Thứ Năm, 10 tháng 11, 2016

Jo-Fly (trích tiểu thuyết)

(Trích đoạn từ cuốn tiểu thuyết - tạm lấy tên là “Vũ trụ loài người” - mà tôi viết trong những năm đại học và bị bỏ dở. Một tiểu thuyết khoa học giả tưởng thuần túy.
Có nên viết tiếp chăng?)

- Thưa tôn sư, Isvara ở đâu?
- Đây không phải lần đầu ta nói:
Isvara, đó là lòng ta.
- Thưa tôn sư, Cõi Tuyệt Thoát ở đâu?
- (lặng thinh).
(tâm thoại) Nếu ta không tôn trọng người, ta đã đứng dậy, nhún vai và cắn một hạt dẻ; ta trả lời như vậy đó.”


Jo-Fly là một quả cầu không thể xác định kích thước. Cắt ngang dọc nó là 10n mặt phẳng với n>2 và 100n mặt cong dương hoặc âm (hoặc siêu tuyến tính) với n>2. 1000n (n>2) mặt phẳng và cong cắt ngang dọc các mặt phẳng và cong đó, và 100.000n (n>2) cát tuyến nối liền các mặt phẳng và cong đó. Trên mỗi mặt trong từng ấy mặt phẳng là một hệ hình Euclide trên đó triển khai một trong 100n (với n ~ ∞) phương diện của Hình học Đứt gãy. Số phương diện còn lại phân bố trên các mặt cong. Cả cái phức hệ này vận hành theo các hệ hấp dẫn đa nguyên.
Ai chẳng biết rằng muốn đến Jo-Fly chỉ có cách độc nhất là không biết đường đến Jo-Fly. Trung cũng thế: đã bao lần chàng đến Jo-Fly, nhưng chàng biết đường đến Jo-Fly thì cũng như César biết đường đến mũi Horn. Lần nào cũng vậy, dẫn chàng đi có một tân tòng: cậu trai cao nhồng mảnh khảnh lông măng lơ thơ vàng hoe, tận tụy và u sầu, hay người thiếu nữ nhỏ nhắn, mắt đen như đêm không trăng, mặt hết sức thanh tú, dịu dàng và e thẹn. Chàng không chuyện trò với họ; họ cũng thế. Một đôi lời theo nghi thức, thế rồi bắt đầu cái tịch mịch, bí ẩn mà chàng không thể nào quen, khởi đi từ (một trong) hai cái đầu nhìn từ phía sau trọc tếu trắng nõn câm lặng - chính từ đây ra đời cái biệt hiệu trứ danh của những con người này: The Eggers, “Bọn Trứng” -, đến những hành lang trơ trụi không (bao giờ có) tên nơi những vị khách thường xuyên duy nhất là vầng trăng và màn đêm mượt như nhung mà chàng thấy thấp thoáng từng mảng sau những khung cửa kỷ hà học màu ngà voi chẳng biết bao giờ mới đi tới nhưng lại choán cả tầm mắt chàng; vẽ lên trên (những mảng trời) đó là đường viền những thảo mộc kỳ ảo lấp lánh như san hô. Dọc theo các thảo mộc này, từng quãng một hay liên tục bùng lên những ánh ngời chói trắng rực, những tia chớp da cam hay vàng bưởi, những loáng mờ đỏ quạch phóng ra thành lưỡi kiếm tận cùng đâu đó trong lòng ta. Trung nhìn và hiểu những cái đó thảy đều lừa mị. Chàng hiểu, chỉ khi nào chàng thấy đường chàng đi tuyền hai bức tường trắng nhưng trong lòng chàng là cánh rừng hoa xuân nở rộ ngát hương và trên đầu là mặt trời in bóng chim câu, chỉ khi đó chàng mới đang trên đường đến Jo-Fly, Cõi Tuyệt Thoát Hằng Sản. Con đường đó dài một năm ánh sáng, mà cũng có thể là 13±7 parsec và 1/10 parsec. Rồi, ngay bên cạnh chàng và hút tầm mắt chàng, chàng thấy 17 tinh vân hình quả trám, hình thủy tức và sao chổi, kéo tua quay vòng tròn, chậm và nhanh, sáng và không sáng, sống động và chết. Rồi chàng thấy trên đầu, trải xa vô tận là Mạng Nhện kinh khủng, đầy ma thuật và uyên nguyên vô cùng lấp lánh màu hồng. Rồi tất cả biến mất; chàng thấy mình trên sa mạc khởi nguyên chói lọi cát vàng; rồi cát biến thành tám bức tường pha lê dài như nhau và dài như những dải mưa; đó là một sảnh đường bát giác, trên trần qua vòm trong suốt là trời sao, ngoài ra không còn gì hết. Rồi tám bức tường lại tẽ ra hai, bốn quây thành khối lập phương, ba quyện thành hình nón, một thì bay hướng thượng và mất tăm nơi vô cực u minh. Chàng đi vào khối lập phương, pha lê khép lại sau chàng: chàng cảm thấy - vừa cảm thấy vừa trông thấy, vừa trông thấy vừa cảm thấy - rằng lập phương dưới chân chàng và trong mắt chàng chầm chậm chao nghiêng óng ánh như băng, hình nón lắc lư, đổi trục không biết mấy lần trong nháy mắt rồi chổng ngược, đỉnh cắm sâu mất hút vào Đường giới hạn vô hình thể. Và giờ đây chàng thấy mình trên bờ sông trắng ngập ánh trăng; không khí như sương khói lung linh, chính chàng như tinh thể thạch anh, còn người con gái đi trước chàng, xa hơn tầm ném quả táo, thì ngời lên lấp lánh tựa lân tinh. Chàng ngạc nhiên nhận thấy lần đầu tiên chàng để ý tới nàng kể từ khi chàng - không phải, họ - bước vào mê cung 17n với n>2 tầng không gian siêu-Euclide làm nên một trong 2000000575695 vùng ngoại vi vô giới hạn của Jo-Fly; suốt thời gian ấy chàng không để ý đến nàng hoặc không nhớ là có nàng. Giờ đây khi chàng lại thấy nàng và để ý đến nàng, đột nhiên chàng thấy, choán cả tầm mắt chàng, rộng hơn bầu trời, to hơn mặt đất là hai bầu vú tròn phụ nữ trắng phau, và, như chớp loé, chàng tỉnh mộng.
Vậy đây chính là Jo-Fly.
Một lâu đài cao màu hồng, đỏ, tím, xanh. Hành lang vút lên xa tít hồng tươi đến nỗi hình như tỏa hương thơm ngát. Chàng thấy ba người thiếu nữ lướt ngang, áo thụng trắng tinh hồ cứng cọ sột soạt vào thân thể sinh ra để bùng nổ trong cơn tuyệt hứng và ái ân. Bây giờ kẻ dẫn đường xinh đẹp lại ở sát bên chàng, cúi mình hết sức khiêm cung (như người Nhật bản), khẽ khàng nói: Jo-Fly đón nhận người; xin kính chào người! Rồi biến mất, như lặn vào hư vô.
Chàng bước lên hành lang, ngập ngừng e sợ trước cái thanh khiết. Thậm chí vạt áo trắng như tuyết của chàng dường như cũng lấm bụi lấp lánh. Chàng bình thản nhận thấy mình nhẹ tựa hư không; chàng phó mặc thân mình cho dòng sông vô tận màu hồng thăm thẳm khởi nguyên; một làn gió nổi trong ngần, mát rượi đến nỗi chừng như mỗi tế bào của chàng đều biến thành một phần tử của gió, dày, nặng hơn nước. Hai bên chàng, tít xa, xa hơn cả chân trời - ở đây làm gì có chân trời - chàng thấy mình bay - vẫn bằng bậc tam cấp kia trắng và xốp như bọt biển mà phút này như một đám mây hình kỷ hà, như rìa boong tàu, như mép vực thẳm, một phiến đường biến thành ngoại vi vũ trụ; bên dưới chàng - và bên trên chàng - cũng một tổ ong khổng lồ, mênh mông nhưng sắc trắng, trắng như tuyết. Nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều khoang, chỉ nhận thức được bằng Não phụ. Có những sinh vật màu đen, không nhiều, nhưng đủ làm bức tranh sống động. Đó là HỌ, các Eager. Chàng cách họ chừng 300 mét - bên dưới, cùng bình độ, hoặc trên. Chàng hít một hơi dài; cần chuẩn bị ít nhiều trước khi gặp họ.
Chàng tự hỏi dùng cách nào đến đó - hạ xuống hay bay lên - là hơn; nương theo Dòng Chuyển, hay bay, hay bước bằng chân? Ý nghĩ chàng nhanh hơn ánh sáng, nhưng chưa kịp nghĩ xong chàng đã thấy, trắng và sắc cạnh như gươm, một giải đường long lanh mỏng và nhẹ tênh như một mảnh thếp bạc mà đoạn khởi đầu mất hút sau lưng chàng còn đoạn cuối, vút dài thành dải băng vô tận, trở thành cấu tử ngoại vi của một lâu đài mà kiến trúc lập thể - hay vô thể - kỳ khu chỉ có thể tái hiện từ tiềm thức sâu thẳm của Joan Miro. Và cả lâu đài này - toàn bộ phức hợp kỳ khu này - cũng trắng như “tổ ong” chàng mới nghiệm qua; tuyền trắng. Giờ đây trên và dưới chàng - xa không nhận thức nổi - là màu xanh thẫm nhất mà ta còn có thể gọi là xanh; chàng hiểu mình đang ở trong lòng một không gian kín, như hạt bụi trong lòng con trai ngọc còn lâu đài kia chính là viên ngọc trắng ngần tuyệt đẹp hình dáng dị thường. Chàng bắt đầu đi trên dải lụa mà với chàng là con đường; nó vừa căng vừa chùng xuống dịu dàng như giải yếm người thục nữ bắc cầu đến một đóa hồng; hồng bạch. Nhìn thì tưởng xa nhưng lên đường lại thấy không xa; bởi con đường chàng đi đấy là con đường của Tình yêu, của lòng mong đợi nhất định được đền đáp. Đấy là con đường của Tâm hồn đã vượt qua tất cả để đạt đến chỗ ảo diệu của tri thức.
Và Ánh Sáng ngời lên; Ánh Sáng tràn trề tươi rói như ngày phục thế hoàn sinh, Ánh Sáng huyền không lai láng như trăng đổ đầy sân và vai trần thiền sư không áo; Ánh Sáng như mặt trời xuyên suốt bảy tầng địa ngục khiến những linh hồn tội lỗi đọa đày phải run lên vì thành kính và ăn năn. Trong ánh thiều quang chàng thấy mình trên một quảng trường khác chi con tàu thật lớn bằng ngà voi neo trên biển xanh biếc; đáy hụp sâu trong lòng biển, mạn tàu lại cao vút chênh vênh trên biển. Và từ cái gọi là mặt đá nhưng đúng hơn nên gọi là mặt tuyết có điều rắn và dòn như cơm dừa khô kia một cái gì là lạ bốc lên như sương khói, hay ánh tỏa xa vời của phún thạch dưới đáy đại dương; và trong sương khói này tầm nhìn trở thành thảm hại. Thấy rõ mồn một những gì tít trên đầu chàng, hầu như mờ xóa những gì cùng bình độ với chàng. Và quảng trường ấy, với những khối kỷ hà phiêu diêu siêu thực mới tương phản làm sao với những hàng trắc bá và thông mà màu xanh mát rượi cả lòng; chúng chạy dài dọc gờ cao sừng sững hình thoi, vòng qua “quả trứng” khổng lồ, vẽ quanh hình khối chữ nhật một đường viền mộng ảo hợp bằng ba elip và bốn parabol. Tất cả đều màu trắng, ngoại trừ màu xanh ngắt của cây, màu xanh biếc của vùng trời và vực biển. Đường chu vi của quảng trường-con tàu mở bung trong một thế hyperbol đầy chất nổ; thế nhưng chàng đâu có ở ngoài xa kia, ở mép bờ kia, chàng đâu có lạc trong mê hồn trận những vòng cây kia; ngay từ đầu chàng đã ờ đây, ngay dưới chân đường dốc quanh co với những bậc thang dài lênh thênh dẫn đến Thánh đường.
Chàng nghển cổ tìm đỉnh cao nhất của tòa nhà vĩ đại kia và sửng sốt nhận ra rằng phần trên nó khuất vào hào quang rực rỡ; khác nào đỉnh núi chìm trong mây.
Mỗi lần chàng đến Jo-Fly, người ta lại đưa chàng đến một cõi vô minh huyền hoặc mới; và đây lại một vòng hoa khói quàng vào cổ chàng. Chàng luôn lấy làm lạ, nhưng chàng không dao động nữa.
Có những ghế dài dọc lối vào Thánh đường màu trắng lạnh như băng. Cửa vào Thánh đường như ngọn mác vọt cao vút nhọn, ngoài trông chỉ một màu đen. Hai Eager Huynh trưởng dẫn đường, áo trắng, nhìn xa như tượng.
Trên một ghế dài chàng thấy… Consuela.
- Consuela! - chàng thốt lên, hồi hộp và xúc động. - “Consuela!” chàng lại thốt lên lần nữa, trong lòng. Chàng không sao ngờ sẽ gặp nàng; và vậy đó, vừa thoáng nhận ra chàng, nàng đã tươi cười như hoa, nàng đứng lên bước lại phía chàng, và ánh sáng từ nàng ngời chói đến nỗi thiều quang rực rỡ quanh nàng mờ tối, co lại thành ánh trăng.
- Trung! - giọng nàng vỡ ra vì niềm vui hết sức trẻ thơ; nàng chìa cả hai tay, và chàng nắm cả hai tay nàng, sung sướng, vụng về. Nàng mặc áo giản đơn màu hoa cà; có nàng, thế gian yên lòng hơn một chút.
- Consuela, em làm gì ở đây? - chàng hỏi khi đã chắc rằng giọng mình không dao động bất thường nữa.
Nàng cười e ấp, đầu nghiêng nghiêng (cái cử chỉ chàng yêu biết mấy!).
- Thế còn anh?
- Anh có việc của anh, - chàng cũng cười, hôn tay nàng.
- Dễ thường em không có việc của em?!..
- Họ mời em đến? - chàng ngoảnh nhìn cánh cửa màu đen thẫm.
- Mời ư! - nàng lắc đầu, lẳng tay ra. - Họ bảo: Nàng cứ việc đến đi; thế là em đến.
- Để làm gì?
- Anh thấy đấy, - nàng khoát tay về phía cõi hư đồ màu trắng và xanh ngồn ngộn bày ra tít tắp dưới kia. - Họ có khả năng xây dựng thiên đường; em thì em muốn có thiên đường cho bọn trẻ… Bọn trẻ chúng đâu cần biết thế nào là Eager; nhưng chúng cần Jo-Fly, chúng cần có Thiên đường…
- Em chẳng đã ban cho chúng hàng loạt thiên đường ư ?!
- Jo-Fly là ước mơ cuối cùng của em.
Chàng lắng nghe hơi thở của nàng và tự nhủ: hừ, vậy đó: lúc nào cũng cảm thấy, nếu nàng bảo ta vứt bỏ mọi thứ mà theo nàng, ta sẽ làm ngay không nghĩ ngợi… Nhưng không, ta biết nàng chẳng đời nào quỷ quyệt đến thế.
- Em không tin rằng các Eager quả thật cần ẩn mình như vậy. Anh hiểu điều đó chứ, amigo? - Nàng phát âm từ cổ xưa ấy một cách duyên dáng và hay lạ lùng: “amigo”. - Họ làm nên một Jo-Fly nhân loại chưa hề biết tới rồi lại giấu đi; vậy có công bằng không, hở amigo? Em không hề tôn sùng lý thuyết về Tự do tuyệt đối, nhưng em sẵn sàng giành lấy Jo-Fly từ tay họ. Anh biết về kỹ thuật cắt tầng (Hệ Cắt Tầng) Al-Yuk chứ? Đó chính là cái em sẽ giành từ tay họ. Họ bảo: nó sẽ là của cô một khi cô chế ngự được nó bằng trí lực của chính cô. Vậy đó: người ta sẽ đặt em trước một mê cung; em phải tự tìm đường ra không ai giúp đỡ và không gì giúp đỡ. Đấu trường mở cửa ngay bây giờ thôi; em từ biệt anh trước vậy. Giống như đấu sĩ ngày xưa: tay gươm tay mộc lên đường, họ biết mình có thể trở về hoặc sẽ chết. - Nàng cất tiếng cười ngắn, nhưng miệng nàng hơi méo; nàng cố làm tròn nụ cười. - Anh tự hỏi em có sợ không? Ồ, sợ chứ!... Sờ đây này… - nàng đặt tay lên ngực. - Mà thôi, anh lại chẳng dám nào! Lại đây; - nàng hôn má chàng, ôm chàng nồng thắm trong vòng tay thật khoẻ. - Anh dễ thương vô cùng! - một tay nâng quai hàm chàng, nàng cười trìu mến và dịu dàng. - Anh sẽ nói gì chứ? Chúc em thành công đi, nào, amigo!
- Em sẽ thành công, nhất định rồi! - chàng nói giản dị và hôn bàn tay nàng đang tiếp xúc một cách huyền diệu nơi quai hàm chàng. Chàng nghĩ: mình phải nói gì thêm, nhưng chàng thừa biết chính những lúc như vầy mình sẽ lại im lặng. Mà dù chàng có nói gì đi nữa, lời nói ra cũng phải thật dịu dàng, bởi chàng hiểu rõ những gian truân nào đang đợi nàng sau cánh cửa kia… Chàng hiểu Hệ Al-Yuk là một Hệ Có Cá Tính (Characterized System, CS); nó sẽ vờn nàng như vờn chuột trước khi hàng phục nàng. Nó là đứa trẻ ngỗ ngược khó tính; nó là con ngựa hay không muốn để ai trị. Đến lượt mình chàng lại ôm nàng, cẩn thận hôn má nàng. Trong khi khẽ nghiêng đầu để hôn nàng như vậy, chàng nhìn xuống bờ vai tròn trặn của nàng màu vỏ quế thật dịu ngọt (vai bên này để trần, vai kia ẩn hiện sau lần vải mỏng). “Ồ không, em cứ đi đi; chẳng có kẻ ma mãnh nào thắng nổi em đâu”.
Tận trong lòng chàng chợt nghe cái gì khác lạ. Tựa như một cái túi không to hơn quả trứng cút bục vỡ từ đó túa ra một dòng mật sền sệt, ướp lạnh thấm vào từng ngóc ngách của gan ruột chàng.
- Người ta gọi em đấy, - nàng gỡ khỏi chàng, cười, tháo kẹp tóc, xổ tung mái tóc rất dày. Nàng vắt vài lọn tóc qua vai, ra trước ngực. - Để thế này tiện hơn, - nàng giải thích, hơi ngượng ngùng. - Họ không ưa bất cứ kiểu đầu nào có sự hiện diện trực tiếp của ngoại thể. - Nàng nhìn nhanh về cái họng đen ngòm tạm gọi là cửa rồi quay lại chàng. - Thôi chào nhé, amigo! - nàng khẽ nắm tay chàng, hôn phớt vào môi chàng.
Rồi nàng dợm bước, nhưng đột ngột quay lại, tay vẫn chưa rời khỏi tay chàng. - Sao anh buồn thế, hở amigo? (Por que eres tu tan triste?) - Nàng vỗ nhẹ vào ngực chàng, chỗ trái tim. - Đừng quên rằng ở Wonderland người ta phạt 1000 điểm kẻ nào nhăn nhó không cười và 2000 điểm cậu nhóc nào khóc nhè đấy! - Nàng cười hơi e lệ. - Anh đừng bảo: “Tôi không buồn” nhé! Chỉ cần một nụ cười, thế… là đủ. Trời, tôi nói nhăng gì vậy? .. - nàng đặt tay lên trán. - Thì giờ thì cứ trôi.
Nàng thoắt chạy đi; váy dài tốc lên, chân tròn lẳn rùng rùng cuộn săn bắp thịt, lưng ong thắt đáy uyển chuyển như dây bìm. Dừng lại bên cánh cửa kỳ vĩ giờ sáng lóa như sao lùn trắng, gần như bị nuốt chửng vào ánh sáng, nàng quay lại nhìn chàng lần nữa, vẫy tay và mỉm cười. Rồi biến mất, và tòa tháp dị thường lại hút hết hào quang vào cuống họng sâu thẳm nhanh không tài nào nhận ra.
Chàng ngồi lại một mình.
Chàng ngồi xuống ghế, chỗ còn ấm hơi nàng. Chàng đi vào thế tịnh tâm. Và đợi.

Tranh của René Magritte.

o
o          o

- Thưa tôn sư, con của Người đã chết.
Nói xong câu đó chàng thấy dễ thở hơn. Điều quan trọng nhất với chàng là đặt vào chữ “chết” đó toàn bộ ý nghĩa bi thống của nó; bởi từ lâu lắm người ta không còn quen coi Cái Chết là điều không thể đảo ngược. Nhưng Cái Chết này lại ĐÚNG LÀ không thể đảo ngược.
- Thưa tôn sư, mong rằng tin này không làm động tâm Người, - nói thì nói vậy, nhưng chàng đếm được rành rành biên độ giao động khủng khiếp của tâm trường người đàn ông tóc bạc trông như nhà thơ kia, mặc dù bàn tay thon dài nguời đó cầm quản bút bằng san hô hồng như mây chiều tịnh không run rẩy, an nhiên như một cành đa thật lớn. Nỗi đau đớn vĩ đại của Nguời có thể làm ngòi bút kia chệch khỏi đường đã định không đầy một phần ngàn triệu milimét, bấy nhiêu là đủ để làm mốc tiên khởi cho một Megabig Bang sẽ làm đảo lộn tận gốc vận mạng của Vũ trụ con OANE Nơi Mặt Trời Vẫn Mọc, cái vũ trụ mà Người là đấng Tạo hóa, cái Vũ trụ mà phút này đang chuyển thành OANENOAEEONAEOANNE Nơi Mặt Trời Vẫn Mọc Mọc Mặt Trời Vẫn Vẫn Vẫn Mặt Trời Vẫn Mặt Mọc Trời Mặt Trời Vẫn Và Vẫn Và Mặt Trời Vẫn Mọc; đó là một chuỗi đột biến khủng khiếp mà tận cùng không chỉ là Cái Chết. Chàng hạ cái nhìn xuống tay mình, đôi tay mà chàng đặt thanh thản trên hai cổ chân bắt chéo (chàng ngồi theo thế kiết già như mọi môn đồ của Phật). Tay chàng to khỏe mà sạm nắng; chúng không trắng mịn như ngà, như tay Lajos, người con trai vắn số của Tôn sư. Bằng đôi tay này chàng đã bắn phát cung quật ngã con kurli vĩ đại nhất của Hành tinh Voi, con kurli mà Lajos vừa trỏ theo bằng cánh tay mảnh khảnh vươn thẳng tắp như mũi tên bằng búp sen vừa kêu những tràng dài khâm phục hoan hỉ: Kìa một cái đuôi con kurli dài gấp mấy lần con voi; kìa, đầu nó cứ như con tàu Apollo thời xưa chúi thẳng vào ta. Chàng không cầm được nước mắt khi nhìn thấy Lajos chết.
“Thưa tôn sư, Lajos đã chết. Nếu Người bảo con trả thù, con sẽ trả thù cho chàng. Nguời không cho con trả thù, con cũng tìm bằng được để trừng phạt kẻ giết chàng, vì y không có quyền sống yên ổn một khi đã làm điều đó. Thưa tôn sư, con không muốn người ta khóc vì nỗi oan ức của chàng.”
Khi Trung bế Lajos đã lạnh cứng trên tay, chàng nhận thấy Lajos nhẹ hơn nhiều so với Natasa. Nhìn Lajos nằm vắt ngang tay Trung, người ta tưởng thấy một người con gái kiều diễm giả trai, nàng ngủ thiếp; Trung bế nàng về khuê phòng nàng; nàng bé nhỏ nên ai nấy ngắm nàng với nụ cười âu yếm. Sự thực thì nguời ta khóc vì đó là Lajos, chàng trai hiền lành có mái tóc như vàng; chàng chết, và Trung bế chàng về nhà chàng, chuẩn bị tang lễ cho chàng...
             “Anh nằm xuống
                        cho hận thù                            
                                                vào lãng quên...
Trung không thể nào, không đời nào quên kẻ giết Lajos. Chàng biết chúng. Ở Cospol ai mà chẳng biết chúng. Giết Lajos, chúng thủ tiêu (hay bắt cóc?) cả Frem (Linh hồn) của Lajos. Bằng cách nào? Trung vẫn chưa biết. Chúng triệt đường tái sinh của Lajos. Lajos trẻ quá; miệng còn lông măng.
Có nguời con gái giữ riệt lấy thi thể Lajos mà khóc. Tiếng khóc ai oán đặc thù dành riêng cho kẻ chết tức tưởi, đột ngột. Như Lajos. Trung không nhìn ra nàng ngay. Prakti Bergson-Khal. Chị của Lajos. Cùng một người mẹ siêu phàm Veda Bergson, người chinh phục thế giới bằng trí tuệ và đạo hạnh. Prakti than khóc như nguời xưa. Buồn thay, Lajos.
“Thưa tôn sư…” Trung lại nói, nhưng chính chàng không nghe mình nói gì, chàng cứ nhớ hoài đôi mắt trợn trừng của Lajos. Giấc ngủ chàng bị đục nát tươm bởi cặp mắt ấy nhiều hơn là cảnh tay, chân, đầu, ngực Lajos ứa mỡ, kêu xèo xèo, quắt lại, cháy đen trên giàn thiêu. Liệu pháp tịnh tâm chàng vốn khinh thường mà có lúc phải dùng, không thì chẳng tìm được giấc ngủ. Mỗi gót chân thục nữ loá lên trong đêm, như con bướm bạc, như con chim bằng tuyết băng, chàng lại chạch nghĩ đến bàn chân thon trắng muốt của Lajos, bàn chân như thục nữ của chàng trai xinh xẻo dịu dàng. Chàng kể về cái chết của Lajos với sự cố kết đến cùng cực của ngôn ngữ đặc trưng cho thời đại chàng. Cùng những lời nói, hình ảnh sinh động từ ký ức chàng cũng truyền vào tâm thức Tôn sư. Người cúi gục đầu, tóc bạc loà xoà như tấm rèm bằng bờm ngựa tơ vơ. Người khóc theo cách Trung hiểu về sự khóc, nghĩa là không nước mắt. Cái Chết của Lajos.
Lajos tin mình có thể cứu hành tinh Kalinga. Lạ thay, người ta cứ muốn chiếm hữu nó. Sức mạnh là cái gì chứ? Lajos không sợ quyền uy và Sức Mạnh. Lajos tin vào Tính Định Hướng của Đạo Nguyên Khởi. Lajos tin ở sự tất yếu và khả năng bảo toàn thế quân bình giữa mọi nhị nguyên và mọi bất nhị nguyên. Chàng chống lại mưu đồ ám đoạt Kalinga vì đó là nhiễu động không cần thiết hướng về cái Ác. Và người ta giết chàng.
Người ta giết Lajos! Tay chàng nhỏ nhắn và mềm mà phụ nữ thích hôn như tràng hoa dâng nữ thần trinh tiết, tóc chàng vàng như lửa và mắt chàng lóng lánh pha lê khi phụ nữ đi qua. Người ta giết Lajos trên con tàu liên vũ trụ chàng dùng, chàng đang viết bức thư cuối gửi Sklerotto kẻ muốn cưỡng hiếp Kalinga, bức tối hậu thư. Trên bàn người ta thấy chàng vẽ cây đàn ghita và cần đàn là cuống là vật vờ theo hơi thở. Lajos chết.
Lajos là Người nhưng khi Lajos chết những giống Không-Phải-Người cũng khóc. Người ta bảo tôi thế. Tôi không tin.
Huynh trưởng Reza theo tiễn Trung. Chàng mong thấy lại Consuela. Nhói trong tim khi nhớ vai tròn màu quế mịn như hoa. Lẽ ra chàng có thể dùng trí lực đập đi cái nhói đau ấy, nhưng chàng lại thích mang nó, một vết thương nho nhỏ trong ngực.
Đọc được ý chàng, Reza nói:
- Consuela, Consuela, Consuela!
Chàng biết chữ Consuela được lặp lại ba lần nghĩa là ba tầm vóc của Consuela, ba bậc lũy thừa của Trí năng Consuela, của Con-Người đối mặt với Hệ Có Cá Tính, với Trí năng Siêu Nhân Tính. Consuela lặp lại ba lần tức Consuela-Ở-Bậc-Lũy-Thừa-Ba, Consuela ĐÃ THẤU HIỂU làm sao đưa Hệ Có Cá Tính vào chỗ Sanh và chỗ Diệt, Consuela sắp đạt được Trí-Năng-Cao-Nhất-Gần-Cái-Tuyệt-Đối-Hơn-Hết-Thảy-Mọi-Cái-Khác. Hệ Có Cá Tính đang đầu hàng Consuela và sẽ hợp nhất với Consuela. Consuela thân yêu! Nàng đã thành công. Trung khẽ mỉm cười biết nàng sẽ thấy mà sung sướng bởi nụ cười chính là tặng nàng. Chàng lên tiếng với Reza:
- Ngài có yêu Consuela?
- Ông yêu Consuela?... - Reza đáp.
- Hãy nói: nàng yêu tôi.
- Nàng yêu ông.
- Đó là Sự thật, kỳ diệu quá, phải không?
- Đi đi, đi đi.
- Chào Reza. Ngài mềm mỏng với nàng nhé.
- Ông không thể hiểu điều đó hơn tôi.
Chàng nhìn qua vai Reza ngắm lại cõi hư đồ. Trên đầu là không gian kín màu xanh ngăn ngắt, tít đằng xa là cây cầu như dải yếm (hay dải yếm làm cây cầu) vẫn còn đó đợi chàng như con ngựa trung thành, như một người bạn.

- Chào Reza - chàng nói, mặc dù biết Reza vừa hút biến đi như bong bóng xà phòng. - Hãy nhớ mãi ràng tôi yêu Consuela - chàng nói thêm và chợt cảm thấy trên lưỡi một vị chát.

(...)

Thứ Ba, 1 tháng 11, 2016

Hoa, sáng tạo, thời gian.

Đối với một số người, đóa hoa của sự sáng tạo phải mất một thời gian tương đối dài thì mới có thể bắt đầu bung nở từ bên trong họ.

Cũng như đóa hoa tình yêu. Nó không nở vào cùng độ tuổi như nhau ở tất cả mọi người. Ở một số người, nó - đóa hoa của tình yêu đích thực - nở tương đối muộn. Chỉ đến một độ tuổi tương đối muộn họ mới bắt đầu cảm thấy sự bung nở của nó từ bên trong mình: nhu cầu yêu thương trọn vẹn, năng lực yêu thương trọn vẹn. Hoặc, chỉ đến tuổi đó, năng lực yêu ở họ mới gặp được chất xúc tác duy nhất thích hợp để nó bung nở hết kích thước tiềm tàng của nó.

Tại sao phải mất nhiều thời gian như vậy?

Bất kể những cách giải thích hợp logic mà ai đó có thể đưa ra - như môi trường gia đình, hoàn cảnh giáo dục, tinh thần thời đại, v.v. -, ẩn trong điều ấy luôn luôn là một bí ẩn lớn.

Tại sao Henry Miller, Marcel Proust, Hermann Broch, Jose Saramago... phải đến cuối độ tuổi ba mươi và đầu độ tuổi bốn mươi, hay muộn hơn nhiều, thì mới có thể viết ra được những tác phẩm quan trọng đầu tiên của mình - tất cả những gì họ làm trước đó chỉ là để "dọn đường" cho điều ấy, đến cái độ mà, giả như họ chết trước tuổi bốn mươi thì đời sau hoàn toàn có thể coi như chưa từng có họ trên đời?



Thật khác biết bao với những nhà văn - dù gì thì cũng chỉ số ít - viết ra được một số trong những tác phẩm quan trọng nhất, thậm chí là kiệt tác duy nhất của đời mình ở lứa tuổi rất trẻ, dưới ba mươi. Như Mario Vargas Llosa. Như Mishima Yukio. Như Krasznahorkai Laszlo... Đóa hoa sáng tạo của họ nở rộ từ rất sớm, một cách thực sự là đáng ghen tị.

Tuy nhiên, nghĩ cho kỹ, những đóa hoa nở muộn có cái đẹp của nó.

Khi nhà văn nở muộn, thời gian của anh ta không nhiều.

Ở chừng mực nào đó, sự ít thời gian của anh ta cũng giống như sự ít thời gian của một nhà văn chết sớm vì bệnh nan y - và biết điều ấy từ lâu trước khi chết.

Vẻ đẹp của đóa hoa sớm nở sớm tàn, và của đóa hoa muộn nở chóng tàn, là vẻ đẹp mà, về thực chất, như nhau: vẻ đẹp của sự ngắn ngủi, của sự nôn nả, của sự trân quý hơn nhiều lần từng khoảnh khắc sống, từng khoảnh khắc sáng tạo. Một cuộc sáng tạo, một đời hoa - mà hương thơm có đó là để tồn tại đời đời - gắn liền với bóng của sự chết.

Thứ Hai, 24 tháng 10, 2016

Về ngôn ngữ và sức mạnh.

Không ít nhà văn trên thế giới đã chọn thôi không viết bằng tiếng mẹ đẻ (Trung, Nhật, v.v.) để viết bằng một ngôn ngữ phương Tây mạnh hơn (Anh, Pháp...), một lựa chọn hoàn toàn có ý thức, và không hối tiếc vì quyết định đó. Yoko Tawada viết song song Nhật/Đức và tìm thấy ở việc đó một vị trí/thế đứng/cảnh giới riêng cho mình. Exophony - chủ động học cách sử dụng một ngôn ngữ khác cho đến khi đạt mức điêu luyện, có thể dùng nó để viết những gì mình muốn - là một trong những thực tế sống động của văn chương thế giới. So với nó, nhà văn Việt đang ở đâu?

Tôi không tin rằng người Việt, bất cứ người Việt nào, cũng bị trói chặt trong tiếng Việt giống như mỗi con người bị trói chặt trong cuộc đời/thể xác hữu hạn. Nếu con người đủ mạnh, y có thể chọn ngôn ngữ khác. Anh không đủ mạnh để làm vậy, đó không phải lý do để anh có quyền khẳng định rằng sẽ không có ai khác mạnh hơn anh.



Đương nhiên, sẽ là quái gở và ngu xuẩn/điên rồ nếu anh kêu gọi/dụ hoặc/khích lệ/bắt buộc (trong trường hợp anh có quyền) tất cả nhà văn Việt từ bỏ tiếng Việt mà chỉ viết bằng ngoại ngữ.

Quái gở và ngu xuẩn/điên rồ chẳng kém gì nếu anh cấm (trong trường hợp anh có quyền) tất cả nhà văn Việt không được viết bằng thứ tiếng nào khác ngoài tiếng Việt.

Anh viết bằng thứ ngôn ngữ mà anh dùng tốt, bất luận đó là ngôn ngữ do cha mẹ anh truyền lại hay do anh tự thu nạp được. Đơn giản có vậy.

Thứ Ba, 18 tháng 10, 2016

Cô đơn của nhà văn.

Đương nhiên nhà văn đích thực thì phải cô đơn, song đó không đơn thuần là cô đơn của nhà văn. Đó trước hết và trong sâu xa là cô đơn của kẻ có tư duy độc lập và tinh thần tự do, của một cá nhân đủ mạnh để vừa ở trong cộng đồng vừa ở ngoài cộng đồng và khác với cộng đồng.

Sự cô đơn của những cá nhân không chấp nhận sự tha hóa.

Sự cô đơn của những người thường xuyên đặt câu hỏi về những thứ mà đám đông chấp nhận không suy nghĩ.

Tác phẩm của Igor Mitoraj (1944-2014)

Sự cô đơn của kẻ luôn luôn giữ cho mình là một cá nhân suy nghĩ, giữa đám đông những người sợ suy nghĩ và/hoặc không có khả năng suy nghĩ.

Sự cô đơn của kẻ hiểu điều đám đông không hiểu, cảm những gì đám đông không cảm, thấy những gì đám đông không thấy.

Sự cô đơn của kẻ đau những thứ mà đám đông không đau.

Sự cô đơn của những kẻ có nhiều sự sống khác nhau và sống nhiều sự sống khác nhau, giữa đám đông những người chỉ có một sự sống duy nhất để sống và thậm chí không có khả năng sống cho ra hồn một sự sống duy nhất ấy.

Sự cô đơn đó không phải chỉ của nhà văn; song, không có nó, nhà văn chỉ là giả-nhà-văn, nửa-nhà-văn, nhà văn hiểu theo nghĩa quy ước của đám đông, chớ không phải nhà văn theo nghĩa tối hậu.