Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Nhà Huế, trong Thành Nội (trích tiểu thuyết "Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian")

Từ sân bay Phú Bài vào thành phố, tôi khấp khởi trong lòng, biết sẽ gặp nàng. Tôi mừng vì có thể mình đã đến đúng lúc. Tôi biết nàng đang ở Huế với ai. Tôi biết những gì họ định làm, sắp làm, chắc chắn sẽ làm nếu không có tôi. Nếu tôi không xuất hiện kịp thời. Liệu sự xuất hiện của tôi có làm thay đổi gì không, tôi không chắc. Thậm chí dù sự xuất hiện của tôi chẳng làm thay đổi một cái gì thì tôi cũng không thể không xuất hiện. Tôi cần chứng kiến, vậy là đủ...
Nàng ở bên một tay nhiếp ảnh người Nhật. Người này, theo tôi biết, điên không thua nàng. Và trong số ít những thứ có thể làm anh ta bớt điên có nhạc Trịnh Công Sơn. Và nhạc Chopin. Và Leos Janácek. Zoltan Kodaly. Arvo Pärt. Krzysztof Penderecki. Toru Takemitsu, dĩ nhiên. Theo nàng nói, tuy có khi nàng phát âm không chuẩn những tên đó. Và một hai tên khác nữa nàng không nhớ chính xác và tôi không thể luận ra dựa theo cách nàng mô tả tác phẩm của họ. Rất có thể tôi không biết họ. Nhưng khi nào điên thì anh ta điên. Điên vô độ, nàng nói. Và tôi hiểu, điên không vô độ là một khiếm khuyết như thế nào đối với họ.
Tôi tự nhủ hãy để cho niềm vui sắp được gặp nàng chiếm lĩnh tâm hồn mình. Tôi kiểm soát mình sao cho điều đó diễn ra. Và càng vào đến trung tâm Huế tôi càng thấy mình bình tâm hơn. Ít nhất là tôi tưởng tượng như vậy. Tôi cố tự thuyết phục rằng không phải chỉ là tôi đang tưởng tượng như vậy. Bầu trời và những vòm cây của Huế vào một ngày nhiều nắng cuối hè đầu thu khiến cho việc ôm giữ những ý nghĩ và tâm trạng u ám ở trong mình trở nên khó hơn. Vừa mới dứt mưa. Một vẻ tươi mới toát ra ngay cả từ mỗi viên gạch lát vỉa hè, giống như một chiếc xe mới toanh vừa được rửa bởi người thợ rửa xe tận tâm và lành nghề nhất thế giới. Như thể mọi vật quanh tôi vừa mới được làm ra hoặc được chế tạo lại một cách sao cho các đường viền đều sắc nét như trong tranh khắc axít. Ít nhất thì đó là cảm giác của tôi. Tôi nôn nả muốn xe đi nhanh hơn, nhanh nữa, cho chóng đến lúc được thấy nàng, song mặt khác phần nào đó trong tôi lại mong cho phút đó chậm đến. Chỉ khi xe đã đi qua khỏi Phu Văn Lâu, tôi mới nghĩ ra là đáng lẽ nên gọi điện trước cho nàng. Nhưng việc đó không dễ. Đã từ lâu nàng không dùng di động, không vào mạng. Còn, gọi cho khách sạn ư? Gọi thông qua người khác ư? Lại phải chịu thêm sự bấp bênh đó ư? Sự bấp bênh khi có một kẻ khác ở bên nàng còn chưa đủ sao?
Cái giày vò tôi không phải là chuyện nàng có thể có quan hệ luyến ái hay quan hệ xác thịt với Ryutaro hay không. Nếu có chuyện đó, tôi sẽ bứt rứt không ít. Đương nhiên. Đau đớn, phải. Đương nhiên. Nó đúng là đau đớn. Nhưng đó không phải là thứ giày vò tâm trí tôi nhiều nhất, gặm nhấm bên trong tôi một cách tàn độc nhất. Tôi biết điều đó. Nàng biết điều đó. Bởi vậy mà lần này, ít nhất là riêng lần này nàng để tôi gặp Ryutaro. Tôi hiểu tình thế của mình. Tôi hiểu. Tôi không thể không hiểu. Tôi không thể hình dung mình sẽ sống tiếp ra sao nếu mình không đủ khả năng hiểu ngay cả một điều như thế. Chuyện tôi sẽ tiếp tục tồn tại như thế nào, sống tiếp ra sao tùy thuộc vào chuyện tôi sẽ vượt qua như thế nào ít phút sắp tới, khi trước mặt tôi là cả hai người đó, nàng và Ryutaro. Nàng và Ryutaro, đó là như một sự tổ hợp có khả năng đập nát tôi như đập nát quả trứng và việc tôi phải làm là đập vỡ bản thân điều đó, cái ý nghĩ đó, khả năng đó, nỗi ám ảnh đó - như đập vỡ quả trứng.


Một căn nhà cũ, hẳn không dưới năm hoặc sáu mươi năm tuổi, nằm trong khu vườn râm mát có bể cá ở một khu im vắng trong Thành Nội. Một hàng rào dâm bụt thấp ngăn cách vườn với con đường nhỏ rải lớp nhựa lâu năm lở lói, hầu như không có xe cộ lại qua trừ một đôi trai gái cưỡi xe máy - ít nhất là tại thời điểm chiếc taxi chở tôi từ khách sạn trên mạn Kim Long tới đây và thả tôi xuống. Ở nơi đây, như người ta thường nói, thời gian không chuyển động, hoặc hồ như không chuyển động, hoặc chuyển động theo cách đặc biệt nào đó khiến con người không thể tri giác được, khiến cho với con người nó hầu như đứng sững, một vũng thời gian tù đọng bất động bên cạnh những dòng thời gian lưu chuyển ở những nơi khác. Chẳng phải vô cớ mà nơi này được họ chọn làm vị trí triển khai dự đồ của họ, nàng và Ryutaro. Họ cần một vũng lặng như thế, chìm xuống tận đáy nó, sao cho lực nén đè lên những gì đang muốn bùng ra từ bên trong họ tăng bội đến cực điểm. Điều đó tôi biết. Ít nhất là dựa trên những gì tôi cho là mình hiểu về nàng. Nàng cần cái cảm giác phong kín, bị vùi sâu trong đất. Tôi hít sâu vào ngực bầu không khí đượm mùi cây cỏ, đậm mùi đất, mùi tường vôi cũ. Có mùi rêu, và cái có thể gọi là mùi của sự tịch lặng. Ngàn năm nữa sẽ trôi qua trước khi có một hòn sỏi bị dịch chuyển hay tự mình dịch chuyển ở đây, cảm giác tịch lặng đến như vậy. Có những người cảm thấy ngần ngại không muốn bước đi ở nơi như thế này, ngại bước chân mình sẽ làm kinh động một chút cái tịch lặng đó. Tôi là kẻ như thế. Nhưng tôi vẫn bước, nghe tiếng những mảng nhựa đường bong tróc cọ rào rạo dưới gót giày mình.
Tôi đứng bên hàng dậu dâm bụt cao ngang ngực, nhìn ao nước có hòn non bộ giữa khoảnh sân trước nhỏ, thoáng thấy cái lưng có màu giống như quả hồng của một con cá vàng, chợt nghe cái cảm giác lạ lẫm rằng con cá này thật ra là ảnh chiếu của một con cá khác mà tôi đã nằm mơ thấy một lúc nào đó hay thậm chí trong một giấc mơ tôi hãy còn chưa mơ. Nước trong ao đó, nước mà cá kia đang bơi, đó là một khối nước có từ nhiều trăm năm trước và thậm chí ở một thế giới khác và lúc này, ở đây, nó chỉ là chút tàn dư câm lặng thâm u của bản thân nó đã từng. Đó là một ảo giác, tôi biết, nhưng ngay lúc này nó mạnh hơn thực tại hoặc cái mà ý thức tôi bảo là thực tại. Tôi đứng đó hồi lâu (năm phút? mười phút? hơn thế?), lần khân, cảm thấy rằng cái quyết định giơ tay bấm chuông cửa nhà này, nó cũng xa tôi giống như một vệ tinh của sao Thiên vương xa các đầu ngón tay tôi.
Nhưng rốt cuộc ảo giác chấm dứt; tôi buộc nó chấm dứt. Tôi bước tới chỗ cánh cổng thấp (thấp đến độ đáng ngờ, chỉ ngang bụng tôi mà tôi thì không cao lắm), nhấn chuông.
Một lát sau cửa mở, một dáng người xuất hiện trong khung cửa, cách tôi chừng ba mét.
Ryutaro.
Là y, dĩ nhiên. Y không như tôi chờ đợi. Không như tôi hình dung. Không thực sự ưa nhìn. Không ưa nhìn. Không có nét hay vẻ gì nổi bật, đặc biệt. Có vẻ không toát lên thứ thần thái gì đặc biệt. Ít nhất đó là ấn tượng trong ba bốn giây đầu tiên tôi im lặng quan sát y, hết sức tập trung. Khoảng ba mươi lăm đến bốn mươi. Cũng có thể trẻ hơn hoặc già hơn. Không quá cao, không quá thấp. Không mập, không ốm, không lực lưỡng vâm váp, không dặt dẹo ẻo lả. Tóc không dài, không ngắn, không xoăn, không bù xù tổ quạ, không bóng nhẫy, không hói trụi, không húi cua. Vai không rộng quá, không xuôi quá. Mặt hơi dài, nhưng cằm vuông. Trán rộng, dô, mũi lớn, hàm chắc, miệng rộng vừa phải. Cằm lún phún râu, không ria. Mắt to, sâu, đen. Tôi quyết định nhìn lâu vào đó. Nếu có thể phát hiện ra gì đó ở sâu trong y thì không có cách nào hơn thông qua cặp mắt này.
Mặc sơ mi ngắn tay bằng lụa màu xanh cô ban cũ sờn, quần lửng màu vàng đất có vài vết ố đen, một bên túi quần phồng tướng, cứng ngắc, như con ếch muốn phưỡn bụng ra cho to bằng con bò, có trời biết đựng cái gì, chân mang dép lê (loại dép lê mà các chú Nhật hay Hàn hay Tàu ba lô đặc biệt thích mang), y đứng nơi cửa, nhìn tôi, không chào, không cười, không thân thiện, không ác cảm, không dè dặt, không tò mò, không châm chọc, không khinh khỉnh. Chỉ tỏ lộ vừa đủ, không thừa không thiếu, cái thực tế rằng y biết tôi là ai tuy chưa từng gặp tôi và biết tôi sẽ đến, rằng ở chừng mực nào đó hoặc theo nghĩa nào đó y đang đợi tôi đến.
Rốt cuộc, vẫn không rời chỗ của mình nơi cửa, y gật đầu với tôi. Và rồi, như một nhân vật trong tranh nhô ra khỏi bức tranh,  y bắt đầu chuyển động, đặt từng bước khoan thai xuống từng bậc của ba bậc tam cấp ngắn, bước xuống lối đi hẹp lát đá (kỳ thực là ngắn ngủn) nối cửa vào nhà và cổng, tiến về phía tôi. Tôi theo dõi những bước chân y, tư thế, trạng thái của toàn bộ thân thể y trong khi y bước. Tôi không định làm thế. Tự nó thu hút tôi. Sự nhẹ tênh của y, nó thu hút tôi. Y là một nhân vật mà hễ chân bước đến đâu là khoảnh đất hay vỉa hè hay sàn nhà hay nhựa đường dưới chân y đều biến thành thể khí, vừa đúng trong khoảnh khắc chân y tiếp xúc với nó, chỉ với riêng y, nó biến thành thể khí hầu có thể đồng nhất với thực tánh của thứ chất liệu làm nên thể xác y, rồi thì, liền sau đó, khi chân y đã rời đi, nó liền lập tức trở lại thể rắn như cũ, và đến lượt khoảnh đất hay vỉa hè hay sàn hay nhựa đường kế tiếp chuyển thành thể khí vào khoảnh khắc tiếp xúc với chân y, cứ vậy không ngừng.
Y mở cổng cho tôi.
Vào đi, amico.
Y nói bằng tiếng Việt, trừ chữ amico. Y mở rộng cổng, đoạn tránh sang bên nhường lối cho tôi. Khi tôi bước vào (cố tình không vội vàng), y không nhìn tôi mà hướng cái nhìn vào một phía khác. Nhưng không phải là y tránh mắt tôi hoặc cảm thấy khó chịu nếu nhìn tôi lâu hơn. Y không còn chú tâm đến tôi nữa, chỉ có vậy. Trong nháy mắt tôi đã trở nên quá nhỏ bé đến độ bằng như không còn hiện hữu bên cạnh cái gì đó mà tâm trí y vừa lại quay về; tôi giống như một mẩu gỗ mục mà sóng đánh dạt vào gần dưới chân y, chỉ đáng cho y nhìn trong vài giây; biển trước mặt vẫn là cái mà y cảm thấy bằng toàn bộ bản thể y rằng y phải hướng về.
Bước qua cổng, đến lượt mình tôi tránh sang bên, chờ y khóa cổng. Y làm việc đó một cách cẩn trọng vừa phải, không rề rà, không vội vàng. Một lần nữa, dù không chủ định, hoặc có thể có, một chút, tôi quan sát thật chăm chú từng cử động nhỏ nhặt của y. Và bỗng tôi nhận ra, với một cái gì gần như là cú choáng thoáng qua: y là chủ của nơi này. Không, nói thế không đúng. Chỗ này và y là một: y là nó, nó là y, nói vậy đúng hơn, dẫu không phải đúng nhất.
Tôi để y đi trước dẫn đường. Tại sao tôi làm vậy mặc dù rõ ràng trong thâm tâm tôi chỉ muốn một mình phăm phăm tiến tới, không bận tâm tới y? Y mở cửa nhà, vào trước, tránh sang một bên khung cửa, một lần nữa đợi tôi. Nó vừa giống cử chỉ của một chủ nhà chu đáo ân cần, để tâm đến khách của mình trong từng chi tiết nhỏ nhặt, vừa giống như phong thái của một tay chủ nhà khó chịu và cáu bẳn sẽ làm khi điều quan trọng nhất với y không phải là khách cảm thấy thế nào khi lần đầu tiên bước vào nhà y mà là làm sao cho cửa kia, sau khi được mở, phải đóng trở lại càng sớm càng tốt, và đồng thời cũng dường như có khả năng hàm chứa cả một sự trân trọng cao độ nào đó, tuồng như việc duy nhất mà y có mặt ở đây để làm là mở cửa cho tôi; bước qua cửa này, về thực chất, là đặc quyền thuộc về một mình tôi.
Sau khi y đã đóng cửa, tôi khẽ xoay người để đối diện y, nhìn thẳng vào mắt y. Đứng gần nhau thế này, tôi nhận thấy chúng tôi cao gần ngang nhau. Từ y bốc ra mùi hăng hắc tự nhiên của cơ thể, không phải mùi cáu ghét lưu cữu, không phải mùi quần áo lâu ngày không giặt, không lẫn mùi thuốc lá, mùi những cái răng sâu. Không mùi nước hoa hay lăn khử mùi. Mùi gây liên tưởng đến mùi một con gấu, một con hoẵng trong rừng, hoặc có thể một con gấu mang hồn hoẵng, một con hoẵng mang hồn gấu.
Tôi nhìn thẳng vào mắt y.
Y nhìn sâu vào mắt tôi, và bỗng tôi nhận ra rằng cái nhìn của y hướng vào tôi có thể được mô tả bằng từ này: dịu dàng.
Y nói, giọng ôn tồn:
Chúng tôi chờ anh, amico.
Một lần nữa, từ ấy giống như một miếng cao dán thẳng vào tim tôi, dính, bí, dễ chịu (phải, dễ chịu, điều tôi không chờ đợi): amico.
Một câu trả lời bật lên vòm miệng tôi, như con chim bay lên đập mình vào chấn song lồng đòi thoát ra ngoài, mặc dù tôi hãy còn chưa có ý niệm gì về hình hài cụ thể của nó. Trên thực tế tôi im lặng, hoặc về thực chất tôi im lặng. Gã cũng im, lắng nghe câu trả lời và/hoặc sự im lặng của tôi. Chúng tôi đứng vậy, nhìn nhau, im lặng, lắng nghe nhau, trong cảnh tranh tối tranh sáng của căn nhà. Cửa lớn đã đóng và hình như mọi cửa sổ đều đóng trừ một cánh ở đâu đó không đóng song đang kéo kín rèm. Mất khoảng mươi giây – ý tôi là mươi giây sau khi rốt cuộc tôi cũng rời mắt khỏi y - tôi mới bắt đầu phân biệt được hình dáng các vật thể và các khoảng không gian trống ở quanh mình. Một phòng khách bình thường của một căn nhà ở bình thường. Một bộ xa lông cũ - xét theo kiểu dáng chứ không phải theo tình trạng hao mòn của chất liệu, bởi hiện thời trong mắt tôi toàn bộ bề mặt nó là một màu có lẽ từa tựa như tro pha loãng, sẫm, đục, nhờ nhợ, như trong một bức bưu ảnh cũ bị lấm bụi xi măng. Một tủ thờ, lớn, không quá lớn. Một tivi, không quá nhỏ, không quá lớn, đặt trên một cái gì thâm thấp, hẳn là loại kệ thấp chia thành nhiều ngăn nơi người ta có thể đặt đầu video, bộ loa và một số đĩa nhạc bên cạnh nhiều thứ khác, song tôi không thấy gì khác ngoài hình thù và đường nét chung của cái kệ và chiếc tivi. Một lọ hoa kê trên cái đôn nhỏ đặt bên cửa sổ - tôi thấy được hình dáng mờ mờ của mấy nhành hoa song không thể đoán được hoa gì, không thể biết hoa đang nở hay sắp tàn, dù thế nào thì cũng không nghe thấy mùi hoa. Trên cái bàn nhỏ kê sát vào một góc, một cái gì giống như máy quay đĩa kiểu xưa, có lẽ đúng vậy, cùng một khối dài dài, có góc cạnh, đen đen, có lẽ là một dãy đĩa hát xưa, 45 vòng, 33 vòng rưỡi dựng đứng dọc tường. Trên hai trong bốn bức tường có hình thù của những kệ sách, lòng các kệ sách đó giống như những hố trũng có cạnh vuông vức, sâu, dài, tối thẫm, tôi cố căng mắt nhìn song không thể phân định được các kệ này có chất kín sách không, đó đại để là những loại sách gì, có lẫn với báo, tạp chí, các loại hồ sơ ấn phẩm khác không. Có mùi âm ẩm lưu cữu của một căn nhà Huế trong những tháng mưa dầm, gợi nhớ mùi những thanh ván gỗ cầu tàu dầm nước lâu năm.
Tôi muốn nói gì đó với Ryutaro, miệng tôi hé mở, nhưng tôi liền nhận thấy câu hỏi chưa sẵn sàng để thành hình. Tuy nhiên y đọc được nó. Y nhún vai, khoát rộng tay, một cử chỉ gần như bao trọn căn phòng, và mơ hồ, như bộc lộ ý muốn bao trọn mọi ý nghĩa mà căn phòng có thể ẩn giấu và đồng thời thừa nhận rằng việc đó không thể.
Cuối cùng tôi cũng hỏi được rành rọt:
Cô ấy đâu?
Mắt không rời tôi, y khẽ đưa tay, rất khẽ, về phía một trong hai cái ghế đơn của bộ xa lông:
Ngồi đi, amico.
Một câu nói dồn lên miệng tôi nhưng tôi ghìm nó lại, nuốt xuống. Tôi có thể cảm thấy nọc độc của nó loang ra trong người tôi như chất dịch đen sì của một con mực. Tôi ngồi xuống cái ghế y chỉ, thoáng có cảm giác mình đang rơi trong tư thế ngồi xuống một cái giếng.
Từ dưới đáy cái giếng ấy tôi ngẩng lên nhìn y, nhẫn nhục và ngoan ngoãn “như con bê nhìn lên kẻ sắp chọc tiết mình”.
Y im lặng nhìn tôi khoảng vài giây.
Anh sẽ phải đợi cô ấy một chút, y nói.
Tôi đợi cô ấy hàng mấy tháng rồi, tôi nói.
Cô ấy đã đợi anh hàng trăm năm, y nói.
Sau khi y nói xong câu đó, có một khoảng lặng ngắn trong đó tôi có cảm giác như cái kẻ vừa nghe câu đó không phải là tôi mà là một người khác còn tôi đang ở đâu đấy xa chỗ này, không có can hệ gì tới chỗ này. Cảm giác đó qua nhanh và tôi mở miệng ra, nhưng chưa kịp nói gì – chưa kịp nghĩ ra mình muốn nói gì – thì y đã giơ tay lên ra hiệu bảo tôi im lặng, và trong động tác đó của y, thật quái quỷ, có cái gì đó khiến tôi thực sự phải im lặng.
Tôi ngồi, nhìn y, đợi y nói, rồi chợt nhận ra rằng y bảo tôi im lặng không phải là để y nói. Y đăm đăm nhìn tôi một hồi lâu, như để chờ cho sự im lặng của y ngấm sang tôi đủ độ, rồi thong thả đưa mắt về một chỗ ở đầu bên kia phòng. Hẳn là có cánh cửa ở đó. Tôi không thực sự thấy nó, phía đó chỉ là một khối màu tro gần như là chất lỏng đối với tôi. Tôi nhìn sang Ryutaro. Y đang nhìn cái vũng đen nhờ ấy với vẻ giống như thể nó đang nói với y bằng một giọng chỉ mình y nghe được và một ngôn ngữ mình y hiểu. Hoặc có thể chỉ khi nào y đã nhìn vào chỗ đó đủ lâu hoặc đã dồn vào đó một cường độ tập trung đủ lớn, chỉ khi đó, ở nơi vốn dĩ là bức tường, một cánh cửa sẽ chầm chậm hiện hình.
Rốt cuộc y nói, không nhìn tôi:
Đừng chờ đợi nữa, amico.
(Còn tiếp)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét