(Trích đoạn từ cuốn tiểu thuyết - tạm lấy tên là “Vũ trụ loài người” - mà tôi viết trong những năm đại học và bị bỏ dở. Một tiểu thuyết khoa học giả tưởng thuần túy.
Có nên viết tiếp chăng?)
Có nên viết tiếp chăng?)
- Thưa tôn sư, Isvara ở đâu?
- Đây không phải lần đầu ta nói:
Isvara, đó là lòng ta.
- Thưa tôn sư, Cõi Tuyệt Thoát ở đâu?
- (lặng thinh).
(tâm thoại) Nếu ta không tôn trọng người, ta
đã đứng dậy, nhún vai và cắn một hạt dẻ; ta trả lời như vậy đó.”
Jo-Fly là một quả cầu không thể xác định kích
thước. Cắt ngang dọc nó là 10n mặt phẳng với n>2 và 100n mặt cong dương hoặc
âm (hoặc siêu tuyến tính) với n>2. 1000n (n>2) mặt phẳng và cong cắt
ngang dọc các mặt phẳng và cong đó, và 100.000n (n>2) cát tuyến nối liền các
mặt phẳng và cong đó. Trên mỗi mặt trong từng ấy mặt phẳng là một hệ hình
Euclide trên đó triển khai một trong 100n (với n ~ ∞) phương diện của Hình học
Đứt gãy. Số phương diện còn lại phân bố trên các mặt cong. Cả cái phức hệ này vận
hành theo các hệ hấp dẫn đa nguyên.
Ai chẳng biết rằng muốn đến Jo-Fly chỉ có
cách độc nhất là không biết đường đến Jo-Fly. Trung cũng thế: đã bao lần chàng
đến Jo-Fly, nhưng chàng biết đường đến Jo-Fly thì cũng như César biết đường đến
mũi Horn. Lần nào cũng vậy, dẫn chàng đi có một tân tòng: cậu trai cao nhồng mảnh
khảnh lông măng lơ thơ vàng hoe, tận tụy và u sầu, hay người thiếu nữ nhỏ nhắn,
mắt đen như đêm không trăng, mặt hết sức thanh tú, dịu dàng và e thẹn. Chàng
không chuyện trò với họ; họ cũng thế. Một đôi lời theo nghi thức, thế rồi bắt đầu
cái tịch mịch, bí ẩn mà chàng không thể nào quen, khởi đi từ (một trong) hai
cái đầu nhìn từ phía sau trọc tếu trắng nõn câm lặng - chính từ đây ra đời cái
biệt hiệu trứ danh của những con người này: The Eggers, “Bọn Trứng” -, đến những
hành lang trơ trụi không (bao giờ có) tên nơi những vị khách thường xuyên duy
nhất là vầng trăng và màn đêm mượt như nhung mà chàng thấy thấp thoáng từng mảng
sau những khung cửa kỷ hà học màu ngà voi chẳng biết bao giờ mới đi tới nhưng lại
choán cả tầm mắt chàng; vẽ lên trên (những mảng trời) đó là đường viền những thảo
mộc kỳ ảo lấp lánh như san hô. Dọc theo các thảo mộc này, từng quãng một hay
liên tục bùng lên những ánh ngời chói trắng rực, những tia chớp da cam hay vàng
bưởi, những loáng mờ đỏ quạch phóng ra thành lưỡi kiếm tận cùng đâu đó trong
lòng ta. Trung nhìn và hiểu những cái đó thảy đều lừa mị. Chàng hiểu, chỉ khi
nào chàng thấy đường chàng đi tuyền hai bức tường trắng nhưng trong lòng chàng
là cánh rừng hoa xuân nở rộ ngát hương và trên đầu là mặt trời in bóng chim
câu, chỉ khi đó chàng mới đang trên đường đến Jo-Fly, Cõi Tuyệt Thoát Hằng Sản.
Con đường đó dài một năm ánh sáng, mà cũng có thể là 13±7 parsec và 1/10
parsec. Rồi, ngay bên cạnh chàng và hút tầm mắt chàng, chàng thấy 17 tinh vân
hình quả trám, hình thủy tức và sao chổi, kéo tua quay vòng tròn, chậm và
nhanh, sáng và không sáng, sống động và chết. Rồi chàng thấy trên đầu, trải xa
vô tận là Mạng Nhện kinh khủng, đầy ma thuật và uyên nguyên vô cùng lấp lánh
màu hồng. Rồi tất cả biến mất; chàng thấy mình trên sa mạc khởi nguyên chói lọi
cát vàng; rồi cát biến thành tám bức tường pha lê dài như nhau và dài như những
dải mưa; đó là một sảnh đường bát giác, trên trần qua vòm trong suốt là trời
sao, ngoài ra không còn gì hết. Rồi tám bức tường lại tẽ ra hai, bốn quây thành
khối lập phương, ba quyện thành hình nón, một thì bay hướng thượng và mất tăm
nơi vô cực u minh. Chàng đi vào khối lập phương, pha lê khép lại sau chàng:
chàng cảm thấy - vừa cảm thấy vừa trông thấy, vừa trông thấy vừa cảm thấy - rằng
lập phương dưới chân chàng và trong mắt chàng chầm chậm chao nghiêng óng ánh
như băng, hình nón lắc lư, đổi trục không biết mấy lần trong nháy mắt rồi chổng
ngược, đỉnh cắm sâu mất hút vào Đường giới hạn vô hình thể. Và giờ đây chàng thấy
mình trên bờ sông trắng ngập ánh trăng; không khí như sương khói lung linh,
chính chàng như tinh thể thạch anh, còn người con gái đi trước chàng, xa hơn tầm
ném quả táo, thì ngời lên lấp lánh tựa lân tinh. Chàng ngạc nhiên nhận thấy lần
đầu tiên chàng để ý tới nàng kể từ khi chàng - không phải, họ - bước vào mê
cung 17n với n>2 tầng không gian siêu-Euclide làm nên một trong 2000000575695
vùng ngoại vi vô giới hạn của Jo-Fly; suốt thời gian ấy chàng không để ý đến
nàng hoặc không nhớ là có nàng. Giờ đây khi chàng lại thấy nàng và để ý đến
nàng, đột nhiên chàng thấy, choán cả tầm mắt chàng, rộng hơn bầu trời, to hơn mặt
đất là hai bầu vú tròn phụ nữ trắng phau, và, như chớp loé, chàng tỉnh mộng.
Vậy đây chính là Jo-Fly.
Một lâu đài cao màu hồng, đỏ, tím, xanh. Hành
lang vút lên xa tít hồng tươi đến nỗi hình như tỏa hương thơm ngát. Chàng thấy
ba người thiếu nữ lướt ngang, áo thụng trắng tinh hồ cứng cọ sột soạt vào thân
thể sinh ra để bùng nổ trong cơn tuyệt hứng và ái ân. Bây giờ kẻ dẫn đường xinh
đẹp lại ở sát bên chàng, cúi mình hết sức khiêm cung (như người Nhật bản), khẽ
khàng nói: Jo-Fly đón nhận người; xin kính chào người! Rồi biến mất, như lặn
vào hư vô.
Chàng bước lên hành lang, ngập ngừng e sợ trước
cái thanh khiết. Thậm chí vạt áo trắng như tuyết của chàng dường như cũng lấm bụi
lấp lánh. Chàng bình thản nhận thấy mình nhẹ tựa hư không; chàng phó mặc thân
mình cho dòng sông vô tận màu hồng thăm thẳm khởi nguyên; một làn gió nổi trong
ngần, mát rượi đến nỗi chừng như mỗi tế bào của chàng đều biến thành một phần tử
của gió, dày, nặng hơn nước. Hai bên chàng, tít xa, xa hơn cả chân trời - ở đây
làm gì có chân trời - chàng thấy mình bay - vẫn bằng bậc tam cấp kia trắng và xốp
như bọt biển mà phút này như một đám mây hình kỷ hà, như rìa boong tàu, như mép
vực thẳm, một phiến đường biến thành ngoại vi vũ trụ; bên dưới chàng - và bên
trên chàng - cũng một tổ ong khổng lồ, mênh mông nhưng sắc trắng, trắng như tuyết.
Nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều khoang, chỉ nhận thức được bằng Não phụ. Có những
sinh vật màu đen, không nhiều, nhưng đủ làm bức tranh sống động. Đó là HỌ, các
Eager. Chàng cách họ chừng 300 mét - bên dưới, cùng bình độ, hoặc trên. Chàng
hít một hơi dài; cần chuẩn bị ít nhiều trước khi gặp họ.
Chàng tự hỏi dùng cách nào đến đó - hạ xuống
hay bay lên - là hơn; nương theo Dòng Chuyển, hay bay, hay bước bằng chân? Ý
nghĩ chàng nhanh hơn ánh sáng, nhưng chưa kịp nghĩ xong chàng đã thấy, trắng và
sắc cạnh như gươm, một giải đường long lanh mỏng và nhẹ tênh như một mảnh thếp
bạc mà đoạn khởi đầu mất hút sau lưng chàng còn đoạn cuối, vút dài thành dải
băng vô tận, trở thành cấu tử ngoại vi của một lâu đài mà kiến trúc lập thể -
hay vô thể - kỳ khu chỉ có thể tái hiện từ tiềm thức sâu thẳm của Joan Miro. Và
cả lâu đài này - toàn bộ phức hợp kỳ khu này - cũng trắng như “tổ ong” chàng mới
nghiệm qua; tuyền trắng. Giờ đây trên và dưới chàng - xa không nhận thức nổi -
là màu xanh thẫm nhất mà ta còn có thể gọi là xanh; chàng hiểu mình đang ở
trong lòng một không gian kín, như hạt bụi trong lòng con trai ngọc còn lâu đài
kia chính là viên ngọc trắng ngần tuyệt đẹp hình dáng dị thường. Chàng bắt đầu
đi trên dải lụa mà với chàng là con đường; nó vừa căng vừa chùng xuống dịu dàng
như giải yếm người thục nữ bắc cầu đến một đóa hồng; hồng bạch. Nhìn thì tưởng
xa nhưng lên đường lại thấy không xa; bởi con đường chàng đi đấy là con đường của
Tình yêu, của lòng mong đợi nhất định được đền đáp. Đấy là con đường của Tâm hồn
đã vượt qua tất cả để đạt đến chỗ ảo diệu của tri thức.
Và Ánh Sáng ngời lên; Ánh Sáng tràn trề tươi
rói như ngày phục thế hoàn sinh, Ánh Sáng huyền không lai láng như trăng đổ đầy
sân và vai trần thiền sư không áo; Ánh Sáng như mặt trời xuyên suốt bảy tầng địa
ngục khiến những linh hồn tội lỗi đọa đày phải run lên vì thành kính và ăn năn.
Trong ánh thiều quang chàng thấy mình trên một quảng trường khác chi con tàu thật
lớn bằng ngà voi neo trên biển xanh biếc; đáy hụp sâu trong lòng biển, mạn tàu
lại cao vút chênh vênh trên biển. Và từ cái gọi là mặt đá nhưng đúng hơn nên gọi
là mặt tuyết có điều rắn và dòn như cơm dừa khô kia một cái gì là lạ bốc lên
như sương khói, hay ánh tỏa xa vời của phún thạch dưới đáy đại dương; và trong
sương khói này tầm nhìn trở thành thảm hại. Thấy rõ mồn một những gì tít trên đầu
chàng, hầu như mờ xóa những gì cùng bình độ với chàng. Và quảng trường ấy, với
những khối kỷ hà phiêu diêu siêu thực mới tương phản làm sao với những hàng trắc
bá và thông mà màu xanh mát rượi cả lòng; chúng chạy dài dọc gờ cao sừng sững
hình thoi, vòng qua “quả trứng” khổng lồ, vẽ quanh hình khối chữ nhật một đường
viền mộng ảo hợp bằng ba elip và bốn parabol. Tất cả đều màu trắng, ngoại trừ
màu xanh ngắt của cây, màu xanh biếc của vùng trời và vực biển. Đường chu vi của
quảng trường-con tàu mở bung trong một thế hyperbol đầy chất nổ; thế nhưng chàng
đâu có ở ngoài xa kia, ở mép bờ kia, chàng đâu có lạc trong mê hồn trận những
vòng cây kia; ngay từ đầu chàng đã ờ đây, ngay dưới chân đường dốc quanh co với
những bậc thang dài lênh thênh dẫn đến Thánh đường.
Chàng nghển cổ tìm đỉnh cao nhất của tòa nhà
vĩ đại kia và sửng sốt nhận ra rằng phần trên nó khuất vào hào quang rực rỡ;
khác nào đỉnh núi chìm trong mây.
Mỗi lần chàng đến Jo-Fly, người ta lại đưa
chàng đến một cõi vô minh huyền hoặc mới; và đây lại một vòng hoa khói quàng
vào cổ chàng. Chàng luôn lấy làm lạ, nhưng chàng không dao động nữa.
Có những ghế dài dọc lối vào Thánh đường màu
trắng lạnh như băng. Cửa vào Thánh đường như ngọn mác vọt cao vút nhọn, ngoài
trông chỉ một màu đen. Hai Eager Huynh trưởng dẫn đường, áo trắng, nhìn xa như
tượng.
Trên một ghế dài chàng thấy… Consuela.
- Consuela! - chàng thốt lên, hồi hộp và xúc
động. - “Consuela!” chàng lại thốt lên lần nữa, trong lòng. Chàng không sao ngờ
sẽ gặp nàng; và vậy đó, vừa thoáng nhận ra chàng, nàng đã tươi cười như hoa,
nàng đứng lên bước lại phía chàng, và ánh sáng từ nàng ngời chói đến nỗi thiều
quang rực rỡ quanh nàng mờ tối, co lại thành ánh trăng.
- Trung! - giọng nàng vỡ ra vì niềm vui hết sức
trẻ thơ; nàng chìa cả hai tay, và chàng nắm cả hai tay nàng, sung sướng, vụng về.
Nàng mặc áo giản đơn màu hoa cà; có nàng, thế gian yên lòng hơn một chút.
- Consuela, em làm gì ở đây? - chàng hỏi khi
đã chắc rằng giọng mình không dao động bất thường nữa.
Nàng cười e ấp, đầu nghiêng nghiêng (cái cử
chỉ chàng yêu biết mấy!).
- Thế còn anh?
- Anh có việc của anh, - chàng cũng cười, hôn
tay nàng.
- Dễ thường em không có việc của em?!..
- Họ mời em đến? - chàng ngoảnh nhìn cánh cửa
màu đen thẫm.
- Mời ư! - nàng lắc đầu, lẳng tay ra. - Họ bảo:
Nàng cứ việc đến đi; thế là em đến.
- Để làm gì?
- Anh thấy đấy, - nàng khoát tay về phía cõi
hư đồ màu trắng và xanh ngồn ngộn bày ra tít tắp dưới kia. - Họ có khả năng xây
dựng thiên đường; em thì em muốn có thiên đường cho bọn trẻ… Bọn trẻ chúng đâu
cần biết thế nào là Eager; nhưng chúng cần Jo-Fly, chúng cần có Thiên đường…
- Em chẳng đã ban cho chúng hàng loạt thiên
đường ư ?!
- Jo-Fly là ước mơ cuối cùng của em.
Chàng lắng nghe hơi thở của nàng và tự nhủ: hừ,
vậy đó: lúc nào cũng cảm thấy, nếu nàng bảo ta vứt bỏ mọi thứ mà theo nàng, ta
sẽ làm ngay không nghĩ ngợi… Nhưng không, ta biết nàng chẳng đời nào quỷ quyệt
đến thế.
- Em không tin rằng các Eager quả thật cần ẩn
mình như vậy. Anh hiểu điều đó chứ, amigo? - Nàng phát âm từ cổ xưa ấy một cách
duyên dáng và hay lạ lùng: “amigo”. - Họ làm nên một Jo-Fly nhân loại chưa hề
biết tới rồi lại giấu đi; vậy có công bằng không, hở amigo? Em không hề tôn
sùng lý thuyết về Tự do tuyệt đối, nhưng em sẵn sàng giành lấy Jo-Fly từ tay họ.
Anh biết về kỹ thuật cắt tầng (Hệ Cắt Tầng) Al-Yuk chứ? Đó chính là cái em sẽ
giành từ tay họ. Họ bảo: nó sẽ là của cô một khi cô chế ngự được nó bằng trí lực
của chính cô. Vậy đó: người ta sẽ đặt em trước một mê cung; em phải tự tìm đường
ra không ai giúp đỡ và không gì giúp đỡ. Đấu trường mở cửa ngay bây giờ thôi;
em từ biệt anh trước vậy. Giống như đấu sĩ ngày xưa: tay gươm tay mộc lên đường,
họ biết mình có thể trở về hoặc sẽ chết. - Nàng cất tiếng cười ngắn, nhưng miệng
nàng hơi méo; nàng cố làm tròn nụ cười. - Anh tự hỏi em có sợ không? Ồ, sợ chứ!...
Sờ đây này… - nàng đặt tay lên ngực. - Mà thôi, anh lại chẳng dám nào! Lại đây;
- nàng hôn má chàng, ôm chàng nồng thắm trong vòng tay thật khoẻ. - Anh dễ
thương vô cùng! - một tay nâng quai hàm chàng, nàng cười trìu mến và dịu dàng.
- Anh sẽ nói gì chứ? Chúc em thành công đi, nào, amigo!
- Em sẽ thành công, nhất định rồi! - chàng
nói giản dị và hôn bàn tay nàng đang tiếp xúc một cách huyền diệu nơi quai hàm
chàng. Chàng nghĩ: mình phải nói gì thêm, nhưng chàng thừa biết chính những lúc
như vầy mình sẽ lại im lặng. Mà dù chàng có nói gì đi nữa, lời nói ra cũng phải
thật dịu dàng, bởi chàng hiểu rõ những gian truân nào đang đợi nàng sau cánh cửa
kia… Chàng hiểu Hệ Al-Yuk là một Hệ Có Cá Tính (Characterized System, CS); nó sẽ
vờn nàng như vờn chuột trước khi hàng phục nàng. Nó là đứa trẻ ngỗ ngược khó
tính; nó là con ngựa hay không muốn để ai trị. Đến lượt mình chàng lại ôm nàng,
cẩn thận hôn má nàng. Trong khi khẽ nghiêng đầu để hôn nàng như vậy, chàng nhìn
xuống bờ vai tròn trặn của nàng màu vỏ quế thật dịu ngọt (vai bên này để trần,
vai kia ẩn hiện sau lần vải mỏng). “Ồ không, em cứ đi đi; chẳng có kẻ ma mãnh
nào thắng nổi em đâu”.
Tận trong lòng chàng chợt nghe cái gì khác lạ.
Tựa như một cái túi không to hơn quả trứng cút bục vỡ từ đó túa ra một dòng mật
sền sệt, ướp lạnh thấm vào từng ngóc ngách của gan ruột chàng.
- Người ta gọi em đấy, - nàng gỡ khỏi chàng,
cười, tháo kẹp tóc, xổ tung mái tóc rất dày. Nàng vắt vài lọn tóc qua vai, ra
trước ngực. - Để thế này tiện hơn, - nàng giải thích, hơi ngượng ngùng. - Họ
không ưa bất cứ kiểu đầu nào có sự hiện diện trực tiếp của ngoại thể. - Nàng
nhìn nhanh về cái họng đen ngòm tạm gọi là cửa rồi quay lại chàng. - Thôi chào
nhé, amigo! - nàng khẽ nắm tay chàng, hôn phớt vào môi chàng.
Rồi nàng dợm bước, nhưng đột ngột quay lại,
tay vẫn chưa rời khỏi tay chàng. - Sao anh buồn thế, hở amigo? (Por que eres tu
tan triste?) - Nàng vỗ nhẹ vào ngực chàng, chỗ trái tim. - Đừng quên rằng ở
Wonderland người ta phạt 1000 điểm kẻ nào nhăn nhó không cười và 2000 điểm cậu
nhóc nào khóc nhè đấy! - Nàng cười hơi e lệ. - Anh đừng bảo: “Tôi không buồn”
nhé! Chỉ cần một nụ cười, thế… là đủ. Trời, tôi nói nhăng gì vậy? .. - nàng đặt
tay lên trán. - Thì giờ thì cứ trôi.
Nàng thoắt chạy đi; váy dài tốc lên, chân
tròn lẳn rùng rùng cuộn săn bắp thịt, lưng ong thắt đáy uyển chuyển như dây
bìm. Dừng lại bên cánh cửa kỳ vĩ giờ sáng lóa như sao lùn trắng, gần như bị nuốt
chửng vào ánh sáng, nàng quay lại nhìn chàng lần nữa, vẫy tay và mỉm cười. Rồi
biến mất, và tòa tháp dị thường lại hút hết hào quang vào cuống họng sâu thẳm
nhanh không tài nào nhận ra.
Chàng ngồi lại một mình.
Chàng ngồi xuống ghế, chỗ còn ấm hơi nàng.
Chàng đi vào thế tịnh tâm. Và đợi.
![]() |
| Tranh của René Magritte. |
o
o o
- Thưa tôn sư, con của Người đã chết.
Nói xong câu đó chàng thấy dễ thở hơn. Điều
quan trọng nhất với chàng là đặt vào chữ “chết” đó toàn bộ ý nghĩa bi thống của
nó; bởi từ lâu lắm người ta không còn quen coi Cái Chết là điều không thể đảo
ngược. Nhưng Cái Chết này lại ĐÚNG LÀ không thể đảo ngược.
- Thưa tôn sư, mong rằng tin này không làm động
tâm Người, - nói thì nói vậy, nhưng chàng đếm được rành rành biên độ giao động
khủng khiếp của tâm trường người đàn ông tóc bạc trông như nhà thơ kia, mặc dù
bàn tay thon dài nguời đó cầm quản bút bằng san hô hồng như mây chiều tịnh
không run rẩy, an nhiên như một cành đa thật lớn. Nỗi đau đớn vĩ đại của Nguời
có thể làm ngòi bút kia chệch khỏi đường đã định không đầy một phần ngàn triệu
milimét, bấy nhiêu là đủ để làm mốc tiên khởi cho một Megabig Bang sẽ làm đảo lộn
tận gốc vận mạng của Vũ trụ con OANE Nơi Mặt Trời Vẫn Mọc, cái vũ trụ mà Người
là đấng Tạo hóa, cái Vũ trụ mà phút này đang chuyển thành OANENOAEEONAEOANNE
Nơi Mặt Trời Vẫn Mọc Mọc Mặt Trời Vẫn Vẫn Vẫn Mặt Trời Vẫn Mặt Mọc Trời Mặt Trời
Vẫn Và Vẫn Và Mặt Trời Vẫn Mọc; đó là một chuỗi đột biến khủng khiếp mà tận
cùng không chỉ là Cái Chết. Chàng hạ cái nhìn xuống tay mình, đôi tay mà chàng
đặt thanh thản trên hai cổ chân bắt chéo (chàng ngồi theo thế kiết già như mọi
môn đồ của Phật). Tay chàng to khỏe mà sạm nắng;
chúng không trắng mịn như ngà, như tay Lajos, người con trai vắn số của Tôn sư.
Bằng đôi tay này chàng đã bắn phát cung quật ngã con kurli vĩ đại nhất của Hành
tinh Voi, con kurli mà Lajos vừa trỏ theo bằng cánh tay mảnh khảnh vươn thẳng tắp
như mũi tên bằng búp sen vừa kêu những tràng dài khâm phục hoan hỉ: Kìa một cái
đuôi con kurli dài gấp mấy lần con voi; kìa, đầu nó cứ như con tàu Apollo thời
xưa chúi thẳng vào ta. Chàng không cầm được nước mắt khi nhìn thấy Lajos chết.
“Thưa tôn sư, Lajos đã chết. Nếu Người bảo
con trả thù, con sẽ trả thù cho chàng. Nguời không cho con trả thù, con cũng
tìm bằng được để trừng phạt kẻ giết chàng, vì y không có quyền sống yên ổn một
khi đã làm điều đó. Thưa tôn sư, con không muốn người ta khóc vì nỗi oan ức của
chàng.”
Khi Trung bế Lajos đã lạnh cứng trên tay,
chàng nhận thấy Lajos nhẹ hơn nhiều so với Natasa. Nhìn Lajos nằm vắt ngang tay
Trung, người ta tưởng thấy một người con gái kiều diễm giả trai, nàng ngủ thiếp;
Trung bế nàng về khuê phòng nàng; nàng bé nhỏ nên ai nấy ngắm nàng với nụ cười
âu yếm. Sự thực thì nguời ta khóc vì đó là Lajos, chàng trai hiền lành có mái
tóc như vàng; chàng chết, và Trung bế chàng về nhà chàng, chuẩn bị tang lễ cho
chàng...
“Anh nằm xuống
cho hận thù
vào
lãng quên...
Trung không thể nào, không đời nào quên kẻ giết
Lajos. Chàng biết chúng. Ở Cospol ai mà chẳng biết chúng. Giết Lajos, chúng thủ
tiêu (hay bắt cóc?) cả Frem (Linh hồn) của Lajos. Bằng cách nào? Trung vẫn chưa
biết. Chúng triệt đường tái sinh của Lajos. Lajos trẻ quá; miệng còn lông măng.
Có nguời con gái giữ riệt lấy thi thể Lajos
mà khóc. Tiếng khóc ai oán đặc thù dành riêng cho kẻ chết tức tưởi, đột ngột.
Như Lajos. Trung không nhìn ra nàng ngay. Prakti Bergson-Khal. Chị của Lajos.
Cùng một người mẹ siêu phàm Veda Bergson, người chinh phục thế giới bằng trí tuệ
và đạo hạnh. Prakti than khóc như nguời xưa. Buồn thay, Lajos.
“Thưa tôn sư…” Trung lại nói, nhưng chính
chàng không nghe mình nói gì, chàng cứ nhớ hoài đôi mắt trợn trừng của Lajos.
Giấc ngủ chàng bị đục nát tươm bởi cặp mắt ấy nhiều hơn là cảnh tay, chân, đầu,
ngực Lajos ứa mỡ, kêu xèo xèo, quắt lại, cháy đen trên giàn thiêu. Liệu pháp tịnh
tâm chàng vốn khinh thường mà có lúc phải dùng, không thì chẳng tìm được giấc
ngủ. Mỗi gót chân thục nữ loá lên trong đêm, như con bướm bạc, như con chim bằng
tuyết băng, chàng lại chạch nghĩ đến bàn chân thon trắng muốt của Lajos, bàn
chân như thục nữ của chàng trai xinh xẻo dịu dàng. Chàng kể về cái chết của
Lajos với sự cố kết đến cùng cực của ngôn ngữ đặc trưng cho thời đại chàng.
Cùng những lời nói, hình ảnh sinh động từ ký ức chàng cũng truyền vào tâm thức
Tôn sư. Người cúi gục đầu, tóc bạc loà xoà như tấm rèm bằng bờm ngựa tơ vơ. Người
khóc theo cách Trung hiểu về sự khóc, nghĩa là không nước mắt. Cái Chết của
Lajos.
Lajos tin mình có thể cứu hành tinh Kalinga.
Lạ thay, người ta cứ muốn chiếm hữu nó. Sức mạnh là cái gì chứ? Lajos không sợ
quyền uy và Sức Mạnh. Lajos tin vào Tính Định Hướng của Đạo Nguyên Khởi. Lajos
tin ở sự tất yếu và khả năng bảo toàn thế quân bình giữa mọi nhị nguyên và mọi
bất nhị nguyên. Chàng chống lại mưu đồ ám đoạt Kalinga vì đó là nhiễu động
không cần thiết hướng về cái Ác. Và người ta giết chàng.
Người ta giết Lajos! Tay
chàng nhỏ nhắn và mềm mà phụ nữ thích hôn như tràng hoa dâng nữ thần trinh tiết,
tóc chàng vàng như lửa và mắt chàng lóng lánh pha lê khi phụ nữ đi qua. Người
ta giết Lajos trên con tàu liên vũ trụ chàng dùng, chàng đang viết bức thư cuối
gửi Sklerotto kẻ muốn cưỡng hiếp Kalinga, bức tối hậu thư. Trên bàn người ta thấy
chàng vẽ cây đàn ghita và cần đàn là cuống là vật vờ theo hơi thở. Lajos chết.
Lajos là Người nhưng khi Lajos chết những giống
Không-Phải-Người cũng khóc. Người ta bảo tôi thế. Tôi không tin.
Huynh trưởng Reza theo tiễn Trung. Chàng mong
thấy lại Consuela. Nhói trong tim khi nhớ vai tròn màu quế mịn như hoa. Lẽ ra
chàng có thể dùng trí lực đập đi cái nhói đau ấy, nhưng chàng lại thích mang
nó, một vết thương nho nhỏ trong ngực.
Đọc được ý chàng, Reza nói:
- Consuela, Consuela, Consuela!
Chàng biết chữ Consuela được lặp lại ba lần
nghĩa là ba tầm vóc của Consuela, ba bậc lũy thừa của Trí năng Consuela, của
Con-Người đối mặt với Hệ Có Cá Tính, với Trí năng Siêu Nhân Tính. Consuela lặp
lại ba lần tức Consuela-Ở-Bậc-Lũy-Thừa-Ba, Consuela ĐÃ THẤU HIỂU làm sao đưa Hệ
Có Cá Tính vào chỗ Sanh và chỗ Diệt, Consuela sắp đạt được Trí-Năng-Cao-Nhất-Gần-Cái-Tuyệt-Đối-Hơn-Hết-Thảy-Mọi-Cái-Khác.
Hệ Có Cá Tính đang đầu hàng Consuela và sẽ hợp nhất với Consuela. Consuela thân
yêu! Nàng đã thành công. Trung khẽ mỉm cười biết nàng sẽ thấy mà sung sướng bởi
nụ cười chính là tặng nàng. Chàng lên tiếng với Reza:
- Ngài có yêu Consuela?
- Ông yêu Consuela?... - Reza đáp.
- Hãy nói: nàng yêu tôi.
- Nàng yêu ông.
- Đó là Sự thật, kỳ diệu quá, phải không?
- Đi đi, đi đi.
- Chào Reza. Ngài mềm mỏng với nàng nhé.
- Ông không thể hiểu điều đó hơn tôi.
Chàng nhìn qua vai Reza ngắm lại cõi hư đồ.
Trên đầu là không gian kín màu xanh ngăn ngắt, tít đằng xa là cây cầu như dải yếm
(hay dải yếm làm cây cầu) vẫn còn đó đợi chàng như con ngựa trung thành, như một
người bạn.
- Chào Reza - chàng nói, mặc dù biết Reza vừa
hút biến đi như bong bóng xà phòng. - Hãy nhớ mãi ràng tôi yêu Consuela - chàng
nói thêm và chợt cảm thấy trên lưỡi một vị chát.
(...)
(...)



