Thứ Tư, 11 tháng 7, 2012

Về Haruka (trích tiểu thuyết Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian)

Cô chọn cho mình một căn tính Nhật Bản và một cái tên Nhật Bản là do một sự ngẫu nhiên tuy có thể không phải là thuần túy ngẫu nhiên. Giấc mơ đầu tiên mà cô chu du tới được từ khi cô bắt đầu hiện hữu theo cách của một Dream Navigator là giấc mơ của một binh nhì Nhật Bản đã lấy lưỡi lê đâm vào âm hộ một đàn bà Trung Hoa sau khi anh ta - người cuối cùng sau hơn ba mươi người khác - hiếp người này. Về sau, khi đã có nhiều kinh nghiệm và kỹ năng hơn, cô nhiều lần cố gắng thâm nhập vào giấc mơ cuối cùng của một trong những người Hiroshima chết khi quả bom kia nổ, song vì lý do nào đó (mà cô ít khi đủ sức nhìn trực diện) những giấc mơ như vậy chưa bao giờ mở lối cho cô. Cô tự chọn cho mình căn tính Nhật Bản và một cái tên Nhật Bản không nhất thiết bởi vì một trong các kiếp người đi trước cô và để lại dấu ấn trong gien tinh thần của cô là người Nhật Bản: so với cái thực tại - những thực tại - đã khiến cô đi đến quyết định này thì cái sự kiện đó (thuần túy cục bộ và ngẫu nhiên) là quá nhỏ bé. Hơn một lần cô đã vận mình vào tâm thức một người Nhật Bản - một cô gái, một đàn ông, một bà già, một nam thiếu niên, một bé gái - và trong những điều cô rút ra được từ việc đó có điều này: cô có thể khao khát một buổi hội ngắm hoa đào đến nỗi sẵn sàng đi nửa vòng trái đất trở về Nhật Bản hầu có mặt ở một lần như thế, chấp nhận cái nguy cơ rằng việc ấy có thể gây tử vong cho thể xác đã vô cùng kiệt quệ vì bạo bệnh của mình, và cô cũng có thể nhổ nước bọt, thành thật thấy muốn lộn mửa trước sự ngớ ngẩn và dở hơi của một khát vọng một ý nghĩ như thế, của bản thân cái truyền thống hội ngắm hoa đào và tất tật những gì nối kết với nó, và cô nhận ra rằng cả hai thái độ này, cả hai trạng thái này của tâm thức đều rất Nhật, đều rất người, đều tự nhiên và đáng có như nhau.

Cô cũng kinh qua và cũng cảm thấy giống như thế về các phương diện khác nhau, nhiều khi trái ngược nhau của người Trung Hoa, người Nga, người Ý, người Iran, người Thổ, người Việt, người Kazakh, người Zulu, người Hàn, người Ấn, nhiều phần của loài người, nhiều thế hệ người từng hiện hữu trước cô, những thế hệ người mà cô biết là không thể nói chắc họ hiện hữu trước cô hay sau cô, nói cách khác là đối với họ dùng một chiều thời gian duy nhất để phân định khoảng cách là việc không còn thích hợp. Bằng nhiều cách khác nhau cô đã học được - rồi học lại và rồi học lại - rằng có thể khóc về mọi thứ và có thể cười về mọi thứ. Sau nhiều trăm năm, đến một lúc cô trở nên có khả năng vừa chế giễu vừa yêu thương loài người, có khả năng chết vì nó đồng thời có khả năng hủy diệt nó để bản thân mình có thể tồn tại. Điều đó không ngăn cản cô, nhiều lúc, tự đáy lòng, muốn thỉnh thoảng quay về trú ngụ lâu hơn một chút trong cái ngã mình đã chọn, Haruka, muốn giữ lâu hơn đôi chút cái bản tính mềm mỏng ấy ở trên tiền cảnh, duy trì lâu hơn đôi chút cái trạng thái nơi cô có nhiều khả năng hơn người khác trong việc thực sự khóc, khóc cho mình cũng như cho thế giới và không xấu hổ, tận hưởng lâu hơn đôi chút, thêm lần nữa, sức mạnh lớn lao và hào phóng của cái nhìn và cái cảm thuần túy nữ tính, hay ít nhất cũng là cảm giác hoặc ảo tưởng về sức mạnh ấy. Cô muốn một lần nữa lại là cô gái Trung Hoa ấy, người đã nhìn chồng mình bằng cái nhìn đau đớn và hết mực trìu mến khi anh này dùng dao nhọn đâm cô một nhát tử thương, bởi trong thâm tâm cô biết thật ra anh không muốn làm vậy, hành động này là một cái gì xảy ra mà anh không kiểm soát được. Haruka yêu sự bất lực hoàn toàn và sức mạnh vô biên của cô gái trong khoảnh khắc đó.

Và Haruka muốn trở lại là cô gái Hàn thường xuyên tự nhắc mình và tự ngăn mình không được cảm thấy buồn vì dung nhan xấu xí của cô. Cô làm tất cả những gì cô có thể làm và phần lớn thời gian cô thực sự cảm thấy mình “có mặt trên đời chẳng để làm gì”, phần lớn thời gian cô cảm thấy mình thực sự vui sống, song thỉnh thoảng, vào những lúc không ngờ trước, cô vẫn thấy đau hoặc buồn hoặc không được vui như vậy hoặc bâng khuâng bởi cái sự kiện rằng cô là một cô gái xấu xí, rất xấu xí như cô tự nhận định, cực xấu xí theo thang đánh giá cô dành cho một mình cô, như người ta nhận định và đánh giá về sự hay mức độ xấu xí của một con cóc hay con kỳ nhông, khi có một biến cố nào đó, nhỏ hay to, lại nhắc cô - như bao lần khác - rằng cô không thể hoàn toàn quên đi chuyện đó được, đó là một điều cô không bao giờ hoàn toàn tránh khỏi được chừng nào cô còn sống, đừng hòng, chẳng hạn như khi, sau nhiều lần trước đây, sau bao nhiêu lần cô tự thề là điều này sẽ không lặp lại, cô thấy mình tức đến nghẹn thở khi có một gã đàn ông, không hẳn là xa lạ, vào một lúc bất ngờ chợt khen cô đẹp, tuy rằng có những lúc cô đã có khả năng phản ứng lại bằng tiếng cười song đôi lúc thì không, và cô hiểu ra rằng cô không cách nào khác ngoài luôn luôn sẵn sàng đối diện những thời điểm đó, chấp nhận để cho tâm trí mình đôi khi bị xâm chiếm bởi những cảm xúc đó bởi nó là tự nhiên.


Và Haruka muốn mình có thể ở lại lâu hơn một chút trong cô gái Việt đó, người duy nhất - hoặc có thể là duy nhất trong hàng triệu người - đã thật sự chảy nước mắt trước tầm ảnh con voi đực có ngà bị những con người nào đó - hình như là những con người mà nó cảm thấy mình có thể tin cậy - dùng rìu chém đứt gân chân và chảy máu đến chết, khi cô hình dung ra nỗi đau đớn, nỗi tuyệt vọng và có thể là nỗi phẫn uất của con voi trong những giờ phút cuối trước khi nó chết, những giọt nước mắt làm cho cô bị tất cả người xung quanh kêu là đồ hâm, cái lối định danh mà theo nghĩa nào đó đã buộc cho con vật chết kia chết thêm lần nữa và buộc cho cô một cái chết (thuộc loại khác nhưng cũng là chết) nếu cô cứ tiếp tục khác với đám đông theo cách này. Và cô biết mình không thể tránh được việc tiếp tục sống (có lẽ là đến hết đời mình) với cái án tử hình treo này, án tử dành cho những ai đi ngược lại dòng chảy của hầu hết đồng loại, rồi đây cô sẽ còn thường xuyên (và ngày một thường xuyên hơn) cảm thấy trên ngực mình sức ép của án tử đó. Vì những giọt nước mắt thật nhất của mình, cô trở nên lạc lõng, không thể dung nạp được đối với đồng loại. Cô vẫn sẽ cứ như thế, mãi mãi như thế, dư nước mắt khóc cho thế giới, mọi thứ trên thế giới, một bông hoa mềm mại rùng mình tự rơi xuống đất hoặc ít nhất rùn lại và héo đi một tí khi có tràng súng nổ mặc dù súng ấy nổ chả phải là để hủy diệt nó.

Và Haruka mong sao cho, trong khoảng thời gian lâu hơn đôi chút, mình trở lại là cô gái Nhật có “đôi mắt buồn nhất và nụ cười hiền dịu nhất trong hiện tại, trong một ngàn năm trước và một ngàn năm sau”, cô gái đã đóng hàng chục bộ “video người lớn” trong đó cô trao thân cho hoặc buộc phải trao thân cho hàng chục đàn ông, việc cô làm để kiếm tiền và chủ động chọn làm như một trong nhiều cách để thực thi ý chí tự do và khẳng định mình như một cá nhân tự do, ít nhất là theo như cô hiểu về nó, khẳng định quyền làm chủ đối với thân thể mình và do đó đối với cách hiểu về nhân cách mình, đối với tinh thần và linh hồn mình; mặc dù, khi cô liệt kê những sở thích của mình lên trang profile trong trang web cá nhân - những thông tin mà rồi sẽ được đăng tải lại trên hàng chục hay hàng trăm trang web khác, những trang chuyên nghiệp và thuần túy kinh doanh có, những trang a ma tơ và phi lợi nhuận cũng có -, những sở thích như là “cắm hoa”, “kiếm đạo”, “đọc sách”, “nhạc cổ điển nhất là Mozart, Dvorák, Bruckner”, “dắt chó đi dạo ngắm mặt trời lặn”, thì không khỏi có những khoảnh khắc - chỉ là những khoảnh khắc ngắn nhất người ta có thể hình dung - cô chợt dừng lại nghĩ: mình ghi ra như vậy để làm gì? Tận trong thâm tâm, nếu mình thành thật với chính mình, thành thật tuyệt đối, thì mình chả cần ghi ra như thế làm gì cả, hoàn toàn vô nghĩa, thật là không xứng với chính mình nếu như mình làm vậy là để ai đó - một ai đó - đừng hiểu sai hay phiến diện về mình, mình cần gì chuyện đó, mình đâu cần bất cứ cái gì như thế. Cô không cần điều đó, bởi nếu vậy thì tức là một lần nữa cô lại nhún mình chiều theo một những thói thường, những đòi hỏi, những câu thúc của cái thế giới mà cô không muốn theo, nơi giá trị của bản thân ta cần được những người quanh ta và khác ta chuẩn thuận. Cô biết hoặc ít nhất tin rằng những gì cô chọn để làm, cô đang làm hết sức mình, sao cho, “đến khi đời ta sắp hết, ta có thể nói rằng ta đã hiện tồn trong một thế giới của chính ta, sao cho ta sẽ không phải đi đến cái chết của mình trong nỗi ô nhục rằng ta đã chỉ hiện tồn trong thế giới của cha ông chúng ta, bởi vì đó sẽ là nỗi ô nhục lớn nhất trong mọi nỗi ô nhục”. Câu này, của một nhà văn người Áo, cô chưa hề biết và gần như chắc chắn là tự cô không thể nói ra, song nếu lúc nào đấy cô đọc được, cô sẽ thấy nó biểu đạt chính xác hoặc gần như thế suy nghĩ của cô, tâm thế của cô, mặc dù giờ đây khi đã biết nó rồi cô vẫn sẽ không nhớ lại hoặc trích dẫn nó, không nói giống như nó: cô sẽ tự thốt lời riêng của mình. Và mặc dù có những khoảnh khắc ý nghĩ như trên thoáng qua đầu cô, rốt cuộc cô vẫn gõ vào màn hình những từ cô muốn gõ: “đọc sách”, “cắm hoa”, “Dvorák, Bruckner”, “mặt trời mọc”, cảm thấy mình đang chạm vào khoảng không hay ít nhất là một màng mỏng, rất mỏng giăng trong khoảng không, và, ở đằng sau nó, lắng nghe, thập phần thấu hiểu, không phán xét, không một lời thừa, có khả năng hấp thụ đến vô tận, là người đối thoại, người đọc/xem/nghe đáng yêu nhất và tốt nhất của cô, chỉ một người trong vũ trụ này - là chính bản thân cô.

Và Haruka muốn ở lại lâu hơn đôi chút trong cuộc đời (hay giấc mơ-cuộc đời) của cô gái Việt từng có dạo trao thân có thời hạn cho những đàn ông có đủ tiền trả cho điều đó. Cũng như tất cả hay ít nhất là phần lớn những người sống trên trái đất, cô có câu chuyện đời riêng của mình và cô nghĩ chuyện đời cô không phải là không đáng được kể ra nếu có người - ít nhất một người - sẵn sàng nghe, song bởi thiên hạ đã có câu “đừng nghe ca ve kể chuyện, đừng nghe thằng nghiện nói hay” cho nên cô không bao giờ kể chuyện đời mình hoặc kể toàn những chuyện đời tự chế, không có thật và do đó là một cách để không kể chuyện đời mình. Mặt khác bởi vì cô biết tất cả hoặc gần như tất cả đám đàn ông kia không sẵn sàng hoặc chỉ làm bộ sẵn sàng nghe cô kể gì đó, hoặc sẵn sàng nghe cô nói và kể bất cứ gì ngoại trừ câu chuyện thật của cô, hoặc - trường hợp này ít hơn - giá như họ có nhiều hơn 24 giờ một ngày hoặc nhiều hơn một cuộc đời để sống thì có thể (chỉ là có thể) họ cũng sẽ quan tâm đến chuyện thật của cô, ngặt một nỗi ngày của họ và đời của họ chẳng được bao nhiêu, không nhiều hơn bất cứ ai, hoặc - trường hợp này ít hơn nữa - sẵn sàng nghe chuyện thật của cô ngay cả khi hoặc chính vì họ chỉ còn ba chục ngày để sống, tuy nhiên vấn đề lớn nhất là để có thể kể chuyện thật của mình cho họ - chỉ cho họ thôi - thì trước hết cô phải gặp được họ đã, mà để gặp được họ thì có khi cô phải mất từ ngàn năm đến triệu năm, phải hành cái nghề này 24 giờ một ngày và tất cả các ngày (trừ những ngày đèn đỏ) trong ngần ấy năm, tuy cũng có thể cô sẽ có vận may lớn hơn cô nghĩ và chỉ trong ba chục năm liên tục hành nghề như vậy cô sẽ gặp anh ta song rõ ràng là cô không thể trông mong vào một vận may nhỏ và đỏng đảnh đến mức ấy. Tốt nhất cô cứ coi như nó không tồn tại, cũng như hạng người sẽ lắng nghe chuyện thật của cô là hạng người không tồn tại, mặc dù tự đáy lòng, ít nhất là đôi khi, cô tự thú nhận với mình là cô biết không phải thế, hay ít nhất là tự thú nhận cô muốn thấy mình hy vọng rằng không phải thế. Rồi thì, tháng này qua tháng khác năm này qua năm khác, câu chuyện thực về đời cô, vốn chỉ tồn tại đối với mình cô, dần dần trở nên không còn tồn tại, không tồn tại đối với chính cô, mặc dù thật ra đó đơn thuần là một cách nói: nó vẫn còn đó trong trí óc, tâm hồn và ký ức cô, chỉ có điều, những khi nghĩ hoặc nhớ đến nó (ngày càng ít), cảm xúc của cô không hề mạnh hơn cảm xúc khi cô kể cho đám đàn ông những câu chuyện khác hẳn về đời mình: câu chuyện thực không còn nổi bật hơn, không còn có vẻ quan trọng hơn, không còn làm cô đau, không còn cái sức nặng và sức nóng của máu thịt ấy, những phẩm chất không thể thiếu của một câu chuyện thực - chuyện duy nhất thực - không còn đó nữa. Câu chuyện thực vẫn còn đấy, song đã mất đi cái vị thế vô song của nó, không còn cái sức mạnh (từng có lúc tưởng như) không gì thay thế được của nó. Nay cô có nhiều câu chuyện khác nhau về đời mình, tất cả đều có vẻ thực và có thể thực như nhau và nếu bảo là không thực thì tất cả đều không thực như nhau. Tất cả đều không thực nhưng tất cả đều rất thực, không có vẻ gì là không thực một khi cô kể nó bằng tất cả tâm hồn mình, bởi vì cô kể nó bằng tất cả tâm hồn mình, làm cho nó trở thành thực tại, làm cho nó tràn đầy cái trường năng lượng bí ẩn của sự sống, của vận động, cái vận động toàn thể trường cửu mà cô có thể cảm thấy ở sâu bên dưới mỗi câu mỗi từ cô nói, như lòng biển ẩn dưới ngọn sóng trên mặt. Cô cảm thấy mình có thể hiểu được những người diễn kịch đóng phim, với họ theo nghĩa nào đó thì đời có nhiều lần chứ không chỉ một lần, trong chừng mực nào đấy hoặc đôi khi đó cũng là một thứ hạnh phúc. Tuy nhiên dù thế nào thì cô cũng không cho rằng sự giống nhau giữa cô với đám diễn viên có thể lấy gì làm lớn, xét theo nghĩa nào đó thì cô hơn họ nhiều, chính cô mới là người trội hơn, bởi vì cô có thể sửa đổi bất cứ cái gì trong những câu chuyện đời mình hoàn toàn theo ý mình, không có thằng hay mụ đạo diễn nào can thiệp, phá ngang và tác động tới cô cả trong khi đám diễn viên thì không, ngoại trừ những ai vừa đạo diễn vừa viết kịch bản vừa thủ vai chính song mấy ai được như thế. Mặt khác nếu ai đó không tin chuyện đời cô - nếu họ chịu nghe cô kể và nếu dòm mặt họ cô thấy là họ đáng cho cô kể - thì cô lại càng không tin gấp bội bất cứ cái gì họ nói về họ cho cô nghe hoặc không phải cho cô mà cho người khác song dấu vết về điều đó thì lồ lộ ở con người họ, không thể nhầm, như hàng tá thứ nước hoa mạnh nhất xức lên một thân người hàng tháng trời không tắm đầy cáu ghét chốc ghẻ lở loét rỉ mủ chảy máu. Họ làm gì có chuyện đời “thực” của họ, cuộc đời “thực”, con người “thực” của họ. Không còn lại bất cứ một cái gì là “thực” ở họ nếu ai đó còn ngây thơ hoặc ảo tưởng đến mức đi tìm một cái gì là “thực” ở họ, họ đâu có gì khác ngoài một chuyện đời giả, một cuộc đời giả, một cái tôi giả, do họ tự tạo ra và sống trong đấy, sống trong đấy và thành thật tin rằng mình đang sống cuộc đời thực và sống trong con người thực của mình, song cũng có thể họ không tin như thế vì họ biết là không phải thế hoặc vì họ không còn tin bất cứ cái gì, không muốn tin bất cứ cái gì, đằng nào thì cũng như nhau, cái duy nhất thực đối với họ là dục vọng của họ, mọi thứ dục vọng hay dục vọng về bất cứ cái gì và sự thỏa mãn nó, tìm mọi cách và bằng mọi giá thỏa mãn nó. Cái duy nhất thực ở họ đối với cô, ít nhất là với cô, là cái dương cụ của họ thọc sâu vào cô mà dập từng hồi, hùng hục, thô thiển và thú vật hoặc chậm rãi đường hoàng và lão luyện, cái phụt ra từ đó, động năng, độ đậm đặc, độ nhớt, màu, mùi, vị của nó (trong trường hợp nó phụt vào miệng và họng cô), mùi mồ hôi, mùi răng và mùi hơi thở của họ (cô có thể biết gần như chắc chắn, chỉ bằng cách nghe hơi thở, rằng người đàn ông đang vào trong người cô đây đã ăn gì uống gì trong bữa ăn gần nhất, trước đó bao lâu, có ăn rau không, có ăn tỏi không, có ăn đồ biển không, uống rượu hay uống bia hay rượu trước bia sau hay bia trước rượu sau hay bia rượu gần như cùng một lúc), và những gì họ nói hoặc quát hoặc thầm thì vào điện thoại mặc cô nghe thấy hoặc những khi họ cho là cô không nghe thấy, khi cô đang tắm, khi cô đang ngủ hoặc chưa ngủ hẳn hoặc đã thức dậy nhưng vẫn nhắm mắt hoặc đang vờ ngủ, tỉ như cái lần họ nói (và cô nghe thấy) đại loại như, Đồ ngu, dựng hiện trường giả đi, nói là nó tự tử, tụi kia nó đéo biết đâu, mà nếu nó nghi ngờ gì thì có tao đây, đụ má nó làm được cái đéo gì. Bản năng sinh tồn nhắc nhở cô rằng trong những tình huống như vậy cô nên im lặng, phải im lặng, sẽ là sai lầm không thể tha thứ nếu cô lại đi hành động, nói, thậm chí là nghĩ giống như thể điều cô vừa (tình cờ) nghe được là một cái gì có thực, nằm trong thế giới thực và phải coi là thực, chỉ cần cô nghĩ, nói và làm như thể nó là thực - khiến cho thế giới biết rằng nó là thực, nó hiện hữu và có thực - thì nó sẽ nghiền nát cô ngay và bản thân cô sẽ không còn là thực nữa. Khôn ngoan nhất là hãy cứ coi như cô vừa nghe thấy một cái gì không thực thuộc về một thế giới do ai đó bịa ra hay tốt hơn nữa là thuộc về một giấc mơ, coi nó là thế - như thể nó đúng là thế - và không làm không nói không nghĩ gì về nó, là giấc mơ nên nó chẳng đáng gì.

Và Haruka muốn tiếp tục là cô gái đó lâu hơn một chút, cô gái luôn ao ước và từng có lúc có triển vọng thực sự trở thành diễn viên chính trong vở ba lê vũ trụ đầu tiên, vở ba lê đầu tiên diễn ra trong không gian vũ trụ ở điều kiện không trọng lực. Cô yêu nó, cõi tự do này, cõi tự do mà hầu hết những người đã sống hoặc đang sống và tự do hoặc nghĩ là mình tự do thảy đều không biết tới: cõi tự do nhân đôi hoặc nhân bội của kẻ vừa thoát khỏi lực hút hay sự câu thúc của trái đất lẫn lực hút hay sự câu thúc của tâm trí nhân loại. Khai phóng thân thể và linh hồn mình theo những quỹ đạo và những mẫu hình mà nhân loại chưa bao giờ biết tới, thuận theo vũ điệu của vũ trụ và làm phong phú thêm, làm biến điệu một cách khôn lường cái vận động toàn thể của vũ trụ, những biến điệu hài hòa, trật tự trong phóng túng và phóng túng trong trật tự, đẹp. Đó là con đường mở ra trước mắt cô trong giấc mơ đêm cũng như giấc mơ ngày của cô, con đường mà lẽ ra cô đã dấn vào hoặc theo nghĩa nào đó là đang dấn vào nửa chừng nếu như không có cái biến cố ấy xảy ra khiến cho một trong những tọa độ không-thời gian quanh cô đông cứng lại thành một cỗ quan tài bằng bê tông giam cứng cô: cô trở thành con côn trùng giang cánh và hóa thạch trong lòng khối hổ phách, một đôi cánh giang ra một cách vĩnh viễn vô ích giữa cõi vô hạn. Một cái chết tức tưởi, oan khuất, đó là chữ người ta dùng để nói về sự chấm dứt đột ngột này của sự nghiệp cô và cuộc đời cô, tuy nhiên Haruka biết nhiều hơn phần lớn người khác về chuyện trên thực tế cái gì chấm dứt và cái gì đang tiếp tục, và cơ dõi theo những chuyển hóa của điều đó bằng trái tim khi chùng khi thắt của cô, theo dõi và đồng thời làm những gì mà cũng trái tim này mách bảo cô làm. Những gì cô thấy mình phải làm là một trong vài lý do để cô cứ muốn kéo dài thêm nữa chặng thời gian lưu lại ở kiếp người này, mặc dù đó cũng là điều cô cảm thấy mỗi khi lưu lại ở bất cứ kiếp người nào. Luôn luôn gắn bó hơi quá nhiều với những bản thể khác, đó hẳn là một phần nội dung chính người ta muốn nhắc tới khi dùng những từ như “rắc rối”, “đa mang” để nói về Haruka và số phận cô.

Thứ Tư, 4 tháng 7, 2012

Nhà thơ và tình yêu


(Ghi chú: Truyện ngắn này viết năm 1991, sửa chữa vào khoảng năm 1997, chưa đăng ở đâu. So với chuẩn ISO của bản thân tôi hiện tại về văn chương, truyện này không đạt. Tuy nhiên, hẳn không phải là nó không có vài đoạn đáng đọc.)

Hỡi các bạn, những ai từng biết và yêu mến Nhà Thơ! Chàng không ở đây nữa, không bao giờ nữa...

Nhưng hãy cho tôi kể câu chuyện này, nhờ vậy các bạn sẽ thấy chàng vẫn ở đây, đang nói với các bạn và lắng nghe các bạn. Vâng, Nhà Thơ đã ra đi, với thời gian này của chúng ta chàng đã chết, nhưng chàng đang sống trọn vẹn ở một thời gian khác rất xa chúng ta, xa đến nỗi sự tồn tại riêng rẽ của bất cứ cá nhân nào cũng hoàn toàn vô nghĩa với chúng ta.

Vâng, chàng đã ra đi. Và mặc dù tôi đã có lời thề không tiết lộ bất cứ gì về những sự kiện cuối cùng của đời chàng, mối tình của chàng với người con gái bình thường từ thế kỷ hai mươi, Người Phụ Nữ Duy Nhất của chàng, Người Phụ Nữ Hầu Như Là Chính Bản Thân Chàng, tôi sẽ không thể lặng câm như hòn đá kia ; nếu đến giờ tôi vẫn im hơi lặng tiếng, ấy chỉ vì tôi ngưỡng mộ và yêu chàng ; tôi sẽ nói về chàng, và chàng sẽ hài lòng rằng rốt cuộc tôi đã làm điều đó, rằng tôi đã không trói mình vào lời thề với chàng.

Cho phép tôi bắt đầu câu chuyện bằng Hương, vì tuy sống trước chàng ba thế kỷ, nàng là vợ và người yêu của chàng. Vâng; khác với tôi, nàng là vợ và người yêu chàng...

Nàng là con gái nết na của một bác thợ giày. Nhà nàng ngay trên mé sông; mỗi con nước lớn lại nhấn chìm cầu tre vào ngõ nhà nàng khiến người qua lại trông như bước trên mặt nước. Năm ấy nàng mười tám tuổi. Chàng đi qua nhà nàng mỗi một lần; qua cửa xe chàng thấy nàng lội bì bõm hướng về nhà, một tay cắp rổ rau, ống quần vo lên quá gối; da thịt nàng trắng như bản thân sự trinh bạch của nàng, hiện thân của sự thanh khiết và dịu hiền. Chàng thoáng thấy một bên khuôn mặt nàng; nàng có cái mũi nhỏ trông như bằng sứ, miệng dường như mỉm cười còn tươi mát và nồng nàn hơn một đóa hồng. Hình ảnh đó chàng không làm sao quên. Hình ảnh đó là đóa hoa trường cửu ngát hương lên những năm tuổi trẻ của chàng. Với chàng hoặc nó thiêng liêng hoặc thân thiết ruột rà lắm vì mỗi khi nhắc tới mắt chàng lại bừng lên niềm xúc động thành kính như đôi mắt hướng về Trời của kẻ tuẫn đạo, và môi chàng nở nụ cười mà tôi không biết tả ra sao, nó gần như nụ cười em bé thấy mẹ về trong mơ. Thế rồi dòng đời cuốn chàng đi một nơi và nàng một ngả, và tám năm sau khi lại thấy Hương, chàng say sưa chộp lấy nàng mà tự hứa mình sẽ chết với vòng tay ôm chặt nàng. Chàng đã nhớ nàng một cách đau đớn và nay chiếm đoạt nàng mãnh liệt. Chàng không buông tha nàng suốt mấy con trăng. Cuồng phong của dục vọng chàng vùi dập Hương; nàng chẳng biết lấy gì cưỡng lại.

Rồi một hôm sau cuộc mây mưa nàng nhỏ nhẹ nói nàng đã có thai với chàng. Chàng trắng đêm suy nghĩ. Chàng hoảng sợ thấy mình đầy nghĩa vụ với nàng.

- Ta không thể cưu mang nàng, - chàng nói.

Chàng muốn làm rể một nhà quyền cao chức trọng; nàng, nàng là thợ thêu, gia thế tầm thường. Dù sa chàng vẫn xót thương nàng. Chàng không phải kẻ ác tâm ; tôi biết.

... Thì vâng, tôi kể tiếp. Chàng bảo: phá thai đi; trong giọng chàng là một sự dứt khoát nặng nề đến nỗi Hương khóc. Chàng phát bực khi thấy nàng khóc; chàng vỗ về, hôn hít, khuyên lơn nàng rồi lại say sưa đè nghiến lên nàng. Chàng giày xéo nàng dữ dội hơn bao giờ hết, không buồn biết nàng khóc. Chàng mơ hồ cảm thấy đây là lần cuối cùng, nhưng linh cảm rằng mọi chuyện không kết thúc ở đây... Càng day dứt chàng càng cuồng bạo với nàng. Khi chàng hồng hộc trút tinh khí từ chàng qua thân thể nàng, nàng vẫn sụt sịt khóc. Chàng sửa lại áo của chàng rồi đi, không thèm nhìn nàng nằm sõng sượt ở đó, tênh hênh cặp vú trần.

Nhà Thơ không kể hết mọi chi tiết của lần ái ân buồn thảm đó. Chàng giữ thẹn cho nàng. Những gì các bạn thấy đó, tôi chụp được nhờ dùng phrenoscope (não kính) nhìn trộm tâm linh chàng giữa lúc chàng nhập định; chính qua phrenoscope tôi sững sờ trước vẻ đẹp thanh khiết của Hương mà Nhà Thơ ví với Phật Bà Quan Âm, vẻ đẹp mà chàng chỉ dám len lén nhìn trong những giấc mơ.

Tôi một mực cam đoan với Nhà Thơ rằng ngay lúc chàng bỏ Hương mà đi không buồn trải áo che ngực nàng, chàng vẫn tôn thờ nàng... Dù tôi biết rõ không kém chàng rằng những phút ấy chàng chẳng có tâm trạng nào khác ngoài hả hê bởi lần nào chiếm đoạt được Hương với chàng đều là một chiến công lớn. Và xiết bao bạo liệt là chiến công cuối cùng của chàng...

Nhưng chiến công ấy không khỏi làm chàng u uất.

Ta làm gì nàng vậy? Ta làm gì nàng? Ta đã nghĩ gì rồi lại đã làm gì nàng?.. Đi đường búa gõ ong ong nơi thái dương chàng. Để tự vệ chàng nói: Ta làm gì được cho nàng? Ta còn làm gì được? Chàng tự nhủ: Ta sẽ gặp nàng... Nhưng để làm gì, còn để làm gì ? Chàng thấy mình là kẻ hèn nhát, vô sỉ, khốn nạn. Nhưng cảm giác đó day dứt chàng không lâu: chỉ non tháng sau đã hoàn toàn trở lại con người thật, hãnh tiến và lạnh lùng của chàng, và chàng kết hôn với người con gái chàng chọn làm đá lát đường hoạn lộ, con gái rượu một vị có quyền thế, người đàn bà vô tội về sau sẽ sống như đã chết vì chàng.
Chàng mãi mãi không gặp Hương, không viết thư cho Hương, không muốn biết nàng ở đâu, làm gì, mạnh khỏe hay tàn tạ, hạnh phúc hay khổ đau. Chàng muốn rằng với Hương chàng đã chết và với chàng Hương đã chết. Chàng vậy đó: một kẻ khốn nạn, chính chàng nói thế...

Cái chữ khốn nạn ấy, chàng nói về chính chàng hay sao? Không, chàng không nói về chàng - Nhà Thơ, cũng không hẳn nói về gã đàn ông ba trăm năm trước kia; chàng nói như về một con người, một con người duy nhất, và đó là cả nhân loại. Nhưng rốt cuộc thì tôi cần gì cái mớ bòng bong đó của Thời gian và Nhân loại?! Tôi chỉ muốn sao, với tất cả những điều đó, chàng vẫn là chàng, Nhà Thơ, và chàng vẫn ở đây, lúc này, mạnh mẽ nắm tay tôi, mỉm cười dịu dàng với tôi...

... Để tôi nhớ lần đầu tiên chàng trông thấy Hương... Một ngày bất hạnh! Có một nỗi đau lạ lùng, không thể tả, không thể lý giải, giống như nỗi sợ nước thầm kín mà mãnh liệt của những người chết đuối trong tiền kiếp, đã giục chàng dùng chronoscope (thời kính) điểm qua một lượt tất cả tiền thân của chàng, và ở cuối thế kỷ hai mươi chàng bắt gặp Hương; chàng thấy nàng chết ngay sau khi sinh đứa con từ mối tình với chàng ; nhưng điều đáng nói không phải bản thân việc Hương chết, mà là cơn đau và nỗi sợ khôn cùng Hương phải chịu vài giờ trước và có lẽ cả sau khi chết.

Chàng đau đớn vì nỗi không hay biết gì số phận của Hương sau khi bị chàng - của ba trăm năm trước - bỏ rơi sau hàng rào dâm bụt, đến độ một đêm kia chàng mạo hiểm đi thăm nàng. Lần đầu tiên, tôi nhớ rõ lắm, đó là lần đầu tiên chàng vượt thời gian về với nàng...

Chàng định làm gì ư? Tôi không biết.

Nhưng không gặp nàng.

Nhà Hương, chênh chếch cửa sổ có một cây mai. Nhà không còn nữa; thay vào là một quán cóc. Cây mai thì vẫn đó.

Hỏi hàng xóm, một nhà bán củi. ồ nhà ấy, còn gì nói! Họ đốt nhà rồi dắt díu nhau đi; đi mất rồi, lâu lắm rồi. Đi đâu? Ai biết! Chẳng ai rỗi hơi để bận tâm mấy chuyện đó. Còn... người con gái. Cô con gái độc nhất của nhà ấy? Cô ta bỏ nhà đi trước đó ít lâu, nghe nói theo trai, họ nói. Người ta có loáng thoáng thấy Gã ấy... Chàng không nghe, thở dài ngước nhìn trời. Người ta ngó chàng chằm chặp. Chàng là ai?

Chàng lại đi tìm nàng...

Thế rồi mọi chuyện thật sự bắt đầu từ khi chàng thấy Hương, hầu như hoặc giống như điên, nằm bất động trên bến sông, tơi tả, trần truồng, nóng hầm hập như thể máu sôi lên trong nàng, giữa một bầy trẻ con chỉ trỏ, đùn đẩy nhau, cấu chí, cười the thé và la ó. Lần sau chàng gặp Hương trong ni tự tịch liêu sau rặng trúc bên đường liên tỉnh ; ai đó đã đưa nàng về đây. Hôm nào chàng cũng về thăm nàng. Buổi sáng, trước bức họa Bồ Đề Đạt Ma quảy dép về Thiên Trúc chàng âu yếm ngắm nàng quỳ trong góc Phật đường chỗ ít ai thấy nhất mà lâm râm tụng kinh cùng các ni sư - thật ra nàng có thuộc gì cho cam, nàng chỉ đánh bạo đọc tất cả những gì nàng nhớ, tất cả những gì nàng đoán già đoán non từ miệng các ni sư rồi diễn dịch theo ý mình, và đôi khi sơ ý buột ra một câu chẳng ăn nhập lắm với cảnh chùa thì nàng đỏ mặt thẹn thò nhìn quanh dù chẳng ai nghe hay nhìn nàng. Đêm đêm khi nàng xếp bằng trên giường tỉ mẩn may chiếc áo lót đầu tiên cho con - chẳng hiểu sao nàng tin chắc rằng đấy là con gái - chốc chốc lại dừng, nghĩ ngợi gì rồi thoáng cười buồn thì chàng nín thở ngắm nàng từ ngoài hành lang tối thẫm hay tràn ngập ánh trăng. Có đêm mưa gió dập tơi bời ngọn trúc khiến bầy lá khô ràn rạt tốc lên như đàn chim đang ngủ bị bắn, chàng đánh bạo bay qua cửa sổ quỳ bên đầu giường Hương, cố gắng hôn nàng dù chỉ như một hơi gió và suốt đêm canh chừng tấm chăn xổ mép của nàng. Sáng tinh sương, khi Hương thả gàu múc nước bên giếng thì chàng leo lên cành sung nơi có nắng xuyên qua để trìu mến nhìn mái tóc ngắn ngủn của nàng như cô bé vừa qua bệnh thương hàn không thể che cái cổ mảnh dẻ trắng xanh và gợn mát như ngọn lau; cảnh ấy làm cho lòng chàng dịu lại. Một đêm kia Hương ra trước hiên tựa cột nhìn trăng, chợt thở dài ứa nước mắt khi trong gió vẳng tiếng người mẹ nào gọi con. Tóc Hương mềm như tơ, vai gầy như chim, cổ tay như nhành liễu, bụng Hương vượt mặt, làn da Hương sáng ngời trong ánh trăng nhưng không hẳn vì nó vốn trắng nuột mà vì nó nhợt nhạt quá; trước cảnh đó Nhà Thơ đột nhiên rùng mình như linh cảm điều gì tuyệt đẹp nhưng đau nhói và khủng khiếp lắm. Chẳng đành lòng chỉ đứng xem nàng - không làm bất cứ gì, theo đúng Luật Thời gian; chàng hóa vào người phụ nữ đang tìm con đó đến gõ cửa chùa gặp nàng, ỉ ôi tâm sự với nàng. Trước nỗi đau của người mẹ thấy mình mất dần đứa con từng ngày một mà không cách nào giữ lại, bỗng dưng Hương bình tĩnh và can đảm hẳn lên; nàng an ủi, động viên chị, khi chia tay, Hương dịu dàng nắm chặt tay chị, và cả hai trở về trong tâm trạng ấm áp, bình thản chờ đợi.

Tôi có thể làm gì khác cho Hương? Đã biết trước đoạn kết cuộc đời nàng, tôi có thể làm gì hơn? Tôi có thể nào thay đổi số phận một con người đã sống và đã chết trước tôi nhiều thế kỷ? Bạn nói đi, nếu bạn biết tôi có thể làm gì hơn cho nàng...

Anh không thể làm gì cho Hương, tôi cố thuyết phục chàng. Cũng như theo Luật Thời gian, anh không có quyền làm bất cứ việc gì cho nàng. Nhưng chàng không thể nghe tôi, chàng không muốn nghe tôi. Chàng vẫn đều đặn ngày ba lần về với Hương, và tôi, đều đặn tiễn chàng đi, theo chàng về.

Chàng tìm ra vô số cách khôn ngoan và liều lĩnh khác để thật sự ở gần nàng - tôi muốn nói, ở bên nàng trong cùng không thời gian của nàng như một con người bằng vật chất như nàng, chứ không phải một dòng sinh điện, một luồng nguyên khí mà với nàng chẳng khác gì một hồn ma. Như một khách thập phương mặt mũi đầy bụi đỏ, chàng gặp nàng giữa chợ, hỏi đường và theo nàng về ni tự ở đó chàng ngủ ngon lành suốt buổi trưa oi nồng dưới bóng cây mít. Trong cơ thể một thiếu nữ theo bạn đi buôn chuyến lần đầu nên trước con mắt đám thuế vụ và tài xế hãy còn ngượng ngùng, chàng gặp Hương bên những vồng cải xanh non bên hàng rào phía Tây của chùa và khẽ khàng kể với nàng những mẩu tin rời rạc về gia đình Hương mà chàng nghe được qua người thứ ba, thứ tư nào đấy, những mẩu tin mà chàng mạnh miệng thốt ra vì biết nàng sẽ mỉm cười mệt mỏi toại nguyện, lệ rân rấn nhưng không khóc, dấu hiệu đầu tiên về tác động của những ngày ở chùa. Lần thứ bao nhiêu đấy, nương vào một lương y vừa hành hương từ núi Yên Tử trở về ghé qua chùa hái ít lá thuốc, chàng gặp nàng đang nhặt rau chuẩn bị bữa thọ trai cho các ni sư; chàng hỏi han nàng đôi ba chuyện rồi nhìn đăm đăm vào mắt nàng và đột nhiên nói trong khi nàng sững sờ nhưng nhẫn nại nghe về vẻ thanh xuân ngời ngợi của đứa con nàng sắp chào đời, về những ước mơ chưa thành của nàng, về những gì sẽ đến với mỗi người sau khi chết.

Thấy nàng băn khoăn, đăm chiêu, tự dưng bật cười, phẩy tay nói đùa với chàng rồi lập tức lại đắm vào một nỗi lo âu mơ hồ, chàng chẳng an tâm ra đi ; chàng trở lại hầu như ngay sau đó, lần này trong hình dạng chính chàng được vật chất hóa - điều cấm kỵ tuyệt đối của Luật Thời gian -; lần đầu tiên chàng xuất hiện trong đời nàng như một người thật ra chưa hề tồn tại vào thế kỷ hai mươi do đó không thể nào hiện diện trong đời Hương ; sau mọi hình hài khác, chàng về với nàng như chính chàng, người đàn ông xa lạ với nàng nhưng biết nàng từ lâu và tha thiết yêu nàng. Chàng trở về với nàng như một nhà thơ xa xứ về thăm quê đi vãn cảnh và sửng sốt trước cảnh thâm u cô tịch của ngôi chùa sát bên đường liên tỉnh; chàng tìm nàng ngoài mảnh vườn sau chùa mà trong lòng hiểu rằng với chàng - Nhà Thơ từ thế kỷ hai mươi ba - thế là hết. Chàng đã vi phạm Luật Thời gian; chàng mãi mãi không thể sống ở thời đại chàng ra đời nữa ; từ nay chàng thuộc về thế kỷ hai mươi này; chàng chuyển sự hiện hữu của mình - và trách nhiệm trước hiện hữu đó - về thế kỷ hai mươi này; chàng chỉ có một đường để chọn, và chàng chọn cái chết của Nhà Thơ, bạn thân yêu của tôi...

Vậy là, bằng hình dạng chính mình, chàng thâm nhập hẳn vào cuộc sống của Hương, chính xác hơn là mấy tháng sau cùng của đời nàng ; hiển nhiên chàng không có quyền làm gì để kéo dài cuộc sống của nàng, thay đổi điều đã xảy ra, nhưng trong mấy tháng cuối cùng đó, chàng đã làm hết khả năng mình để giúp nàng sống trọn vẹn, và mấy tháng đó thực sự nàng đã sống nhiều hơn tất cả những tháng năm trước đó của đời nàng. Chàng không gặp nàng nhiều lắm, nhưng nàng luôn bình tĩnh và khấp khởi chờ đợi chàng. Chàng lưu ý và chia sẻ với nàng ánh nhìn ươn ướt dịu dàng của con mèo con, những cành mai khẳng khiu sẽ nở hoa vào đầu năm, nụ cười rạng rỡ đầy mộng mơ và tình yêu của người thiếu nữ đúng một giây trước khi chết bất đắc kỳ tử vì một chiếc xe tải lạc tay lái, về điều giản đơn mà những vòm cây trong vườn chùa có thể nói khi chúng thật sự im lặng.

Chàng mở cho nàng bí mật về bóng những đám mây: nếu bạn ngồi trên máy bay từ rất cao, bạn sẽ thấy những cụm mây trắng chẳng khác nào mấy túm bông gòn nhỏ xíu người ta thường xé ra vấn đầu que tăm chấm thuốc đỏ, treo lơ lửng trên mặt đất chùng nửa centimét, một centimét không hơn, bằng những đinh ghim vô hình, và ánh mặt trời từ phía Đông làm chúng đổ lên mặt đất những cái bóng tối sẫm đến mức ta có cảm giác nếu lọt vào trong đó sẽ hoàn toàn không thấy gì, gần như con giun dưới lòng đất thôi, hẳn con người chúng ta không thể nào sống sót trong bóng tối đó, nhưng sự thực đâu phải vậy: nếu ta ở trên mặt đất thì đó chính là những bóng mây làm ta rợp mát trong chốc lát, thoát khỏi cái nắng gay gắt nhưng nào có cướp khỏi ta ánh sáng ban ngày; và khi ta nhìn từ trên cao, trong khoảnh khắc ta lẫn lộn kích thước của mình trên mặt đất với kích thước khi ta lên đến một tầm cao đủ để bao quát thế giới. Sau đó chàng gợi cho nàng nhìn cái chết cũng như sự sống không chỉ từ kích thước một kiếp người mà từ toàn bộ dòng sinh sinh hóa hóa không ngừng của vũ trụ; chàng khuyến khích nàng hãy cùng chàng biết lặn hụp trong đại dương nhân sinh như bất cứ ai khác và rất có thể sẽ chết chìm trong đó mà chưa một lần đủ sức ngoi lên thấy chân trời, đồng thời lại luôn luôn nhìn rõ trọn vẹn chính đại dương đó như một cái lạch vừa vặn sải tay mình, một vũng nước vừa gọn bước chân mình xoãi qua; nhưng thực sự không có ranh giới giữa hai kích thước đó của đại dương và chính ta. Hầu hết những gì chàng nói lẽ ra rất mới lạ và mông lung với nàng, nhưng chàng hiểu rõ điều đó và chú tâm dùng những lời giản dị, trực tiếp nhất, phù hợp với hiểu biết và tính cách của nàng. Ban đầu nàng suy nghĩ một cách nghiêm trang, thậm chí hơi quá trịnh trọng, đôi khi căng thẳng về những điều chàng nói, một phần chỉ vì quý mến chàng. Về sau nàng càng tự nhiên và linh hoạt hơn, nàng vừa ra vẻ trầm tư vừa chăm chú nhìn chàng với nụ cười đằm thắm, nhẫn nại, hơi tinh nghịch, như thể muốn nói: đợi đấy, em sẽ hiểu anh ngay cho mà xem; rồi một lúc nọ nàng bỗng reo lên hân hoan và hoàn toàn tự nhiên rằng bây giờ nàng hiểu vì sao có những người đón cái chết một cách nhẹ nhõm và an lạc làm vậy, trước kia nàng ngạc nhiên, không thể hiểu họ, không tin mình có thể như họ, nhưng có lẽ nàng sẽ không thế nữa. Chàng hồ hởi thấy nàng đã hiểu hơn về cuộc sống, về con người, chính mình, và điều đó làm nàng thêm vui, thêm chăm chú, mẫn cảm và dịu dàng.

Và như vậy, với nỗ lực bền bỉ, không hy vọng và chân thành của Nhà Thơ, nhưng hơn thế là sự chú tâm nhu mì, khiêm nhường và độ lượng của nàng, Hương đã dần dần ngộ về cuộc sống, và mặc dù tuyệt không có ý niệm về cái chết của chính mình không còn bao xa - làm sao có được khi nàng đang yêu đời đến nhường ấy - nhưng nàng đã có thể cùng chàng nói một cách điềm đạm hoặc im lặng thanh thản về cái chết. Nếu như trước kia, cứ hễ nhìn cảnh những đám tang nương nhờ cửa Phật, những tấm khăn sô, những khuôn mặt bơ phờ vì bàng hoàng, vì khóc và mất ngủ, mùi hương khói, bát cơm đầy tàn nhang cắm đôi đũa dựng đứng và những bài kinh siêu độ, bao giờ nàng cũng tự dưng ngậm ngùi, mắt lẫn mũi đều đỏ lên, môi run run, không ít lần chạy về phòng sụt sùi khóc mà chạnh nghĩ đến cha mẹ, thì nay nàng có thể nhìn tất cả cảnh đó với vẻ nghiêm trang không buồn không vui, đầy trìu mến và cảm thông; người ta có thể cảm thấy ở nàng một sức mạnh mới; Phật tử từ xa đến lễ độ chào nàng nơi lối đi và bỗng dưng hỏi nàng những câu thường chỉ dành đến lúc gặp các sư bà trụ trì.

Chàng gợi cho nàng về niềm vui trong mỗi lúc, mỗi ngày bình thường, mỗi vật và mỗi việc bình thường. Chàng cũng chú tâm giúp nàng chuẩn bị sống trọn vẹn mỗi ngày hôm sau, nhưng chẳng bao lâu chàng hiểu việc ấy không cần thiết nữa; chàng nhận thấy, thật ra từ lâu trước khi gặp chàng Hương đã thích nghe gà gáy mỗi sáng sớm, cảm thấy sung sướng và không hiểu sao lại xót xa khi ngắm con chim sẻ một mình bay qua cánh đồng; dường như cảm thấy trước rằng nơi nào đó, lúc nào đó, nó sẽ bị bắn. Chính nàng mới có thể là người đã trả lời không chút giận dữ, bối rối, trầm uất hay kiểu cách khi có kẻ thẳng thừng đề nghị nàng hãy đi kiếm tiền bằng vốn trời cho của nàng: “Bộ hết đường sống hay sao mà phải làm cái nghề ấy?”; nhưng khi có ả điếm hết thời bị một bọn vô lại hãm hiếp tàn tệ bò đến ngất bên cổng chùa thì nàng lặng lẽ dìu về phòng chăm sóc với tất cả tình yêu thương. Cảm động và sung sướng, chàng dõi theo từng việc nhỏ nàng làm, cho đến ngày kia chàng chợt nói với tôi có lẽ chàng không còn gì phải làm để giúp Hương nữa. Bây giờ nàng có thể luôn luôn nhìn cái chết một cách thân ái, bình tĩnh và thanh thản ; nàng không ghê sợ xác chết một con người mà cảm nhận nó như một thân cây chết, và nhìn cái chết của chính mình như sự vong thân của dòng sông khi ra đến biển lớn. Giờ đây chàng biết nàng sẽ thở hơi cuối cùng mà không tự dày vò, sân hận, tiếc nuối hay sợ hãi; nàng sẽ yên lòng trao lại đứa con - nàng đặt tên là Mai; nàng yêu loài hoa ấy, yêu cách nó sống, bày tỏ mình rồi lại quay về lặng im - vào tay các ni sư và tin rằng bất luận có căn tu hay không, nó sẽ thành người, sẽ biết sống cuộc đời mình - dù có thể ngắn ngủi - một cách trọn vẹn như mẹ nó... Thế giới đã mất nàng, buổi sáng không còn in hình dáng dịu dàng của nàng cúi xuống vẻ hờn dỗi xuýt xoa nắn mấy ngón chân đỏ tấy vì ba con kiến lửa ngoài vườn, bầy trẻ mồ côi sáng sáng không còn thấy nàng múc cháo cho chúng ăn, người qua đường không còn dịp nào ái ngại nhìn nàng ngồi trong quán lá, tóc tai ướt lướt thướt, vừa vuốt mặt vừa run, rồi cười, rồi lại run lập cập chờ dứt cơn mưa tháng Tám để xách đôi giỏ đi chợ về chùa nữa. Nhưng niềm vui mới lớn lao làm sao khi từ con người đó một con người khác đã ra đời, một hình dáng khác sẽ nối liền mặt đất với bầu trời, một niềm vui, nỗi đau và tình yêu khác sẽ lại góp phần vào nội dung thế giới. Tôi dõi theo điều đó với nỗi hân hoan, hồi hộp và xót xa như chàng; chúng tôi biết cuộc đời một lần nữa lại không chút dễ dàng với Mai; một ngày kia em sẽ dứt khỏi bốn bức rào ngôi chùa này, nàng sẽ gục ngã không ít lần nhưng đều đứng dậy hay gượng dậy và lại một mình thách thức cả thế giới tuy vậy trong sâu thẳm vẫn nuôi một tình yêu khắc khoải đối với thế giới. Chàng, một lần nữa, lại cảm thấy ý nghĩa sự tồn tại của chàng nằm trong việc chăm chút và yêu thương chỉ một con người đó; chàng không nghe tôi, không muốn hiểu rằng chàng cũng hoàn toàn có thể chăm chút và yêu thương một người khác, người đang ở sát bên chàng...

Bạn không thấy tôi sẽ mãi mãi ở bên nàng sao? Tôi sẽ ở lại đó, nơi nàng đã sống và chết, nơi con nàng đã chào đời và vĩnh viễn không biết mặt mẹ nhưng đến lượt nó phải hoàn tất cuộc đời mình như một con người. Tôi sẽ giúp con nàng đứng vững và đi trọn đường của nó, việc đó không đáng làm sao? Dành trọn phần đời còn lại của tôi cho sự viên thành một con người - dù con nàng hay ai khác - không phải một việc thiêng liêng sao ? Mỗi mảnh đất dưới chân bạn đều là Trái đất, nhà của bạn, đều thiêng liêng; cũng vậy mỗi con người đều thiêng liêng, đều là nhân loại, người thân của bạn, chính bạn. Bạn có thấy Hương chưa? Bạn có nhớ sức sống và sự thanh khiết trong từng cử động của nàng không? Bạn có nuối tiếc và mong mỏi nỗi dịu dàng và tình yêu sâu nặng trong từng hơi thở nàng không? Nếu có, bạn sẽ hiểu vì sao tôi nói với bạn về đứa con nàng như mẹ tôi, con gái tôi, người yêu tôi, vợ tôi, người bảo bọc tôi, chính tôi, tất cả nhân loại. Đừng nói nữa, bạn thân yêu, về những gì tôi lẽ ra còn phải làm cho nền thơ ca thế kỷ chúng ta. Hãy coi như tôi đã chết, không còn có tôi, chưa bao giờ có tôi trong kiếp này, hãy nhận lấy và mơ tiếp những giấc mơ của tôi, hãy tạo dựng sự sống theo cách của riêng bạn, đừng quan tâm đến tôi.

Các bạn có hiểu chàng tin điều chàng nói đến chừng nào không? Các bạn thấy chàng điên đến thế nào không?! Và tôi, đến lượt mình, không làm được bất cứ điều gì để giúp chàng thoát khỏi cơn điên này, ngoại trừ lời hứa nhận lấy và xây tiếp những thế giới chàng đã khởi sự, bằng tình yêu, nỗi cô đơn, niềm hy vọng, nước mắt âm thầm của tôi...

Thế là chàng lại ra đi, lần này đi hẳn, thực chất là đã chết. Vâng! Quả thật chàng đã chết với tôi, với các bạn, vì làm sao chàng có thể đổi kiếp làm người ba thế kỷ trước nếu không từ bỏ thân xác chàng, xác thân nặng nề mãi mãi bị giam cầm trong một chiều thời gian? Chàng đã ra đi như thế: bằng phần tinh khiết nhất của bản thể chàng vốn không biết tới thời gian vì với nó thời gian không có thật; đến ngưỡng cửa cuộc đời mới chàng lại khoác lấy xác thân lần nữa, bằng cách nào đó tôi thật sự không biết, nhưng là điều cuối cùng chàng phải làm để hoàn tất việc chuyển vị trong vũ trụ; với chàng việc đó khác gì bạn đang ở đây, trong căn phòng ấm cúng này, một phút sau bạn bước ra vườn và đón cơn mưa ở đó. Với chàng, đó là một bước chuyển cỏn con nhưng cần thiết và hạnh phúc, vì một con người đang cần chàng, dù không biết có chàng...

Và tôi phải thấy chàng chết dần mòn trước mắt tôi, từng ngày, từng giờ, như những người bị AIDS ngày xưa; ôi, trong tất cả mọi chuyện xảy ra với chàng, đó là điều duy nhất mà tôi khó lòng chịu đựng nổi. Giá như các bạn là tôi, tận mắt chứng kiến mà không cách nào ngăn chàng tiếp tục trở về quá khứ, ngày càng trọn vẹn hơn, quyết liệt hơn, cho đến ngày kia linh hồn chàng thoát ra mạnh mẽ hân hoan như nước ngầm vọt qua kẽ đá thì cùng lúc thân thể chàng teo quắt lại, nơi này cứng đờ, chỗ khác mềm oặt đi, tuy hãy còn âm ấm nhưng đã hoàn toàn vô dụng và cần phải tiêu biến đi như cái vỏ côn trùng lột xác bỏ lại vậy. Nhưng hơn hết, điều tôi nhớ mãi, đó là một phút trước đó, từ trong cơn mê sâu như lòng đất chàng tỉnh dậy, thoải mái, tỉnh táo như vừa ngủ rất yên lành và dịu dàng gọi tôi. Tôi ngồi bên chàng, cố giữ bình tĩnh, nhưng toàn thân tôi run lên, một phần vì sợ và vì kiệt sức. Thấy tôi khóc, chàng mỉm cười nắm tay tôi; chàng bảo tôi cúi sát xuống để chàng hôn trán tôi. Không, tôi không muốn nói gì nữa về chuyện chàng có công bằng với tôi không, hãy để tôi nhớ về nụ cười đó, cái hôn đó, giọt mồ hôi chàng trên má tôi, những tiếp xúc cuối cùng của tôi với thân thể chàng từng có khi là một với tôi.

Giờ đây mọi việc đã xong; từ thân thể xiết bao sinh động và nồng ấm đó chỉ còn mấy nhúm tro tôi đã rải lên cánh đồng quê hương chàng; ký ức kết tập trong suốt đời chàng đang an vị trong một phần não tôi, cách duy nhất để viên thành những ý đồ sáng tạo vừa chớm nở của chàng vừa theo chân tánh chàng vừa theo chân tánh tôi; vài tháng nữa cái thai duy nhất còn lại từ chàng sẽ phổng phao lên, ra khỏi lòng tôi, thế là chàng trở lại với tôi, dù không là chàng, cũng như vầng trăng tháng này không như tháng nọ nhưng vẫn là trăng vậy. Tôi sẽ sống trong niềm vui giúp nó lớn lên, và, cũng như chàng, làm mọi điều cần thiết để nó đi trọn con đường của riêng nó.

Nếu các bạn trở lại, tôi sẽ rất sung sướng; nguồn vui của tôi có nghĩa là mang nó đến cho các bạn. Hãy cùng tôi chúc mọi điều tốt lành cho chàng và con gái. Hãy đến với tôi, dù chỉ một lần, ba tháng nữa, ngày này, đón con tôi chào đời. Nhà tôi cũng là nhà các bạn. Cần việc gì, xin cứ gọi tôi. Tên tôi là Loan; Kiều Loan.

Một tác phẩm

Tắm cho ngựa đỏ - Kuzma Petrov-Vodkin (1878-1939)

Thứ Ba, 3 tháng 7, 2012

Mừng người từ cõi sống trở về - Phần 4 (trích tiểu thuyết)

Gã đã hoàn toàn biến mất. Kẻ đã đưa cô gái kỳ lạ này đến với tôi, cái mắt xích nối liền số phận của hai chúng tôi, kẻ đó đã thôi không còn tồn tại. Sự biến mất vào hư vô của một người sống trong hang cách đây hai triệu năm hay của một con kiến có lẽ cũng không trọn vẹn, tuyệt đối hơn thế. Mọi nỗ lực tìm kiếm của tôi chỉ trả lại cho tôi không gì khác ngoài sự phủ định, sự trống rỗng, sự vắng mặt. Không người thân, không địa chỉ, không hồ sơ, không dấu vết. 

Trong số rất ít oi những người có biết gã, không ai nói được lần cuối họ gặp gã là từ bao giờ. Hiện hữu của gã như bị một bàn tay khổng lồ vô hình xóa khỏi thế giới như cái tên viết bằng phấn bị xóa khỏi bảng đen.

Tôi vẫn viết, không ngừng, dẫu cho tất cả những gì viết ra đó, tôi không bao giờ có thể cho nhân lên thành một bản khác. Viễn cảnh để cho một ai khác phải gánh chịu sức nặng của chúng như tôi khiến tôi không thể chịu nổi. Nay thì tôi biết, có những thứ chữ đặc và mặn như máu.

Tôi không còn có những hành vi và phản ứng ngoài kiểm soát, khó hoặc không thể giải thích như trong mấy tháng vừa qua nữa. Theo nghĩa đó, tôi đã trở lại là tôi. Nhưng tôi, kẻ đang viết những dòng kia và cả dòng này, tôi đã là một cái tôi khác. Không một kẻ nào còn có thể y nguyên là hắn một khi những dòng chữ như thế đã tìm được lối để đi qua tim óc hắn.

Dù sao thì, những chuyển biến theo hướng hồi phục của bề ngoài tôi đã mang lại niềm vui cho vợ tôi, do đó là cho tôi. Và, do đó, cho con tôi. Chừng đó không phải là ít. Ít nhất, nó cho tôi cảm giác nắm lại được sự sống. Cái cảm giác tưởng chừng đã phải mất gần cả cuộc đời mới tìm lại được, rằng hai chân mình trụ chắc được trong từng giây phút của dòng thời gian thuộc về mình, cảm giác đó, kẻ nào chưa trải qua bằng chính trọn vẹn thể xác và linh hồn hắn thì đời nào có thể hiểu được.

Vì thế nào đó mà những cơn mơ kia - mà tôi gọi là cơn-mơ-cõi-khác của tôi - không còn trở lại trong những giấc ngủ của tôi, mặc dù tôi có nhiều lý do để tin hay biết chắc rằng chúng không đi khỏi cuộc đời tôi. Tôi không tin rằng chúng tạm thời trở nên vắng mặt chỉ vì tay tôi đang viết ra những dòng chữ mà qua đó may ra tôi có thể phục dựng được chút gì về chúng, một nỗ lực hòng giữ lại được cái bóng của một cái bóng, hoặc đồ lại một dấu chân không phải trên mặt đất mà sâu trong đất.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, nếu bảo tôi không cảm thấy thiếu những giấc mơ đó thì sẽ không thành thật. Tôi… thực sự nhớ chúng. Tôi nhớ chính mình trong những giấc mơ đó, những con người vốn cũng là tôi trong ấy; nhớ bản thân họ, chứ không phải nhớ những gì họ - tức là tôi - trải qua. Những giấc mơ ấy đi mất thì cũng giống như một phần của tôi đã mất; tôi như kẻ đang hì hụi leo núi, kiệt sức bèn chợp mắt trong chốc lát, sực tỉnh thấy mình chỉ còn nửa thân trên, từ thắt lưng lên. Cái cảm giác của kẻ đã quen với chuyện mình có thể cùng một lúc vừa mơ vừa thức nay bỗng nhiên buộc phải chấp nhận chỉ có thể hoặc mơ hoặc thức, cảm giác đó, ai có thể chia sẻ cùng tôi, ai từng trải qua để cùng chia sẻ với tôi?

Tôi trở nên chắc chắn hơn trong việc là chính mình, trong việc giữ cho mình đừng thường xuyên chệch khỏi mình. Tuy nhiên, sau mỗi giấc ngủ sâu, dài, không mộng mị - giờ đây gần như tôi hoàn toàn không mộng mị, thảng hoặc chỉ là những chuỗi hình ảnh rời rạc vô nghĩa, ngớ ngẩn -, tôi cảm thấy như mình vừa sống dậy sau khi kết thúc một kiếp trước, và điều ghê sợ nhất với tôi là tôi vốn dĩ có biết những gì đã xảy ra với tôi trong kiếp trước song bây giờ tôi không thể nhớ lại được.

Viết - viết ra những dòng chữ kia - là cách duy nhất để tôi nối lại ký ức về mối liên kết đã đứt lìa đó. Mỗi lần viết xong một đoạn, hoàn tất một mạch ý nghĩ, tạo hình trọn vẹn xong một chi tiết, tôi cảm thấy như mình tri nhận được thêm một nhịp huyết quản mà vọng âm chỉ có thể nghe được hết sức mơ hồ trên da của con người vốn dĩ là tôi. Một đêm - một trong không nhiều những đêm tôi có thể dành thời gian để viết, đơn độc, trong phòng làm việc khóa chặt, đôi khi dưới cái nhìn chăm chăm của vợ tôi cách một vách tường -, tôi không viết ra những dòng chữ mà mọi khi tôi vẫn viết ra. Ngòi bút tôi, tay tôi, luồng sinh điện nào đó vận hành bên trong tôi hay thông qua tôi, tất cả cứ trở đi trở lại cùng một chỗ, giống như đứa trẻ rắn mắt cứ lì lợm nhắc đi nhắc lại cùng một câu chửi tục tằn mặc dù người lớn đã cấm nó nói, nhất là bởi người lớn đã cấm tiệt nó không được nói, hoặc như cái đầu kim của máy hát kiểu xưa cứ quay đi quay lại mãi cùng một đoạn nhạc, với một sự dai dẳng ma quái và hiểm độc. Tháp Đôi Hà Nội, Tháp Đôi Hà Nội, Tháp Đôi Hà Nội, Tháp Đôi Hà Nội, Tháp Đôi Hà Nội, cứ thế kín đặc một trang giấy, hai trang, ba trang, bốn trang, năm trang, sáu trang, tôi đang làm gì, tôi tự hỏi trong khi tay tôi tiếp tục viết, tôi không rõ liệu có thể dùng ý chí để buộc mình dừng lại không tôi không biết, biết đâu chừng chính tôi không muốn dừng phải đấy biết đâu chừng, tôi muốn cứ để nó thế xem sự thể sẽ đi đến đâu liệu tôi có viết mãi như thế cho đến sáng không đến hết cả ngày không đến kiệt sức mà gục xuống không đến khi thở hơi cuối cùng không, kể cũng thú vị nếu một kẻ vừa điên vừa có thể tỉnh táo và lạnh lùng quan sát và mô tả xem mình điên đến mức nào và đến bao giờ, hay một người vừa đang rơi xuống vực vừa giữ được đủ cân bằng tâm trí để tường thuật phân tích và bình luận cảm nhận sâu sắc nhất của mình khi đang rơi xuống vực.

Tháp Đôi Hà Nội. Toàn bộ tôi - người tôi, ý thức tôi, tâm linh tôi - như tan rã dần vào mấy chữ này. Chúng dần dần lớn lên, không quá nhanh, nhưng thấy rõ, trở thành chuỗi âm tiết lớn hơn một cá thể người, một kết hợp thanh âm vốn là hiện thân của hư vô và mang tới hư vô. Tôi ngủ thiếp đi, đầu gục xuống bàn, bề ngoài thì thế, tay đang viết dở chữ N hoa ở vị trí lưng chừng một trong mấy trang cuối cuốn sổ tay, hơi thiên về nửa cuối trang. Tôi không buồn lật ngược các trang để đếm xem mình đã viết kín bao nhiêu trang, tổng cộng (dù chỉ đại khái) là bao nhiêu lần của “Tháp Đôi Hà Nội”, tay phải tôi nghe như các cơ sắp rời hết ra khỏi xương, trong đầu tôi vẫn còn, như một cụm hơi nước, ngưng tụ cái gì đó giống như một cái mồm lớn, vô hình đang há ra, bất động giữa lúc đang phát âm nửa chừng mấy tiếng “Tháp Đôi Hà Nội”.




Tôi gọi điện thoại cho một trong hai cộng sự mà tôi đã thuê riêng để trông nom cô gái. Tình trạng cô vẫn ổn định, họ nói. Nghĩa là, thân thể cô vẫn đang tiếp tục làm chức năng của một đường thông, kênh dẫn, trạm trung chuyển giữa hai thế giới, bất động, thở phập phồng, cần mẫn, câm lặng. Vợ tôi hỏi tôi mặc quần áo để đi đâu; đã đến giờ cơm. Trong lúc trả lời nàng, tôi nhìn thẳng vào trán nàng, vị trí chính giữa hai chân mày, và đột nhiên như thấy ngay trước mắt hai bàn chân trắng nhợt lơ lửng cách mặt nệm giường khoảng năm sáu chục xăng ti mét. Tôi nhận thấy vợ tôi khẽ há mồm như muốn kêu lên, như sắp thốt ra một câu hỏi mà tôi không thể trả lời. Tôi rời khỏi nhà, ngoái lại nhìn lại nàng đang đứng nơi khung cửa một lần nữa, lần cuối cùng hay không thì tôi không biết; dù thế nào thì, trong khoảnh khắc đó, tôi cảm thấy một cách mơ hồ rằng bước chân ra khỏi nhà lần này tôi sẽ rời khỏi nàng xa hơn tôi có thể hình dung, rằng cứ mỗi bước chân tôi, khoảng cách giữa tôi với nàng cũng như với con tôi sẽ tăng lên không phải theo cấp số cộng mà là cấp số nhân, cấp lũy thừa, nếu những cách nói này còn có ý nghĩa.

Nghe có vẻ lạ, nhưng quả thật tôi chưa lần nào bước vào trong Tháp Đôi Hà Nội. Chẳng phải vì tôi quá bận rộn đến thế, cũng không phải do tôi thờ ơ hoặc có ác cảm gì với nó. Quả thật, nếu nghĩ kỹ thì có lẽ cũng hơi kỳ quặc rằng tôi đã có mặt ở tất cả các công trình xây dựng mới nhất, to đẹp nhất, cao nhất, sang trọng và tân kỳ nhất ở đất nước này, vì đủ thứ lý do và vào đủ thứ dịp, tất cả, ngoại trừ Tháp Đôi Hà Nội, do một sự ngẫu nhiên nào đó, hay đúng hơn là, do một sự không ngẫu nhiên nào đó.

Tôi nổ máy, lái xe đi, chọn tuyến đường dài nhất trong mấy tuyến đường khác nhau dẫn tới Tháp Đôi Hà Nội, bởi trong thâm tâm tôi muốn lần lữa thêm chút nữa, kéo dài thêm một chút vài giờ phút cuối cùng; cuối cùng của cái gì tôi không chắc lắm, mặc dù hẳn không phải là cuối cùng của cuộc đời tôi… Trong khi lái xe, ý nghĩ lạ lùng này vụt đến với tôi: kỳ hạn của tôi ở thế giới hay thực tại này sắp hết nhưng rồi một kỳ hạn khác sẽ lập tức khởi đầu, hoặc cũng có khi ngay lúc này cái kỳ hạn đó đang diễn ra rồi; đời tôi đang đồng thời, ngay lúc này, diễn ra ở một nơi khác, và điều đó tôi không biết tới.
Và rồi, giống như ai đó viết, trong nhiều khoảnh khắc kế tiếp nhau sau đó, nhiều ý nghĩ từng cái một ập vào tôi, phần lớn là ý nghĩ về những việc tôi chưa làm tròn, chưa thể thực hiện được cho tất cả: vợ tôi, con tôi, cha mẹ tôi, bệnh viện của tôi, bệnh nhân của tôi, đồng nghiệp tôi, bạn thời đại học của tôi, bạn thời niên thiếu của tôi, cuộc truy tìm gã thanh niên đã để lại cô gái này cho tôi, mà tới giờ vẫn vô kết quả, danh tính cô gái mà các tay thám tử tư tôi thuê cho đến giờ đành chịu bó tay vô phương truy tìm, cái răng hàm bị sâu mà tôi mãi không thu xếp được thời gian đi trám và bọc lại, có lẽ nguyên nhân chính không phải vì công việc quá nhiều - mặc dù cũng có thế thật - mà là bởi cái lỗ sâu kia ở trong tâm trí hay linh hồn tôi suốt mấy tháng qua, nó tối tăm hơn làm tôi đau hơn và khó chữa trị hơn. Tôi nhớ tới bàn chân nhỏ bé của vợ tôi mà có lần tôi sơ ý giẫm lên lúc tôi bước qua trước mặt nàng đặng chộp cái điện thoại, trả lời một cuộc gọi mà tôi đang phát điên vì chờ đợi; vào thời điểm này trong trạng thái này, ký ức về sự cố đó gây cho tôi một cảm giác đau gần như bằng với cái đau tôi đã trải qua vào ít năm đầu hành nghề, những khi do sự bất lực và - đôi khi - non kém của tôi mà một bệnh nhân phải chết khi lẽ ra chưa đến lúc chết.

Đường đi không ngắn; tôi lái chậm, những suy tưởng và hồi ức lớp nọ chồng lên lớp kia dường như làm cho xe chất nặng hơn và đi càng chậm. Những dãy đèn cao áp cao ngất ngưởng hai bên đường cao tốc đổ thứ ánh sáng quá mạnh, hầu như thừa thãi lên mọi vật quanh tôi, tương tự ánh sáng trong phòng mổ, thứ ánh sáng mà mục đích tối hậu là làm sao cho không một cái bóng nào còn tồn tại. Trong ánh sáng này, dường như ngay cả tủy sống của tôi trong giấc mơ cũng bị phơi ra như nội tạng của con ếch bị phanh bụng ghim trên bàn thí nghiệm. Thật kỳ lạ, cái cảm giác rằng không còn bất cứ cái gì của tôi, bên trong tôi đủ sức tự giấu mình đi dưới ánh sáng ấy.

Tháp Đôi Hà Nội; thật vĩ đại, thật tự phụ, thật cường liệt; dẫu chỉ là bóng mờ của Tháp Đôi New York, cái khuôn mẫu không thể đạt tới của nó. Một anh bạn đồng nghiệp của tôi, người Mỹ, dân Boston, kể với tôi rằng, trong một cơn ác mộng, anh đã thấy Tháp Đôi New York bị những kẻ khủng bố nào đó phá hủy hoàn toàn bằng cách cướp máy bay dân dụng và điều khiển máy bay lao vào đó, nơi từng có Tháp Đôi nay chỉ còn là đổng đổ nát cao như núi và bên dưới đó là bình địa. Và, dĩ nhiên, lẫn trong núi đổ nát đó là những mảnh còn lại của hàng ngàn thân xác con người và hàng ngàn mảnh vỡ không bao giờ còn có thể tìm thấy lại của những cuộc đời vĩnh viễn bị cắt ngang. Chuyện như thế có lẽ nào lại xảy ra thật, anh nói, và tôi nhớ rõ nỗi đau đớn hằn sâu như dấu vết của những cú đấm tàn bạo nào đó trên mặt anh. Không một lời nào của tôi làm nguôi dịu được nỗi bàng hoàng trong mắt anh: với anh đó không là gì khác ngoài linh kiến về một chuyện chắc chắn sẽ xảy ra, nếu không phải vào năm 201... này thì cũng trong mười hai mươi năm nữa, nếu không phải ở thực tại này thì ở thực tại khác, dù chính anh không chắc nói như vậy thì có nghĩa là gì. Tôi thử nhắc anh nhớ rằng Lò Thiêu cũng như hai quả bom nguyên tử ném xuống nước Nhật là những chuyện đã xảy ra và xảy ra ở thực tại này, và một trong số ít những điều cốt tử mà một con người thực sự có trí và tâm có thể ngộ được, ấy là những sự ác mà con người có thể tưởng tượng ra không bao giờ có thể sánh nổi với những sự ác mà con người thực sự làm ra. Tôi nói điều này mà nghe máu khẽ dồn lên trong tôi mặc dù tôi biết rõ rằng những lời này, cả chúng nữa, là cũ rích và sáo rỗng đến mấy. Dù thế nào, anh bạn tôi nhìn tôi như thể ít nhất là trong giờ phút này anh đã mất khả năng hiểu tôi, hiểu những lời nói xuất phát từ thiện ý của giống người. Anh nhìn tôi như thể tôi, cả tôi nữa, đang ra sức giấu giếm một sự thực mà anh đã biết, cố công phủ định một tương lai mà anh hiểu cần phải gọi bằng chữ Định Mệnh.

Tháp Đôi Hà Nội, đầy vật thể, đầy khoảng trống, đầy ánh sáng, đầy âm thanh. Tôi chưa bao giờ đến đây; tôi cố đẩy lùi cái ý nghĩ rằng khoảnh khắc đầu tiên tôi bước chân vào nó đã được định đoạt từ trước bởi những kẻ khác. Tôi lái xe vào hầm đỗ: sâu hơn, sâu nữa, sâu hơn nữa, tôi phải đánh vòng xe theo những đoạn dốc uốn cong nhiều lần đến nỗi có một khoảnh khắc tôi chợt có ý nghĩ động tác tay này của tôi trên vô lăng không khéo sẽ trở thành một động tác tự động lặp lại vô phương kiểm soát, giống như động tác siết bù loong của anh công nhân Charlot. Những hầm ngầm đỗ xe của một tòa nhà có thể sâu đến thế này sao, một ý nghĩ khác lại len lỏi vào trong tôi; vô lý, chiều cao tổng cộng của ngần ấy tầng hầm từ nãy tới giờ dễ thường cũng tương đương với một phần nếu không phải là tất cả các tầng ở trên mặt đất, cứ như ngay ở nơi này từng có lúc tồn tại một mỏ khoai khoáng với những vỉa hầm không bao giờ tự thấy mình đã xuống đủ sâu. Người ta không cần nhiều chỗ đỗ xe đến thế, tôi nghĩ, với đôi chút hoảng hốt - giấu làm gì -, mặc dù tất cả các tầng tôi đã đi qua trên con đường chui xuống đất hồ như vô tận của mình đều đã kín đặc những vật thể mà tôi không còn thực sự tin là những chiếc xe. Một ý nghĩ khác lởn vởn hiện ra mà tôi cố gắng đẩy lùi: toàn bộ cái bối cảnh này - những tầng hầm mải miết đẩy lùi mọi giới hạn này - nằm trong một thứ thực tại được tạo ra dành riêng cho tôi.



Tầng hầm nơi rốt cuộc tôi cũng tìm được một góc trống vừa đủ cho xe tôi hoàn toàn không phải là tầng cuối; thậm chí không có vẻ gì là một trong những tầng áp cuối; có cái gì đó bên trong tôi bảo tôi rằng cái khúc quanh dẫn sâu xuống nữa kia chỉ là một chặng nằm đâu đó giữa nhiều, nhiều chặng; tuy nhiên tôi không có thì giờ phán đoán hay suy ngẫm thêm; đám người vừa đỗ xe cùng tầng với tôi - không quá đông, nhưng cũng đủ tạo thành một dòng lưu chuyển mạnh hơn cá thể - đã lôi hoặc đẩy tôi về phía dãy buồng thang máy. Những con người. Tôi nhìn họ. Đàn ông đàn bà, già trẻ lớn bé, cao thấp mập ốm, ăn mặc thoải mái kiểu đi chơi cuối tuần hay com lê cà vạt xách cặp như sắp dự họp hội đồng quản trị, tất cả như không thấy tôi và cũng không thấy nhau. Không một cái nhìn nào hướng vào mặt tôi, mặc dù người ta vẫn nhận biết sự tồn tại của tôi, điều này thể hiện ở việc họ lùi lại chừa một chỗ tối thiểu cho tôi và không xăm xăm đâm cả thân mình vào tôi như vào chốn không người. Chỉ những lúc buộc phải ép mình vào một không gian nhỏ khép kín và đầy chật đồng loại như buồng thang máy, tôi mới nhận ra một cách rõ rệt nhất rằng cái trạng thái của tôi cách đây vài tháng giờ không còn nữa.

Đó là, tôi không còn cảm thấy từ sâu trong mình cái thôi thúc muốn rụt người lại - dù không còn một centimét nào để rụt - và co hai tay lên làm thành một thứ giáp che lấy ngực khi mà tình cờ - hẳn chỉ tình cờ - có hai ba người đàn ông chứ không phải đàn bà đứng sát vào tôi, mùi cơ thể họ xuyên qua không khí mà xộc vào tôi. Không còn một con người khác ở trong tôi nữa. Còn, kẻ nào hay cái gì đã viết Tháp Đôi Hà Nội qua tôi và lúc này đang dẫn dụ tôi hướng lên những tầng lầu ở trên kia, đó là chuyện khác tôi muốn nghĩ thế, mặc dù tôi vẫn biết rằng một ý chí tuy ở bên ngoài song kiểm soát được hành vi của tôi thì có khác nào đang ở trong tôi.

Thang lên rất nhanh, xét qua tốc độ các con số màu xanh lục trên đầu tôi thay đổi: -15, tức là tầng hầm thứ 15, -14, -13, -12, -11…, chuyển nhanh thoắt, đến nỗi ta không thể nghĩ rằng để đạt tới tốc độ ấy cái buồng thang này cần phải thắng vượt được trọng lực đè lên ngần này con người. Nhiều người quanh tôi dán mắt vào dãy số nối nhau hiện sáng đó, kẻ liên tục đổi tư thế trong phạm vi không gian cho phép, người gõ gõ ngón tay lên vách buồng làm phát ra những tiếng lạch cạch khẽ. Ai đó khẽ huýt sáo một bài của Nat King Cole nhan đề gì tôi không nhớ chỉ biết là có chữ Trinidad, một phụ nữ ăn vận khá xuềnh xoàng săm soi môi nơi cái gương nhỏ xíu ở mặt trong nắp túi xách tay. Sự chờ đợi; sự chật hẹp; sự nôn nóng. Đây là Tháp Đôi Hà Nội, nơi có cái tôi cần tìm; thứ độc nhất tôi cần. Thang máy hữu hình đang kéo tôi lên nó, một thứ vòi hút vô hình đang nuốt dần tôi vào trong lòng nó. Bằng cách nào đó tôi không thể thực sự lý giải, song với sự rõ ràng và chắc chắn chẳng kém sàn buồng thang máy bằng kim loại bọc thảm êm ở dưới chân đang đỡ lấy thân thể tôi, sức nặng của tôi, tôi biết rằng những gì tôi sẽ nhìn thấy ở trên đó không thực sự nằm ở đó, và một khi đã ở trên đó, tôi là một trong những kẻ cô độc nhất trên trái đất, cô độc bởi những gì tôi thấy, bởi những gì tôi có trong tim.

Một cái gì đó mách bảo tôi rằng tôi nên đi tìm cái mình tìm ở những tầng thuộc quãng giữa. Tôi quyết định rồi sẽ làm theo nó, không bận tâm đến chuyện nó từ đâu tới.

Tòa kiến trúc này quá lớn đối với tôi, mặc dù tôi từng có mặt bên trong những công trình vốn được cho là lớn hơn nó nhiều. Có lẽ ấy là do một ý đồ đặc biệt nào đấy của những người thiết kế ra nó chăng, song dường như tại bất cứ thời điểm nào, dù tôi đang đứng ở vị trí nào bên trong Tháp Đôi Hà Nội dựa trên sơ đồ chỉ dẫn, tôi luôn luôn thấy vòi vọi phía trên đầu mình một không gian trống lộng hồ như khôn cùng, tạo ấn tượng rằng Tháp Đôi thực chất là một kết cấu rỗng, đằng sau lớp vỏ ngoài mà ta thấy khi từ xa tới thật ra không có một cái gì. Nó gợi liên tưởng tới một hang đá vĩ đại vươn cao theo chiều thẳng đứng, trong đó các không gian sử dụng duy nhất - những tầng lầu, những khu phòng nếu có thể nói vậy ¬- không là gì khác ngoài những cụm kết cấu khép kín bám cheo leo đây đó trên vách hang giống như những tổ chim yến. Sự rỗng không khép kín mở lên trên đến vô cùng mới là nội dung chính của nơi này, sự rỗng không đầy ắp thứ âm thanh rì rầm đặc trưng của hàng ngàn con người đi lại, tiếng lóc cóc nhọn hoắt của cơ man gót giày phụ nữ, tiếng cười nói, gọi nhau, bàn luận, tranh cãi, tiếng cửa đóng, tiếng nhạc chuông điện thoại reo, tiếng rẹt khô và sắc của những khóa kéo mở ra kéo lại, thế mà vẫn cứ là một rỗng không khiến cho tim con người như lặng đi vì sự tĩnh lặng của nó. Sự tĩnh lặng quá lớn khiến cho ngần ấy âm thanh vẫn còn xa mới chiếm chỗ được.

Tầng cao nhất, 146. Đám người quanh tôi tản mát đi mọi hướng thật nhanh, một đám khác tức thì tụ lại trước cửa buồng thang máy. Đừng nhìn qua vách kính, vài giọng bảo. Cao lắm, sâu lắm, họ nói. Nhìn xuống là lập tức tim mình như thốc lên tận mồm rồi nhảy tót ra ngoài ấy, họ nói. Nhiều người bước ra chỗ vách kính, nhìn. Tôi ngước lên bầu trời qua khoảng mở hình bầu dục, cũng lắp kính, ở trên đầu. Nền trời xanh biếc, quá sẫm gần như đen, có vài ngôi sao nhấp nháy. Buổi tối. Lần này thì thời gian đi nhanh hơn tôi; tôi chưa sẵn sàng về mặt tâm trí để gặp cái mình sẽ phải gặp vào một thời khắc thuộc về đêm.

Và rồi khi đó tôi cảm thấy một điều khá kỳ lạ - thật ra, có lẽ nó chỉ kỳ lạ nếu tôi nhìn nó vào một lúc khác, từ một góc khác. Không rõ có phải tất cả hoặc một phần là do tôi ngẩng lên nhìn trời quá lâu - do cái nhìn hướng thượng quá dài và tập trung cao độ, mãnh liệt đó - hay không mà dường như một phần cơ thể tôi không còn thuộc về tôi nữa. Điều đó thật khó tri nhận, khó lĩnh hội, nói gì đến chuyện mô tả bằng lời. Gần như thể một phần nào đó bên trong tôi, não tôi có lẽ thế, đã biến thành một thứ vật chất khác nhẹ hơn, không khí hay ánh sáng, và thoát cả ra ngoài qua các lỗ chân lông trên mặt tôi. Và trong khi thoát lên phía trên như thế, nó khiến tôi nhận thức một cách sâu sắc hơn rằng hầu hết phần còn lại của tôi vẫn đang ở đây, trên mặt sàn bằng đá hoa này. Trong khoảnh khắc, tim tôi nhói lên với ý nghĩ tôi hoàn toàn không biết phải làm gì với chính tôi.

Hai chân tôi, tự chúng trở gót, bắt đầu cất bước về bên trái. Ý thức của tôi tiến theo sau chúng, mơ hồ cảm thấy có sự nối kết giữa mình với một trong những dòng chảy lớn nào đó của vũ trụ dẫu là một dòng chảy sâu kín và tối tăm. Bằng cách nào đó, tôi cảm thấy mình nhìn ra được một thứ bóng tối ở đằng sau bất cứ ánh sáng đèn nào ở quanh mình, một thứ bóng tối vô hình mà ta lĩnh hội được trực tiếp từ đâu đó trong trung khu thần kinh, giống như chiều sâu đáng sợ của biển về đêm dù cái ta nhìn thấy chỉ là mặt biển. Tôi tiến dọc cái hành lang rộng thênh thang kéo dài theo hình cánh cung, sáng như ban ngày bởi ánh đèn quá nhiều đèn, cảm giác của tôi có lẽ giống như của phi công vũ trụ đang bay giữa vùng ánh sáng mặt trời song biết rõ rằng phía sau đó, vô cùng tận phía sau đó là khoảng không vũ trụ tối đen. Một ý nghĩ vừa phấn khích vừa ghê rợn lướt qua tôi, như một tia chớp giá lạnh: theo nghĩa nào đó, tôi đang đi, bằng đôi chân, vào cõi vĩnh hằng. Và ý nghĩ này, hay đúng hơn, cảm xúc này, nó không chỉ đi qua tôi và nằm lại đó mà dường như còn lan xa hơn, tỏa rộng ra phía trước tôi, tạo thành một bầu khí quyển vô hình, tách biệt mà trong đó tôi tiến tới.

Những nhà hàng, nhà hàng, nhà hàng, nơi hàng trăm con người đang ngồi, ăn uống, nói cười, đùa giỡn, nhìn ngó, chờ đợi cái gì đó hoặc không chờ đợi một cái gì. Tôi đi qua họ như đi qua hàng dãy dài những hình nhân chiếu lên tường trong một vở rối bóng; hóa ra sự vật trên đời có thể vừa ba chiều vừa hai chiều một cách rành rành và không thể cứu vãn như thế! Mặc dù tôi hầu như biết trước linh cảm này chắc không đúng, tôi vẫn không ngăn được mình chờ đợi thấy tiếng cộp của mỗi bước chân mình sẽ dát mỏng hơn một chút bề dày của những con người kia, ở mức độ sao cho mắt tôi có thể nắm bắt được nếu tôi đi đủ chậm và tập trung nhìn đủ lâu vào một đối tượng nhất định. Gần như là vô tình, tuy có lẽ phần nhiều vô thức, tôi đi không đủ chậm và nhìn không đủ lâu vào bất cứ một dáng người nào; hình như đối với tôi việc rất hệ trọng là giữ nguyên vẹn cảm quan rằng thế giới quanh tôi là thực sự hiện hữu.

Hành lang này - cái gọi là hành lang ẩm thực này - kéo dài tưởng như vô tận, song tôi đi hết chiều dài của nó hai lần mà vẫn không thể quyết định sau đây sẽ làm gì, sẽ đi đâu. Không thể có lầm lẫn nào, phải không, tôi nghĩ. Cái mà tôi cần thấy ở đây đâu phải là những gì mắt tôi nhìn, còn cái bóng tối đằng sau những gì mắt có thể nhìn, nó vẫn ở đó, nhưng cả nó nữa hình như cũng không phải là cái cuối cùng, nếu không thì tại sao cái nỗi nôn nao kia vẫn không chịu nguôi đi trong tôi, nỗi nôn nao của kẻ không thể có bình an chừng nào còn một món nợ lớn chưa trả dứt. Bóng tối ấy, cả nó cũng chẳng cho tôi một gợi ý nào; không có một ánh lóe nào - phản chiếu của dù một mảnh trăng hay một ít vì sao trên mặt biển trong đêm tối.

Nó là thứ bóng tối khiến người ta lập tức cảm thấy mình đang đối mặt trực tiếp với sự tiêu vong, sự vắng bặt cuộc sống, sự tịch lặng vĩnh viễn, sự chết - kiểu sự chết tuyệt không hứa hẹn nẻo hồi quy về sự sống, như thứ bóng tối trong bức tranh nổi tiếng của Chirico mà tôi thấy từ khi còn nhỏ, khi tôi hãy còn không thể nhớ tên tác giả, và, bây giờ tôi mới nhận ra, nó đã theo tôi suốt cả đường đời của tôi.

Rồi tôi thấy một dáng người đứng nơi sảnh đợi thang máy. Như có cái gì đó đột ngột chẹn lên ngực tôi ngay khoảnh khắc tôi nhìn kỹ người đó.

Một cô gái, đó là cảm nhận đầu tiên của tôi. Một con người như mọi con người. Có nghĩa, không phải một loài sinh vật khác, một quái vật. Ít nhất là bề ngoài… Một con người với hình dong bình thường của con người, không kỳ dị, không biến thái, thậm chí phần nhiều nghiêng về phía hoàn thiện hơn, lý tưởng hơn: một cô gái có khả năng làm cho cơ thể và tâm hồn của phần lớn đàn ông chuyển động. Một cô gái đẹp, ăn mặc bình dị, trang nhã, đứng đó cách tôi dăm mét, trông có vẻ dày dày vật chất tuy rằng ánh sáng xung quanh quá tràn trề đến nỗi tôi không nhìn thấy bóng của cô cũng như không thấy bóng của chính tôi - tại sao, cái gì, cái gì ở cô khiến cho tôi, sau khi chú mục vào cô lâu hơn khoảng một giây, tôi đột nhiên cảm thấy một sự run nhẹ nơi đầu các ngón tay mình, cảm thấy toàn thân mình giống như thành một quả bóng lớn đang căng ra quá sức chịu đựng và hai chân tôi vừa như nhũn ra vừa như cứng lại; tôi cảm thấy khó lòng tiến tới song không thể không tiến tới, tôi cần sự chuyển động, nó giữ cho tôi không khuỵu xuống.

Cô gái không nhìn tôi, cũng không nhìn dãy cửa buồng thang máy, không nhìn xuống, không nhìn lên. Mắt cô, xét qua dáng đầu xoay nghiêng, đang dán vào một đối tượng nào đó không rõ rệt, hoặc - dù tôi không tin lời mình nói cho lắm - đang ngắm nhìn một cảnh tượng nào đó thu hút tâm trí cô ở bên ngoài không gian và thời gian này, tuy nhiên một cái gì đó nơi cô vẫn đang xoáy vào tôi; tôi cảm thấy nó xói vào trong nội thể tôi giống như một lưỡi mác làm bằng thứ khí hơi lành lạnh. Tôi nín thở - hay đúng hơn, trong khoảng mười giây gì đó tôi hoàn toàn quên mất việc thở - ngó trân trân vào đối thể này, tự hỏi, như một kẻ ngơ ngẩn, rằng đến khi nào sự sống sẽ theo lỗ thoát do lưỡi mác kia mở ra mà rời bỏ tôi.

Tôi vẫn tiếp tục nhìn cô, dù cảm thấy rằng từ khi có cô, nhịp tim của tôi, rồi hơi thở của tôi lần lượt bị nhấn chìm. Tôi nhìn cô, cảm thấy mình đang dần dần trở nên sẵn sàng thuận theo ý chí của cô hay, nếu nói cách khác, ý chí của các phần tử tạo nên hình hài cô lúc này, dẫu đó là gì đi nữa, dẫu đó là một ý chí muốn cho các phần tử tạo nên thể xác tôi phải bắt đầu bị tiêu trầm.

Đến một lúc, ngoài khả năng kiểm soát của tôi, chân tôi ngừng di chuyển. Chừng như cơ thể tôi tự nó biết rằng, chỉ cần dấn tới thêm bước nữa thì chính nó sẽ bị cơn rần rật khởi đi từ các đầu ngón tay này làm cho tan biến. Cô gái vẫn không nhìn sang tôi… tuy thật khó mà nghĩ rằng cô không cảm thấy sự hiện diện của tôi ở gần cô như thế… và chỉ đến lúc này tôi mới nhận ra một điều mà đáng lẽ từ nãy giờ tôi phải nhận ra, đó là sảnh thang này vắng tanh một cách bất thường, và đèn hiệu gọi thang đi xuống ở trên tường không bật sáng, cho thấy rằng không phải cô đang đợi thang còn có phải cô đang đợi tôi hay không thì tôi không muốn nghĩ tới và không muốn trả lời trong khi tim tôi như thể tụt xuống và biến đâu mất trong cái khoảng rỗng không nơi từng có các cơ quan nội tạng tôi.

Tôi há mồm muốn nói, kêu lên, phát ra một âm thanh nào đó bất kỳ âm thanh gì miễn sao nó đúng là phát ra từ bản thể tôi, một tay tôi cuống quýt - phải, cuống quýt - vươn ra tìm một khoảng tường ốp đá giả hoa cương như thể xa vô cùng tận mặc dù theo mắt tôi đánh giá thì chỉ cách tôi không hơn một mét, tôi cần một sự động chạm dù tối thiểu vào thế giới - cái thế giới có thể nhìn bằng mắt chạm bằng tay - giống như người đương sắp chết đuối cần nắm lấy dù chỉ một đoạn cây khô.

Cửa thang máy trượt mở sang hai bên không gây nên một tiếng động dù nhỏ nhất, giống như cái bóng trên tường dịch chuyển. Không có gì báo trước sự kiện này, không có ô đèn hiệu nào sáng lên, không một tiếng bính bong hay tương tự như ở sảnh thang máy của mọi tòa nhà cao tầng tôi từng biết mỗi khi thang đến. Một vùng khô, cứng đờ và rỗng, đó là cảm giác của tôi về miệng tôi, khu vực quanh miệng, bên trong miệng và vòm họng, kéo dài cho đến cuống họng, tôi không cảm thấy mình đang thở, không có ý niệm rằng mình đang nín thở, đang nuốt nước miếng hay đang muốn nói hoặc kêu gì đấy song không còn sai khiến được các bộ phận có chức năng làm việc đó. Khi cô gái bước vào trong buồng thang, tôi cũng bước vào, sau cô chừng hơn một mét, có cảm giác - cái này thì chắc chỉ là cảm giác - rằng có một cái gì đó vô hình đang lưu chuyển từ cô gái sang tôi, vô hình nhưng có thể cảm nhận được thật rõ rệt, rõ rệt như tôi đang ý thức rằng tại thời khắc này tôi vẫn đang hiện hữu. Cái gì đó này, nhẹ và tinh hơn không khí nhiều lần, xâm nhập vào bên trong tôi giống như một hơi thở đầu tiên phả vào trong một vùng kín vốn từ bao lâu nay là chỗ chân không: trong một khoảnh khắc ngắn hơn nhiều lần so với một giây, một nhận thức bừng lên như chớp trong tâm trí tôi: chính tại điểm này trong không gian và thời gian, đối với tôi, một cái gì vừa mới bắt đầu cùng lúc với một cái gì khác vừa chấm dứt vĩnh viễn.




Khác với tất cả những gì anh có thể hình dung, anh cảm thấy một sự ấm áp kỳ lạ trong không khí sau khi cửa đóng và chỉ còn lại mình anh trong buồng thang máy - cái giống như buồng thang máy - bên cạnh người thiếu nữ đó. Dường như không chỉ có một cô gái này cùng với anh trong không gian khép kín này mà còn có vài người nữa, vô hình, hay ít nhất là tinh túy của họ, sự ấm áp tỏa ra từ phần quan trọng nhất làm nên họ. Hơi ấm này - chứ không phải cái đối lập với nó - là bằng chứng rõ ràng cho anh thấy những người này đang sống, đang hiện hữu.

Rồi anh nghe cô gái nói, hoặc anh cảm thấy mình nghe cô gái nói:

Mừng người từ cõi sống trở về.

Trần Tiễn Cao Đăng