(Trích từ "Chuyện Gurun", Phụ lục của tiểu thuyết sắp hoàn thành "Cospolist Nổi Loạn". Dành cho những ai quan tâm)
Ngày thứ tám của Tadhuntassa
Haddunsili khởi đầu với một trận mưa nặng hạt. Đấu trường nhoe nhoét bùn nhão,
dăm ba vạt cỏ hiếm hoi còn sót lại đều sũng nước. Nơi này, đầu hẹp của thung
lũng Ithmongkul kẹp giữa hai rặng núi Dvén và Virníngar với những đỉnh gần như dựng
đứng, vốn thường ngày là góc khuất nẻo yên tĩnh nhất của sơn trại, nơi mà chỉ số
ít tướng lãnh và chiến binh có võ công cao cường nhất mới có quyền đến để tập
luyện và đàm đạo về võ thuật cùng binh pháp. Đây nào phải nơi tôi hay đến; tám ngày
có mặt ở đây, ngày nào cũng như ngày nào, tôi chẳng mấy khi đủ can đảm nhìn
thẳng lên hai rặng núi trên đầu mình, bụng tôi vẫn còn thắt lại mỗi lần khí
lạnh từ trên khe núi, bất kể đang trưa, tìm được đường luồn thấu thịt tôi; thi
thoảng tôi tưởng như nghe tiếng tuyết lở rất gần. Từng có đôi lần tuyết lở nơi
này, và chẳng phải không có người tử nạn.
Dấu hiệu duy nhất cho thấy sự hiện
diện của con người ở đây là một cụm những tảng đá to xếp sát nhau tạo thành một
cái bàn, cùng một số ghế, là những tảng đá nhỏ hơn, vây quanh thành hình bán
nguyệt. Tuy nhiên, suốt tám ngày qua, trong khi diễn ra các cuộc thư hùng,
không một ai ngồi trên những ghế đá cập kênh kia. Nằm trơ đó, chúng như đang
chờ đợi vong linh những kẻ từng ngồi trên chúng mà nay vắng mặt.
Mọi người đứng quanh võ đài, từ
sáng sớm đến xế chiều, trong những ngày diễn ra Tadhuntassa Haddunsili. Mỏi, tê
chân, họ đi tới đi lui, làm vài động tác cho giãn gân giãn cốt, lại mỏi hay tê
đến không còn chịu nổi thì họ ngồi bệt hoặc nằm dài giữa cỏ. Thân thể sạch sẽ,
áo quần tinh tươm là điều xa xỉ ở đây. Lấm lem bụi đất, toàn thân bùn sình bê
bết, lá cỏ nát nhàu vướng trên tóc, gấu quần rách toạc, đầu gối xây xát rớm máu
vì cạnh đá cứa trong bóng tối nhá nhem, đó là một trong những cách để người xem
dự phần vào vị thế của những người đang giao chiến. Võ đài, một mô đất rộng,
tròn, cao ngang vai người, bằng đất nện, cũng nhớp nháp bởi mưa, khiến cho vài
khoảnh khắc quần thảo trên đó là đủ để từ đầu đến chân hai đối thủ chỉ còn nổi
rõ một màu bùn. Tôi đứng cách khoảng hai mươi bước, đủ gần để thấy rõ từng
người trong số các chiến binh yêu dấu của mình, đủ xa để bùn nhão từ trên võ
đài bắn ra không làm bẩn thêm bộ đồ nổi nhất của tôi. Chẳng phải vì tôi nâng
niu bộ cánh của mình đâu, tôi nào có ảo tưởng sẽ có thể giữ cho mình sạch sẽ
hơn so với người khác trong tiết trời đáng nguyền rủa này. Sự thực là tôi chỉ
muốn đứng gần đủ để có thể len nhanh lên sát võ đài nếu một trong hai đấu thủ
bị đau quá sức chịu đựng, để may ra tôi có thể làm gì đó cho anh ta, đồng thời
tôi cũng muốn đứng đủ xa để vài đấu sĩ nào đó không phải vì dễ nhìn thấy tôi
giữa đám đông mà bị phân tâm. Mặc dù, thật ra, nếu có khi nào một đấu thủ có
lúc nhìn về phía tôi lâu hơn một chút so với chỉ do tình cờ, tôi không chắc được
đấy là họ nhìn tôi hay nhìn ai đó bên cạnh, đằng trước hoặc sau tôi, và tôi cảm
thấy cách hay nhất là đứng yên, không bồn chồn, không căng thẳng, giữ cho mặt
mình tươi mát tự nhiên như hoa nở ban sớm, không quan tâm đến chuyện có ai nhìn
mình không. Thế nhưng mà, sự thực là hầu như suốt trong khi theo dõi những gì
xảy ra trên võ đài, tim tôi không bao giờ yên mà cứ lúc đập thình thình, lúc
như xoắn vặn, lúc thì như cơ hồ tắc lại… Và mỗi khi một trong các chàng trai đó
bật khóc vì đau đớn hay nhục nhã hoặc cả hai, điều này chẳng hiếm xảy ra, tôi
lại nôn nao muốn làm gì đó cho họ, một việc mà chỉ một người đàn bà mới có thể
làm, tôi ao ước mình có hai bầu vú to lúc nào cũng tràn trề căng ứ của
Faínâhind, giá như tôi có thể đút lần lượt từng bầu một vào miệng họ, truyền
cho họ sữa ngọt chắt ra từ máu thịt tôi, thứ sữa mang trong nó tình yêu mà một
người đàn bà khác hẳn sẽ trao cho họ nếu lúc này người ấy có mặt.
Tôi yêu họ như thế đó, tất cả các
đấu thủ tham dự những cuộc tỉ thí Tadhuntassa Haddunsili, một tình yêu không
phân biệt. Bởi vì tôi biết rằng thật ra chẳng ai trong bọn họ nhìn tôi, con bé
Ăltâhind gầy như que củi này, trước sau phẳng như tấm ván, lúc nào cũng nhợt
nhạt như vừa ốm dậy, cái đứa nghĩ tới họ ngay cả giữa khi đang làm sạch bụng
mình ở ven cánh đồng. Tôi biết những người tôi nhớ nhất là ai. Họ là những
người đầu tiên đến trong tâm trí tôi những lúc tôi ngồi xổm ven cánh đồng như
thế và ở lại với tôi lâu nhất. Họ là những người có vẻ nhìn xuống tôi thường xuyên
hơn cả từ trên võ đài, là số ít những người mà, khi họ khuất phục được đối
phương hoặc bị đối phương khuất phục, tôi đều cảm thấy từ trong cật ruột mình
rằng họ sắp quay đầu về phía tôi để gọi to tên tôi, thông báo ngay tức khắc với
tôi, bằng một câu ngắn, ngắn và không rõ thành lời nghe như tiếng kêu của một
con chim, cho tôi chứ không ai khác biết về sự ngỡ ngàng của họ, ngỡ ngàng
không thể tin mình vừa trở thành kẻ thắng trận hoặc người thua trận. Những lúc
ấy, khi tôi có cảm tưởng như bất cứ ai trong số những đàn ông trẻ tuổi mạnh mẽ
và đầy khát vọng kia cũng đều sắp lên tiếng với tôi như đứa bé lên tiếng với mẹ
mình về cái cảm xúc sâu xa đang tràn ngập lòng nó, tôi nhận ra một điều rằng
tất cả những cuộc đua tranh này thật vô nghĩa. Nhưng tôi đâu thể làm gì khác
ngoài nhìn họ, theo dõi họ, mừng với họ và nâng niu an ủi họ, dù chỉ thầm trong
miệng và sâu trong tim.
Máu... tôi không muốn nhìn thấy
máu. Thế mà, mặc cho mọi lời cầu khấn của tôi dâng lên các thần linh, máu vẫn
đổ trên kia, trên nền đất nện, trên những chỗ đất mềm bị cày lên lõng bõng bùn,
trên lá cỏ bị xéo nát, dưới mắt tôi. Không ai chết vì những vết thương đẫm máu
đó - Tadhuntassa Haddunsili không cho phép một ai làm chết đối phương, kẻ nào
làm vậy phải chuộc tội bằng chính mạng mình - song không phải vì vậy mà tôi có
thể giữ cho tim mình đừng quặn lại mỗi khi thấy máu. Tôi căm ghét Iktezahota
biết chừng nào! Cái nghi thức đầy máu đó, nó khiến cho máu đổ ngay cả khi suốt
trận so tài cả hai đấu thủ đã vô cùng cẩn trọng không để đối phương phải đổ dù
chỉ một giọt máu...
Bởi vậy, dù không muốn chút nào,
tôi thấy mình ghét những người thắng trận nhiều hơn người khác. Ai càng thắng
trận nhiều, tôi càng ghét tợn. Thật trớ trêu! Trong khi người ta nhiệt liệt
tung hê và không tiếc lời nào không tiếc cử chỉ nào để tỏ lòng ngưỡng mộ những
chiến sĩ siêu quần đó, những kẻ chiến đấu hình như chỉ để chất cao lên không
ngừng, cao hơn, cao nữa những chiến thắng trăm lần như một của mình, thì tôi,
có lúc tôi chợt giật mình nhận ra tôi đang thầm mong có một cái gì đó, một rủi ro
bất ngờ, một cơn bạo bệnh đến từ chốn địa ngục đen tối hung hiểm nhất sẽ khiến
cho kẻ đó chết mà chẳng cần ai giết trước khi hắn kịp thắng thêm trận nữa và
làm cho thêm một người nữa phải đổ máu với Iktezahota...
Hăldúk Êstimbăn là một trong những
kẻ đó. Và Mattai dường như biết lòng căm ghét của tôi đối với hắn. Làm cách nào
anh biết? Với tôi đó là một bí ẩn. Mặt khác tôi biết mình không thể lầm... Nhìn
cái lối anh quay lại nhìn tôi mỗi lần Hăldúk lại hạ được đối phương và thiên hạ
lại hoan hô hắn là tôi biết. Sức mạnh trong cái nhìn của anh buộc tôi phải hiểu
rằng anh biết chắc trước sau gì tôi cũng sẽ lại nhìn anh cho dù tôi cố kìm mình
đến đâu đi nữa. Và khi không còn có thể dối anh cũng như tự dối mình rằng lần
nào cũng như lần nào tôi đều sẽ đáp lại cái nhìn của anh, tôi lại tự buộc mình
nghĩ rằng, coi đó, tôi đâu có thực sự thấy ở cái nhìn của anh cái mà thâm tâm tôi
muốn thấy; kỳ thực tôi nào có thấy ở mắt anh một mối gắn bó mơ hồ song bền chặt
nào đó với tôi, tôi nào có thấy ở cái nhìn của anh dấu hiệu của sự thông đồng, một
lời trấn an lặng lẽ rằng tôi có thể tin vào sự đồng cảm và ủng hộ của anh. Thôi
thì tôi sẽ không mong đợi điều sẽ không bao giờ đến nữa, mà chỉ tập trung vào
cái điều lớn lao hơn đang thực sự gắn bó tôi với Mattai, Mattai của tôi...
Lý do gì khiến Mattai căm ghét
Hăldúk Êstimbăn cũng như tôi, căm ghét đến mức có thể nhận ra ngay từ cách một
quãng xa một nỗi căm ghét tương đương vậy ở tôi, như một con sói cô độc và vỡ
mộng nhận ra giữa khu rừng của mình cái mùi của một sói cô độc và vỡ mộng giống
như nó? Người ta có thể suy đoán rằng đó là do Mattai ganh tị với hắn như thói
thường của con người, tuy nhiên tôi nghĩ câu trả lời dễ dàng nhất là câu trả
lời xa sự thật nhất. Lý do thực sự của lòng căm ghét ấy ở Mattai nhất định phải
cao hơn thế. Tôi biết điều mà người xưa vẫn nói rằng nhân vô thập toàn nhưng dù
vậy tôi vẫn muốn sao cho mọi thứ ở Mattai đều cao đẹp, ít nhất là đủ cao đẹp
cho lòng ngưỡng mộ của tôi dành cho anh. Do vậy mà tôi không muốn, hoàn toàn
không muốn nghĩ rằng Mattai có thể không chỉ là bằng hữu thân thiết của
Asrimkhan mà còn là người tình điển trai của thủ lĩnh... Dẫu sự thật có thế đi chăng
nữa, tôi không muốn thế, tôi không
muốn Mattai của tôi có cái gì chung với đám dân Bongora đồi bại kia cho dù bản
thân anh từ đó mà ra, tôi muốn rằng chẳng thà anh có quan hệ xác thịt với ba
mươi phụ nữ cũng còn hơn là với một người đàn ông, kể cả dù ở nước anh người ta
coi việc đó là bình thường như thế nào. Tôi không muốn rằng sự thông đồng giữa anh
với tôi, nếu có một cái gì như thế, lại dựa trên một điều chỉ quan trọng với riêng
anh và không xứng đáng với tôi.
Dù thế nào thì, suốt mấy ngày đầu
diễn ra Tadhuntassa Haddunsili, không một lần nào Mattai chủ động lại gần tôi
và nói với tôi. Tuồng như anh nghĩ rằng cái nhìn giữa hai chúng tôi là đủ, và
nếu đến lúc nào đó nó không đủ thì chẳng phải anh mà tôi mới là người cảm thấy
và không chịu nổi điều đó... Mỗi khi nhìn Hăldúk Êstimbăn và nghĩ bụng ước gì
ánh mắt mình có thể làm cháy nám tấm lưng dài nghêu của hắn, tôi lại nôn nao
trong dạ, và để hết nôn nao tôi không có cách nào khác ngoài ngoảnh về phía
quen thuộc tìm mắt Mattai. Không như tôi, anh hầu như luôn luôn đứng cùng một
chỗ, ở vị trí đặc biệt dành cho các phó tướng thân cận nhất và bằng hữu chí
thiết của Asrimkhan, luôn luôn ở khu vực đó, và gần như luôn luôn tại cùng một
điểm. Anh như biết rõ mình là một cái trục, một trung tâm, cần phải bất chuyển
và thường trụ, có thế thì tôi, kẻ thường xuyên chuyển dịch vòng quanh và không
cố định chỗ dừng, tôi mới có thể tìm thấy anh và trở về với anh. Dù có đi đâu
tôi cũng không bao giờ thoát khỏi anh; đối với anh tôi tự do như vậy đó.
Vả chăng, thậm chí dù không có mối
thông đồng bí mật này giữa Mattai với tôi thì tôi cũng chẳng thể tránh nhìn
anh. Anh khác biệt với những người ở gần anh đến nhường nào! Ignérul, thường
xuyên đứng bên trái anh, gã khổng lồ cổ bò mộng và nước da hạt dẻ, bất cứ khi
nào mắt y thấy máu bật giữa đấu trường là lại hít hà như một kẻ đói khát ngửi
thấy mùi bữa ăn ngon. Tason Singébel, gầy như xác ve, cổ rụt, vai so, hào hứng
như đứa trẻ nít luôn tay luôn chân lặp lại những đòn thế ngoạn mục nhất hoặc
hung hãn nhất mà các đấu sĩ tung ra trên võ đài, khiến mọi người phải tự biết
mà chừa cho y một khoảng trống lớn hơn nhiều so với y đáng được hưởng nếu xét
theo hình vóc của y. Ha Mung Phol, cao nghệu, đầu quá to so với thân, theo dõi
mọi trận đấu với nụ cười nửa miệng, tuồng như luôn luôn chán ngán bất cứ cái gì
mắt anh ta thấy. Uryangthai, lão già loắt choắt râu tóc dài trắng như lông gấu
tuyết, mắt xếch lim dim, tuồng như với lão không có việc gì đáng làm hơn là tạo
cho mình được càng nhiều càng tốt những mảnh rời của giấc ngủ vĩnh hằng mà cái
chết chẳng bao lâu nữa rồi cũng sẽ đem đến trọn vẹn cho thể xác và linh hồn
lão. Trong khi đó, Mattai của tôi, anh nhìn những trận chiến diễn ra trước mắt
mình bằng một vẻ kỳ lạ mà phải lâu sau tôi mới nghĩ ra là có thể sánh với cái gì.
Những trận thư hùng này, anh nhìn chúng như thể đang nhìn thấy lại những chuyện
đã xảy ra trong đời của chính anh, mặc dù tôi biết Mattai không biết võ nghệ và
chưa bao giờ là một chiến binh. Những đường kiếm chết chóc và những cú lia dao
hủy diệt đó, anh như thể nhìn chúng mà thấy lại trong đầu mình những hình ảnh
từng hiện diện vào lúc nào đó trong quá khứ của anh, trong trí tưởng tượng của
anh, những hình ảnh chẳng liên quan gì tới chiến trận. Chẳng hạn như đường kiếm
Ulsakiritai giống như con chim cắt từ trên cao bổ xuống theo chiều gần như
thẳng đứng nhanh hơn mắt kịp nhìn kia, một trong những tuyệt chiêu không ai
địch nổi của Tengan Duwat người xứ Ainathon - mỗi lần nó được tung ra, tôi nhìn
ngay vào mắt Mattai và có cảm tưởng như anh vừa thấy bầy chim sẻ vụt bay lên
tán loạn từ một tàn cây khi có động: nếu không phải vậy thì giải thích sao đây
về nụ cười trìu mến và mơ màng nở trên môi anh ngay lúc đó…Gã Tengan Duwat này
hình như đã là cái cớ để Mattai lại bắt đầu nói chuyện với tôi. Tôi không thể
nói chắc đã bao lâu rồi tôi không tìm được cơ hội nói với anh dù chỉ một lời. Sự
cố tình xa lánh của anh là nguyên nhân cho nhiều đêm thiếu ngủ của tôi dù tôi
vẫn biết chẳng có mấy lý do để anh bận tâm đến tôi. Suốt thời gian qua chỉ còn
lại một thứ duy nhất gắn kết tôi với anh, là chất keo của những cái nhìn: hình
như chính anh hiểu rằng đã đến lúc im lặng nứt ra thành lời nói.
“Hắn sẽ chết,” anh nói, không nhìn
tôi, khi chúng tôi gặp nhau bên bể nước nơi tôi đến để giặt quần áo bẩn. Tôi
hơi ngạc nhiên rằng tôi không cảm thấy cần phải hỏi rõ anh đang nói đến ai. Tuy
nhiên, tình thực là lúc ấy tôi không dành nhiều tâm trí cho chuyện đó. Tôi đang
còn mải chú tâm đến chuyện xê dịch người sao cho cổ áo tôi đừng trễ xuống quá
sâu trước mắt anh, sao cho anh đừng thấy hoặc thấy càng ít càng tốt, càng mơ hồ
càng tốt hai bầu ngực nhỏ nhoi tội nghiệp của tôi. Vú như vú chó, bà tôi có lần
nói. Trong giây phút đó, nỗi xấu hổ làm tôi nghẹn thở. Bực bội với sự yếu đuối
và kém cỏi của mình, tôi thầm nghĩ cứ mặc anh ta hiểu sự im lặng của tôi như
thế nào tùy anh ta. Tôi vẫn tiếp tục đập đập hòn đá cầm trong tay lên chiếc váy
đang trải rộng trên mặt cái bệ kiên cố bằng đá vây quanh bể nước, cố giữ sao
cho nhịp đập đá này vẫn đều đều, không khoan hơn, không nhặt hơn, không dằn
mạnh hơn, không lơi nhẹ đi, không tỏ dấu hiệu gì cho thấy đã xảy ra một điều có
thể làm thay đổi nó. Trong không biết bao lâu, giữa im lặng của trời đất, của
Mattai, của tôi, không có âm thanh nào khác ngoài những tiếng đập đều đều, đùng
đục, sụng nước gây ra bởi cánh tay tôi, cánh tay mà đến một lúc dường như trở thành
của ai chứ chẳng phải tôi, cùng với tiếng hò la của đám thanh niên đang chơi
bóng từ mãi xa vẳng tới. Và thốt nhiên tôi nhận ra rằng từ lúc nào không rõ một
câu hỏi mới đã bắt đầu choán tâm trí tôi: Tại sao chết? Ừ thì hắn, nhưng sao
lại chết?
“Không thể khác”, tôi lại nghe anh
nói, bằng giọng gần như thì thầm, làm như anh đang nói với chính anh về một
điều mà bản thân anh chưa chắc lắm. Sự bất quyết mơ hồ trong giọng anh khiến
tôi gạt bỏ ngay cảm giác rằng câu nói này là do tôi tưởng tượng ra. Đây không
giống với Mattai quen thuộc của tôi. Mattai mà tôi hằng biết và thường nghĩ tới
sẽ không nói ra một điều gì mà anh không cảm thấy mình tuyệt đối làm chủ nó,
theo cùng một cách như Thượng đế là chủ nhân tuyệt đối của số phận mỗi con
người.
Tôi chợt nhận ra rằng từ nãy tới
giờ, trong khi Mattai đứng đó, cao lừng lững phía trên tôi, thì tôi quỳ, khom
người trên đống đồ đang giặt dở, và đầu tôi cúi gằm khiến cho chắc hẳn anh
không thể thấy mặt tôi. Ngoài khuôn mặt ra tôi còn có gì đáng để anh nhìn! Anh
lại im lặng. Qua im lặng của anh tôi mường tượng anh đang lắng nghe tiếng đập
đá, tiếng vò, tiếng giũ của tôi, và tiếng nước chảy óc ách trong những ống tre
to dẫn nước từ trên núi xuống. Bao lâu nữa sẽ đến lúc tôi không còn có thể tiếp
tục giấu mặt mình khỏi anh và không nói với anh? Tôi không thể cứ thế này mãi.
Những tiếng đập đá này đã tiếp diễn quá lâu để che đi sự hiện diện của bản thân
tôi. Từ lúc nào đó tiếng đập của tim tôi và một âm thanh ong ong trong đầu tôi
đã bắt đầu trở nên mạnh hơn những chuyển động ngoài cơ thể. Đầu tôi cúi, mắt
tôi nhìn mớ quần áo rối nùi nhằng nhịt dưới tay tôi, song cái tôi thấy là đống
nhằng nhịt rối bời trong tâm trí mình. Và đôi bàn chân mang dép da mòn cũ của
Mattai: hai bàn chân dài, thanh tú, trắng, móng chân cắt ngắn và rất sạch,
giống như hai bàn chân của một cô gái mà tôi chưa bao giờ đủ tự tin hoặc ngông
cuồng để ao ước mình sẽ trở thành.
“Nếu điều đó làm lòng anh yên ổn,”
tôi nói, lắng nghe lời mình, tuồng như đó là lời của ai khác.
Anh cười gằn, khiến tôi gần như
rùng mình. Tôi chưa hề nghe và không bao giờ chờ đợi một thứ âm thanh độc địa
đến thế từ anh.
“Én Hồi Quy. Em thích ngón đòn đó
lắm phải không, Ăltâhind?”
Tuy không nhìn lên anh, tôi có thể
cảm thấy anh đang nhìn tôi bằng ánh mắt mà đôi khi làm tôi thấy khiếp sợ anh,
ánh mắt chất chứa một sự khinh bỉ vô hạn mà tôi hình dung có thể khiến cho ai
đó cảm thấy ô nhục đủ để tự tìm đến cái chết. Tôi ngước lên nhìn anh. Đúng là
ánh mắt đó, song điều làm tôi xốn xang hơn hết là, sự khinh bỉ đó, tôi cảm thấy
không phải nó hướng vào tôi. Một kẻ nhỏ nhoi, tầm thường, vô hại và vô tích sự
như tôi thì không đáng là đối tượng của một nỗi khinh bỉ lớn đến như thế. Cũng
như không phải là đối tượng của bất cứ cái gì vượt sự thường, lòng căm ghét quá
độ, tình yêu quá độ. Sau một thoáng tôi chợt nghĩ rằng tôi giống như tấm gương
để cho sự khinh bỉ này hắt ngược lại chính anh. Ý nghĩ đó làm tôi choáng váng.
“Em thích,” miệng tôi nói, như một
sinh vật tự làm theo ý nó, không đếm xỉa đến tâm trạng hay ý muốn của tôi. Và
ngay sau đó tôi cảm thấy như có cái gì vừa vụt qua trước mắt mình, cái mà mãi
về sau tôi vẫn tin chắc không có từ để gọi, bởi vì... có lẽ bởi vì nó là hiện
thân cho sự nhanh chóng và ngắn ngủi đến tột cùng của một cái gì diễn ra ngoài
khả năng lĩnh hội của con người, hình tướng của tính chất nhanh tuyệt ẩn trong
đường kiếm Én Hồi Quy mà Mattai vừa nhắc với tôi, đường kiếm người ta nói là
hiện thân của Thần Chết trong tay Tengan Duwat. Đồng thời, sự vụt qua đó trong
mắt tôi cũng có thể là cái nhanh trong sự bay lên của bầy chim trong mắt
Mattai, cái nhanh do nỗi hoảng hốt trong trái tim nhỏ bé của lũ chim, nỗi hoảng
hốt đã ném thân thể chúng lên trời và linh hồn chúng lên cao hơn thế, nhiều lần
cao hơn thế trong cùng khoảnh khắc ấy.
“Em sẽ còn được thấy nó nhiều, mừng
lên đi,” Mattai nói. Đoạn, dường như không đừng được, anh nhếch miệng cười.
“Sau đây thì còn ai khác có thể ngăn được đường tiến của Tengan Duwat?”
Có một điều chắc ai cũng thấy và
hầu như không tranh cãi: kỳ phùng địch thủ của Hăldúk Êstimbăn không có ai khác
ngoài Tengan Duwat. Tôi không kém cỏi đến mức không biết Mattai mong muốn gì từ
kết quả cuộc đối đầu giữa hai kẻ này. Tôi nghĩ rằng mình biết những niềm khao
khát của anh, ít nhất là một trong số đó. Tôi nghĩ rằng tôi biết những khi
Mattai thức dậy khi nửa đêm thì người đầu tiên anh nghĩ tới là ai. Tôi biết
rằng tôi biết về anh nhiều hơn gấp bội so với anh biết về tôi, bởi tôi bận tâm
đến anh nhiều hơn gấp bội so với anh bận tâm đến tôi. Tôi biết mình không là gì
hơn một cái gối con đặt ở đầu tấm đệm anh nằm, sao cho mỗi khi trở dậy thì anh
có cái để chống tay - gối mềm mại êm ái thì vẫn hơn là gối cứng quèo, nhưng rồi
mọi mềm mại êm ái của tôi chỉ cần cho anh đến thế.
“Em vui với những gì làm vui cặp
mắt và trái tim Mattai,” tôi nói.
“Thật vậy hả, Ăltâhind.”
Nghe anh nói, tôi nhận ra ngay mình
đã sai lầm. Tôi không nên nói thế. Tôi không cần nói thế. Lời nói, ngoại trừ
trong vài trường hợp hiếm hoi, chỉ làm cho thành buồn cười cái vốn dĩ không
buồn cười, không buồn cười chừng nào nó còn được nâng niu trong cõi không lời.
“Em sẽ có mặt hôm đó,” tôi nói,
đoạn dùng mu bàn tay gạt một lọn tóc đang rủ xuống cọ lên má. Và lập tức tôi
lại cụp mắt xuống: tôi vừa nói thêm một lời thừa nữa. Còn ai biết rõ hơn Mattai
rằng tôi không bỏ sót một cuộc giao đấu nào từ ngày đầu Tadhuntassa Haddunsili
cho tới giờ?
“Ta vui vì có em, Ăltâhind.”
Đây là một chuyện thường xảy ra
trong đời tôi: trí tôi không thể tin, không đủ sức tin những gì tai tôi nghe
thấy. Mattai có thật là đã nói câu đó chăng, điều ấy không quan trọng nữa. Đừng
có mà đỏ dừ tận chân tóc mang tai, tôi nghĩ. Một giấc mơ vừa cất tiếng với tôi,
tôi cần phải bình tĩnh, gượng nhẹ, sao cho nó đừng vỡ và tiêu tán đi quá sớm.
“Tengan Duwat xứng đáng được thắng,”
tôi chợt nói. “Em mong thấy điều đó. Chúng ta làm tất cả mọi thứ nào có vì mục
đích nào khác ngoài đáp ứng ý nguyện của Asrimkhan.”
Nói đến đấy thì tôi im, ngạc nhiên
vì sự nồng nhiệt bất ngờ trong giọng nói và hơi thở của mình. Nhưng rồi, ngay
sau đó tôi lại nói thêm, hoan hỉ, hồ hởi, nhận ra, ngay trong khoảnh khắc đó,
như có một ánh chớp mới mẻ bừng lên ở trong tôi, rằng đây mới chính là mình:
“Anh sẽ có được tất cả những gì anh
muốn. Anh sẽ mãi mãi là người không thể thay thế của Asrimkhan, vì em muốn như
thế, em muốn tận đáy lòng như thế...”
“Ha ha ha ha ha,” anh phá lên cười; đó là thứ tiếng cười sắc
lạnh tôi chưa hề nghe thấy ở anh, Mattai, như thể anh vừa trút một vốc tuyết
đang tan vào tủy sống tôi, khiến tôi rùng mình vì một thứ gần như khoái cảm mà
tôi chưa bao giờ biết tới. Và, trước khi kịp biết mình làm gì, tôi xắn cao tay áo,
cắn ngập răng vào cánh tay mình bằng toàn bộ sức lực và niềm hân hoan vừa khám
phá của tôi.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét