào đó.
“Dĩ nhiên,” chàng giơ một tay lên như để ngăn lại một lời đáp lại trước khi nó được thốt ra, trước khi ai đó kịp nghĩ rằng mình sẽ thốt ra. “Dĩ nhiên ta biết, mi hay ai đó như mi sẽ nói, như ai đó ta không nhớ tên và không cần nhớ tên, từng nói, rằng những bài hát của bọn mi, tiếng cười, giọt nước mắt, giấc mơ ngày, nỗi xáo động, cơn thắt ruột mà bọn mi khơi nên ở những kẻ lắng nghe bọn mi, tất cả đều là những hình thái khác nhau của một vương quốc bị lãng quên, cái vương quốc đã từ lâu không tìm được chỗ cho mình trong cái thế giới của những lo toan tủn mủn thường nhật và lạc thú chóng tàn. Ô hô, ta hiểu mi lắm. Ta hiểu mi hơn mi tưởng nhiều, phải không. A ha, ta rất hiểu mi, mặc dù ta khác mi, chính bởi vì ta khác mi, chính vì vậy mà ta mới khác mi. Ha, chính vậy đó: ta khinh mi, dù biết hay không biết rằng theo nghĩa nào đó mi cũng có thể giàu có và sâu xa hơn ta.  Trong cái thế giới chúng ta đang tồn tại đây, chẳng có điều gì tự nhiên và hợp lẽ hơn thế. Khinh miệt mi và những kẻ cùng nòi giống với mi là một trong những cái làm nên phẩm tính của ta, chẳng khác nào chạy nhanh là phẩm tính của con ngựa và tàn độc là phẩm tính của loài rắn bé tí xinh xẻo mà mi thấy đang cuộn mình ngoan ngoãn và u sầu trong bình rượu này của ta. Ừ đấy, mi nói nữa đi, nói cho đến hơi thở sau bét của mi nếu mi muốn, về những vũ trụ mà dường như mi và bọn như mi có khả năng tạo ra còn ta thì không, vũ trụ của những thứ thực sự sống hoặc vờ sống hoặc chết mà như sống hoặc sống nhưng khó nhận ra đến nỗi chả khác gì không sống, đó là việc của mi. Còn ta, cái vũ trụ thực sự có và thực sự đang sống này, ta đang có nó trong tay ta, trên ta, dưới ta, xung quanh ta, bên trong ta, nó là của ta, nó  ta, và ở trong đó, mi, một thứ ở bên dưới ta, mi không có khả năng gì tác động tới ta được. Cơ đồ của vũ trụ đã được an bài theo cách đó. Mi cựa quậy, vùng vẫy, khua khoắng nhặng xị lên trong cái xó của mi, cái xó khiêm nhường nhất giữa những xó khiêm nhường nhất, cố công làm đẹp làm giàu thêm cái thế gian này theo cách của mi, theo cách hiểu của đầu óc mi về chuyện thế nào là cái đẹp và sự giàu có. Cứ làm thế đi, không ai cấm mi. Song khi nào ta, Arrobauth, công dân đế quốc Siră Kăntânări, ta cất lời với mi về chuyện thực ra mi và cái mi làm ra đang nằm ở đâu trong thế giới này thì mi phải lắng nghe ta và hiểu đúng cái điều ta muốn mi hiểu. Có một khoảng cách thường tồn, không thể vượt qua giữa ta với mi. Dù mi có ở đâu, làm gì, hát gì, nói gì, nghĩ gì, đừng bao giờ quên mất cái khoảng hẹp đó, nơi duy nhất mi được phép đứng.”
Có một quãng lặng ngắn trong đó dường như vạn sự trong vũ trụ đã khép lại thay vì mở ra. Thế rồi, điềm tĩnh, dường như vừa thân mật vừa châm biếm, giọng Faínâhind cất lên.
“Nào Mattai. Miệng lưỡi và thần trí của ngươi đâu rồi?”

Thứ Ba, 14 tháng 5, 2013

Bốn mẹ con, một cabin (hay Tự sự của một di dân II, phần 2 - Trích tiểu thuyết)


Dù sao, như mẹ con tôi đây là cũng còn hạnh phúc gấp trăm lần chán vạn kẻ khác. Ở đây, trên cái tàu này ít ra cũng còn có cái gì đó hao hao như là chính quyền dù là thứ chính quyền của một lũ nửa người nửa heo. Còn có những tàu di tản khác giống như tàu này mà ở đó không có bất cứ một thứ chính quyền nào, chỉ có tìnhtrạng vô chính phủ hoàn toàn. Là tôi nghe người ta nói, tôi không muốn tin, nhưng suy cho cùng thì chẳng có lý do gì để không tin. Một giống loài mà ngay cả trái đất quê nhà duy nhất của mình cũng tàn phá tan hoang chỉ còn là một hành tinh chết thì còn có thể trông mong họ giữ gìn được cái gì nữa? Người ta nói trên những tàu đó toàn bộ quyền lực nằm trong tay bọn côn đồ, những kẻ khỏe mạnh nhất và tàn bạo nhất, giống như trại biệt giam người mù trong cuốn sách nổi tiếng của ông nhà văn mù người Bồ Đào Nha, từ lâu lắm rồi (mà tôi không đọc nhưng phim dựng theo đó thì tôi có xem). Và cũng như trong cuốn sách hay bộ phim ấy, để thỏa mãn những gì chúng muốn, mà chúng thì muốn nhiều thứ lắm, chẳng có chuyện gì mà chúng không làm. Chúng lôi đi đến cả những đứa con gái ba tuổi, phải, ba tuổi, bằng tuổi con bé út tôi đây. Người ta kể là hai ba hôm sau xác con bé được phát hiện trong phòng giặt đồ, nóở trong một tình trạng khiến cho gã lao công phát hiện ra nó suốt một tuần sau đó cứ hễ thấy đồ ăn là mửa, cho đến khi chỉ còn ra toàn mật xanh mật vàng nhưng vẫn tiếp tục mửa. Một đứa khác, con trai, tám chín tuổi gì đó, xinh như thiên thần, là họ nói vậy, bị lũ đó đè ra làm trò ấy trước mặt mẹ nó, tụi nó lấy dao khoét lỗ đít thằng nhỏ cho rộng ra rồi mới chơi. Không ai chống lại tụi nó. Không ai có thể chống lại tụi nó. Ai dám chống lại tụi nó? Sau đó khi thằng nhỏ hết thở rồi thì tụi nó bắt đầu buộc mẹ nó phải vui vẻ với tụi nó, thổi kèn cho tụi nó, liếm đít tụi nó cho sạch sau khi tụi nó ị, bắt ăn cứt mà tụi nó vừa ị, bắt nằm trên cứt đái của tụi nó rồi chích điện, và hàng tỷ trò khác mà chỉ có cái đầu tụi nó mới có thể nghĩ ra, và truyền toàn bộ các cảnh đó đến tất cả các phòng, buộc tất cả mọi người trên tàu phải xem, tụi nó cho người theo dõi chặt qua camera, ai không xem tụi nó biết hết, và không bao giờ thiếu những trò mới dành cho những người đó… So với người đàn bà đó, với tất thảy những người đó thì nhưtôi đây là tuyệt đối hạnh phúc. Tôi có gì để phải phàn nàn? Có gì phải phàn nàn một khi tôi đã có khả năng giành được một chỗ trên con tàu này cho mẹ con tôi và có thể lo liệu sao cho ngày ngày con tôi có đủ đồ ăn nước uống, có ô xy để thở và không phải đêm nào cũng có thể giật mình thon thót thức dậy bất cứ lúc nào? Cái chỗ này giá bao nhiêu các người biết không? Tôi e các người không hình dung được đâu, cũng không thể đoán được đâu. Tốt nhất đừng đoán, bởi có đoán được thì rồi cũng sẽ có chán vạn chuyện khác các người không làm sao đoán được, không làm sao tưởng tượng được nếu như các người không ở vào cảnh ngộ như chúng tôi. Chừng nào các người chưa cầm dao đâm chết hơn chục người để giành cho được một chỗ trên tàu trong khi cả đời các người không bao giờ có đủ gan giết một con ếch thì chừng đó các người còn chưa biết gì về sự thật sâu xa nhất của cuộc đời cả. Nhiều người trong các người đến chết cũng không biết sự thật đó. (Điều này chẳng có gì mới nhưng sự thật là thế, mới hay cũ nào có quan trọng gì, quan trọng là nó đúng sự thật). Còn con tôi, tôi không bao giờ có thể biết được còn bao lâu nữathì dao trong tay thằng con tôi sẽ thực sự đâm vào da thịt một con người, và con gái tôi, còn bao lâu nữa thì chúng nó sẽ dạng chân ra để có thêm một mét khối nước sạch, thêm một đêm nữa được ngủ yên không phải mỗi chốc một choàng tỉnh dậy, ngủ chả ra ngủ mà chỉ là một cơn ác mộng triền miên không dứt? Lỡ mà tôi ngã bệnh không thể làm việc đó thay cho chúng nữa, ai biết được? Lỡ mà tôi không còn đó nữa, không còn trong cabin bên cạnh chúng mà cũng không ở đâu khác trêncon tàu này, trên cõi đời này? Trời ơi tôi có thể biến đi đâu nếu như không còn ở trên con tàu này, cái con tàu mà giờ đây là toàn bộ cõi nhân gian độc nhất còn lại của tôi, của mẹ con tôi? Tôi thật không dám nghĩ nữa. Nghĩ tới chuyện đó…

Thật tệ là cabin nhỏ quá khiến cho tôi không thể nào nghĩ tới chuyệndẫn ít nhất là vài ba thằng trong số lũ đàn ông đó về chỗ của mình được (dĩ nhiên là mỗi lần một thằng, trời ạ), được vậy thì tôi sẽ ít phải xa con tôi hơn, ít phải để mặc cho ba đứa nó tự xoay xở lấy, đương đầu với mọi rủi ro khi vắng mẹ… Nhưng có lẽ đó âu cũng là điều tốt… Cứ thế này thì ít nhất những cái bẩn tưởi ở ngoài kia không thể lọt qua khung cửa mà vào làm nhớp nhúa nốt cái ổcuối cùng này của tôi, ít nhất tôi cũng còn lại được một chút sạch, một xó sạch dù con con nơi tôi có thể ủ ấm bầy con tôi, giữ cho chúng an toàn, giữ cho chúng sạch, ít nhất thì cũng là những phần còn giữ được, chừng nào còn giữ được…Không có sự hiện diện của thân xác lũ đàn ông ở đây thì sự hiện diện của cái mùi của chúng trên người tôi là quá đủ rồi. Cái nhìn của con tôi mỗi lần tôi đi qua cửa để đi ra ngoài hay từ ngoài bước vào trong nhà, à không, trong cabin là quá đủ rồi.

Cảnh này còn kéo dài cho đến bao giờ?? Chuyến bay có thể phải mất vài tháng, là họ nói thế, song với tôi thì cứ như đã hàng trăm năm qua rồi mẹ con tôi vẫn chưa tiến thêm được một mét nào, cứ như đã hàng trăm năm rồi mẹ con tôi kẹt trong một cơn ác mộng không dứt và cơn ác mộng ấy trôi trong một cõi hư vô không cùng. Và nhiều khi tôi cảm thấy, thực sự cảm thấy việc tốt nhất tôi có thể làm trong tình cảnh đó là cố sao cho cơn ác mộng này đừng quá nặng mùi đối với lỗ mũi non nớt hãy còn chưa biết mùi đời là gì của các con tôi...Nhưng mà, nghĩ cho kỹ, liệu có thật là chúng nó hãy còn chưa biết nhiều mùi đời không? Những mùi phong phú đa dạng vô cùng của thế gian này, tụi nó chưa kịp cócơ hội biết, nhưng mùi của thế gian vào lúc sắp tận vong thì tụi nó đã được biết đấy chứ… Ở tuổi này tụi nó đã biết mùi máu người, máu người chảy thành vũng chứ không phải chỉ là dòng ri rỉ, mùi xác chết lưu cữu lâu ngày, mùi cứtđái của hàng ngàn con người hợp lại ngày này qua ngày khác tuần này qua tuần khác, mùi khói nghẹt thở, mùi khí độc, mùi nước tù hàng nhiều năm mà trong đó là hàng vạn xác chết, xác người xác thú, xác cũ rồi lại thêm xác mới… Tưởng tượng mà xem, ở tuổi tụi nó!.. Chao ôi. Thậm chí có những lúc trong mắt tụi nó tôi có thể thấy rằng ngay cả tụi nó, mấy đứa con bé bỏng của tôi, tụi nó cũng đang chờ Tận thế tới, chờ trong căng thẳng và tuyệt vọng chẳng khác bất cứ người lớn nào xung quanh tụi nó, sự chờ đợi của tụi nó có khi còn kinh khủng hơn vì thật ra tụi nó không biết Tận thế nghĩa là cái gì, nó là một cái gì kinh khủng gấp không biết bao nhiêu lần cái chết trong khi ngay cả chết là gì tụi nó cũngcòn chưa hình dung nổi, tụi nó chưa biết dùng từ ngữ để gọi nó hay nói về nó,nhưng cái mà tụi nó đang chờ đợi, nó như thế nào thì không thể nói là tụi nó không biết, tụi nó biết từ trong máu, từ trong xương tủy mà biết, như thế thì có khi còn sâu xa hơn cả cái biết của bọn người lớn hay của tôi…

Bây giờ đây, trên con tàu này, trong cái cabin nhỏ kín này, tôi không còn thấy vẻ chờ đợi đó trong mắt con tôi nữa nhưng ai mà biết được sẽ còn những vẻ nào khác nữa hiện lên trong mắt tụi nó? Tôi đâu phải hạng dốt nát ngu dại mà không biết rằng đâu phải chỉ cần con tàu này tới được đích cuối là mẹ con tôi sẽ giống như được nằm trên đệm hoa hồng. Đợi đấy. Tất cả những gì thuận lợi dễ dàng không bao giờ dành cho cái hạng như mẹ con tôi đâu. Tôi thì cái viễn cảnh đó tôi chẳng sợ, nếu chỉ mình tôi, tôi không sợ gì cả. Cùng với lũ con thì tôi sợ. Không phải chỉ sợ những kẻ khác mặc dù như thế cũng đã quá đủ để sợ, mà còn sợ chính mình. Tuy nhiên tạm thời thì tôi không cho phép mình nghĩ quá nhiều tới cái tương lai đó, cái gì tới thì sẽ tới, quan trọng nhất với tôi bây giờ, ngay bây giờ đây, năm phút sau đây, là làm thế nào đương đầu với cái nhìn của đứa con út tôi, nó là cái nhìn trong như giọt sương, cái nhìn của một sinh linh thực sự là chưa biết gì hết nhưng đồng thời biết hết, nó trong như thể mỗi conmắt nó là cả một giọt nước mắt lớn vĩnh viễn nằm đó, nặng quá mà vẫn không thể nào chảy xuống được. Hãy hoàn toàn chú tâm vào cái ở đây lúc này, nhiều vị tu hành hay gọi là hiền triết gì đó vẫn hay nói thế, mặc dù hầu hết những gì khác họ nói đều tào lao cả nhưng riêng điều đó thì đúng, tôi biết vậy qua kinh nghiệm bản thân mình, không cần ai dạy tôi…

Mà bọn đàn ông thì cứ càng ngày càng càn rỡ càng đê tiện càng khốn nạn.Khốn nạn! Có những lần nếu không có những may mắn bất ngờ như ở trên trời rớtxuống thì có trời biết cái quân đốn mạt đó đã làm gì tôi. Dĩ nhiên là tôi cócách để tự cứu mình, nhiều cách là khác, tôi có thể khích cho tụi nó giết nhaucòn tôi ngồi ngoài xem và rốt cuộc chỉ mình tôi vẫn an toàn vô sự, tôi hoàn toàn có thể làm thế, ai bảo không, nếu đã biết tôi thì ai có thể nói không được kia chứ? Nhưng cái chính là kể cả cái trò đó tôi cũng đã quá chán, chẳng thà tựtôi đầu độc chết hay đâm chết hay đập chết tất tật lũ chúng nó còn sướng hơn, giá như tôi làm được như thế… Không còn cách nào khác, tôi chỉ còn biết sống được ngày nào hay ngày nấy, kéo thêm được phút nào hay phút ấy, miễn sao cho đến giây cuối của từng phút một tôi vẫn đang làm một cái gì đó cho con tôi… Tôi luôn luôn có bên mình phương tiện cần thiết và đủ dùng khi cần đến giải pháp cuối,mặc dù tôi không bao giờ muốn có lúc phải dùng tới nó. Trăm lần không, ngàn lần không, muôn lần không. Tôi không cho phép mình tin chuyện đó có khả năng xảy radù chỉ một phần triệu một phần tỷ. Số phận của mẹ con tôi làm sao lại có thể thê thảm đến như vậy kia chớ!.. Mà vạn nhất chuyện đó có xảy ra thì tôi sẽ bị đày trong hỏa ngục đời đời nếu như tôi không thể tái sinh thành một chúa trờimới thay cho tất tật đám chúa trời cũ, tôi sẽ xử tử tất tật đám chúa trời cũ vì tội đã sinh ra một thế giới kinh tởm nhường này, nếu bọn họ chỉ coi đó như một cuộc thử nghiệm như tôi nghe ai nói, hay cố tình tạo ra nó như một sự thử thách cho loài người như ai đó nói thì tội của bọn họ càng nặng hơn, một kẻ không có khả năng lường trước mọi hậu quả có thể có của một cuộc thử nghiệm hay thử thách gì đó mình định làm nhưng rồi vẫn cứ làm thì đáng bị tử hình ba mươi lần, ba trăm lần. Ai nghĩ khác thì tùy, còn tôi, tôi tin chắc loài người nếu có tận diệt thìđó là bởi họ không có khả năng để cho phụ nữ làm chúa trời dù chỉ một lần mà toàn nhường cái ghế đó cho bọn đàn ông và bọn đàn ông thì chỉ có khả năng làm những chúa trời tồi tệ khốn nạn. Một Chúa trời là phụ nữ thì sẽ không bao giờ làm những thử nghiệm có thể dẫn tới kết quả đẫm máu như thế bởi vì phụ nữ khác với đànông, phụ nữ thấu hiểu giá trị của máu, họ biết rõ rằng mọi sự sống, mọi sự sinh ra cuộc sống đều gắn liền với máu và với cái chết như thế nào…

Thế nhưng mà rốt cuộc mẹ con tôi không phải dùng tới cái giải pháp đường cùng đó mà cũng không bao giờ tới được nơi mình mong tới được, mà ngay cả con tàu cũng thế, đích cuối cùng mà nó được lập trình để tới, nó đã không bao giờ tới được. Khi tôi biết ra điều đó thì cũng là lúc tôi biết sự sống của mình sắp hết. Và sự thực là lúc đó tôi không thấy buồn, không thấy sợ, không thấy vui, cũng không thanh thản nhẹ nhõm như người ta hay nói.Tôi chỉ thấy dửng dưng. Thậm chí không có lấy một tí ti nào gọi là xót xa cho các con tôi, chết khi hãy còn chưa kịp sống, sự thực là lúc đó chúng hoàn toàn không có mặt trong tâm tư tôi, cứ như là tôi đang chỉ có một mình trên đời, như thể số phận tôi là số phận của tôi, không liên quan tới bất cứ ai hết và bây giờ phận tôi sắp hết, tôi chỉ cần biết thế là đủ, mình tôi biết thế là đủ. Nhưng thôi, tôi cảm thấy ra sao, cụ thể là tôi đã trải qua ra làm sao những phút cuối cùng của đời tôi, tôi sẽ không nói đâu, tôi không nghĩ là nó đáng cho người khác biết. Không đáng đâu. Hãy để cho nó vĩnh viễn chôn chặt bên trong tôi, chỉ cần một mình tôi biết nó ra sao, rồi thì cũng sẽ đến lúc kể cả tôi cũng quên mất không còn nhớ nó là thế nào cả, và như thế là tốt. Sự thật là tôi cảm thấy mình đang bắt đầu quên được, dù chỉ quên những phút đó … Không phải cái gì tôi cũng đã quên. Có nhữngcái tôi muốn quên nhưng không làm sao biết liệu có quên được không… Chẳng hạn như có một lúc, chắc là chỉ trong nháy mắt hay sao đó thôi, tôi cảm thấy mọi chuyện kết thúc như thế này âu cũng là tốt, tốt nhất là tất cả loài người hãychết hết đi, được vậy thì sẽ không còn cuộc chiến nào nữa không còn vấn đề nào nữa không còn nỗi thống khổ nào nữa. Sao mà tôi có thể vừa tàn nhẫn lại vừa nông nổi và ngu dốt đến vậy! Loài người không bao giờ có thể hoàn toàn chết hết được, giống loài này không bao giờ tuyệt diệt được đâu, sẽ không đời nào cóchuyện đó, có chăng chỉ là một số kẻ khác sống, mẹ con tôi chết đơn giản vì cơ may sống còn cho loài người là quá ít, không đủ để chia cho cả mẹ con tôi. Điềuđó, điều đó tôi muốn quên nhưng sẽ không bao giờ quên, chừng nào tôi còn đâythì ký ức đó vẫn còn đây, tôi ở đâu nó ở đó, nó như là chính tôi, tôi chỉ còn cách diệt chính mình đi thì mới mong diệt được nó. Thế nhưng mà, thật khốn nạn,như tôi bây giờ thì không bao giờ còn có thể tự diệt mình được hết cả… Cho dù giờ đây tôi không mong mỏi điều gì hơn thế… Tôi muốn là muốn thế chớ nào có muốn ở đây mà kể chuyện này… Có biết rằng chuyện này tôi đã kể bao nhiêu lần không? Có biết rằng các người là những kẻ thứ bao nhiêu nghe tôi kể chuyện này không? Các người nghĩ mình là những người đầu tiên sao? Chao ôi các người, đừng u mê đếnnhư vậy. Nhưng mà… Của đáng tội, tôi đâu thể trách các người được… Nghĩ kỹ ra, nếu tôi ở vào địa vị các người thì tôi cũng đâu có thể biết gì hơn các người về sự thực sâu xa của thế giới này, cái sự thực mà chỉ khi ta đã đi sang phía bên kia như tôi đã đi thì ta mới biết nhưng khi đó thì đã quá muộn, nhiều thứ đã quá muộn… Rồi thì chúng ta sẽ sốc khi biết ra rằng ở đây, ngay cả ở đây, ở phía bên kia này chúng ta cũng vẫn chết, vẫn có thể chết tuy là một dạng chết khác nếu như… Nhưng kìa tôi đang nói chuyện gì với các người vậy! Tôi xin lỗi nếu như tôi không biết rằng mọi người không còn hiểu tôi đang nói gì nên không còn muốn nghe tôi nữa… Tôi thật sự không biết… Chao, tôi lại có thể thành ra một thứ phiền nhiễu đến như vậy sao… Thề có chúa trời, chúa trời nào cũng được, tôi không muốn như thế. Tôi nào có muốn gì hơn là ở yên trong vùng tranh tối tranh sáng này mà im lặng đời đời. Ai là kẻ đã bắt tôi nói? Tôi đời đời nguyền rủa kẻ đó. Mặc dù tận trong thâm tâm tôi không hề muốn nguyền rủa một ai, không hề muốn căm hận một ai, cho dẫu đời tôi đã phải trải qua những gì đi chăng nữa. Aihiểu điều đó cho tôi đây? Ai làm chứng cho tôi là tôi không mong gì hơn rằng giống người hãy để cho mẹ con tôi yên. Dù mẹ con tôi bây giờ có là gì đi nữa thì cũng hãy làm ơn để cho mẹ con tôi yên. Làm ơn đừng bao giờ động tới đừng bao giờ nhắc tới mẹ con tôi nữa, đừng bao giờ nữa. Làm ơn đừng bao giờ khơi lên lần nữa nỗi đau lớn nhất của tôi là mẹ con tôi đã phạm sai lầm quá lớn khi sinh ra trên thế giới này, tự sẩy chân vào thế giới loài người. Hãy tha cho chúng tôi, ít nhất thì các người còn có thể làm một việc cuối cùng này là buông tha cho chúng tôi. 

Thứ Sáu, 10 tháng 5, 2013

Bốn mẹ con, một cabin (hay Tự sự của một di dân II - Phần 1) (trích tiểu thuyết)


Rốt cuộc thì tôi cũng mua được chỗ cho ba đứa con tôi và tôi trên con tàu ấy, một trong những con tàu cuối cùng đưa người tị nạn rời khỏi Trái Đất Mẹ. Tôi sẽ không kể lại ở đây tất cả những nhọc nhằn tôi đã trải qua, những trở ngại tưởng chừng ngàn năm nữa cũng không vượt qua nổi song rồi cũng đã vượt qua. Tất cả đều chẳng đáng gì so với điều tôi đã đạt được... Kết quả của tất cả những thứ đó mới là đáng kể.

Kể ra cặn kẽ chi li về những gì tôi đã làm nào có ích gì. Có chăng là chỉ để minh họa cho cái câu lắm người đã nói, rằng vì con một người mẹ có thể làm được tất cả. Thậm chí tôi sẵn sàng trao thân cho trăm gã đàn ông, ngàn gã đàn ông nếu đó là việc nhất thiết phải làm để có được vé lên tàu cho mấy mẹ con tôi. Không phải tôi nói thế thì có nghĩa là tôi đã làm thế thật, mặc dù… Thôi được, người ta muốn hiểu thế nào thì hiểu.Họ nghĩ gì tôi không bận tâm. Nếu họ là đàn ông tôi lại càng không bận tâm. Không một người đàn ông nào trên thế giới này có quyền hay tư cách để phán xét tôi hay những gì tôi làm. Kể cả Chúa Trời, bất cứ Chúa Trời nào, họ là đàn ông cả mà. Và tôi chả cần họ tha thứ hay cảm thông với tôi. Chỉ cần tôi tự tha thứ và cảm thông cho mình là đủ...quá đủ. Tự tôi là Chúa Trời của tôi. Và Chúa Trời của tôi nói: Con đã làm quá tốt, con hãy tự hào về mình. Con không có gì phải hổ thẹn. Hoặc đúng hơn là: Bồ làm thế là quá oách rồi, đứa khốn nạn nào dám nói gì bồ kia chớ, vui lên đi.

Vậy nên, bằng cách của mình, tôi đã lo được vé lên tàu cho cả bốn mẹ con tôi. Bốn người, bốn vé, xin hãy nhớ! Không có chuyện phân biệt vé trẻ em vé người lớn đâu nhé. Vào cái lúc có những kẻ sẵn sàng giết một trăm người hay một ngàn người để giành cho được một tấm vé cho riêng mình thì bốn tấm vé của tôi chẳng khác gì một phép mầu. Phép mầu của chính tôi. Thế đâu đã hết. Bốn mẹ con tôi còn có được một cabin cho riêng mình nữa. Cabin hai giường, thì đã đành, nhưng ba đứa connhỏ của tôi nào có cần gì hơn. Ngoài kia người ta chỉ còn thiếu nước nằm chồng lên nhau ba lớp trên sàn, nhiều đứa nhỏ trạc tuổi con tôi bị vùi dưới đống ngườiđó mất tăm mất tích trong khi cha mẹ chúng phát điên hoặc trong khi lúi húi tìm chúng thì cũng bị người ta giẫmđạp mà mất mạng. Mẹ con tôi thì ngồi trên giường ôm nhau, không khí đủ cho mình thở, khoảng trống đủ cho mình duỗi thẳng chân khi mỏi và nhúc nhích mười đầu ngón khi mình thấy ngứa ngáy muốn ngọ nguậy tí ti hay để làm trò vui đặng giết thì giờ, ai chứ mẹ con tôi thì Đất Hứa hay Thiên Đàng đã có ngay đây rồi, cầngì phải đợi sau mấy tháng hành trình dài dặc nữa.

Nỗi lo duy nhất của tôi là những kẻ luôn luôn chăm chăm muốn đột nhập vào cabin của mẹ con tôi. Đành rằng cabin của mẹ con tôi nằm ở khu vực được bảo vệ nghiêm ngặt, cách ly hẳn khỏi các tầng dưới của những đám đông dở điên dở khùng ấy, nhưng ai mà nói chắc được điều gì… Làm sao có thể hoàn toàn tin cậy vào kẻ khác được chứ? Ai dám bảo đảm chắc chắn với tôi rằng chính những kẻ chịu trách nhiệm bảo đảm an ninh cho mẹ con tôi, chính họ, sẽ không một đêm nào đó bất thần xông vào cabin của mẹ con tôi để đòi, ồ không, việc gì phải đòi, để chiếm lấy cái họ muốn chiếm, mà mẹ con tôi thì chắc chắn có nhiều thứ họ muốn chiếm lắm. Cho nên gọi nó là thiên đàng hay địa đàng gì đó để cho vui thôi, chỉ thỉnh thoảng tôi mới cảm thấy nó đúng như thế, trong một ngày tôi chỉ có thể thực sự tin là mình có thiên đàng của riêng mình trong vòng vài tiếng đồng hồ hay có khi chỉ vài phút, thế cũng đã hơi nhiều, thời gian còn lại thì tôi còn mải điên đầu nghĩ ra những cách khả thi đặng bảo vệ cho cái cõi thiên đàng nhỏ bé yếu ớt tội nghiệp của tôi,nghĩ và căng mình ra để làm những việc mình có thể làm, bất cứ việc gì mình có thể làm, những lúc ấy thì tôi là tên lính canh đứng trước cửa thiên đàng chớ bản thân nào có được hưởng thiên đàng. Trên thực tế có những lúc tôi cảm thấy cái cabin của mẹ con tôi chả khác gì một cái cũi chó, một cái hộp, hộp đựng giày chẳng hạn. Tôi không thích thế chút nào, trời ạ, không. Nhưng không làm sao cảm thấy khác được. Điều tệ hại nhất là nhiều khi thậm chí đang ở bên lũ con mà tôi vẫn cứ cảm thấy như thế. Điều tệ hại nhất là có những lúc tôi lại cảm thấy phấn chấn hơn, thấy mình đang thực sự sống hơn khi ở xa ba đứa con tôi, khi tôi ở ngoài cái ổ thiên đường yêu dấu và đáng thương của mẹ con tôi. Làm sao tôi lại có thể vui hơn hớn đến thế mỗi khi rời khỏi con tôi để tới phòng của sĩ quan chỉ huy đội an ninh,làm sao tôi lại có thể cứ ngong ngóng đợi những lúc ấy, giống như hồi nhỏ ngong ngóng chờ từng dịp được bố dẫn đi chơi hội? Hắn thì là cái thá gì đối với tôi chớ? Hắn là cái thứ gì khác ngoài một con heo kinh tởm khốn nạn lợi dụng tình cảnh mẹ con tôi đặng thỏa mãn cái thói heo của hắn? Mà cái thói heo của hắn thì dường như vạn con đàn bà như tôi cũng không làm thỏa mãn được,trời ạ. Vâng, vạn con đàn bà như tôi.Trời xui đất khiến làm sao để cho rốt cuộc tôi phải gặp đúng một gã đàn ông nhưthế, một thằng đực như thế đúng trong tình cảnh này! Thêm một lý do để tôi căm thù chúa trời, bất kỳ thứ chúa trời nào, một thằng đực già khốn nạn thừa độc ác và bệnh hoạn để bày ra cái trò đó. Chao ôi, làm cách nào đây để cho tôi thôi đừng ngong ngóng muốn rời khỏi con tôi để tới cái chuồng heo bẩn tưởi đó nữa, làm sao đây để cho tôi thoát ra được khỏi cái cơn thèm muốn không ngừng nó cứ bám lấy tôi dai như đỉa đói, như một chứng bệnh truyền nhiễm, một cơn hôn ám, một cơn điên?!! Tôi nào có cần phải đến chỗ hắn nhiều đến như vậy thì hắn mới chịu để tâm tới chuyện bảo đảm an toàn cho mẹ con tôi. Có cần phải vậy đâu chứ. Tôi biết rõ như vậy mà! Nếu muốn tôi chỉ cần cho hắn một phần tư hay một phần ba như thế thôi là cũng đủ cho hắn phải làm tất tần tật những gì tôi thủ thỉ vào tai hắn rồi (cái tai to đùng cáu ghét đen đúa lông lá của hắn, đúng là tai heo, không phóng đại một chút nào, trời ạ). Hắn thèm tôi quá, khổ thân hắn. Cho nên hắn mới cho người tâm phúc của hắn thường trực canh gác ngay trước cửa cabin của mẹ con tôi. Cho nên dù tôi không ở trong cabin thì ít nhất lũ con tôi cũng có thể ngủ yên, không phải cứ mỗi phút một sực tỉnh vì một âm thanh nào đó dù nhỏ nhất có trời biết ở đâu ra, mà ở trên con tàu như thế này thì thiếu gì những âm thanh như thế, nhiều lắm. Thành ra trên thực tế suốt mấy đêm đầu trong cái cabin này mẹ con tôi gần như hoàn toàn không ngủ được tí nào, có chăng chỉ là những mẩu vụn manh mún nặng như chì của giấc ngủ mà thôi. Bất cứ cái gì cũng khiến mình giật thót được,con mình thở ra một cái thật to giữa lúc mình không nhìn nó cũng khiến mình giật mình, đã một chặp lâu rồi không giật mình thì khi mình nhận ra điều đó là cũng lại giật mình. Chỉ tội cho con tôi, từ khi mẹ đẻ tới giờ chưa khi nào phải chịu cái cảnh này. Trước khi lên cái tàu này chúng chưa biết địa ngục là thế nào, giờ thì chúng đã biết. Tội nghiệp con tôi! Dù sao thì cũng may, khi chúng nó phải nếm mùi địa ngục thì bên cạnh chúng nó còn mẹ nó. Thôi được, miễn là có mẹ bên cạnh, chúng nó sớm biết được thế nào là địa ngục âu cũng tốt. Cũng tốt, cũng tốt… Âu cũng là điều tốt nếu như chúng ngay từ tuổi nhỏ thế này đã biết được sự thực sâu xa nhất về thế giới, rằng thế giới này về thực chất là địa ngục và tất cả những gì người lớn xưa nayvẫn làm là che giấu không cho bọn trẻ biết điều đó được lâu chừng nào hay chừng nấy nhưng đáng lẽ họ phải làm ngượclại mới phải. Chuyện đó là cần thiết, mà cũng không thể tránh, đối với hai đứa con gái nhỏ của tôi, hai bông hồng mới nhú đáng thương của tôi. Thật ra tôicũng chỉ nghĩ được như vậy khi những phút cùng nguy cực biến đã qua, còn ngay trong những phút ấy thì tôi nào cónghĩ được gì, lúc thì tôi chỉ biết ôm chặt chúng mà khóc ròng chỉ còn thiếu nước chính tôi cũng gào lên cầu cứu mẹ tôi, lúc thì tôi dữ như cọp cái bị thương (giờ thì tôi biết như cọp cáibị thương là như thế nào rồi). Cũng tốt khi hai đứa con gái tôi mới tí tuổi đầu mà đã có dịp biết mẹ nó có thể trở nên nguy hiểm đến nhường nào khi cần bảo vệ con mình. Chúng sẽ nhớ lại những giây phút này khi đến lượt chúng cần bảo vệcon chúng (dĩ nhiên là tôi không muốn, trăm lần không, ngàn lần không, không muốn những lúc như thế sẽ lại xảy ra trong đời con tôi hay đời bất cứ ai). Vớithằng con trai tôi thì khác. Thì nó là con trai mà. Dĩ nhiên tôi biết khôngphải con trai nào cũng thế, nhưng mà con trai thứ thiệt thì hành động như nó.Nó cũng khóc bù lu bù loa, cũng gào gọi mẹ, cũng biết sợ, nó mới có năm tuổi, thế nhưng mà miệng khóc, mũi dãi lòng thòng, một tay quệt mắt, tay kia nó thủ con dao rọc giấy để bất cứ kẻ nào lọt vào được qua cửa kia là nó đâm, để tự bảo vệ nó và bảo vệ chị em gái nó thì đã hẳn nhưng trước hết và trong sâu xa là để bảo vệ tôi. Là vì tôi, mẹ nó, lý ra là kẻ bảo vệ nó, tôi cũng đang khóc. Tôi lúc ấy cũng cầm dao, cầm dao nhưng mà khóc, khóc nhưng tay cầm dao, như nó (một tay tôi cầm dao, tay kia tôi ôm đứa con gái út), tôi cầm dao song biết rằng vạn nhất nếu cửa kia rốt cuộc không chịu nổi những cú dộng kinh khủng từ bên ngoài mà bật tung ra thì chắc chắn dao trong tay thằng nhóc con tôi sẽ đâm tới trước tiên. Cho dù có thể chả trúng ai, chả làm cho thằng đốn mạt nào phải đổ máu thì cú đâm đầu tiên vẫn phải được kể tới và đó là cú đâm của nó. Ngay lúc ấy tôi cảm thấy vừa thương nó đến đứt ruột cũng như thương hai đứa con gái tôi, nó là con tôi cơ mà, con tôi, con tôi! đồng thời cũng thấy cảm động vô cùng, cảm động và biết ơn nó, thậm chí là khâm phục và ngưỡng mộ nó… trong những giây phút ấy nó đúng là người đàn ông của tôi. Nhưng rồi sau đó, khi phút ấy đã qua đi, ngồi nhớ lại thì… mặc dù vẫn thấy thương, cảm động, biết ơn nó, và ngưỡng mộ nó y như thế, mặc dù những cảm xúc ấy vẫn nguyên vẹn không suy suyển, song tôi lại còn cảm thấy cái gì đó giống như là ghét nó, ghét cái bản tính đàn ông… Cái bản tính đàn ông lồ lộ ở nó, quá rõ ràng, quá mạnh thế kia, trong khi nó là gì, một đứa trẻ, một thằng nhóc con như thế, cái thằng nhóc là con tôi…Tôi thấy vừa ghét vừa sợ nó... nhưng đó là, xin làm ơn hiểu cho tôi, đừng lầm ở chỗ này: tôi ghét và sợ đây là ghét và sợ cái đứa nhóc miệng khóc còn tay cầm dao rất chắc, không run, sẵn sàng đâm, nó mới là cái đứa có khả năng gây nên ởtôi cái cảm giác đó, chứ không phải cái thằng nhỏ cuộn tròn như con cún con mà ngủ trong lòng tôi. Cái đứa nhỏlàm tôi vừa ghét vừa sợ, nó chỉ tồn tại trong một giây lát ngắn và giây lát đó đã qua rồi, tất cả những gì tôi làm là để sao cho cái đứa nhỏ đó đừng bao giờ xuất hiện thêm lần nữa, ít nhất là đừng xuất hiện trước mắt tôi, bên cạnh tôi, ít nhất là sao cho nó đừng mang hình dáng con tôi. Nó có thể mang hình dáng bất cứ kẻ nào, bất cứ cái gì nhưng nó đừng bao giờ mang hình dáng con tôi.

Mà cái lũ đàn ông mới thật khốn nạn. Thằng nào mà chẳng khốn nạn, đời nào mà chúng chẳng khốn nạn, nhưng không bao giờ chúng khốn nạn cho bằng khi quyền lực nằm trong tay chúng, khi số phận của tất cả, của mọi thứ nằm trong tay chúng. Thằng trưởng ban an ninh, tôi phải có gì cho hắn thì hắn mới cho mẹ con tôi đúng sự an toàn mà mẹ con tôi cần. Thằng kỹ sư phụ trách cung cấp không khí sạch, Mr. Air như mọi người gọi, tôi phải cho thứ hắn đòi thì hắn mới ưu tiên phần khí sạch đầy đủ, thường xuyên cho cabin của mẹ con tôi. Thằng cha chuyên trông coi đồ ăn thức uống nhìn hau háu vào ngực tôi bất cứ khi nào gặp tôi, không hề giấu giếm là hắn cũng thèm cái thứ đó và nói huỵch toẹt với tôi hắn biết chắc rằng khi mọi thứ trở nên khan hiếm, bánh mì đâm ra đắt hơn vàng thì chừng đó tôi sẽ đến phòng hắn như đang đến phòng những kẻ khác để bảo đảm cho con tôi không đêm nào phải ngủ thật sớm để quên rằng mình chưa ăn tối và khốn nạn nhất là bản thân tôi cũng biết như thế. Thằng cha phụ trách vệ sinh trên tàu, Mr. Clean như mọi người gọi, cái thằng già lùn tịt nhìn dáng y như cóc và tởm y như cóc, nó cũng nhìn hau háu vào ngực tôi và vào cả cặp giò tôi bất cứ khi nào nó viện cớ này cớ kiacớ nọ để vào cabin của mẹ con tôi và theo thông tin tôi nắm được thì chắc rồi tôi cũng phải sớm tính tới cả con cóc đó nữa bởi vì ở các tầng dưới đã có nơi hệ thống tự tiêu chất thải đã hỏng hoàn toàn do quá tải và người ta phải “nằm ngủ giữa cứt”, là họ nói thế và tôi biết chả có lý do gì để cho là họ phóng đại. Rồi lại còn gã béo ị nắm phần cung cấp nước sạch nữa chớ. Rồi lại có thằng oắt để ria con kiến vắt mũi chưa sạch có trời biết ăn phải cái thứ gìmà leo lên được cái chức bác sĩ trưởng chăm lo phần xác cho cả vạn con người. Thôi thì sao cũng được miễn là tôi cho được con tôi tất cả những gì trong khả năng của tôi. Chỉ có điều không hiểu tại làm sao mà tất tật những kẻ nào có trong tay chút quyền, dù chỉ một tí ti quyền trên cái tàu này cũng đều là những con đực cả vậy? Đực cả một lũ, thật khốn nạn. Đàn bà chết rấp đâu cả rồi? Cứ như tôi đang lạc trong một cái thời cách đây hàng mấy trăm năm.Nhưng mà dĩ nhiên so với cái thảm cảnh mà mấy mẹ con tôi cùng với cả loài người đang lâm vào lúc này thì chuyện đó chẳng là gì, xét cho cùng thì suốt mấy ngàn năm qua loài người nào có tiến được một bước nào, ít nhất thì tôi cũng có thể tự lý luận với mình như vậy, để bớt tởm và bớt cay cho cái số phận mình. Rốt cuộc thì điều duy nhất mà tôi thực sự lo là phải làm sao, phải tính toán thời gian chi li và chu đáo thế nào để cho dù tôi vắng mặt ngày càng nhiều hơn thì chuyện đó cũng không ảnh hưởng đến tâm lý vốn đã bấn loạn sẵn rồi của lũ con tôi, nếu có ảnh hưởng thì ít nhất cũng đừng ảnh hưởng quá nhiều. Nói gì thì nói, rốt lại thì ngoài con tôi ra tôi còn có gì để mất nữa, còn có gì đáng cho tôi giữ nữa? Ai đó biết rằng còn có thứ khác đáng cho tôi giữ hơn thì làm ơn nói cho tôi nghe. Ai đó làm ơn nói cho tôi biết tôi có thể có cách khác hay hơn đi. Nhưng trước khi ai đó nói thì làm ơn nghe tôi nói điều này. Tôi biết cái gì thì tôi cần phải trả và khi nào trả, bao nhiêu là đủ, không thừa không thiếu, sòng phẳng. Bất cứ khi nào tôi thấy thứ gì đó là thứ tôi không cần phải trả hoặc chưa đến lúc tích lũy đủ để tôi phải trả thì cả lũ chúng nó đừng hòng động tới được cái lông chân tôi.Trong chuyện đó, gì chứ trong chuyện đó thì làm ơn đừng dạy tôi. Tôi chỉ xin mọi người nhớ rõ như thế. Tôi vẫn còn biết kinh tởm là như thế nào chứ… Tôi không phải loài lợn, ơn trời (chậc, đấy, lại cái thói quen khốn khiếp bị nhiễm từ bé mãi không sao gột tiệt được, hễ có chuyện gì là lại kể ơn cái lão già chẳng những vô dụng mà còn vô đạo ấy, xin hãy bỏ hai chữ vừa rồi ra, coi như tôi chưa hề nói được không), chúng nó là lợn còn tôi không phải lợn.

Điều thực sự làm tôi đau là các con tôi hình như hiểu biết nhiều hơn tôi tưởng. Đó mới là cái làm tôi đau. Chúng nó, ít nhất là một, hai đứa lớn hơn, chúng nó hình như biết là lũ đàn ông, không, lũ lợn kia đòi cái gì ở mẹ chúng. Chúng không biết một cách cụ thể, rành rõ đó là cái gì, lớn hơn tí nữa thì đương nhiên chúng sẽ biết đấy, nhưng mà chúng cảm được, mà đã cảm được như thế thì không bao giờ có thể gạt ra khỏi tim óc được và nhất là không bao giờ có thể sai được, trời ạ. Chúng nó biết. Con bé lớn, nó cho tôi biết rằng nó biết bằng cách cứ đăm đăm nhìn tôi, còn thằng nhóc ở giữa thì có những lúc tôi có cảm giác cứ như nó sắp phá lên cười hay là nháy mắt một cách rất ư ranh ma thậm chí là đểu với tôi vậy. Cũng may con bé út thì còn nhỏ quá nên không biết gì, chắc là không biết gì. Nó chưa đủ lớn để biết. Nó chưa đủ lớn để biết giống người của nó là nguy hiểm và đồi bại đến đâu. Chao ôi, con bé bỏng của tôi! Nhiều lúc tôi lạnh cả sống lưng khi nghĩ tới chuyện cái thế giới nào đang chờ đợi nó…

(còn tiếp) 

Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2013

Faínâhind: một trong những người nói tiếng Siră Kăntânări.


Chú thích cách phát âm tên Faínâhind:
fa: "a" phát âm như "a" trong tiếng Việt.
í: như "i" trong tiếng Việt. Trọng âm rơi vào âm tiết này. Chú ý: "fa" và "i" là hai âm tiết riêng biệt.
nâ: "â" phát âm tương tự "i" trong "bird" của tiếng Anh.
hind: phát âm gần như "hind" trong "hindsight" của tiếng Anh.



Faínâhind-sti, zägâr-ü, kuŏmen kéinsti uthîrmóisy, koin san’êdérăhîdêtî, iskutégănd. Dārhim, koin san’anêljímănêtî, kuŏmen kéinsti dŏynsîdríjānéun-i-dŏyndrúnăyinnyákhon êsgúdăzgü, dîm beychárîm.

Faínâhind tìm người nào có thể uống rượu cùng nàng, người mà nàng có thể ngưỡng mộ. Đó sẽ là người nàng có thể yêu và chia sẻ những cảm xúc sâu xa nhất, những đam mê thầm kín nhất của nàng.

Nếu một người như vậy xuất hiện, nàng sẽ muốn hắn. Nàng sẽ muốn hắn đánh nàng thật đau. Nàng sẽ bắt hắn đóng những chữ cái đầu tên hắn bằng sắt nung đỏ lên ngực nàng. Nàng cất trong phòng những súc lụa quý mà nàng sẽ lần lượt xé trong khi làm tình với hắn; nó khiến nàng thêm hưng phấn, cái tiếng xé lụa ấy. Nàng có thói quen chỉ nói về mình ở ngôi thứ ba - không phải “Tôi đi” mà “Faínâhind đi”, không phải “Tôi muốn” mà “Faínâhind muốn”. Thân thể nàng (được cho là) vừa lạnh vừa nóng - có người sau khi nắm được bàn tay nàng đã mô tả nó “mát lạnh như một miếng thạch đông”, trong khi nhiều người khác kể cho bạn bè hay thuật lại trong du ký của mình rằng mỗi khi Faínâhind xuất hiện, họ cảm thấy “một hơi ấm rực lên trong huyết quản, như sau khi ta nốc nửa vò rượu mạnh”. Faínâhind cao hơn hầu hết đàn ông - người ta nói nàng chỉ thấp hơn nửa cái đầu so với người cao nhất của đội cấm vệ hoàng gia. Nàng nuôi một con chó nòi Tadhŏgin thuần chủng cũng to lớn như nàng, con vật không rời nàng nửa bước và là vệ sĩ vô tiền khoáng hậu của nàng. Bốn ngày trong một tuần nàng chỉ ăn rau quả, và một câu nàng thường nói là “Người đàn ông ta có thể yêu là người sẽ xuất hiện sau khi ta chết”. Một câu nói khác được cho là của Faínâhind: “Kẻ thù lớn nhất nằm trong nếp áo của ta”. Động tác của Faínâhind thường chậm rãi, uể oải, như thể nàng luôn tính toán sao cho ít tốn năng lượng nhất, hoặc, như có người mô tả, “dường như không có gì trên đời này xứng đáng để nàng phí sức”, nhưng cũng có thể đột nhiên chớp nhoáng như con báo vồ mồi. Cặp vú nàng, cũng lừng danh như bản thân tầm vóc (và mọi cái) của nàng, là chủ đề của vô số lời đồn đại và truyền tụng. Một du ký Üganlar thời kỳ sau viết: “trước một cặp vú như vậy lão già hom hem nhất cũng hóa thành trai tân”, và phơi trần cặp vú đó “là cách chắc chắn nhất để dương vật kẻ hấp hối có thể ngỏng dậy lần cuối trước khi chết”. Một du ký khác, lần này của một người từng là sứ giả nước Ko-Yo tại Zänsürdén, viết rằng “hai bầu sữa của Faínâhind đủ làm nguôi cơn khát của bốn zăchfâhel” - zăchfâhel là đơn vị chuẩn nhỏ nhất của quân đội chính quy Siră Kăntânări, gồm có 20 người. Tính cường điệu của con số này là hiển nhiên, song có lẽ không quá xa sự thật, xét theo con số lớn bất thường những người đàn ông tuyên bố mình từng được diễm phúc mút từ bầu sữa của Faínâhind. Tóc Faínâhind dài gần đến thắt lưng, hồng như than trong lò đang rực cháy, dày và nặng đến nỗi những khi nàng nghiêng đầu xõa tóc, dường như bản thân sức nặng của mái tóc là đủ để kéo đầu và phần trên cơ thể nàng xuống và nàng không cần phải vận dụng bất cứ một cơ nào để giữ mình ở động tác đó. Một số nhà thơ Bongora Mande-Bandora từng viết về dư ảnh màu hồng của mái tóc nàng, màu tím ngát của đôi tay nàng và màu quả đào của cặp má nàng, “vẫn còn vương lại mãi sau khi nàng đi khỏi, chập chờn và làm lay động nơi nào đó sâu kín như trong một giấc mơ”.

Ở ngoại ô kinh thành Zänsürdén, trong một khu vườn cam ngát hương vào mùa xuân là tòa tửu lâu lừng danh của Faínâhind nơi nàng đón tiếp những người đàn ông được coi là xuất sắc nhất bằng những cách khác nhau - quân nhân, nhà thơ, chính khách, triết gia, kiếm sĩ, thương gia… - đến từ bất cứ đâu trên thế giới, khoản đãi họ những loại rượu ngon nhất nàng tìm được, đàm đạo cùng họ, thử tài nghệ của họ, ái ân với họ nếu nàng muốn, và, qua đó, tìm người đàn ông của nàng. Tất cả du ký của tất cả những ai từng đến hoặc tự xưng là đã đến đế quốc Siră Kăntânări đều dành một phần không nhỏ để nói đến Tửu lâu của Faínâhind, một thứ “Chiêu Anh Quán” theo cách gọi của người Trung Hoa hay Dwe-Sung-Sóh với nghĩa gần như vậy trong tiếng Ko-Yo. Trong ngôn ngữ bình dân Siră Kăntânări, Tửu lâu của Faínâhind được gọi là Faínâhinder-jyba, có thể dịch là “Giếng của Faínâhind” song cũng có thể diễn giải thành “Hĩm của Faínâhind” - một trò chơi chữ dựa trên sự gần như đồng âm - và sự gần gũi về liên tưởng - giữa hai từ jiba jybă. “Faínâhind-jibayim usúlgymy” hay “chết trong hĩm của Faínâhind” là một thành ngữ thông dụng trong đám tao nhân mặc khách cũng như giang hồ tứ chiếng của đế quốc Siră Kantânări, trong đó là cả một nỗi cay đắng lẫn niềm hạnh phúc và kiêu hãnh cùng tột. Sự thực là không một cái chết nào thực sự diễn ra trên lãnh địa Tửu lâu của Faínâhind, song điều đó không làm giảm sức quyến rũ sâu thẳm và đáng sợ của mấy chữ này. Có một thứ hào quang đặc biệt tỏa ra từ những người đàn ông từng một lần “chết trong hĩm của Faínâhind”, một thứ ấn chứng cho phẩm chất của thể xác và tinh thần y. Faínâhind-jibayim’usúldy, “kẻ từng chết trong giếng/hĩm của Faínâhind” là người đàn ông trong mơ của các cô gái và phụ nữ Siră Kăntânări; người ta đổi giọng khi phát âm từ này, và một công việc không hề kém quan trọng của các bà mối cũng như các quan tòa, trưởng lão và thầy phù thủy Siră Kăntânări là kiểm chứng xem liệu gã đàn ông nào đó có thật là “đã chết trong giếng/hĩm của Faínâhind” hay không. Mặt khác, có những người đàn ông không muốn hạ mình tìm sự ấn chứng cho phẩm chất của họ thông qua cái hĩm của Faínâhind; họ hợp thành một thứ hội riêng - bằng phát ngôn và hoạt động của mình, hội này nhằm đến việc giải trừ một (và mọi) huyền thoại về Faínâhind, buộc người ta phải xét lại niềm tin của mình vào cái có thể gọi là quyền năng của giếng/hĩm Faínâhind trong việc định đoạt các giá trị. Nhiều cuộc tranh luận và thậm chí ẩu đả khốc liệt xảy ra xung quanh tổ chức này, có những mưu đồ chống lại nó, những vận động hòng kiềm chế ảnh hưởng của nó, và những âm mưu nhằm loại bỏ nguyên nhân đầu tiên và tối hậu của các xung đột đó là chính Faínâhind và Tửu lâu của nàng.

Thống kê chưa đầy đủ của một cá nhân Siră Kăntânări cho biết, có không dưới ba ngàn người đàn ông thuộc loại “chọc trời khuấy nước” sẵn sàng đổ máu để bảo vệ thanh danh và tính mạng của Faínâhind, tuy nhiên một việc còn khó hơn nhiều - mà đại đa số bọn họ không thể kham nổi - là tự kiểm soát mình để không làm hại - thậm chí giết - nhau để giành quyền bảo vệ Faínâhind. Các cơ quan hữu trách của chính quyền Siră Kăntânări không phải không nhận ra mầm mống bất ổn xã hội ở người đàn bà này, nhưng vì nhiều lý do, trong đó có mối quan hệ cá nhân khắng khít giữa Faínâhind với một số nhân vật thuộc hàng quyền thế nhất mà chưa bao giờ có một động thái dứt khoát và có thực chất nào từ phía nhà cầm quyền nhằm khống chế nguồn lực tự nhiên bất kham đó. Mềm mỏng và khôn ngoan, Faínâhind sẵn sàng trình diễn những điệu múa lừng danh của nàng trước công chúng trong những dịp lễ trọng của quốc gia cũng như trước những yếu nhân ngoại quốc theo lời mời của chính quyền. Đi trên dây, bước chân không trên than hồng dường như là những việc quá tầm thường và tẻ nhạt đối với Faínâhind. Nàng làm đàn ông phát điên, vờn họ, ve vuốt họ, thoắt chuồi khỏi họ trong đường tơ kẽ tóc, đón họ vào lòng, để rồi cho thấy còn bao xa nữa họ mới thực sự đến được nàng. Một lần bị hãm hiếp - bởi một bọn đàn ông tủi hổ và phẫn chí - dường như không làm nguôi chút nào ở Faínâhind niềm đam mê cái giống đực nguy hiểm và đáng thèm khát ấy, nỗi háo hức đòi sự hợp nhất tối hậu dữ dội ấy.