Thứ Năm, 1 tháng 12, 2016

Ba người

(Đã in trong "Baroque và ẩn hoa". Dành cho những ai chưa đọc.)

I

Người con gái ấy anh đã gặp ba lần; anh để ý đến nàng và nàng để ý đến anh. Không thể nào không để ý đến nàng, vì với tấm thân nhỏ nhắn, mong manh rất đỗi yêu kiều, bộ ngực thật căng hơi tương phản với thân hình mảnh dẻ mong manh ấy, làn da trắng xanh mát rượi như hoa sen, dáng đi tha thướt, lưng ong ẻo lả như dây bìm, dáng quay đầu mềm mại như thiên nga, một khuôn mặt hoàn hảo, vầng trán cao trắng muốt, đôi mày bán nguyệt, má lúm đồng tiền, cái miệng xinh với nụ cười chúm chím làm anh bồi hồi trong lòng, người con gái ấy, chỉ gặp một lần, dù một thoáng cũng không thể nào quên - giữa đám đông xám xịt của vỉa hè, nàng ngời sáng như trăng rằm Trung thu. 

Nhà nàng nghèo, anh biết; bởi ba lần tình cờ gặp anh đều thấy nàng mặc một chiếc áo độc nhất; áo vải sờn, thô, một mảnh vá hình chữ nhật trên vai phải, có trời biết để lại cho nàng từ đời thuở nào, thế nhưng vẫn cho người đời thấy rằng đấy là chiếc áo trắng, màu trắng thật sự, mặc dù hơi ngả sắc vàng - làm sao khác được một khi thời gian in dấu lên nó nhiều thế kia - nhưng sạch bong, tinh tươm, không một gợn nhăn, dường như không hạt bụi nào có thể đậu lên đó. Chiếc áo bó chẽn làm lồ lộ đường nét bộ ngực tròn căng của nàng. 

Anh thấy nàng bước đi ngoài phố, lần nào cũng mang xách nặng - nàng đi chợ về. Rất đỗi khiêm nhường, e lệ, nàng cúi đầu cố không để người ta chú ý tới mình (nhưng hoài công: người ta dùng mắt để lột trần nàng...). Thế nhưng thấy một chú mèo con sưởi nắng bên cột đèn đường, nàng ngồi thụp xuống vuốt ve, một nụ cười trìu mến và sung sướng nở trên môi. Cũng nụ cười ấy nàng đã trao anh ba lần, và mỗi lần như thế là một cơn mưa đầu mùa mát rượi lòng anh... 

Nàng đi ngoài phố, rồi rẽ vào một hẻm lớn, từ hẻm lớn rẽ vào hẻm con, từ hẻm con lại vào hẻm con nữa, vào hẻm con nữa, cái loại hẻm nhiều không sao kể xiết ở cái thành phố quái gở này - chỉ vừa một người xoay tới xoay lui, không có mặt trời; đấy là hang giun đất. Từ phố vào con hẻm lớn vầng trăng Trung thu đã mất một phần ánh sáng, lọt vào hẻm con thì vầng trăng mất hút trong bóng tối của địa ngục. Cả ba lần anh đều theo nàng, và cả ba lần đến nơi ấy anh lại dừng, e ngại... Giờ thì anh muốn đập đầu mình xuống đất vì tội đã không theo nàng đến cùng, để nắm được nàng, để giữ được nàng, để bảo vệ nàng... 

Những người sống ngoài phố gần hẻm lớn xác nhận rằng đêm hôm ấy, thứ bảy, mười lăm tháng ba, vào quãng 23 giờ rưỡi đến 24 giờ, hay muộn hơn, họ thấy nàng từ trong hẻm đi ra, ý chừng rất vội. Họ nhận ra nàng ngay vì dáng người kiều diễm quen thuộc, vì chiếc áo trắng duy nhất nàng có để mặc ra đường, họ biết nhà nàng - mãi sâu trong tận cùng cái mê cung vô số con hẻm chằng chịt giấu biệt đằng sau vẻ ngoài nền nã của đường phố -; họ biết gia đình nàng chỉ có ba người: nàng, cha nàng, người anh tật nguyền của nàng; họ biết cha nàng là thợ giày, cha nàng bị đau tim nặng, họ biết ông thường lên cơn bất thần nửa đêm về sáng, mỗi lần như vậy nàng lại tất tả đến nhà ông y sĩ quen, mời ông thăm bệnh cho cha. Thế nên họ chẳng lấy làm lạ rằng nàng ra khỏi nhà giữa đêm khuya như thế. 

Nhà người y sĩ cách đó khoảng ba trăm mét, nàng đi bộ, nàng không có xe. Có một quãng chừng hơn trăm mét nhà cửa thưa thớt mà lại chỉ có một phía, bên kia đường là đồng trống, cỏ dại, lau lách mọc tràn, không có đèn đường, hôm ấy lại hầu như không trăng, nhưng nàng không sợ; nàng đi quen rồi. 

Một người bán thuốc dạo ngồi không xa chỗ ấy - nơi có ngọn đèn đầu tiên mà sau khi ra khỏi quãng tối lẽ ra nàng sẽ băng qua - nhớ lại rằng đêm mười lăm tháng ba, khoảng 24 giờ mười phút hay mười lăm phút gì đó, có một tốp lính Mỹ, chừng bảy, tám tên, mười tên không chừng, say chuếnh choáng, ngật ngưỡng từ trên phố lại, ngược chiều với nàng, vẻ dồn nén, hung bạo và âm thầm. Nhác thấy chúng từ xa người bán thuốc lật đật dẹp hàng: ai biết được đêm hôm như thế, giữa lúc muốn nổ tung như thế, chúng có thể làm trò gì. 

Sáng tinh mơ ngày thứ hai 17 tháng ba, người ta phát hiện ngoài kênh quãng gần chợ xác chết một thiếu nữ. Cái xác còn mới, không một tí áo quần, mặt méo xệch một cách ghê rợn, môi như hai miếng thịt nát, tóc rũ rượi, một mảng bị dứt đứt tróc cả da đầu; cặp vú nhão nhoét, biến dạng, như hai tảng bột méo mó nặn bởi tay người khùng rực lên dấu răng đen xịt, sâu hoắm, hai bàn tay nắm chặt tứa máu, hai chân dạng rộng tênh hênh một cách quái đản, cửa mình mở tung như bị một trái bộc phá. Người ta kể xác người con gái chưa kịp trương lên và bốc mùi, trắng hếu một cách kinh tởm, nhiều chỗ toạc da bầm máu nước chưa hoà tan, trôi lềnh bềnh giữa đám rác rưởi - giấy lộn, lá chuối gói bánh, bao thuốc rỗng, mảnh chiếu, rơm rạ, củi mục - vật vờ, dập dềnh sát bên bờ như đám tuỳ tùng kinh khủng của cái xác ấy; cảnh tượng ấy gây nên nỗi khiếp đảm không sao tả xiết trong lòng những kẻ chứng kiến; nhiều em bé kêu thét lên, một phụ nữ gần như ngất xỉu; người ta phải đưa chị vào quán nước dưới bóng cây bã đậu để xức dầu cho chị. 
- Tội nghiệp con nhỏ... Con cái nhà ai thế không biết? - người ta thở dài chép miệng. 
Anh không chứng kiến cảnh ấy. 
Nhưng cũng chưa bao giờ anh không chứng kiến cảnh ấy.



II
“.... ”
là tiếng chửi thề thông dụng và hung hãn nhất của Người Mỹ. Mặc dù thứ ngôn ngữ Anglo - Saxon ấy không xa lạ với tôi, tôi không bao giờ, sẽ không bao giờ muốn nhắc lại nó. Nhưng bất cứ lúc nào Người Mỹ dùng tiếng chửi đó với các bạn tôi, khi họ khạc tiếng chửi đó vào mặt các bạn tôi và dập thân thể họ lên người các bạn tôi, máu trong toàn bộ huyết quản tôi lại sôi lên vì một nỗi phẫn nộ cùng cực, và khi đó những lời nguyền rủa khủng khiếp - bằng chính thứ tiếng Anglo-Saxon đó - lại nổ tung toé khỏi miệng tôi. Và chính vì cái điều đó - rằng tôi nã vào họ hàng tràng lời nguyền rủa khủng khiếp -, Người Mỹ đặc biệt căm ghét tôi và ra sức liên tục hành hạ tôi. 

Và cả khi Người Mỹ cuồng thú hành hạ tôi, tức là khi mỗi một centimét vuông cơ thể họ là một tảng núi thịt thông minh và điên dại đè nát tôi, tôi vẫn chửi họ, thoá mạ và nguyền rủa họ bằng tiếng Anglo-Saxon của họ, mà một người trong số họ từng dạy tôi; mặc dù miệng tôi, hàm tôi, họng tôi thường xuyên bị thít chặt, trét kín, lèn cứng bởi xương thịt nhầy nhụa và tàn bạo của họ, những tràng nguyền rủa vẫn nghiến qua hai hàm răng tôi thành tiếng rít long óc, vẫn phòi ra thành tiếng rên rỉ và tru tréo sởn gáy họ. Phải, đó là tất cả những gì tôi nói với Người Mỹ trong một thế kỷ bẹp dí giữa gọng kềm phọt máu của họ, cùng các bạn tôi, các Nữ Sinh bị bắt vì những lá truyền đơn và những quả bom xăng chống Người Mỹ. 
Không còn gì khác ngoài những lời nguyền rủa khủng khiếp đó tuôn ra khỏi miệng tôi; vào mặt Người Mỹ. Và tôi nói những lời sau với các bạn tôi, khi mồ hôi họ đầm đìa như mưa dầm thối ruộng cày, khi máu từ chỗ thiêng của họ lai láng như suối, khi nước mắt nóng rẫy của họ từ từ ứa và ròng ròng chảy như mưa trút xuống máng xối: 

Nếu chúng ta muốn sống thì chúng ta sẽ sống, các chị ạ. Nếu chúng ta quyết thắng, chúng ta sẽ thắng. Có thứ sức mạnh nào sai khiến được tâm hồn ta!.. Chị em cứ nghĩ mà xem: trăm nghìn roi vọt mẹ cha có bắt ta quên nghĩa với người thương được không? Lòng yêu Tổ quốc của ta còn thiêng liêng hơn thế, còn bất diệt hơn thế. Chị em ơi!.. Nếu không chịu nổi thì hãy cứ khóc vì những vết thương đau, nhưng đừng cho chúng tưởng rằng ta sợ... Phần tôi, tôi không khóc đâu... Điều duy nhất chúng ta thua đàn ông, ấy là nước mắt... 

Miệng nói vậy nhưng tôi, mắt tôi cay xè, giọng tôi run; tôi cắn môi nhịn khóc. Tôi đâu có rỏ một giọt nước mắt sau lần bị bốn mươi tên lính dày vò, khi mỗi thớ thịt thân tôi là một vết thương và mỗi hơi thở tôi để lại một bong bóng máu dưới lỗ mũi, một bợn máu trên mép giống như vết cợn bẩn sau khi tôi ăn chè mè đen. A ha! Tôi quay đi quay lại nhìn mọi người, và mọi người đăm đăm nhìn tôi, kẻ đang đứng trước họ với cặp má bầu bĩnh, với đôi vai tròn, với bộ ngực cao, lớn và chắc; họ nhìn và như biết đó là lần cuối cùng trông thấy tôi; họ có lý, họ rất có lý, vì đêm hôm đó tôi đã tự sát giữa chừng một cuộc tra tấn đầy bạo dâm, dưới mắt một Người Mỹ. 

Và nếu thời gian cho phép, nếu các bạn cho phép, tôi sẽ còn nói nữa, nói không dứt về những cơn quằn quại của tôi, về nỗi ê chề của tôi, về người yêu của tôi, về người tình của tôi, về các người tình của tôi, về cái nhọt dưới bả vai tôi, về nốt ruồi bên cánh mũi tôi, về những điệu ru Tình yêu vẳng trong tai tôi, về vị cay của cơm hến trên lưỡi tôi, về dòng trăng đêm nào đó vẫn tuôn đầy hiên nhà sực nức hương nguyệt quế của tôi, về chiếc guốc đứt quai dưới bóng Ngọ Môn làm nỗi thẹn bừng lên hai má tôi, về chiếc tách sứ vỡ tan tành dưới cái giật thót của tay tôi khi nghe tiếng kêu cứu thê thiết dội tới từ chùa Từ Đàm làm kinh động đêm bình yên của tôi, về những tên Mỹ gào rú, bị xả ra trăm mảnh và bắn tung lên trời vì bom và tiếng chửi thề trong giấc mơ tôi, về hớp không khí cuối cùng của tôi mà cùng với nó tôi hiểu thế là hết cuộc hiện tồn của tôi trên cõi thế tuyệt diệu và đau đớn này, cõi thế mà dù gì đi nữa tôi vẫn yêu vì đó là cõi thế đã cho tôi chính tôi và tất cả những gì của tôi. 

Và nếu cho tôi sống lại khoảnh khắc bất kỳ nào đó trong cuộc hiện thế đã qua của tôi thì sẽ lại chính tôi, chính tôi, chính tôi tuôn xối xả vào Người Mỹ những tràng nguyền rủa khủng khiếp; và sẽ không Người Mỹ nào đang sống còn có dịp biết miệng tôi có thể thỏ thẻ những lời dịu dàng như thế nào, có thể trao những nụ hôn quấn riết và nóng hổi như thế nào. Và, mặc dù tôi không muốn, tôi biết rõ sẽ không cách nào ngăn nổi những tràng nguyền rủa đó chuyển hóa thành một đoạn bầm dập trong tâm linh kiếp sau hạnh phúc và đáng thương của tôi. 

 
Tranh của Joan Miro


III

Con đường

- Bạn ơi, thế là cuối cùng nàng đã gặp được chàng... Ta uống mừng nàng đi! Vâng, tôi muốn uống mừng nàng, cầu phúc cho nàng... 
- Bạn xúc động quá đấy. Hẵng ngồi xuống đã; ghế ngay sau lưng bạn kia... 
- Chao ôi, bạn không hình dung được điều đó là thế nào ư?.. Nhưng không... tôi, chính tôi cũng không tin, chưa bao giờ tin... 
- Vậy nói đi, nói nhanh đi. 
- Trời, tôi biết bắt đầu từ đâu đây? 
- Bình tĩnh nào! Ngồi xuống đi. (Ngừng một chút) Nàng đã tới được Con Tàu Trắng chứ? 
- Vâng, nàng đã tới! Và nhanh hơn bất kỳ dự đoán nào của chúng ta, nhanh hơn ý thức của chúng ta! 
- Nàng đi bằng chính con đường Vũ-trụ-đa-tầng chứ? 
- Đúng thế, đúng như thế! Và nàng đã... 
- Thế thì có gì đáng ngạc nhiên nữa? Nào, ta uống mừng nàng! 
- (vẫn còn rất xúc động) Nhưng tôi... 
- Bạn hoàn toàn không ngờ ư? 
- (cúi đầu) Tôi đã quá lo cho nàng... 

o
o o

... Thế là nàng đã đến được với anh. Ôi, giá nàng ngoảnh lại, nàng sẽ thấy con đường nàng đã qua mới dài làm sao; nhưng nàng chỉ nhìn trước mặt, nàng tìm anh - nàng đến vì anh mà!.. 
Nàng biết mình đang ở đâu - bên hồ Shankar, hướng Bắc. Giờ này ai nấy đều đang làm việc, rừng không một bóng người. Nàng chẳng muốn quấy rầy ai; chọn chỗ ngồi thoải mái dưới bóng cây champa, nàng đợi. 
Hẳn mình trông không đến nỗi nào đâu nhỉ? Chẳng biết anh sẽ nghĩ sao khi thấy mình như thế này... Nàng thầm nghĩ khi soi mình trong gương bằng chất dẻo sáng lấp lánh, kích thước thay đổi tuỳ vị trí và tư thế người sử dụng. Lúc này nàng ngồi trên cỏ tóc tiên, đối diện với gương, thân hình nằm gọn giữa chiếc khung vàng sáng như mặt trời. Nàng rất sung sướng thấy mình không bị ảnh hưởng bao nhiêu bởi chuyến hành trình độc nhất vô nhị vừa qua. Chỉ có điều tóc tai hơi rối, nàng lấy lược ra chải. Cặp má hơi xanh, nàng tìm cách mỉm cười thật tươi để tạo thêm sắc hồng. Rồi nàng thay chiếc áo quen thuộc mà anh rất yêu, và do đó cũng vô cùng thân thiết với nàng - trắng như tuyết,với những làn mây - hay sương - màu xanh tim tím. Chỉ có điều phải điều chỉnh chút ít cho vừa với cái bụng đã thay đổi kích thước khá nhiều của nàng. 
Đứa con nàng cựa quậy; nàng vỗ nhẹ lên chỗ mà nàng biết là cái đầu bằng trái cam của nó.
- Yên nào, để mẹ đi gặp cha... Cha con đấy! 
Nàng rất muốn tự mình đi tìm anh, nhưng trước tiên nàng phải dỗ cho đứa bé nằm yên đã. Eva và Radda gặp nàng trong tư thế ấy: ngồi gọn dưới bóng cây, tay xoa chiếc bụng căng phồng, hai chân khép về một bên, duỗi dài trên cỏ, dáng mềm mại, dịu dàng như chiếc cổ thiên nga. 
- Kìa, LAN! Cách gần trăm thước Radda đã nhận ra nàng, vội vàng chạy đến rõ nhanh. Đến sát bên Lan, nàng quỳ xuống, ôm chặt bạn vào lòng. 
- Lan! Lan thật ư! Đúng là bạn rồi... Trời đất quỷ thần ơi! Bạn làm thế quái nào đến đây được?! Lại còn mang thai nữa... Gần tới ngày còn gì! - giọng run run, Radda siết đầu bạn vào ngực mình; nàng ứa nước mắt. 
Eva đứng đàng sau, im lặng - nàng đã nghe nói nhiều về Lan, nhưng đây là lần đầu tiên nàng gặp người thiếu nữ mà người ta nói “đáng yêu như chính cuộc đời” ấy; và nàng sửng sốt nhận ra rằng ngôn từ lắm khi bất lực và tầm thường làm sao... 
Radda vẫn ôm riết lấy Lan, trìu mến vuốt ve khắp người nàng, nhất là cái bụng to của nàng. 
- Ôi, bạn dễ thương quá! Ai ngờ được cơ chứ? Cừ thật. Xem cái bụng này: Hẳn chú nhóc không dưới bốn kílôgam đâu... Kìa, Eva! Lại đây, lại đây! Làm quen đi: Lan, nàng tiên của chúng tôi. Đây là Eva, bạn rất tốt của chúng ta, Lan ạ... 
Eva mỉm cười dè dặt, thế rồi, hơi do dự, nàng cũng quỳ xuống, cầm tay người bạn mới, siết thật lâu.
- Tôi là Eva... Chào bạn. - nàng nói ngắn gọn, nhưng trong giọng nói nàng còn có thể nghe thấy: Tôi tiếc rằng trước kia đã không hề biết bạn... Nếu biết bạn từ lâu, thì tôi đã có thể, như Radda, ôm chặt bạn vào lòng... Radda nói phải: bạn là nàng tiên của chúng ta.. Bạn dễ thương quá! 
Lan cũng nồng nhiệt siết tay Eva; nàng cũng nhận thấy Eva thật đáng yêu, lại đẹp vô cùng nữa, chỉ có điều, không hiểu sao cái nhìn chị ấy buồn rười rượi... 
- Rất mừng được làm quen với chị, Eva... - nàng mỉm cười, hôn lên má người bạn mới. Eva cũng mỉm cười, hôn lại nàng, và thế là chẳng còn thứ hàng rào nào ngăn cách họ nữa.  
- Thật không ngờ bạn đến được đây, Lan ạ... Bạn tìm John chứ gì? Chúng tôi sẽ gọi. 
- Không, để tự mình đến với anh ấy! 
Nàng dợm đứng lên, nhưng bàn tay khoẻ mạnh của Radda đã nắm vai nàng giữ lại. 
- Không được. Anh ấy phải đến đây.
Giờ kể nghe nào: Bạn làm cách nào đến được đây, làm sao đuổi kịp tàu chúng tôi? Bạn đi nhanh hơn ánh sáng được ư!.. 
- Mình hóa thân vào Đại-Vũ-Trụ. 
- Không thể như thế!!! 
- Sao lại không? Người Ngực Rừng làm được điều đó hàng thế kỷ nay rồi... 
- Nhưng họ là người Ngực Rừng! Còn chúng ta... 
- Có gì khác đâu! Mình đi theo con đường của họ, và thế là mình biết. 
- Điều đó... như thế nào? - Radda hồi hộp. 
- Nói thế nào nhỉ? Nói chung là tuyệt diệu! - Lan mỉm cười. 
- Tuyệt diệu ư? - Radda lặp lại. Thử nghĩ mà xem: nàng Lan-Ngực-Bông-Sen mảnh mai và trắng ngần kia, bụng mang dạ chửa, đi trên cái gì đó tạm kêu là ”tàu” của người Ngực Rừng, từ vật-chất chuyển sang phản-vật-chất, rồi từ phản-vật-chất chuyển sang vật-chất, từ Tiểu-Vũ-Trụ làm cú nhảy vô biên vào Đại-Vũ-Trụ, rồi từ Đại-Vũ-Trụ rơi tự do sang Tiểu-Vũ-Trụ, mà vẫn nguyên vẹn, vẫn cứ tươi rói, tinh anh, vẫn dịu dàng như thế... 
- Thấy bạn như thế này mà... họ vẫn cho bạn đi cùng ư? - Radda đưa mắt nhìn cái bụng to của Lan.
- Nó chẳng làm sao đâu. Bạn thấy không... 
- Nhưng... 
- Hãy tin mình; trước sau mình chỉ lo cho nó thôi. 
- Ôi, mình biết nói gì nữa! Lan ơi, bạn cừ thật đấy! - một lần nữa Radda lại nồng nhiệt ôm lấy nàng. 
Chính lúc ấy John xuất hiện đằng xa. 
Dễ nhận ra anh vô cùng vì chẳng còn ai cao lớn bằng anh nữa. Anh chạy phăng phăng, mái tóc bồng bềnh phấp phới in hệt bờm ngựa; mà thật, dường như anh chạy còn nhanh gấp mấy lần con ngựa đua nhanh nhất trong lịch sử các trường đua ngựa khắp thế giới. Chạy sau anh là các chàng trai bạn anh - họ không đuổi kịp anh, hơn nữa họ cố tình để anh được thấy nàng trước nhất. 
Lan không ngồi được nữa, nàng đứng dậy - lẽ ra nàng đã chạy bay về phía anh nhanh chẳng kém gì anh để đu lên cổ anh, giá bụng nàng đừng nặng như thế. 
- Lan!... - anh cố kìm lại không gọi tên nàng quá to; giọng anh vỡ ra, phập phồng, run rẩy. Nàng không đáp, chỉ mỉm cười với anh, vươn cả hai tay về phía anh. Anh lao đến chỗ nàng như một cơn lốc, dừng lại sát bên nàng như một chiếc Mercedes thời cổ có bộ thắng cực mạnh, anh nhấc bổng nàng lên bằng hai tay, ép nàng vào ngực như thể nàng là một em bé. 
- Em làm gì ở đây?! - đặt nàng xuống đất, anh hỏi. 
- Em muốn đi với anh, - nàng bình tĩnh nhìn vào mắt anh. 
- Nhưng mà trời ơi, ai bảo em làm thế? Ai cho phép em? - anh dừng một chút. - Trời đất, em tôi đã làm gì thế này! - câu cuối cùng giọng anh trầm hẳn xuống; anh thở dài hôn lên má đầm đìa lệ của nàng, chính anh cũng ứa nước mắt. 
Bây giờ anh mới nhận thấy kích thước khác thường của bụng nàng.
 - Em gần sanh? - anh cau mày. 
- Con anh đấy, - nàng cụp mắt xuống, nhưng miệng cười quá tươi, ”rạng rỡ như mặt trời”. 
Anh sững người một lát, rồi chầm chậm bế nàng lên, một cách nâng niu, một cách trang trọng. Anh hôn lên cái bụng to của nàng - đấy là anh hôn nàng, vợ hiền kỳ diệu của anh, đồng thời cả con anh nữa. Mãi đến khi bế nàng qua cửa vào ngôi lầu đẹp đẽ hình củ hành mọi người vừa tạo nên dành cho nàng, anh mới thốt lên:
- Em hư lắm, em biết không?

Thứ Năm, 10 tháng 11, 2016

Jo-Fly (trích tiểu thuyết)

(Trích đoạn từ cuốn tiểu thuyết - tạm lấy tên là “Vũ trụ loài người” - mà tôi viết trong những năm đại học và bị bỏ dở. Một tiểu thuyết khoa học giả tưởng thuần túy.
Có nên viết tiếp chăng?)

- Thưa tôn sư, Isvara ở đâu?
- Đây không phải lần đầu ta nói:
Isvara, đó là lòng ta.
- Thưa tôn sư, Cõi Tuyệt Thoát ở đâu?
- (lặng thinh).
(tâm thoại) Nếu ta không tôn trọng người, ta đã đứng dậy, nhún vai và cắn một hạt dẻ; ta trả lời như vậy đó.”


Jo-Fly là một quả cầu không thể xác định kích thước. Cắt ngang dọc nó là 10n mặt phẳng với n>2 và 100n mặt cong dương hoặc âm (hoặc siêu tuyến tính) với n>2. 1000n (n>2) mặt phẳng và cong cắt ngang dọc các mặt phẳng và cong đó, và 100.000n (n>2) cát tuyến nối liền các mặt phẳng và cong đó. Trên mỗi mặt trong từng ấy mặt phẳng là một hệ hình Euclide trên đó triển khai một trong 100n (với n ~ ∞) phương diện của Hình học Đứt gãy. Số phương diện còn lại phân bố trên các mặt cong. Cả cái phức hệ này vận hành theo các hệ hấp dẫn đa nguyên.
Ai chẳng biết rằng muốn đến Jo-Fly chỉ có cách độc nhất là không biết đường đến Jo-Fly. Trung cũng thế: đã bao lần chàng đến Jo-Fly, nhưng chàng biết đường đến Jo-Fly thì cũng như César biết đường đến mũi Horn. Lần nào cũng vậy, dẫn chàng đi có một tân tòng: cậu trai cao nhồng mảnh khảnh lông măng lơ thơ vàng hoe, tận tụy và u sầu, hay người thiếu nữ nhỏ nhắn, mắt đen như đêm không trăng, mặt hết sức thanh tú, dịu dàng và e thẹn. Chàng không chuyện trò với họ; họ cũng thế. Một đôi lời theo nghi thức, thế rồi bắt đầu cái tịch mịch, bí ẩn mà chàng không thể nào quen, khởi đi từ (một trong) hai cái đầu nhìn từ phía sau trọc tếu trắng nõn câm lặng - chính từ đây ra đời cái biệt hiệu trứ danh của những con người này: The Eggers, “Bọn Trứng” -, đến những hành lang trơ trụi không (bao giờ có) tên nơi những vị khách thường xuyên duy nhất là vầng trăng và màn đêm mượt như nhung mà chàng thấy thấp thoáng từng mảng sau những khung cửa kỷ hà học màu ngà voi chẳng biết bao giờ mới đi tới nhưng lại choán cả tầm mắt chàng; vẽ lên trên (những mảng trời) đó là đường viền những thảo mộc kỳ ảo lấp lánh như san hô. Dọc theo các thảo mộc này, từng quãng một hay liên tục bùng lên những ánh ngời chói trắng rực, những tia chớp da cam hay vàng bưởi, những loáng mờ đỏ quạch phóng ra thành lưỡi kiếm tận cùng đâu đó trong lòng ta. Trung nhìn và hiểu những cái đó thảy đều lừa mị. Chàng hiểu, chỉ khi nào chàng thấy đường chàng đi tuyền hai bức tường trắng nhưng trong lòng chàng là cánh rừng hoa xuân nở rộ ngát hương và trên đầu là mặt trời in bóng chim câu, chỉ khi đó chàng mới đang trên đường đến Jo-Fly, Cõi Tuyệt Thoát Hằng Sản. Con đường đó dài một năm ánh sáng, mà cũng có thể là 13±7 parsec và 1/10 parsec. Rồi, ngay bên cạnh chàng và hút tầm mắt chàng, chàng thấy 17 tinh vân hình quả trám, hình thủy tức và sao chổi, kéo tua quay vòng tròn, chậm và nhanh, sáng và không sáng, sống động và chết. Rồi chàng thấy trên đầu, trải xa vô tận là Mạng Nhện kinh khủng, đầy ma thuật và uyên nguyên vô cùng lấp lánh màu hồng. Rồi tất cả biến mất; chàng thấy mình trên sa mạc khởi nguyên chói lọi cát vàng; rồi cát biến thành tám bức tường pha lê dài như nhau và dài như những dải mưa; đó là một sảnh đường bát giác, trên trần qua vòm trong suốt là trời sao, ngoài ra không còn gì hết. Rồi tám bức tường lại tẽ ra hai, bốn quây thành khối lập phương, ba quyện thành hình nón, một thì bay hướng thượng và mất tăm nơi vô cực u minh. Chàng đi vào khối lập phương, pha lê khép lại sau chàng: chàng cảm thấy - vừa cảm thấy vừa trông thấy, vừa trông thấy vừa cảm thấy - rằng lập phương dưới chân chàng và trong mắt chàng chầm chậm chao nghiêng óng ánh như băng, hình nón lắc lư, đổi trục không biết mấy lần trong nháy mắt rồi chổng ngược, đỉnh cắm sâu mất hút vào Đường giới hạn vô hình thể. Và giờ đây chàng thấy mình trên bờ sông trắng ngập ánh trăng; không khí như sương khói lung linh, chính chàng như tinh thể thạch anh, còn người con gái đi trước chàng, xa hơn tầm ném quả táo, thì ngời lên lấp lánh tựa lân tinh. Chàng ngạc nhiên nhận thấy lần đầu tiên chàng để ý tới nàng kể từ khi chàng - không phải, họ - bước vào mê cung 17n với n>2 tầng không gian siêu-Euclide làm nên một trong 2000000575695 vùng ngoại vi vô giới hạn của Jo-Fly; suốt thời gian ấy chàng không để ý đến nàng hoặc không nhớ là có nàng. Giờ đây khi chàng lại thấy nàng và để ý đến nàng, đột nhiên chàng thấy, choán cả tầm mắt chàng, rộng hơn bầu trời, to hơn mặt đất là hai bầu vú tròn phụ nữ trắng phau, và, như chớp loé, chàng tỉnh mộng.
Vậy đây chính là Jo-Fly.
Một lâu đài cao màu hồng, đỏ, tím, xanh. Hành lang vút lên xa tít hồng tươi đến nỗi hình như tỏa hương thơm ngát. Chàng thấy ba người thiếu nữ lướt ngang, áo thụng trắng tinh hồ cứng cọ sột soạt vào thân thể sinh ra để bùng nổ trong cơn tuyệt hứng và ái ân. Bây giờ kẻ dẫn đường xinh đẹp lại ở sát bên chàng, cúi mình hết sức khiêm cung (như người Nhật bản), khẽ khàng nói: Jo-Fly đón nhận người; xin kính chào người! Rồi biến mất, như lặn vào hư vô.
Chàng bước lên hành lang, ngập ngừng e sợ trước cái thanh khiết. Thậm chí vạt áo trắng như tuyết của chàng dường như cũng lấm bụi lấp lánh. Chàng bình thản nhận thấy mình nhẹ tựa hư không; chàng phó mặc thân mình cho dòng sông vô tận màu hồng thăm thẳm khởi nguyên; một làn gió nổi trong ngần, mát rượi đến nỗi chừng như mỗi tế bào của chàng đều biến thành một phần tử của gió, dày, nặng hơn nước. Hai bên chàng, tít xa, xa hơn cả chân trời - ở đây làm gì có chân trời - chàng thấy mình bay - vẫn bằng bậc tam cấp kia trắng và xốp như bọt biển mà phút này như một đám mây hình kỷ hà, như rìa boong tàu, như mép vực thẳm, một phiến đường biến thành ngoại vi vũ trụ; bên dưới chàng - và bên trên chàng - cũng một tổ ong khổng lồ, mênh mông nhưng sắc trắng, trắng như tuyết. Nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều khoang, chỉ nhận thức được bằng Não phụ. Có những sinh vật màu đen, không nhiều, nhưng đủ làm bức tranh sống động. Đó là HỌ, các Eager. Chàng cách họ chừng 300 mét - bên dưới, cùng bình độ, hoặc trên. Chàng hít một hơi dài; cần chuẩn bị ít nhiều trước khi gặp họ.
Chàng tự hỏi dùng cách nào đến đó - hạ xuống hay bay lên - là hơn; nương theo Dòng Chuyển, hay bay, hay bước bằng chân? Ý nghĩ chàng nhanh hơn ánh sáng, nhưng chưa kịp nghĩ xong chàng đã thấy, trắng và sắc cạnh như gươm, một giải đường long lanh mỏng và nhẹ tênh như một mảnh thếp bạc mà đoạn khởi đầu mất hút sau lưng chàng còn đoạn cuối, vút dài thành dải băng vô tận, trở thành cấu tử ngoại vi của một lâu đài mà kiến trúc lập thể - hay vô thể - kỳ khu chỉ có thể tái hiện từ tiềm thức sâu thẳm của Joan Miro. Và cả lâu đài này - toàn bộ phức hợp kỳ khu này - cũng trắng như “tổ ong” chàng mới nghiệm qua; tuyền trắng. Giờ đây trên và dưới chàng - xa không nhận thức nổi - là màu xanh thẫm nhất mà ta còn có thể gọi là xanh; chàng hiểu mình đang ở trong lòng một không gian kín, như hạt bụi trong lòng con trai ngọc còn lâu đài kia chính là viên ngọc trắng ngần tuyệt đẹp hình dáng dị thường. Chàng bắt đầu đi trên dải lụa mà với chàng là con đường; nó vừa căng vừa chùng xuống dịu dàng như giải yếm người thục nữ bắc cầu đến một đóa hồng; hồng bạch. Nhìn thì tưởng xa nhưng lên đường lại thấy không xa; bởi con đường chàng đi đấy là con đường của Tình yêu, của lòng mong đợi nhất định được đền đáp. Đấy là con đường của Tâm hồn đã vượt qua tất cả để đạt đến chỗ ảo diệu của tri thức.
Và Ánh Sáng ngời lên; Ánh Sáng tràn trề tươi rói như ngày phục thế hoàn sinh, Ánh Sáng huyền không lai láng như trăng đổ đầy sân và vai trần thiền sư không áo; Ánh Sáng như mặt trời xuyên suốt bảy tầng địa ngục khiến những linh hồn tội lỗi đọa đày phải run lên vì thành kính và ăn năn. Trong ánh thiều quang chàng thấy mình trên một quảng trường khác chi con tàu thật lớn bằng ngà voi neo trên biển xanh biếc; đáy hụp sâu trong lòng biển, mạn tàu lại cao vút chênh vênh trên biển. Và từ cái gọi là mặt đá nhưng đúng hơn nên gọi là mặt tuyết có điều rắn và dòn như cơm dừa khô kia một cái gì là lạ bốc lên như sương khói, hay ánh tỏa xa vời của phún thạch dưới đáy đại dương; và trong sương khói này tầm nhìn trở thành thảm hại. Thấy rõ mồn một những gì tít trên đầu chàng, hầu như mờ xóa những gì cùng bình độ với chàng. Và quảng trường ấy, với những khối kỷ hà phiêu diêu siêu thực mới tương phản làm sao với những hàng trắc bá và thông mà màu xanh mát rượi cả lòng; chúng chạy dài dọc gờ cao sừng sững hình thoi, vòng qua “quả trứng” khổng lồ, vẽ quanh hình khối chữ nhật một đường viền mộng ảo hợp bằng ba elip và bốn parabol. Tất cả đều màu trắng, ngoại trừ màu xanh ngắt của cây, màu xanh biếc của vùng trời và vực biển. Đường chu vi của quảng trường-con tàu mở bung trong một thế hyperbol đầy chất nổ; thế nhưng chàng đâu có ở ngoài xa kia, ở mép bờ kia, chàng đâu có lạc trong mê hồn trận những vòng cây kia; ngay từ đầu chàng đã ờ đây, ngay dưới chân đường dốc quanh co với những bậc thang dài lênh thênh dẫn đến Thánh đường.
Chàng nghển cổ tìm đỉnh cao nhất của tòa nhà vĩ đại kia và sửng sốt nhận ra rằng phần trên nó khuất vào hào quang rực rỡ; khác nào đỉnh núi chìm trong mây.
Mỗi lần chàng đến Jo-Fly, người ta lại đưa chàng đến một cõi vô minh huyền hoặc mới; và đây lại một vòng hoa khói quàng vào cổ chàng. Chàng luôn lấy làm lạ, nhưng chàng không dao động nữa.
Có những ghế dài dọc lối vào Thánh đường màu trắng lạnh như băng. Cửa vào Thánh đường như ngọn mác vọt cao vút nhọn, ngoài trông chỉ một màu đen. Hai Eager Huynh trưởng dẫn đường, áo trắng, nhìn xa như tượng.
Trên một ghế dài chàng thấy… Consuela.
- Consuela! - chàng thốt lên, hồi hộp và xúc động. - “Consuela!” chàng lại thốt lên lần nữa, trong lòng. Chàng không sao ngờ sẽ gặp nàng; và vậy đó, vừa thoáng nhận ra chàng, nàng đã tươi cười như hoa, nàng đứng lên bước lại phía chàng, và ánh sáng từ nàng ngời chói đến nỗi thiều quang rực rỡ quanh nàng mờ tối, co lại thành ánh trăng.
- Trung! - giọng nàng vỡ ra vì niềm vui hết sức trẻ thơ; nàng chìa cả hai tay, và chàng nắm cả hai tay nàng, sung sướng, vụng về. Nàng mặc áo giản đơn màu hoa cà; có nàng, thế gian yên lòng hơn một chút.
- Consuela, em làm gì ở đây? - chàng hỏi khi đã chắc rằng giọng mình không dao động bất thường nữa.
Nàng cười e ấp, đầu nghiêng nghiêng (cái cử chỉ chàng yêu biết mấy!).
- Thế còn anh?
- Anh có việc của anh, - chàng cũng cười, hôn tay nàng.
- Dễ thường em không có việc của em?!..
- Họ mời em đến? - chàng ngoảnh nhìn cánh cửa màu đen thẫm.
- Mời ư! - nàng lắc đầu, lẳng tay ra. - Họ bảo: Nàng cứ việc đến đi; thế là em đến.
- Để làm gì?
- Anh thấy đấy, - nàng khoát tay về phía cõi hư đồ màu trắng và xanh ngồn ngộn bày ra tít tắp dưới kia. - Họ có khả năng xây dựng thiên đường; em thì em muốn có thiên đường cho bọn trẻ… Bọn trẻ chúng đâu cần biết thế nào là Eager; nhưng chúng cần Jo-Fly, chúng cần có Thiên đường…
- Em chẳng đã ban cho chúng hàng loạt thiên đường ư ?!
- Jo-Fly là ước mơ cuối cùng của em.
Chàng lắng nghe hơi thở của nàng và tự nhủ: hừ, vậy đó: lúc nào cũng cảm thấy, nếu nàng bảo ta vứt bỏ mọi thứ mà theo nàng, ta sẽ làm ngay không nghĩ ngợi… Nhưng không, ta biết nàng chẳng đời nào quỷ quyệt đến thế.
- Em không tin rằng các Eager quả thật cần ẩn mình như vậy. Anh hiểu điều đó chứ, amigo? - Nàng phát âm từ cổ xưa ấy một cách duyên dáng và hay lạ lùng: “amigo”. - Họ làm nên một Jo-Fly nhân loại chưa hề biết tới rồi lại giấu đi; vậy có công bằng không, hở amigo? Em không hề tôn sùng lý thuyết về Tự do tuyệt đối, nhưng em sẵn sàng giành lấy Jo-Fly từ tay họ. Anh biết về kỹ thuật cắt tầng (Hệ Cắt Tầng) Al-Yuk chứ? Đó chính là cái em sẽ giành từ tay họ. Họ bảo: nó sẽ là của cô một khi cô chế ngự được nó bằng trí lực của chính cô. Vậy đó: người ta sẽ đặt em trước một mê cung; em phải tự tìm đường ra không ai giúp đỡ và không gì giúp đỡ. Đấu trường mở cửa ngay bây giờ thôi; em từ biệt anh trước vậy. Giống như đấu sĩ ngày xưa: tay gươm tay mộc lên đường, họ biết mình có thể trở về hoặc sẽ chết. - Nàng cất tiếng cười ngắn, nhưng miệng nàng hơi méo; nàng cố làm tròn nụ cười. - Anh tự hỏi em có sợ không? Ồ, sợ chứ!... Sờ đây này… - nàng đặt tay lên ngực. - Mà thôi, anh lại chẳng dám nào! Lại đây; - nàng hôn má chàng, ôm chàng nồng thắm trong vòng tay thật khoẻ. - Anh dễ thương vô cùng! - một tay nâng quai hàm chàng, nàng cười trìu mến và dịu dàng. - Anh sẽ nói gì chứ? Chúc em thành công đi, nào, amigo!
- Em sẽ thành công, nhất định rồi! - chàng nói giản dị và hôn bàn tay nàng đang tiếp xúc một cách huyền diệu nơi quai hàm chàng. Chàng nghĩ: mình phải nói gì thêm, nhưng chàng thừa biết chính những lúc như vầy mình sẽ lại im lặng. Mà dù chàng có nói gì đi nữa, lời nói ra cũng phải thật dịu dàng, bởi chàng hiểu rõ những gian truân nào đang đợi nàng sau cánh cửa kia… Chàng hiểu Hệ Al-Yuk là một Hệ Có Cá Tính (Characterized System, CS); nó sẽ vờn nàng như vờn chuột trước khi hàng phục nàng. Nó là đứa trẻ ngỗ ngược khó tính; nó là con ngựa hay không muốn để ai trị. Đến lượt mình chàng lại ôm nàng, cẩn thận hôn má nàng. Trong khi khẽ nghiêng đầu để hôn nàng như vậy, chàng nhìn xuống bờ vai tròn trặn của nàng màu vỏ quế thật dịu ngọt (vai bên này để trần, vai kia ẩn hiện sau lần vải mỏng). “Ồ không, em cứ đi đi; chẳng có kẻ ma mãnh nào thắng nổi em đâu”.
Tận trong lòng chàng chợt nghe cái gì khác lạ. Tựa như một cái túi không to hơn quả trứng cút bục vỡ từ đó túa ra một dòng mật sền sệt, ướp lạnh thấm vào từng ngóc ngách của gan ruột chàng.
- Người ta gọi em đấy, - nàng gỡ khỏi chàng, cười, tháo kẹp tóc, xổ tung mái tóc rất dày. Nàng vắt vài lọn tóc qua vai, ra trước ngực. - Để thế này tiện hơn, - nàng giải thích, hơi ngượng ngùng. - Họ không ưa bất cứ kiểu đầu nào có sự hiện diện trực tiếp của ngoại thể. - Nàng nhìn nhanh về cái họng đen ngòm tạm gọi là cửa rồi quay lại chàng. - Thôi chào nhé, amigo! - nàng khẽ nắm tay chàng, hôn phớt vào môi chàng.
Rồi nàng dợm bước, nhưng đột ngột quay lại, tay vẫn chưa rời khỏi tay chàng. - Sao anh buồn thế, hở amigo? (Por que eres tu tan triste?) - Nàng vỗ nhẹ vào ngực chàng, chỗ trái tim. - Đừng quên rằng ở Wonderland người ta phạt 1000 điểm kẻ nào nhăn nhó không cười và 2000 điểm cậu nhóc nào khóc nhè đấy! - Nàng cười hơi e lệ. - Anh đừng bảo: “Tôi không buồn” nhé! Chỉ cần một nụ cười, thế… là đủ. Trời, tôi nói nhăng gì vậy? .. - nàng đặt tay lên trán. - Thì giờ thì cứ trôi.
Nàng thoắt chạy đi; váy dài tốc lên, chân tròn lẳn rùng rùng cuộn săn bắp thịt, lưng ong thắt đáy uyển chuyển như dây bìm. Dừng lại bên cánh cửa kỳ vĩ giờ sáng lóa như sao lùn trắng, gần như bị nuốt chửng vào ánh sáng, nàng quay lại nhìn chàng lần nữa, vẫy tay và mỉm cười. Rồi biến mất, và tòa tháp dị thường lại hút hết hào quang vào cuống họng sâu thẳm nhanh không tài nào nhận ra.
Chàng ngồi lại một mình.
Chàng ngồi xuống ghế, chỗ còn ấm hơi nàng. Chàng đi vào thế tịnh tâm. Và đợi.

Tranh của René Magritte.

o
o          o

- Thưa tôn sư, con của Người đã chết.
Nói xong câu đó chàng thấy dễ thở hơn. Điều quan trọng nhất với chàng là đặt vào chữ “chết” đó toàn bộ ý nghĩa bi thống của nó; bởi từ lâu lắm người ta không còn quen coi Cái Chết là điều không thể đảo ngược. Nhưng Cái Chết này lại ĐÚNG LÀ không thể đảo ngược.
- Thưa tôn sư, mong rằng tin này không làm động tâm Người, - nói thì nói vậy, nhưng chàng đếm được rành rành biên độ giao động khủng khiếp của tâm trường người đàn ông tóc bạc trông như nhà thơ kia, mặc dù bàn tay thon dài nguời đó cầm quản bút bằng san hô hồng như mây chiều tịnh không run rẩy, an nhiên như một cành đa thật lớn. Nỗi đau đớn vĩ đại của Nguời có thể làm ngòi bút kia chệch khỏi đường đã định không đầy một phần ngàn triệu milimét, bấy nhiêu là đủ để làm mốc tiên khởi cho một Megabig Bang sẽ làm đảo lộn tận gốc vận mạng của Vũ trụ con OANE Nơi Mặt Trời Vẫn Mọc, cái vũ trụ mà Người là đấng Tạo hóa, cái Vũ trụ mà phút này đang chuyển thành OANENOAEEONAEOANNE Nơi Mặt Trời Vẫn Mọc Mọc Mặt Trời Vẫn Vẫn Vẫn Mặt Trời Vẫn Mặt Mọc Trời Mặt Trời Vẫn Và Vẫn Và Mặt Trời Vẫn Mọc; đó là một chuỗi đột biến khủng khiếp mà tận cùng không chỉ là Cái Chết. Chàng hạ cái nhìn xuống tay mình, đôi tay mà chàng đặt thanh thản trên hai cổ chân bắt chéo (chàng ngồi theo thế kiết già như mọi môn đồ của Phật). Tay chàng to khỏe mà sạm nắng; chúng không trắng mịn như ngà, như tay Lajos, người con trai vắn số của Tôn sư. Bằng đôi tay này chàng đã bắn phát cung quật ngã con kurli vĩ đại nhất của Hành tinh Voi, con kurli mà Lajos vừa trỏ theo bằng cánh tay mảnh khảnh vươn thẳng tắp như mũi tên bằng búp sen vừa kêu những tràng dài khâm phục hoan hỉ: Kìa một cái đuôi con kurli dài gấp mấy lần con voi; kìa, đầu nó cứ như con tàu Apollo thời xưa chúi thẳng vào ta. Chàng không cầm được nước mắt khi nhìn thấy Lajos chết.
“Thưa tôn sư, Lajos đã chết. Nếu Người bảo con trả thù, con sẽ trả thù cho chàng. Nguời không cho con trả thù, con cũng tìm bằng được để trừng phạt kẻ giết chàng, vì y không có quyền sống yên ổn một khi đã làm điều đó. Thưa tôn sư, con không muốn người ta khóc vì nỗi oan ức của chàng.”
Khi Trung bế Lajos đã lạnh cứng trên tay, chàng nhận thấy Lajos nhẹ hơn nhiều so với Natasa. Nhìn Lajos nằm vắt ngang tay Trung, người ta tưởng thấy một người con gái kiều diễm giả trai, nàng ngủ thiếp; Trung bế nàng về khuê phòng nàng; nàng bé nhỏ nên ai nấy ngắm nàng với nụ cười âu yếm. Sự thực thì nguời ta khóc vì đó là Lajos, chàng trai hiền lành có mái tóc như vàng; chàng chết, và Trung bế chàng về nhà chàng, chuẩn bị tang lễ cho chàng...
             “Anh nằm xuống
                        cho hận thù                            
                                                vào lãng quên...
Trung không thể nào, không đời nào quên kẻ giết Lajos. Chàng biết chúng. Ở Cospol ai mà chẳng biết chúng. Giết Lajos, chúng thủ tiêu (hay bắt cóc?) cả Frem (Linh hồn) của Lajos. Bằng cách nào? Trung vẫn chưa biết. Chúng triệt đường tái sinh của Lajos. Lajos trẻ quá; miệng còn lông măng.
Có nguời con gái giữ riệt lấy thi thể Lajos mà khóc. Tiếng khóc ai oán đặc thù dành riêng cho kẻ chết tức tưởi, đột ngột. Như Lajos. Trung không nhìn ra nàng ngay. Prakti Bergson-Khal. Chị của Lajos. Cùng một người mẹ siêu phàm Veda Bergson, người chinh phục thế giới bằng trí tuệ và đạo hạnh. Prakti than khóc như nguời xưa. Buồn thay, Lajos.
“Thưa tôn sư…” Trung lại nói, nhưng chính chàng không nghe mình nói gì, chàng cứ nhớ hoài đôi mắt trợn trừng của Lajos. Giấc ngủ chàng bị đục nát tươm bởi cặp mắt ấy nhiều hơn là cảnh tay, chân, đầu, ngực Lajos ứa mỡ, kêu xèo xèo, quắt lại, cháy đen trên giàn thiêu. Liệu pháp tịnh tâm chàng vốn khinh thường mà có lúc phải dùng, không thì chẳng tìm được giấc ngủ. Mỗi gót chân thục nữ loá lên trong đêm, như con bướm bạc, như con chim bằng tuyết băng, chàng lại chạch nghĩ đến bàn chân thon trắng muốt của Lajos, bàn chân như thục nữ của chàng trai xinh xẻo dịu dàng. Chàng kể về cái chết của Lajos với sự cố kết đến cùng cực của ngôn ngữ đặc trưng cho thời đại chàng. Cùng những lời nói, hình ảnh sinh động từ ký ức chàng cũng truyền vào tâm thức Tôn sư. Người cúi gục đầu, tóc bạc loà xoà như tấm rèm bằng bờm ngựa tơ vơ. Người khóc theo cách Trung hiểu về sự khóc, nghĩa là không nước mắt. Cái Chết của Lajos.
Lajos tin mình có thể cứu hành tinh Kalinga. Lạ thay, người ta cứ muốn chiếm hữu nó. Sức mạnh là cái gì chứ? Lajos không sợ quyền uy và Sức Mạnh. Lajos tin vào Tính Định Hướng của Đạo Nguyên Khởi. Lajos tin ở sự tất yếu và khả năng bảo toàn thế quân bình giữa mọi nhị nguyên và mọi bất nhị nguyên. Chàng chống lại mưu đồ ám đoạt Kalinga vì đó là nhiễu động không cần thiết hướng về cái Ác. Và người ta giết chàng.
Người ta giết Lajos! Tay chàng nhỏ nhắn và mềm mà phụ nữ thích hôn như tràng hoa dâng nữ thần trinh tiết, tóc chàng vàng như lửa và mắt chàng lóng lánh pha lê khi phụ nữ đi qua. Người ta giết Lajos trên con tàu liên vũ trụ chàng dùng, chàng đang viết bức thư cuối gửi Sklerotto kẻ muốn cưỡng hiếp Kalinga, bức tối hậu thư. Trên bàn người ta thấy chàng vẽ cây đàn ghita và cần đàn là cuống là vật vờ theo hơi thở. Lajos chết.
Lajos là Người nhưng khi Lajos chết những giống Không-Phải-Người cũng khóc. Người ta bảo tôi thế. Tôi không tin.
Huynh trưởng Reza theo tiễn Trung. Chàng mong thấy lại Consuela. Nhói trong tim khi nhớ vai tròn màu quế mịn như hoa. Lẽ ra chàng có thể dùng trí lực đập đi cái nhói đau ấy, nhưng chàng lại thích mang nó, một vết thương nho nhỏ trong ngực.
Đọc được ý chàng, Reza nói:
- Consuela, Consuela, Consuela!
Chàng biết chữ Consuela được lặp lại ba lần nghĩa là ba tầm vóc của Consuela, ba bậc lũy thừa của Trí năng Consuela, của Con-Người đối mặt với Hệ Có Cá Tính, với Trí năng Siêu Nhân Tính. Consuela lặp lại ba lần tức Consuela-Ở-Bậc-Lũy-Thừa-Ba, Consuela ĐÃ THẤU HIỂU làm sao đưa Hệ Có Cá Tính vào chỗ Sanh và chỗ Diệt, Consuela sắp đạt được Trí-Năng-Cao-Nhất-Gần-Cái-Tuyệt-Đối-Hơn-Hết-Thảy-Mọi-Cái-Khác. Hệ Có Cá Tính đang đầu hàng Consuela và sẽ hợp nhất với Consuela. Consuela thân yêu! Nàng đã thành công. Trung khẽ mỉm cười biết nàng sẽ thấy mà sung sướng bởi nụ cười chính là tặng nàng. Chàng lên tiếng với Reza:
- Ngài có yêu Consuela?
- Ông yêu Consuela?... - Reza đáp.
- Hãy nói: nàng yêu tôi.
- Nàng yêu ông.
- Đó là Sự thật, kỳ diệu quá, phải không?
- Đi đi, đi đi.
- Chào Reza. Ngài mềm mỏng với nàng nhé.
- Ông không thể hiểu điều đó hơn tôi.
Chàng nhìn qua vai Reza ngắm lại cõi hư đồ. Trên đầu là không gian kín màu xanh ngăn ngắt, tít đằng xa là cây cầu như dải yếm (hay dải yếm làm cây cầu) vẫn còn đó đợi chàng như con ngựa trung thành, như một người bạn.

- Chào Reza - chàng nói, mặc dù biết Reza vừa hút biến đi như bong bóng xà phòng. - Hãy nhớ mãi ràng tôi yêu Consuela - chàng nói thêm và chợt cảm thấy trên lưỡi một vị chát.

(...)

Thứ Ba, 1 tháng 11, 2016

Hoa, sáng tạo, thời gian.

Đối với một số người, đóa hoa của sự sáng tạo phải mất một thời gian tương đối dài thì mới có thể bắt đầu bung nở từ bên trong họ.

Cũng như đóa hoa tình yêu. Nó không nở vào cùng độ tuổi như nhau ở tất cả mọi người. Ở một số người, nó - đóa hoa của tình yêu đích thực - nở tương đối muộn. Chỉ đến một độ tuổi tương đối muộn họ mới bắt đầu cảm thấy sự bung nở của nó từ bên trong mình: nhu cầu yêu thương trọn vẹn, năng lực yêu thương trọn vẹn. Hoặc, chỉ đến tuổi đó, năng lực yêu ở họ mới gặp được chất xúc tác duy nhất thích hợp để nó bung nở hết kích thước tiềm tàng của nó.

Tại sao phải mất nhiều thời gian như vậy?

Bất kể những cách giải thích hợp logic mà ai đó có thể đưa ra - như môi trường gia đình, hoàn cảnh giáo dục, tinh thần thời đại, v.v. -, ẩn trong điều ấy luôn luôn là một bí ẩn lớn.

Tại sao Henry Miller, Marcel Proust, Hermann Broch, Jose Saramago... phải đến cuối độ tuổi ba mươi và đầu độ tuổi bốn mươi, hay muộn hơn nhiều, thì mới có thể viết ra được những tác phẩm quan trọng đầu tiên của mình - tất cả những gì họ làm trước đó chỉ là để "dọn đường" cho điều ấy, đến cái độ mà, giả như họ chết trước tuổi bốn mươi thì đời sau hoàn toàn có thể coi như chưa từng có họ trên đời?



Thật khác biết bao với những nhà văn - dù gì thì cũng chỉ số ít - viết ra được một số trong những tác phẩm quan trọng nhất, thậm chí là kiệt tác duy nhất của đời mình ở lứa tuổi rất trẻ, dưới ba mươi. Như Mario Vargas Llosa. Như Mishima Yukio. Như Krasznahorkai Laszlo... Đóa hoa sáng tạo của họ nở rộ từ rất sớm, một cách thực sự là đáng ghen tị.

Tuy nhiên, nghĩ cho kỹ, những đóa hoa nở muộn có cái đẹp của nó.

Khi nhà văn nở muộn, thời gian của anh ta không nhiều.

Ở chừng mực nào đó, sự ít thời gian của anh ta cũng giống như sự ít thời gian của một nhà văn chết sớm vì bệnh nan y - và biết điều ấy từ lâu trước khi chết.

Vẻ đẹp của đóa hoa sớm nở sớm tàn, và của đóa hoa muộn nở chóng tàn, là vẻ đẹp mà, về thực chất, như nhau: vẻ đẹp của sự ngắn ngủi, của sự nôn nả, của sự trân quý hơn nhiều lần từng khoảnh khắc sống, từng khoảnh khắc sáng tạo. Một cuộc sáng tạo, một đời hoa - mà hương thơm có đó là để tồn tại đời đời - gắn liền với bóng của sự chết.

Thứ Hai, 24 tháng 10, 2016

Về ngôn ngữ và sức mạnh.

Không ít nhà văn trên thế giới đã chọn thôi không viết bằng tiếng mẹ đẻ (Trung, Nhật, v.v.) để viết bằng một ngôn ngữ phương Tây mạnh hơn (Anh, Pháp...), một lựa chọn hoàn toàn có ý thức, và không hối tiếc vì quyết định đó. Yoko Tawada viết song song Nhật/Đức và tìm thấy ở việc đó một vị trí/thế đứng/cảnh giới riêng cho mình. Exophony - chủ động học cách sử dụng một ngôn ngữ khác cho đến khi đạt mức điêu luyện, có thể dùng nó để viết những gì mình muốn - là một trong những thực tế sống động của văn chương thế giới. So với nó, nhà văn Việt đang ở đâu?

Tôi không tin rằng người Việt, bất cứ người Việt nào, cũng bị trói chặt trong tiếng Việt giống như mỗi con người bị trói chặt trong cuộc đời/thể xác hữu hạn. Nếu con người đủ mạnh, y có thể chọn ngôn ngữ khác. Anh không đủ mạnh để làm vậy, đó không phải lý do để anh có quyền khẳng định rằng sẽ không có ai khác mạnh hơn anh.



Đương nhiên, sẽ là quái gở và ngu xuẩn/điên rồ nếu anh kêu gọi/dụ hoặc/khích lệ/bắt buộc (trong trường hợp anh có quyền) tất cả nhà văn Việt từ bỏ tiếng Việt mà chỉ viết bằng ngoại ngữ.

Quái gở và ngu xuẩn/điên rồ chẳng kém gì nếu anh cấm (trong trường hợp anh có quyền) tất cả nhà văn Việt không được viết bằng thứ tiếng nào khác ngoài tiếng Việt.

Anh viết bằng thứ ngôn ngữ mà anh dùng tốt, bất luận đó là ngôn ngữ do cha mẹ anh truyền lại hay do anh tự thu nạp được. Đơn giản có vậy.