Thứ Ba, 3 tháng 7, 2012

Mừng người từ cõi sống trở về - Phần 4 (trích tiểu thuyết)

Gã đã hoàn toàn biến mất. Kẻ đã đưa cô gái kỳ lạ này đến với tôi, cái mắt xích nối liền số phận của hai chúng tôi, kẻ đó đã thôi không còn tồn tại. Sự biến mất vào hư vô của một người sống trong hang cách đây hai triệu năm hay của một con kiến có lẽ cũng không trọn vẹn, tuyệt đối hơn thế. Mọi nỗ lực tìm kiếm của tôi chỉ trả lại cho tôi không gì khác ngoài sự phủ định, sự trống rỗng, sự vắng mặt. Không người thân, không địa chỉ, không hồ sơ, không dấu vết. 

Trong số rất ít oi những người có biết gã, không ai nói được lần cuối họ gặp gã là từ bao giờ. Hiện hữu của gã như bị một bàn tay khổng lồ vô hình xóa khỏi thế giới như cái tên viết bằng phấn bị xóa khỏi bảng đen.

Tôi vẫn viết, không ngừng, dẫu cho tất cả những gì viết ra đó, tôi không bao giờ có thể cho nhân lên thành một bản khác. Viễn cảnh để cho một ai khác phải gánh chịu sức nặng của chúng như tôi khiến tôi không thể chịu nổi. Nay thì tôi biết, có những thứ chữ đặc và mặn như máu.

Tôi không còn có những hành vi và phản ứng ngoài kiểm soát, khó hoặc không thể giải thích như trong mấy tháng vừa qua nữa. Theo nghĩa đó, tôi đã trở lại là tôi. Nhưng tôi, kẻ đang viết những dòng kia và cả dòng này, tôi đã là một cái tôi khác. Không một kẻ nào còn có thể y nguyên là hắn một khi những dòng chữ như thế đã tìm được lối để đi qua tim óc hắn.

Dù sao thì, những chuyển biến theo hướng hồi phục của bề ngoài tôi đã mang lại niềm vui cho vợ tôi, do đó là cho tôi. Và, do đó, cho con tôi. Chừng đó không phải là ít. Ít nhất, nó cho tôi cảm giác nắm lại được sự sống. Cái cảm giác tưởng chừng đã phải mất gần cả cuộc đời mới tìm lại được, rằng hai chân mình trụ chắc được trong từng giây phút của dòng thời gian thuộc về mình, cảm giác đó, kẻ nào chưa trải qua bằng chính trọn vẹn thể xác và linh hồn hắn thì đời nào có thể hiểu được.

Vì thế nào đó mà những cơn mơ kia - mà tôi gọi là cơn-mơ-cõi-khác của tôi - không còn trở lại trong những giấc ngủ của tôi, mặc dù tôi có nhiều lý do để tin hay biết chắc rằng chúng không đi khỏi cuộc đời tôi. Tôi không tin rằng chúng tạm thời trở nên vắng mặt chỉ vì tay tôi đang viết ra những dòng chữ mà qua đó may ra tôi có thể phục dựng được chút gì về chúng, một nỗ lực hòng giữ lại được cái bóng của một cái bóng, hoặc đồ lại một dấu chân không phải trên mặt đất mà sâu trong đất.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, nếu bảo tôi không cảm thấy thiếu những giấc mơ đó thì sẽ không thành thật. Tôi… thực sự nhớ chúng. Tôi nhớ chính mình trong những giấc mơ đó, những con người vốn cũng là tôi trong ấy; nhớ bản thân họ, chứ không phải nhớ những gì họ - tức là tôi - trải qua. Những giấc mơ ấy đi mất thì cũng giống như một phần của tôi đã mất; tôi như kẻ đang hì hụi leo núi, kiệt sức bèn chợp mắt trong chốc lát, sực tỉnh thấy mình chỉ còn nửa thân trên, từ thắt lưng lên. Cái cảm giác của kẻ đã quen với chuyện mình có thể cùng một lúc vừa mơ vừa thức nay bỗng nhiên buộc phải chấp nhận chỉ có thể hoặc mơ hoặc thức, cảm giác đó, ai có thể chia sẻ cùng tôi, ai từng trải qua để cùng chia sẻ với tôi?

Tôi trở nên chắc chắn hơn trong việc là chính mình, trong việc giữ cho mình đừng thường xuyên chệch khỏi mình. Tuy nhiên, sau mỗi giấc ngủ sâu, dài, không mộng mị - giờ đây gần như tôi hoàn toàn không mộng mị, thảng hoặc chỉ là những chuỗi hình ảnh rời rạc vô nghĩa, ngớ ngẩn -, tôi cảm thấy như mình vừa sống dậy sau khi kết thúc một kiếp trước, và điều ghê sợ nhất với tôi là tôi vốn dĩ có biết những gì đã xảy ra với tôi trong kiếp trước song bây giờ tôi không thể nhớ lại được.

Viết - viết ra những dòng chữ kia - là cách duy nhất để tôi nối lại ký ức về mối liên kết đã đứt lìa đó. Mỗi lần viết xong một đoạn, hoàn tất một mạch ý nghĩ, tạo hình trọn vẹn xong một chi tiết, tôi cảm thấy như mình tri nhận được thêm một nhịp huyết quản mà vọng âm chỉ có thể nghe được hết sức mơ hồ trên da của con người vốn dĩ là tôi. Một đêm - một trong không nhiều những đêm tôi có thể dành thời gian để viết, đơn độc, trong phòng làm việc khóa chặt, đôi khi dưới cái nhìn chăm chăm của vợ tôi cách một vách tường -, tôi không viết ra những dòng chữ mà mọi khi tôi vẫn viết ra. Ngòi bút tôi, tay tôi, luồng sinh điện nào đó vận hành bên trong tôi hay thông qua tôi, tất cả cứ trở đi trở lại cùng một chỗ, giống như đứa trẻ rắn mắt cứ lì lợm nhắc đi nhắc lại cùng một câu chửi tục tằn mặc dù người lớn đã cấm nó nói, nhất là bởi người lớn đã cấm tiệt nó không được nói, hoặc như cái đầu kim của máy hát kiểu xưa cứ quay đi quay lại mãi cùng một đoạn nhạc, với một sự dai dẳng ma quái và hiểm độc. Tháp Đôi Hà Nội, Tháp Đôi Hà Nội, Tháp Đôi Hà Nội, Tháp Đôi Hà Nội, Tháp Đôi Hà Nội, cứ thế kín đặc một trang giấy, hai trang, ba trang, bốn trang, năm trang, sáu trang, tôi đang làm gì, tôi tự hỏi trong khi tay tôi tiếp tục viết, tôi không rõ liệu có thể dùng ý chí để buộc mình dừng lại không tôi không biết, biết đâu chừng chính tôi không muốn dừng phải đấy biết đâu chừng, tôi muốn cứ để nó thế xem sự thể sẽ đi đến đâu liệu tôi có viết mãi như thế cho đến sáng không đến hết cả ngày không đến kiệt sức mà gục xuống không đến khi thở hơi cuối cùng không, kể cũng thú vị nếu một kẻ vừa điên vừa có thể tỉnh táo và lạnh lùng quan sát và mô tả xem mình điên đến mức nào và đến bao giờ, hay một người vừa đang rơi xuống vực vừa giữ được đủ cân bằng tâm trí để tường thuật phân tích và bình luận cảm nhận sâu sắc nhất của mình khi đang rơi xuống vực.

Tháp Đôi Hà Nội. Toàn bộ tôi - người tôi, ý thức tôi, tâm linh tôi - như tan rã dần vào mấy chữ này. Chúng dần dần lớn lên, không quá nhanh, nhưng thấy rõ, trở thành chuỗi âm tiết lớn hơn một cá thể người, một kết hợp thanh âm vốn là hiện thân của hư vô và mang tới hư vô. Tôi ngủ thiếp đi, đầu gục xuống bàn, bề ngoài thì thế, tay đang viết dở chữ N hoa ở vị trí lưng chừng một trong mấy trang cuối cuốn sổ tay, hơi thiên về nửa cuối trang. Tôi không buồn lật ngược các trang để đếm xem mình đã viết kín bao nhiêu trang, tổng cộng (dù chỉ đại khái) là bao nhiêu lần của “Tháp Đôi Hà Nội”, tay phải tôi nghe như các cơ sắp rời hết ra khỏi xương, trong đầu tôi vẫn còn, như một cụm hơi nước, ngưng tụ cái gì đó giống như một cái mồm lớn, vô hình đang há ra, bất động giữa lúc đang phát âm nửa chừng mấy tiếng “Tháp Đôi Hà Nội”.




Tôi gọi điện thoại cho một trong hai cộng sự mà tôi đã thuê riêng để trông nom cô gái. Tình trạng cô vẫn ổn định, họ nói. Nghĩa là, thân thể cô vẫn đang tiếp tục làm chức năng của một đường thông, kênh dẫn, trạm trung chuyển giữa hai thế giới, bất động, thở phập phồng, cần mẫn, câm lặng. Vợ tôi hỏi tôi mặc quần áo để đi đâu; đã đến giờ cơm. Trong lúc trả lời nàng, tôi nhìn thẳng vào trán nàng, vị trí chính giữa hai chân mày, và đột nhiên như thấy ngay trước mắt hai bàn chân trắng nhợt lơ lửng cách mặt nệm giường khoảng năm sáu chục xăng ti mét. Tôi nhận thấy vợ tôi khẽ há mồm như muốn kêu lên, như sắp thốt ra một câu hỏi mà tôi không thể trả lời. Tôi rời khỏi nhà, ngoái lại nhìn lại nàng đang đứng nơi khung cửa một lần nữa, lần cuối cùng hay không thì tôi không biết; dù thế nào thì, trong khoảnh khắc đó, tôi cảm thấy một cách mơ hồ rằng bước chân ra khỏi nhà lần này tôi sẽ rời khỏi nàng xa hơn tôi có thể hình dung, rằng cứ mỗi bước chân tôi, khoảng cách giữa tôi với nàng cũng như với con tôi sẽ tăng lên không phải theo cấp số cộng mà là cấp số nhân, cấp lũy thừa, nếu những cách nói này còn có ý nghĩa.

Nghe có vẻ lạ, nhưng quả thật tôi chưa lần nào bước vào trong Tháp Đôi Hà Nội. Chẳng phải vì tôi quá bận rộn đến thế, cũng không phải do tôi thờ ơ hoặc có ác cảm gì với nó. Quả thật, nếu nghĩ kỹ thì có lẽ cũng hơi kỳ quặc rằng tôi đã có mặt ở tất cả các công trình xây dựng mới nhất, to đẹp nhất, cao nhất, sang trọng và tân kỳ nhất ở đất nước này, vì đủ thứ lý do và vào đủ thứ dịp, tất cả, ngoại trừ Tháp Đôi Hà Nội, do một sự ngẫu nhiên nào đó, hay đúng hơn là, do một sự không ngẫu nhiên nào đó.

Tôi nổ máy, lái xe đi, chọn tuyến đường dài nhất trong mấy tuyến đường khác nhau dẫn tới Tháp Đôi Hà Nội, bởi trong thâm tâm tôi muốn lần lữa thêm chút nữa, kéo dài thêm một chút vài giờ phút cuối cùng; cuối cùng của cái gì tôi không chắc lắm, mặc dù hẳn không phải là cuối cùng của cuộc đời tôi… Trong khi lái xe, ý nghĩ lạ lùng này vụt đến với tôi: kỳ hạn của tôi ở thế giới hay thực tại này sắp hết nhưng rồi một kỳ hạn khác sẽ lập tức khởi đầu, hoặc cũng có khi ngay lúc này cái kỳ hạn đó đang diễn ra rồi; đời tôi đang đồng thời, ngay lúc này, diễn ra ở một nơi khác, và điều đó tôi không biết tới.
Và rồi, giống như ai đó viết, trong nhiều khoảnh khắc kế tiếp nhau sau đó, nhiều ý nghĩ từng cái một ập vào tôi, phần lớn là ý nghĩ về những việc tôi chưa làm tròn, chưa thể thực hiện được cho tất cả: vợ tôi, con tôi, cha mẹ tôi, bệnh viện của tôi, bệnh nhân của tôi, đồng nghiệp tôi, bạn thời đại học của tôi, bạn thời niên thiếu của tôi, cuộc truy tìm gã thanh niên đã để lại cô gái này cho tôi, mà tới giờ vẫn vô kết quả, danh tính cô gái mà các tay thám tử tư tôi thuê cho đến giờ đành chịu bó tay vô phương truy tìm, cái răng hàm bị sâu mà tôi mãi không thu xếp được thời gian đi trám và bọc lại, có lẽ nguyên nhân chính không phải vì công việc quá nhiều - mặc dù cũng có thế thật - mà là bởi cái lỗ sâu kia ở trong tâm trí hay linh hồn tôi suốt mấy tháng qua, nó tối tăm hơn làm tôi đau hơn và khó chữa trị hơn. Tôi nhớ tới bàn chân nhỏ bé của vợ tôi mà có lần tôi sơ ý giẫm lên lúc tôi bước qua trước mặt nàng đặng chộp cái điện thoại, trả lời một cuộc gọi mà tôi đang phát điên vì chờ đợi; vào thời điểm này trong trạng thái này, ký ức về sự cố đó gây cho tôi một cảm giác đau gần như bằng với cái đau tôi đã trải qua vào ít năm đầu hành nghề, những khi do sự bất lực và - đôi khi - non kém của tôi mà một bệnh nhân phải chết khi lẽ ra chưa đến lúc chết.

Đường đi không ngắn; tôi lái chậm, những suy tưởng và hồi ức lớp nọ chồng lên lớp kia dường như làm cho xe chất nặng hơn và đi càng chậm. Những dãy đèn cao áp cao ngất ngưởng hai bên đường cao tốc đổ thứ ánh sáng quá mạnh, hầu như thừa thãi lên mọi vật quanh tôi, tương tự ánh sáng trong phòng mổ, thứ ánh sáng mà mục đích tối hậu là làm sao cho không một cái bóng nào còn tồn tại. Trong ánh sáng này, dường như ngay cả tủy sống của tôi trong giấc mơ cũng bị phơi ra như nội tạng của con ếch bị phanh bụng ghim trên bàn thí nghiệm. Thật kỳ lạ, cái cảm giác rằng không còn bất cứ cái gì của tôi, bên trong tôi đủ sức tự giấu mình đi dưới ánh sáng ấy.

Tháp Đôi Hà Nội; thật vĩ đại, thật tự phụ, thật cường liệt; dẫu chỉ là bóng mờ của Tháp Đôi New York, cái khuôn mẫu không thể đạt tới của nó. Một anh bạn đồng nghiệp của tôi, người Mỹ, dân Boston, kể với tôi rằng, trong một cơn ác mộng, anh đã thấy Tháp Đôi New York bị những kẻ khủng bố nào đó phá hủy hoàn toàn bằng cách cướp máy bay dân dụng và điều khiển máy bay lao vào đó, nơi từng có Tháp Đôi nay chỉ còn là đổng đổ nát cao như núi và bên dưới đó là bình địa. Và, dĩ nhiên, lẫn trong núi đổ nát đó là những mảnh còn lại của hàng ngàn thân xác con người và hàng ngàn mảnh vỡ không bao giờ còn có thể tìm thấy lại của những cuộc đời vĩnh viễn bị cắt ngang. Chuyện như thế có lẽ nào lại xảy ra thật, anh nói, và tôi nhớ rõ nỗi đau đớn hằn sâu như dấu vết của những cú đấm tàn bạo nào đó trên mặt anh. Không một lời nào của tôi làm nguôi dịu được nỗi bàng hoàng trong mắt anh: với anh đó không là gì khác ngoài linh kiến về một chuyện chắc chắn sẽ xảy ra, nếu không phải vào năm 201... này thì cũng trong mười hai mươi năm nữa, nếu không phải ở thực tại này thì ở thực tại khác, dù chính anh không chắc nói như vậy thì có nghĩa là gì. Tôi thử nhắc anh nhớ rằng Lò Thiêu cũng như hai quả bom nguyên tử ném xuống nước Nhật là những chuyện đã xảy ra và xảy ra ở thực tại này, và một trong số ít những điều cốt tử mà một con người thực sự có trí và tâm có thể ngộ được, ấy là những sự ác mà con người có thể tưởng tượng ra không bao giờ có thể sánh nổi với những sự ác mà con người thực sự làm ra. Tôi nói điều này mà nghe máu khẽ dồn lên trong tôi mặc dù tôi biết rõ rằng những lời này, cả chúng nữa, là cũ rích và sáo rỗng đến mấy. Dù thế nào, anh bạn tôi nhìn tôi như thể ít nhất là trong giờ phút này anh đã mất khả năng hiểu tôi, hiểu những lời nói xuất phát từ thiện ý của giống người. Anh nhìn tôi như thể tôi, cả tôi nữa, đang ra sức giấu giếm một sự thực mà anh đã biết, cố công phủ định một tương lai mà anh hiểu cần phải gọi bằng chữ Định Mệnh.

Tháp Đôi Hà Nội, đầy vật thể, đầy khoảng trống, đầy ánh sáng, đầy âm thanh. Tôi chưa bao giờ đến đây; tôi cố đẩy lùi cái ý nghĩ rằng khoảnh khắc đầu tiên tôi bước chân vào nó đã được định đoạt từ trước bởi những kẻ khác. Tôi lái xe vào hầm đỗ: sâu hơn, sâu nữa, sâu hơn nữa, tôi phải đánh vòng xe theo những đoạn dốc uốn cong nhiều lần đến nỗi có một khoảnh khắc tôi chợt có ý nghĩ động tác tay này của tôi trên vô lăng không khéo sẽ trở thành một động tác tự động lặp lại vô phương kiểm soát, giống như động tác siết bù loong của anh công nhân Charlot. Những hầm ngầm đỗ xe của một tòa nhà có thể sâu đến thế này sao, một ý nghĩ khác lại len lỏi vào trong tôi; vô lý, chiều cao tổng cộng của ngần ấy tầng hầm từ nãy tới giờ dễ thường cũng tương đương với một phần nếu không phải là tất cả các tầng ở trên mặt đất, cứ như ngay ở nơi này từng có lúc tồn tại một mỏ khoai khoáng với những vỉa hầm không bao giờ tự thấy mình đã xuống đủ sâu. Người ta không cần nhiều chỗ đỗ xe đến thế, tôi nghĩ, với đôi chút hoảng hốt - giấu làm gì -, mặc dù tất cả các tầng tôi đã đi qua trên con đường chui xuống đất hồ như vô tận của mình đều đã kín đặc những vật thể mà tôi không còn thực sự tin là những chiếc xe. Một ý nghĩ khác lởn vởn hiện ra mà tôi cố gắng đẩy lùi: toàn bộ cái bối cảnh này - những tầng hầm mải miết đẩy lùi mọi giới hạn này - nằm trong một thứ thực tại được tạo ra dành riêng cho tôi.



Tầng hầm nơi rốt cuộc tôi cũng tìm được một góc trống vừa đủ cho xe tôi hoàn toàn không phải là tầng cuối; thậm chí không có vẻ gì là một trong những tầng áp cuối; có cái gì đó bên trong tôi bảo tôi rằng cái khúc quanh dẫn sâu xuống nữa kia chỉ là một chặng nằm đâu đó giữa nhiều, nhiều chặng; tuy nhiên tôi không có thì giờ phán đoán hay suy ngẫm thêm; đám người vừa đỗ xe cùng tầng với tôi - không quá đông, nhưng cũng đủ tạo thành một dòng lưu chuyển mạnh hơn cá thể - đã lôi hoặc đẩy tôi về phía dãy buồng thang máy. Những con người. Tôi nhìn họ. Đàn ông đàn bà, già trẻ lớn bé, cao thấp mập ốm, ăn mặc thoải mái kiểu đi chơi cuối tuần hay com lê cà vạt xách cặp như sắp dự họp hội đồng quản trị, tất cả như không thấy tôi và cũng không thấy nhau. Không một cái nhìn nào hướng vào mặt tôi, mặc dù người ta vẫn nhận biết sự tồn tại của tôi, điều này thể hiện ở việc họ lùi lại chừa một chỗ tối thiểu cho tôi và không xăm xăm đâm cả thân mình vào tôi như vào chốn không người. Chỉ những lúc buộc phải ép mình vào một không gian nhỏ khép kín và đầy chật đồng loại như buồng thang máy, tôi mới nhận ra một cách rõ rệt nhất rằng cái trạng thái của tôi cách đây vài tháng giờ không còn nữa.

Đó là, tôi không còn cảm thấy từ sâu trong mình cái thôi thúc muốn rụt người lại - dù không còn một centimét nào để rụt - và co hai tay lên làm thành một thứ giáp che lấy ngực khi mà tình cờ - hẳn chỉ tình cờ - có hai ba người đàn ông chứ không phải đàn bà đứng sát vào tôi, mùi cơ thể họ xuyên qua không khí mà xộc vào tôi. Không còn một con người khác ở trong tôi nữa. Còn, kẻ nào hay cái gì đã viết Tháp Đôi Hà Nội qua tôi và lúc này đang dẫn dụ tôi hướng lên những tầng lầu ở trên kia, đó là chuyện khác tôi muốn nghĩ thế, mặc dù tôi vẫn biết rằng một ý chí tuy ở bên ngoài song kiểm soát được hành vi của tôi thì có khác nào đang ở trong tôi.

Thang lên rất nhanh, xét qua tốc độ các con số màu xanh lục trên đầu tôi thay đổi: -15, tức là tầng hầm thứ 15, -14, -13, -12, -11…, chuyển nhanh thoắt, đến nỗi ta không thể nghĩ rằng để đạt tới tốc độ ấy cái buồng thang này cần phải thắng vượt được trọng lực đè lên ngần này con người. Nhiều người quanh tôi dán mắt vào dãy số nối nhau hiện sáng đó, kẻ liên tục đổi tư thế trong phạm vi không gian cho phép, người gõ gõ ngón tay lên vách buồng làm phát ra những tiếng lạch cạch khẽ. Ai đó khẽ huýt sáo một bài của Nat King Cole nhan đề gì tôi không nhớ chỉ biết là có chữ Trinidad, một phụ nữ ăn vận khá xuềnh xoàng săm soi môi nơi cái gương nhỏ xíu ở mặt trong nắp túi xách tay. Sự chờ đợi; sự chật hẹp; sự nôn nóng. Đây là Tháp Đôi Hà Nội, nơi có cái tôi cần tìm; thứ độc nhất tôi cần. Thang máy hữu hình đang kéo tôi lên nó, một thứ vòi hút vô hình đang nuốt dần tôi vào trong lòng nó. Bằng cách nào đó tôi không thể thực sự lý giải, song với sự rõ ràng và chắc chắn chẳng kém sàn buồng thang máy bằng kim loại bọc thảm êm ở dưới chân đang đỡ lấy thân thể tôi, sức nặng của tôi, tôi biết rằng những gì tôi sẽ nhìn thấy ở trên đó không thực sự nằm ở đó, và một khi đã ở trên đó, tôi là một trong những kẻ cô độc nhất trên trái đất, cô độc bởi những gì tôi thấy, bởi những gì tôi có trong tim.

Một cái gì đó mách bảo tôi rằng tôi nên đi tìm cái mình tìm ở những tầng thuộc quãng giữa. Tôi quyết định rồi sẽ làm theo nó, không bận tâm đến chuyện nó từ đâu tới.

Tòa kiến trúc này quá lớn đối với tôi, mặc dù tôi từng có mặt bên trong những công trình vốn được cho là lớn hơn nó nhiều. Có lẽ ấy là do một ý đồ đặc biệt nào đấy của những người thiết kế ra nó chăng, song dường như tại bất cứ thời điểm nào, dù tôi đang đứng ở vị trí nào bên trong Tháp Đôi Hà Nội dựa trên sơ đồ chỉ dẫn, tôi luôn luôn thấy vòi vọi phía trên đầu mình một không gian trống lộng hồ như khôn cùng, tạo ấn tượng rằng Tháp Đôi thực chất là một kết cấu rỗng, đằng sau lớp vỏ ngoài mà ta thấy khi từ xa tới thật ra không có một cái gì. Nó gợi liên tưởng tới một hang đá vĩ đại vươn cao theo chiều thẳng đứng, trong đó các không gian sử dụng duy nhất - những tầng lầu, những khu phòng nếu có thể nói vậy ¬- không là gì khác ngoài những cụm kết cấu khép kín bám cheo leo đây đó trên vách hang giống như những tổ chim yến. Sự rỗng không khép kín mở lên trên đến vô cùng mới là nội dung chính của nơi này, sự rỗng không đầy ắp thứ âm thanh rì rầm đặc trưng của hàng ngàn con người đi lại, tiếng lóc cóc nhọn hoắt của cơ man gót giày phụ nữ, tiếng cười nói, gọi nhau, bàn luận, tranh cãi, tiếng cửa đóng, tiếng nhạc chuông điện thoại reo, tiếng rẹt khô và sắc của những khóa kéo mở ra kéo lại, thế mà vẫn cứ là một rỗng không khiến cho tim con người như lặng đi vì sự tĩnh lặng của nó. Sự tĩnh lặng quá lớn khiến cho ngần ấy âm thanh vẫn còn xa mới chiếm chỗ được.

Tầng cao nhất, 146. Đám người quanh tôi tản mát đi mọi hướng thật nhanh, một đám khác tức thì tụ lại trước cửa buồng thang máy. Đừng nhìn qua vách kính, vài giọng bảo. Cao lắm, sâu lắm, họ nói. Nhìn xuống là lập tức tim mình như thốc lên tận mồm rồi nhảy tót ra ngoài ấy, họ nói. Nhiều người bước ra chỗ vách kính, nhìn. Tôi ngước lên bầu trời qua khoảng mở hình bầu dục, cũng lắp kính, ở trên đầu. Nền trời xanh biếc, quá sẫm gần như đen, có vài ngôi sao nhấp nháy. Buổi tối. Lần này thì thời gian đi nhanh hơn tôi; tôi chưa sẵn sàng về mặt tâm trí để gặp cái mình sẽ phải gặp vào một thời khắc thuộc về đêm.

Và rồi khi đó tôi cảm thấy một điều khá kỳ lạ - thật ra, có lẽ nó chỉ kỳ lạ nếu tôi nhìn nó vào một lúc khác, từ một góc khác. Không rõ có phải tất cả hoặc một phần là do tôi ngẩng lên nhìn trời quá lâu - do cái nhìn hướng thượng quá dài và tập trung cao độ, mãnh liệt đó - hay không mà dường như một phần cơ thể tôi không còn thuộc về tôi nữa. Điều đó thật khó tri nhận, khó lĩnh hội, nói gì đến chuyện mô tả bằng lời. Gần như thể một phần nào đó bên trong tôi, não tôi có lẽ thế, đã biến thành một thứ vật chất khác nhẹ hơn, không khí hay ánh sáng, và thoát cả ra ngoài qua các lỗ chân lông trên mặt tôi. Và trong khi thoát lên phía trên như thế, nó khiến tôi nhận thức một cách sâu sắc hơn rằng hầu hết phần còn lại của tôi vẫn đang ở đây, trên mặt sàn bằng đá hoa này. Trong khoảnh khắc, tim tôi nhói lên với ý nghĩ tôi hoàn toàn không biết phải làm gì với chính tôi.

Hai chân tôi, tự chúng trở gót, bắt đầu cất bước về bên trái. Ý thức của tôi tiến theo sau chúng, mơ hồ cảm thấy có sự nối kết giữa mình với một trong những dòng chảy lớn nào đó của vũ trụ dẫu là một dòng chảy sâu kín và tối tăm. Bằng cách nào đó, tôi cảm thấy mình nhìn ra được một thứ bóng tối ở đằng sau bất cứ ánh sáng đèn nào ở quanh mình, một thứ bóng tối vô hình mà ta lĩnh hội được trực tiếp từ đâu đó trong trung khu thần kinh, giống như chiều sâu đáng sợ của biển về đêm dù cái ta nhìn thấy chỉ là mặt biển. Tôi tiến dọc cái hành lang rộng thênh thang kéo dài theo hình cánh cung, sáng như ban ngày bởi ánh đèn quá nhiều đèn, cảm giác của tôi có lẽ giống như của phi công vũ trụ đang bay giữa vùng ánh sáng mặt trời song biết rõ rằng phía sau đó, vô cùng tận phía sau đó là khoảng không vũ trụ tối đen. Một ý nghĩ vừa phấn khích vừa ghê rợn lướt qua tôi, như một tia chớp giá lạnh: theo nghĩa nào đó, tôi đang đi, bằng đôi chân, vào cõi vĩnh hằng. Và ý nghĩ này, hay đúng hơn, cảm xúc này, nó không chỉ đi qua tôi và nằm lại đó mà dường như còn lan xa hơn, tỏa rộng ra phía trước tôi, tạo thành một bầu khí quyển vô hình, tách biệt mà trong đó tôi tiến tới.

Những nhà hàng, nhà hàng, nhà hàng, nơi hàng trăm con người đang ngồi, ăn uống, nói cười, đùa giỡn, nhìn ngó, chờ đợi cái gì đó hoặc không chờ đợi một cái gì. Tôi đi qua họ như đi qua hàng dãy dài những hình nhân chiếu lên tường trong một vở rối bóng; hóa ra sự vật trên đời có thể vừa ba chiều vừa hai chiều một cách rành rành và không thể cứu vãn như thế! Mặc dù tôi hầu như biết trước linh cảm này chắc không đúng, tôi vẫn không ngăn được mình chờ đợi thấy tiếng cộp của mỗi bước chân mình sẽ dát mỏng hơn một chút bề dày của những con người kia, ở mức độ sao cho mắt tôi có thể nắm bắt được nếu tôi đi đủ chậm và tập trung nhìn đủ lâu vào một đối tượng nhất định. Gần như là vô tình, tuy có lẽ phần nhiều vô thức, tôi đi không đủ chậm và nhìn không đủ lâu vào bất cứ một dáng người nào; hình như đối với tôi việc rất hệ trọng là giữ nguyên vẹn cảm quan rằng thế giới quanh tôi là thực sự hiện hữu.

Hành lang này - cái gọi là hành lang ẩm thực này - kéo dài tưởng như vô tận, song tôi đi hết chiều dài của nó hai lần mà vẫn không thể quyết định sau đây sẽ làm gì, sẽ đi đâu. Không thể có lầm lẫn nào, phải không, tôi nghĩ. Cái mà tôi cần thấy ở đây đâu phải là những gì mắt tôi nhìn, còn cái bóng tối đằng sau những gì mắt có thể nhìn, nó vẫn ở đó, nhưng cả nó nữa hình như cũng không phải là cái cuối cùng, nếu không thì tại sao cái nỗi nôn nao kia vẫn không chịu nguôi đi trong tôi, nỗi nôn nao của kẻ không thể có bình an chừng nào còn một món nợ lớn chưa trả dứt. Bóng tối ấy, cả nó cũng chẳng cho tôi một gợi ý nào; không có một ánh lóe nào - phản chiếu của dù một mảnh trăng hay một ít vì sao trên mặt biển trong đêm tối.

Nó là thứ bóng tối khiến người ta lập tức cảm thấy mình đang đối mặt trực tiếp với sự tiêu vong, sự vắng bặt cuộc sống, sự tịch lặng vĩnh viễn, sự chết - kiểu sự chết tuyệt không hứa hẹn nẻo hồi quy về sự sống, như thứ bóng tối trong bức tranh nổi tiếng của Chirico mà tôi thấy từ khi còn nhỏ, khi tôi hãy còn không thể nhớ tên tác giả, và, bây giờ tôi mới nhận ra, nó đã theo tôi suốt cả đường đời của tôi.

Rồi tôi thấy một dáng người đứng nơi sảnh đợi thang máy. Như có cái gì đó đột ngột chẹn lên ngực tôi ngay khoảnh khắc tôi nhìn kỹ người đó.

Một cô gái, đó là cảm nhận đầu tiên của tôi. Một con người như mọi con người. Có nghĩa, không phải một loài sinh vật khác, một quái vật. Ít nhất là bề ngoài… Một con người với hình dong bình thường của con người, không kỳ dị, không biến thái, thậm chí phần nhiều nghiêng về phía hoàn thiện hơn, lý tưởng hơn: một cô gái có khả năng làm cho cơ thể và tâm hồn của phần lớn đàn ông chuyển động. Một cô gái đẹp, ăn mặc bình dị, trang nhã, đứng đó cách tôi dăm mét, trông có vẻ dày dày vật chất tuy rằng ánh sáng xung quanh quá tràn trề đến nỗi tôi không nhìn thấy bóng của cô cũng như không thấy bóng của chính tôi - tại sao, cái gì, cái gì ở cô khiến cho tôi, sau khi chú mục vào cô lâu hơn khoảng một giây, tôi đột nhiên cảm thấy một sự run nhẹ nơi đầu các ngón tay mình, cảm thấy toàn thân mình giống như thành một quả bóng lớn đang căng ra quá sức chịu đựng và hai chân tôi vừa như nhũn ra vừa như cứng lại; tôi cảm thấy khó lòng tiến tới song không thể không tiến tới, tôi cần sự chuyển động, nó giữ cho tôi không khuỵu xuống.

Cô gái không nhìn tôi, cũng không nhìn dãy cửa buồng thang máy, không nhìn xuống, không nhìn lên. Mắt cô, xét qua dáng đầu xoay nghiêng, đang dán vào một đối tượng nào đó không rõ rệt, hoặc - dù tôi không tin lời mình nói cho lắm - đang ngắm nhìn một cảnh tượng nào đó thu hút tâm trí cô ở bên ngoài không gian và thời gian này, tuy nhiên một cái gì đó nơi cô vẫn đang xoáy vào tôi; tôi cảm thấy nó xói vào trong nội thể tôi giống như một lưỡi mác làm bằng thứ khí hơi lành lạnh. Tôi nín thở - hay đúng hơn, trong khoảng mười giây gì đó tôi hoàn toàn quên mất việc thở - ngó trân trân vào đối thể này, tự hỏi, như một kẻ ngơ ngẩn, rằng đến khi nào sự sống sẽ theo lỗ thoát do lưỡi mác kia mở ra mà rời bỏ tôi.

Tôi vẫn tiếp tục nhìn cô, dù cảm thấy rằng từ khi có cô, nhịp tim của tôi, rồi hơi thở của tôi lần lượt bị nhấn chìm. Tôi nhìn cô, cảm thấy mình đang dần dần trở nên sẵn sàng thuận theo ý chí của cô hay, nếu nói cách khác, ý chí của các phần tử tạo nên hình hài cô lúc này, dẫu đó là gì đi nữa, dẫu đó là một ý chí muốn cho các phần tử tạo nên thể xác tôi phải bắt đầu bị tiêu trầm.

Đến một lúc, ngoài khả năng kiểm soát của tôi, chân tôi ngừng di chuyển. Chừng như cơ thể tôi tự nó biết rằng, chỉ cần dấn tới thêm bước nữa thì chính nó sẽ bị cơn rần rật khởi đi từ các đầu ngón tay này làm cho tan biến. Cô gái vẫn không nhìn sang tôi… tuy thật khó mà nghĩ rằng cô không cảm thấy sự hiện diện của tôi ở gần cô như thế… và chỉ đến lúc này tôi mới nhận ra một điều mà đáng lẽ từ nãy giờ tôi phải nhận ra, đó là sảnh thang này vắng tanh một cách bất thường, và đèn hiệu gọi thang đi xuống ở trên tường không bật sáng, cho thấy rằng không phải cô đang đợi thang còn có phải cô đang đợi tôi hay không thì tôi không muốn nghĩ tới và không muốn trả lời trong khi tim tôi như thể tụt xuống và biến đâu mất trong cái khoảng rỗng không nơi từng có các cơ quan nội tạng tôi.

Tôi há mồm muốn nói, kêu lên, phát ra một âm thanh nào đó bất kỳ âm thanh gì miễn sao nó đúng là phát ra từ bản thể tôi, một tay tôi cuống quýt - phải, cuống quýt - vươn ra tìm một khoảng tường ốp đá giả hoa cương như thể xa vô cùng tận mặc dù theo mắt tôi đánh giá thì chỉ cách tôi không hơn một mét, tôi cần một sự động chạm dù tối thiểu vào thế giới - cái thế giới có thể nhìn bằng mắt chạm bằng tay - giống như người đương sắp chết đuối cần nắm lấy dù chỉ một đoạn cây khô.

Cửa thang máy trượt mở sang hai bên không gây nên một tiếng động dù nhỏ nhất, giống như cái bóng trên tường dịch chuyển. Không có gì báo trước sự kiện này, không có ô đèn hiệu nào sáng lên, không một tiếng bính bong hay tương tự như ở sảnh thang máy của mọi tòa nhà cao tầng tôi từng biết mỗi khi thang đến. Một vùng khô, cứng đờ và rỗng, đó là cảm giác của tôi về miệng tôi, khu vực quanh miệng, bên trong miệng và vòm họng, kéo dài cho đến cuống họng, tôi không cảm thấy mình đang thở, không có ý niệm rằng mình đang nín thở, đang nuốt nước miếng hay đang muốn nói hoặc kêu gì đấy song không còn sai khiến được các bộ phận có chức năng làm việc đó. Khi cô gái bước vào trong buồng thang, tôi cũng bước vào, sau cô chừng hơn một mét, có cảm giác - cái này thì chắc chỉ là cảm giác - rằng có một cái gì đó vô hình đang lưu chuyển từ cô gái sang tôi, vô hình nhưng có thể cảm nhận được thật rõ rệt, rõ rệt như tôi đang ý thức rằng tại thời khắc này tôi vẫn đang hiện hữu. Cái gì đó này, nhẹ và tinh hơn không khí nhiều lần, xâm nhập vào bên trong tôi giống như một hơi thở đầu tiên phả vào trong một vùng kín vốn từ bao lâu nay là chỗ chân không: trong một khoảnh khắc ngắn hơn nhiều lần so với một giây, một nhận thức bừng lên như chớp trong tâm trí tôi: chính tại điểm này trong không gian và thời gian, đối với tôi, một cái gì vừa mới bắt đầu cùng lúc với một cái gì khác vừa chấm dứt vĩnh viễn.




Khác với tất cả những gì anh có thể hình dung, anh cảm thấy một sự ấm áp kỳ lạ trong không khí sau khi cửa đóng và chỉ còn lại mình anh trong buồng thang máy - cái giống như buồng thang máy - bên cạnh người thiếu nữ đó. Dường như không chỉ có một cô gái này cùng với anh trong không gian khép kín này mà còn có vài người nữa, vô hình, hay ít nhất là tinh túy của họ, sự ấm áp tỏa ra từ phần quan trọng nhất làm nên họ. Hơi ấm này - chứ không phải cái đối lập với nó - là bằng chứng rõ ràng cho anh thấy những người này đang sống, đang hiện hữu.

Rồi anh nghe cô gái nói, hoặc anh cảm thấy mình nghe cô gái nói:

Mừng người từ cõi sống trở về.

Trần Tiễn Cao Đăng

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét