Thứ Hai, 30 tháng 7, 2012

Asrimkhan và Mattai (trích tiểu thuyết)


Mattai ơi, nói ta nghe, ta đang làm gì đây?

Chúng tôi đang đứng nhìn cảnh hoang tàn của thành phố Shigémlên sau cuộc trừng phạt của chúng tôi. Ngay trước khi chàng hỏi tôi câu đó, tôi đang tự hỏi mình làm cách nào hoặc đến bao giờ tống khứ được cái màn khói, mùi thịt và tóc cháy và mùi máu kia nó như đã ngấm vào từng sợi vải quần áo chúng tôi, vào mỗi thớ thịt bên dưới các lỗ chân lông tôi. Màu đỏ rực của một góc bầu trời nơi vầng dương đang lặn, và màu đen trũi của những cột nhà cháy lô xô hầu như bốn phía quanh chúng tôi, dường như là những yếu tố song hành hoàn hảo với các mùi đó, những màu sắc như trong một cơn ác mộng về cái chết của chính tôi.

Tôi định nói, tuy thật ra cũng chưa thật sự chắc mình sẽ nói gì, thì chợt thôi khi thấy một cái gì đó di động trước mặt chúng tôi, thứ, ngoài chúng tôi, tỏ vẻ đang sống giữa cảnh chết chóc này. Cách chúng tôi chừng ba mươi shanas, giống như một quái thai vừa đột ngột sinh ra từ thứ chất liệu đen xỉn phủ kín lên mặt đất thành một lớp dày xô xảm gồ ghề quánh sết như bùn kia - mà tôi biết là tạo nên từ gỗ, vải, giấy, thảm sợi, xác người và xác thú cháy thành tro trộn với cơn mưa lúc xế chiều và bị quết lộn lên bởi vô số cái chân của đám hôi của vừa dân vừa lính -, một con vật trông giống chó, đúng hơn là một thứ nùi buộc túm lại được chăng hay chớ từ những mảnh rách nát cuối cùng còn sót lại của một con chó. Gầy trơ xương, vài túm lông xác xơ còn lại nhìn kỹ lắm mới nhận ra được bởi chúng gần như cùng một màu đen đúa như những mảng thân trụi lủi thòi ra, đuôi chỉ còn một mẩu, chân sau bên trái khập khà khập khiễng, chừng như có những mũi gai thường trực cắm vào các núm thịt dưới lòng bàn chân. Con vật ấy - cái thứ ấy - ngậm trong mồm thứ gì đó mà, nhìn kỹ hơn, tôi nhận ra là một cẳng chân người. Mặc dù cháy dở và bị nhá nham nhở, cái cẳng chân ấy, bị tiện ngang từ ngay dưới gối, vẫn khiến trong lòng tôi trào lên một nỗi nao nao bởi những đường nét mềm mại, phải nói là thanh tao của nó, dấu ấn khó nhầm lẫn của một người đàn bà. Tôi hình dung đó là một phụ nữ trẻ, sau cuộc đi dạo trong vườn nhà lúc nửa đêm, dưới ánh trăng hoặc trong bóng tối dày đặc như rượu ngâm trăm năm, quay trở vào nhà bằng những bước chân không tiếng, như sợ làm kinh động bóng đêm ngoài kia chẳng kém sợ làm những người trong nhà giật mình sực tỉnh. Tôi khẽ nhìn sang Asrimkhan, nhận thấy chàng cũng đang chú tâm đến cái cẳng chân như tôi. Chàng cau mày, lẩm bẩm gì đó. Tôi không thực sự nghe được chàng nói gì, song tôi tin chàng đang tự hỏi, Kẻ nào có thể chém đứt một cái chân như thế kia? Ngay sau đó cơ mặt chàng căng ra, như thể chàng hổ thẹn với chính mình, vì câu hỏi hay cái gì thì tôi không rõ.

Có lẽ là Senh Hor-lung, bất chợt tôi nói. Hẳn Đại huynh biết y.

Senh Hor-lung, chàng chậm rãi nhắc lại, ngoảnh sang và nhìn xuống tôi. Mồ hôi quyện với muội khói chảy thành vệt để lại vết ngấn đen nhẻm trên má trái chàng.

Ta không biết cái tên này, chàng nói bình thản.

Hắn là một chiến binh người xứ Ko-Yo, một trong những cánh tay phải của Sürénstrom. Hắn là một trong những kẻ sử dụng gărtáf cừ khôi nhất, tôi nói, nhìn thẳng vào mắt chàng, không đợi thấy ở đó một dấu hiệu gì cho thấy chàng có hay không nhận ra tôi đang nói tới ai. Hắn, tôi nói rồi ngừng một thoáng, một tay che mũi, một tay xua cuộn khói đen đặc cay xè mà một trận gió đột ngột từ đâu xua đến xộc thẳng vào mặt chúng tôi, là tác giả của nhiều chuyên luận và sách giáo khoa về nghệ thuật giao chiến bằng gărtáf. Chém đứt chân đối thủ ngay dưới đầu gối bằng một động tác xoay khẽ cổ tay là một trong các độc chiêu được bàn chi tiết trong tập chuyên luận thứ ba của hắn, “Về những đường tròn chết mở rộng và chuyển động tròn của cái ngã tĩnh tại”.

Đây là một động tác như thế, chàng nói, khẽ hất cằm về phía con chó đang tập tễnh đi xa dần, mắt chàng vẫn hướng vào tôi bằng cái nhìn mà tôi không thể luận ra.

Theo đúng luật thì chỉ được dùng độc chiêu này với một đối phương có vũ khí và đang giao chiến, tôi nói.



Chàng tiếp tục nhìn tôi, tuy nhiên lần này tôi nghĩ mình đang nhận ra một cái nhìn quen thuộc của Asrimkhan.

Tôi sẽ điều tra vụ này tới nơi tới chốn, tôi nói.

(Tôi biết mình đang không để lộ một cảm xúc gì trước một sự thật đang ngày một hiện rõ: Asrimkhan đã từ lâu không còn giữ được khả năng nhớ mặt biết tên tất cả thuộc hạ và ba quân của chàng hay ít nhất là một số nổi bật nhất trong đó. Thật khác với thuở ban đầu dấy nghiệp của chàng, tuy nhiên đó là một sự thật mà những người như tôi có nghĩa vụ phải ghìm giữ không cho nó đi xa dẫu cho việc đó gần như là ghìm giữ một cơn gió.)

Chàng nhìn vào mắt tôi thêm giây lát nữa rồi nói:

Nói ta nghe ta đã làm gì đi, Mattai.

Nhìn thẳng vào mắt chàng, chậm rãi, tôi nói:

Con đại bàng kirkunstād, khi nó từ trên vách đá lao xuống đất như tia chớp quặp đi một đứa bé con của loài người để mang về tổ làm bữa ăn cho lũ con đang đói cồn cào của nó, nó sẽ không tự hỏi mình đang làm gì, nếu nó có khả năng suy nghĩ và nói thành lời như chúng ta.

Tôi đã toan nói tiếp, vẫn nhìn thẳng vào mắt chàng, nhưng không thể: một làn gió khác nữa lại lùa một bựng khói từ xác nhà cháy dở nào đó vào mặt tôi, buộc tôi phải nhắm mắt lại giây lát.

Tôi không ngạc nhiên khi Đại huynh đặt câu hỏi như vậy, dẫu rằng tôi không chờ đợi nó, tôi nói. Dẫu rằng khi Đại huynh đã đặt nó ra rồi thì trong tôi cũng có phần mừng rằng Đại huynh đã hỏi (tôi nhận ra giọng mình hơi run lên), bởi vì nếu thế Đại huynh có chút gì đó giống tôi hơn. Tôi yêu kính Đại huynh vì Đại huynh lớn hơn tôi và khác tôi đến thế. Nhưng dẫu vậy.

Chàng im lặng một thoáng, không nhìn tôi. Đoạn, cười khẩy, chàng nói:

Ta hiểu cậu lắm. Giá như ta gần giống cậu hơn một chút thì đã không có nhiều máu đến vậy đổ ra ở cái thành phố đáng nguyền rủa này.

Tôi nhìn một góc trời đã chuyển sang màu đỏ bầm như huyết bò để quá lâu đặc quánh lại. Tôi phải nói gì nữa? Kẻ nào có khí chất giống tôi (mà không phải là tôi), khi có dịp nhìn thấy thao trường của quân đội Ugensrád, sẽ không sao chịu nổi cảnh này: để rèn luyện các đòn giật chỏ và lên gối lừng danh của môn phái Lethmutor xuất xứ từ nước Thaiburkham bí ẩn, các chiến binh trẻ tuổi, đầu quấn dải băng xanh dương chứng tỏ lòng trung thành đến chết với Asrimkhan, sử dụng thân thể các tù binh làm công cụ kiểm tra mức độ thăng tiến của võ công mình, dựa trên tiếng rắc khi xương bị gãy, và dựa trên mức độ bầm nát của cơ quan nội tạng - để làm việc này, ngay sau khi buổi tập kết thúc họ liền rạch thân thể tên tù, phanh rộng, lôi các cơ quan nội tạng ra để kiểm tra, tên tù không nhất thiết là trước đó đã chết mặc dù khá nhiều tù chết nửa chừng buổi tập. Theo tôi biết, trong mấy năm đầu tiên, những chuyện như thế không xảy ra hoặc không được phép xảy ra. Về sau, quân đội càng lớn lên thì rìa ngoài của nó càng xa khỏi hạt nhân ban đầu của nó. Tôi biết rằng, những khi quan sát cảnh đó, trong những chuyến thị sát càng ngày càng hiếm hoi của Asrimkhan đến các thao trường ngày càng mở rộng và nhân lên và ngày càng đẫm máu này, chàng luôn luôn có vẻ thản nhiên lạnh lùng, chẳng động lòng cũng chẳng khoái trá, trong khi một số (không nhiều cũng không quá ít) binh sĩ của chàng tỏ ra thích thú, say sưa không giấu giếm khi nhìn máu và tạng phủ người đổ ra lịch bịch nghe như những quả cây rơi. Đương nhiên không chỉ mình tôi lưu ý đến chi tiết này, song, khác với mọi người, tôi cảm thấy khó mà đoan chắc được liệu cái thói say máu đầy thú vật kia cũng tồn tại bên trong chàng (dẫu tôi không thấy được) hay là nó đã ở sau chàng rồi - chàng đã đi qua nó rồi -, hay nó ở bên ngoài chàng và chàng chiêm quan nó như chiêm quan mọi sự xảy ra trong vũ trụ.

Tiếng vó ngựa giẫm bồm bộp lên gạch vữa vụn nát ở đâu đó khá gần khiến tôi nhớ lại mình đang ở đâu. Một lính truyền tin đang ruổi ngựa về phía chúng tôi. Trong khoảnh khắc tôi nghĩ đó là Duramsúlên quen thuộc của chúng tôi, anh ấy và con Irné khăng khít không rời của anh. Rồi tôi nhớ lại rằng cả đôi ấy đã chết. Hai sinh vật sống sót đang tiến càng lúc càng gần đến chúng tôi và khỏa lấp đi dư ảnh của những gì đã qua trong tâm trí tôi. Một gã cao lênh khênh, trẻ măng, môi mỏng dính, khiến cho miệng gã trông như một vết rạch bằng dao, trên lưng con ngựa nòi Békhten cao nghệu giống gã và, cũng như gã, toàn bộ hình dáng và cử động bước đi của nó có cái gì khiến tôi cảm thấy trên da mình sự gần kề của cạnh bén một lưỡi gươm. Cả ngựa lẫn người đều có vẻ sạch, quá sạch so với khung cảnh này, trông như một trang công tử đang cưỡi con ngựa cưng dạo chơi nhàn tản trong trang viên của mình vào một buổi chiều yên ả, một ảo ảnh hiện hình từ giấc mơ cuối cùng của một chiến binh nào đó trước khi chết. Dường như bao quanh hắn có một lớp màng ngăn vô hình mà không gì có thể vượt qua, giống như bức màn ngăn giữa mơ và thực như người ta nói, và khói, tro, bụi, muội than, máu, mủ, cứt đái phọt ra khi người ta trúng một vết tử thương, tất thảy đều không bén được tới hắn. Tôi khẽ liếc sang Asrimkhan, song, cũng như nhiều lúc khác, không thể đoán được chàng có đang lưu ý tới và nghĩ cùng một điều như tôi không.

Và, dĩ nhiên, chàng không tỏ vẻ gì là nhận ra hoặc - nếu nhận ra - có lưu tâm tới chuyện tôi kín đáo theo dõi hay quan sát hay dò xét chàng trong khi chàng nghe tên lính truyền lại cái tin mà tầm quan trọng đã buộc hắn phải tới gặp chàng không chậm trễ. Hắn nói gì đó về chuyện quân ta đã bắt được một số yếu nhân nào đó, các tù binh đáng giá này sẽ làm tăng lên đáng kể uy thế và sức mạnh của chúng ta cả trên chiến trường lẫn trên bàn đàm phán. Tôi có nghe hắn nói và không nghe hắn nói. Cái tôi thực sự cố lắng nghe, khao khát lắng nghe đến tận gan ruột, là những ý nghĩ thầm kín khôn dò nhất của con người kia, người mạnh nhất trong những người mạnh nhất. Và tôi cảm thấy rằng tôi biết, qua sự đanh lại nào đó của một cơ nào đó trên mặt chàng - một chuyển động rất nhẹ, vô cùng nhẹ, ví bằng bước chân của một con nhện - rằng Asrimkhan đang cùng một lúc nghe tên lính nói và dõi theo một cái gì khác.

Khi tên lính nói xong, Asrimkhan im lặng một thoáng, mắt nhìn một nơi nào đó tôi không thể đoán được ở đằng sau hoặc phía trên gã trai tuấn tú, sạch bong và không có thực đó. Thế rồi tôi nghe một tiếng rít chói tai, như thể không khí rít lên đau đớn vì bị xé, và tôi thấy, như thể ứa ra từ kẽ đá bhúrdaig trắng như tuyết, một dòng máu bắt đầu ứa ra từ một vết rạch dài, cong như sừng hươu, vết rạch dường như vốn dĩ ẩn kín trong cõi vô hình và chỉ hoàn toàn ngẫu nhiên, thậm chí do nhầm lẫn nào đó mà đột nhiên hiển lộ và hả rộng dần ra, phát huy dần tự tính của mình, nơi một bên má tên điệp sứ.

Lặng thinh cúi nhìn mấy giọt máu đầu tiên của mình chảy ra lăn dọc gờ má, tụ thành giọt ở mép cằm rồi lần lượt rỏ xuống ngực áo màu xanh lục - dường như là sự uế tạp đầu tiên mà lớp vải này biết tới -, tên điệp sứ không nhìn lên Asrimkhan, không tỏ mảy may nào dấu hiệu đau đớn, kinh ngạc, bối rối, nhục nhã, cam chịu. Hắn không dám, không có khả năng hay không buồn thể hiện cảm xúc. Hắn là loại chiến binh nào đối với Asrimkhan đây?

Cái này là để mi giống hơn một chút với các chiến hữu của mi, Asrimkhan nói.

Đây là một trong nhiều hành động của Asrimkhan mà, tuy không khiến tôi bị bất ngờ hay ngạc nhiên, vẫn làm cho bên trong tôi thốn lên. Có lẽ nó có cùng thuộc tính với những cái đẹp toàn hảo, tối thượng mà ta có thể biết song không thể nào thực sự quen được. Ý tôi muốn nói về sức gây choáng ngợp của nó, khả năng khơi dậy sự khởi đầu mọi thứ và chấm dứt mọi thứ. Sự bừng sáng đột ngột khi xuất hiện người đàn bà nào đó, người đàn ông nào đó, người giống như Asrimkhan. Thế rồi, vẫn với khuôn mặt lạnh như khối đồng, Asrimkhan khoan thai ra hiệu bảo tên điệp sứ từ trên ngựa cúi người xuống. Sau một thoáng ngần ngừ - chỉ trong chưa đầy một nháy mắt song tôi nhận thấy -, hắn làm theo lệnh chàng. Con ngựa hắn cưỡi là một sinh vật rất to lớn, song bởi tầm vóc của Asrimkhan cho nên tên điệp sứ chỉ cần hơi khom người rướn cổ là mặt hắn đã hầu như ngang tầm mặt Asrimkhan. Sống mũi cao, nhọn hầu như sắc lẻm của hắn chỉ còn cách điểm giữa cặp lông mày Asrimkhan chừng một gang tay, và, bằng một cử động đầu mà tôi có thể cảm thấy hơn là nhìn thấy, Asrimkhan ra lệnh cho hắn rướn tới thêm chút nữa.

Lại một chút ngần ngừ trong nháy mắt, giống như một bóng chim lướt qua chỗ nào đó trong các cơ vùng mặt và vùng cổ của tên điệp sứ. Rồi hắn tuân lời, cũng như chưa một ai từng đủ sức không tuân lời Asrimkhan. Và, khi hai khuôn mặt đã gần như chạm nhau, một cách khoan thai và ung dung, như đang thưởng thức thứ mỹ tửu độc nhất vô nhị trong thiên hạ, Asrimkhan hôn lên má tên điệp sứ, ngay cạnh nơi có ngấn đỏ rực do giọt máu lăn qua để lại. Tôi có thể tự bảo mình rằng cái hôn này không khác lắm với cái hôn mà một công dân Siră Kăntânări dành cho con nai đẹp nhất trong bầy nai vừa mới bẫy được về, đang chờ bị cắt tiết - chỉ có điều tôi biết là không phải như vậy. Trong nháy mắt tôi cảm thấy như đất hụt đi đâu mất dưới chân tôi, toàn bộ con người tôi chỉ còn là một cái vỏ nhẹ bẫng, rỗng rang, dật dờ tại chỗ, không điểm tựa mà cũng chẳng bay lên được. Đó là một trong những điều Asrimkhan không buồn bận tâm: một cái hôn như thế Asrimkhan chưa một lần ban cho tôi.

Đó là nụ hôn nó sẽ để lại trong tim tôi một vết sẹo không bao giờ mất.

Asrimkhan nói:

Tên mi là gì?

Hăldúk Êstimbăn, tên điệp sứ nói.

Quê quán?

Sbâd Kăntânărid Hạ, làng Trómbend Wattânăkul.

Câu trả lời của hắn không có những chữ “… thưa Tướng công”. Tôi nhìn lên Asrimkhan, dù tôi biết gần như chắc chắn rằng sẽ không nhận thấy ở chàng một dấu hiệu nào chứng tỏ chàng có bị động tâm bởi thái độ khinh suất rành rành đến mức lố bịch này. Asrimkhan ngày càng trở nên khó dò đối với tôi. Càng về sau, mỗi khi khắc họa chân dung Asrimkhan lên bề mặt nào đó, vải, giấy, gỗ, đá, hay một vùng nào đó trong tâm tưởng, tôi biết mình đang làm sống lại một phần nào đó của quá khứ, phần tinh chất hoặc cặn lắng của nó mà tôi còn chắt lại được.

Nói xem ta thấy gì ở ngươi, Asrimkhan nói.

Kiêu hãnh, hắn nói.

Một trong các cơ trên gò má của Asrimkhan hơi động đậy hướng lên trên.

Cái hôn của ta là dành cho cái gì của ngươi?

Tên điệp sứ nhìn chằm chặp vào mắt chàng, không nói, điều mà hiếm, rất hiếm kẻ nào ở thân phận như hắn có khả năng làm, và tôi, với một thoáng bồn chồn, tôi nhận ra rằng không có lời đáp nào tốt hơn thế cho câu hỏi của Asrimkhan.

Tôi ngẩng lên Asrimkhan, chờ nghe lời kế tiếp, chờ thấy nét mặt hay cử chỉ kế tiếp của Asrimkhan. Tôi chờ nắm bắt được một dấu hiệu dù nhỏ nhất khả dĩ cho phép tôi suy ra rằng, ngay trong khoảnh khắc này, số phận của tên điệp sứ đã được định đoạt, và hình dung con đường hắn sẽ đi từ đây cho đến hết đời hắn. Mặt khác, tôi biết cần phải học được cách chờ đợi ở Asrimkhan điều bất ngờ nhất, học để biết rằng ta sẽ không bao giờ học đủ để đạt tới cái chỗ không còn bị bất ngờ bởi những điều bất ngờ ở Asrimkhan.

Trên đường cùng Asrimkhan trở về nơi hội quân chính tạm thời của chúng tôi ngày hôm đó, tôi nghiền đi ngẫm lại trong đầu hai điều: 1) Tìm cho ra kẻ đã giết người đàn bà mà chúng tôi nhìn thấy một cẳng chân rời; nếu không tìm ra được hắn thì tạo ra hắn, và 2) Tìm đối sách tốt nhất trước sự hiện diện của Hăldúk Êstimbăn; trước hết, phải tiên liệu bằng được khoảng cách gần nhất sẽ có thể có giữa hắn với Asrimkhan. Khoảng cách gần nhất từng có giữa tôi với Asrimkhan: con giống của tôi, sau lần vải, áp vào một bên háng Asrimkhan, sau lần vải. Nếu khoảng cách giữa Hăldúk Êstimbăn và Asrimkhan có thể ngắn hơn thế, vấn đề sẽ nghiêm trọng; sẽ là vấn đề tồn tại hay không tồn tại.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét