Thứ Tư, 4 tháng 7, 2012

Nhà thơ và tình yêu


(Ghi chú: Truyện ngắn này viết năm 1991, sửa chữa vào khoảng năm 1997, chưa đăng ở đâu. So với chuẩn ISO của bản thân tôi hiện tại về văn chương, truyện này không đạt. Tuy nhiên, hẳn không phải là nó không có vài đoạn đáng đọc.)

Hỡi các bạn, những ai từng biết và yêu mến Nhà Thơ! Chàng không ở đây nữa, không bao giờ nữa...

Nhưng hãy cho tôi kể câu chuyện này, nhờ vậy các bạn sẽ thấy chàng vẫn ở đây, đang nói với các bạn và lắng nghe các bạn. Vâng, Nhà Thơ đã ra đi, với thời gian này của chúng ta chàng đã chết, nhưng chàng đang sống trọn vẹn ở một thời gian khác rất xa chúng ta, xa đến nỗi sự tồn tại riêng rẽ của bất cứ cá nhân nào cũng hoàn toàn vô nghĩa với chúng ta.

Vâng, chàng đã ra đi. Và mặc dù tôi đã có lời thề không tiết lộ bất cứ gì về những sự kiện cuối cùng của đời chàng, mối tình của chàng với người con gái bình thường từ thế kỷ hai mươi, Người Phụ Nữ Duy Nhất của chàng, Người Phụ Nữ Hầu Như Là Chính Bản Thân Chàng, tôi sẽ không thể lặng câm như hòn đá kia ; nếu đến giờ tôi vẫn im hơi lặng tiếng, ấy chỉ vì tôi ngưỡng mộ và yêu chàng ; tôi sẽ nói về chàng, và chàng sẽ hài lòng rằng rốt cuộc tôi đã làm điều đó, rằng tôi đã không trói mình vào lời thề với chàng.

Cho phép tôi bắt đầu câu chuyện bằng Hương, vì tuy sống trước chàng ba thế kỷ, nàng là vợ và người yêu của chàng. Vâng; khác với tôi, nàng là vợ và người yêu chàng...

Nàng là con gái nết na của một bác thợ giày. Nhà nàng ngay trên mé sông; mỗi con nước lớn lại nhấn chìm cầu tre vào ngõ nhà nàng khiến người qua lại trông như bước trên mặt nước. Năm ấy nàng mười tám tuổi. Chàng đi qua nhà nàng mỗi một lần; qua cửa xe chàng thấy nàng lội bì bõm hướng về nhà, một tay cắp rổ rau, ống quần vo lên quá gối; da thịt nàng trắng như bản thân sự trinh bạch của nàng, hiện thân của sự thanh khiết và dịu hiền. Chàng thoáng thấy một bên khuôn mặt nàng; nàng có cái mũi nhỏ trông như bằng sứ, miệng dường như mỉm cười còn tươi mát và nồng nàn hơn một đóa hồng. Hình ảnh đó chàng không làm sao quên. Hình ảnh đó là đóa hoa trường cửu ngát hương lên những năm tuổi trẻ của chàng. Với chàng hoặc nó thiêng liêng hoặc thân thiết ruột rà lắm vì mỗi khi nhắc tới mắt chàng lại bừng lên niềm xúc động thành kính như đôi mắt hướng về Trời của kẻ tuẫn đạo, và môi chàng nở nụ cười mà tôi không biết tả ra sao, nó gần như nụ cười em bé thấy mẹ về trong mơ. Thế rồi dòng đời cuốn chàng đi một nơi và nàng một ngả, và tám năm sau khi lại thấy Hương, chàng say sưa chộp lấy nàng mà tự hứa mình sẽ chết với vòng tay ôm chặt nàng. Chàng đã nhớ nàng một cách đau đớn và nay chiếm đoạt nàng mãnh liệt. Chàng không buông tha nàng suốt mấy con trăng. Cuồng phong của dục vọng chàng vùi dập Hương; nàng chẳng biết lấy gì cưỡng lại.

Rồi một hôm sau cuộc mây mưa nàng nhỏ nhẹ nói nàng đã có thai với chàng. Chàng trắng đêm suy nghĩ. Chàng hoảng sợ thấy mình đầy nghĩa vụ với nàng.

- Ta không thể cưu mang nàng, - chàng nói.

Chàng muốn làm rể một nhà quyền cao chức trọng; nàng, nàng là thợ thêu, gia thế tầm thường. Dù sa chàng vẫn xót thương nàng. Chàng không phải kẻ ác tâm ; tôi biết.

... Thì vâng, tôi kể tiếp. Chàng bảo: phá thai đi; trong giọng chàng là một sự dứt khoát nặng nề đến nỗi Hương khóc. Chàng phát bực khi thấy nàng khóc; chàng vỗ về, hôn hít, khuyên lơn nàng rồi lại say sưa đè nghiến lên nàng. Chàng giày xéo nàng dữ dội hơn bao giờ hết, không buồn biết nàng khóc. Chàng mơ hồ cảm thấy đây là lần cuối cùng, nhưng linh cảm rằng mọi chuyện không kết thúc ở đây... Càng day dứt chàng càng cuồng bạo với nàng. Khi chàng hồng hộc trút tinh khí từ chàng qua thân thể nàng, nàng vẫn sụt sịt khóc. Chàng sửa lại áo của chàng rồi đi, không thèm nhìn nàng nằm sõng sượt ở đó, tênh hênh cặp vú trần.

Nhà Thơ không kể hết mọi chi tiết của lần ái ân buồn thảm đó. Chàng giữ thẹn cho nàng. Những gì các bạn thấy đó, tôi chụp được nhờ dùng phrenoscope (não kính) nhìn trộm tâm linh chàng giữa lúc chàng nhập định; chính qua phrenoscope tôi sững sờ trước vẻ đẹp thanh khiết của Hương mà Nhà Thơ ví với Phật Bà Quan Âm, vẻ đẹp mà chàng chỉ dám len lén nhìn trong những giấc mơ.

Tôi một mực cam đoan với Nhà Thơ rằng ngay lúc chàng bỏ Hương mà đi không buồn trải áo che ngực nàng, chàng vẫn tôn thờ nàng... Dù tôi biết rõ không kém chàng rằng những phút ấy chàng chẳng có tâm trạng nào khác ngoài hả hê bởi lần nào chiếm đoạt được Hương với chàng đều là một chiến công lớn. Và xiết bao bạo liệt là chiến công cuối cùng của chàng...

Nhưng chiến công ấy không khỏi làm chàng u uất.

Ta làm gì nàng vậy? Ta làm gì nàng? Ta đã nghĩ gì rồi lại đã làm gì nàng?.. Đi đường búa gõ ong ong nơi thái dương chàng. Để tự vệ chàng nói: Ta làm gì được cho nàng? Ta còn làm gì được? Chàng tự nhủ: Ta sẽ gặp nàng... Nhưng để làm gì, còn để làm gì ? Chàng thấy mình là kẻ hèn nhát, vô sỉ, khốn nạn. Nhưng cảm giác đó day dứt chàng không lâu: chỉ non tháng sau đã hoàn toàn trở lại con người thật, hãnh tiến và lạnh lùng của chàng, và chàng kết hôn với người con gái chàng chọn làm đá lát đường hoạn lộ, con gái rượu một vị có quyền thế, người đàn bà vô tội về sau sẽ sống như đã chết vì chàng.
Chàng mãi mãi không gặp Hương, không viết thư cho Hương, không muốn biết nàng ở đâu, làm gì, mạnh khỏe hay tàn tạ, hạnh phúc hay khổ đau. Chàng muốn rằng với Hương chàng đã chết và với chàng Hương đã chết. Chàng vậy đó: một kẻ khốn nạn, chính chàng nói thế...

Cái chữ khốn nạn ấy, chàng nói về chính chàng hay sao? Không, chàng không nói về chàng - Nhà Thơ, cũng không hẳn nói về gã đàn ông ba trăm năm trước kia; chàng nói như về một con người, một con người duy nhất, và đó là cả nhân loại. Nhưng rốt cuộc thì tôi cần gì cái mớ bòng bong đó của Thời gian và Nhân loại?! Tôi chỉ muốn sao, với tất cả những điều đó, chàng vẫn là chàng, Nhà Thơ, và chàng vẫn ở đây, lúc này, mạnh mẽ nắm tay tôi, mỉm cười dịu dàng với tôi...

... Để tôi nhớ lần đầu tiên chàng trông thấy Hương... Một ngày bất hạnh! Có một nỗi đau lạ lùng, không thể tả, không thể lý giải, giống như nỗi sợ nước thầm kín mà mãnh liệt của những người chết đuối trong tiền kiếp, đã giục chàng dùng chronoscope (thời kính) điểm qua một lượt tất cả tiền thân của chàng, và ở cuối thế kỷ hai mươi chàng bắt gặp Hương; chàng thấy nàng chết ngay sau khi sinh đứa con từ mối tình với chàng ; nhưng điều đáng nói không phải bản thân việc Hương chết, mà là cơn đau và nỗi sợ khôn cùng Hương phải chịu vài giờ trước và có lẽ cả sau khi chết.

Chàng đau đớn vì nỗi không hay biết gì số phận của Hương sau khi bị chàng - của ba trăm năm trước - bỏ rơi sau hàng rào dâm bụt, đến độ một đêm kia chàng mạo hiểm đi thăm nàng. Lần đầu tiên, tôi nhớ rõ lắm, đó là lần đầu tiên chàng vượt thời gian về với nàng...

Chàng định làm gì ư? Tôi không biết.

Nhưng không gặp nàng.

Nhà Hương, chênh chếch cửa sổ có một cây mai. Nhà không còn nữa; thay vào là một quán cóc. Cây mai thì vẫn đó.

Hỏi hàng xóm, một nhà bán củi. ồ nhà ấy, còn gì nói! Họ đốt nhà rồi dắt díu nhau đi; đi mất rồi, lâu lắm rồi. Đi đâu? Ai biết! Chẳng ai rỗi hơi để bận tâm mấy chuyện đó. Còn... người con gái. Cô con gái độc nhất của nhà ấy? Cô ta bỏ nhà đi trước đó ít lâu, nghe nói theo trai, họ nói. Người ta có loáng thoáng thấy Gã ấy... Chàng không nghe, thở dài ngước nhìn trời. Người ta ngó chàng chằm chặp. Chàng là ai?

Chàng lại đi tìm nàng...

Thế rồi mọi chuyện thật sự bắt đầu từ khi chàng thấy Hương, hầu như hoặc giống như điên, nằm bất động trên bến sông, tơi tả, trần truồng, nóng hầm hập như thể máu sôi lên trong nàng, giữa một bầy trẻ con chỉ trỏ, đùn đẩy nhau, cấu chí, cười the thé và la ó. Lần sau chàng gặp Hương trong ni tự tịch liêu sau rặng trúc bên đường liên tỉnh ; ai đó đã đưa nàng về đây. Hôm nào chàng cũng về thăm nàng. Buổi sáng, trước bức họa Bồ Đề Đạt Ma quảy dép về Thiên Trúc chàng âu yếm ngắm nàng quỳ trong góc Phật đường chỗ ít ai thấy nhất mà lâm râm tụng kinh cùng các ni sư - thật ra nàng có thuộc gì cho cam, nàng chỉ đánh bạo đọc tất cả những gì nàng nhớ, tất cả những gì nàng đoán già đoán non từ miệng các ni sư rồi diễn dịch theo ý mình, và đôi khi sơ ý buột ra một câu chẳng ăn nhập lắm với cảnh chùa thì nàng đỏ mặt thẹn thò nhìn quanh dù chẳng ai nghe hay nhìn nàng. Đêm đêm khi nàng xếp bằng trên giường tỉ mẩn may chiếc áo lót đầu tiên cho con - chẳng hiểu sao nàng tin chắc rằng đấy là con gái - chốc chốc lại dừng, nghĩ ngợi gì rồi thoáng cười buồn thì chàng nín thở ngắm nàng từ ngoài hành lang tối thẫm hay tràn ngập ánh trăng. Có đêm mưa gió dập tơi bời ngọn trúc khiến bầy lá khô ràn rạt tốc lên như đàn chim đang ngủ bị bắn, chàng đánh bạo bay qua cửa sổ quỳ bên đầu giường Hương, cố gắng hôn nàng dù chỉ như một hơi gió và suốt đêm canh chừng tấm chăn xổ mép của nàng. Sáng tinh sương, khi Hương thả gàu múc nước bên giếng thì chàng leo lên cành sung nơi có nắng xuyên qua để trìu mến nhìn mái tóc ngắn ngủn của nàng như cô bé vừa qua bệnh thương hàn không thể che cái cổ mảnh dẻ trắng xanh và gợn mát như ngọn lau; cảnh ấy làm cho lòng chàng dịu lại. Một đêm kia Hương ra trước hiên tựa cột nhìn trăng, chợt thở dài ứa nước mắt khi trong gió vẳng tiếng người mẹ nào gọi con. Tóc Hương mềm như tơ, vai gầy như chim, cổ tay như nhành liễu, bụng Hương vượt mặt, làn da Hương sáng ngời trong ánh trăng nhưng không hẳn vì nó vốn trắng nuột mà vì nó nhợt nhạt quá; trước cảnh đó Nhà Thơ đột nhiên rùng mình như linh cảm điều gì tuyệt đẹp nhưng đau nhói và khủng khiếp lắm. Chẳng đành lòng chỉ đứng xem nàng - không làm bất cứ gì, theo đúng Luật Thời gian; chàng hóa vào người phụ nữ đang tìm con đó đến gõ cửa chùa gặp nàng, ỉ ôi tâm sự với nàng. Trước nỗi đau của người mẹ thấy mình mất dần đứa con từng ngày một mà không cách nào giữ lại, bỗng dưng Hương bình tĩnh và can đảm hẳn lên; nàng an ủi, động viên chị, khi chia tay, Hương dịu dàng nắm chặt tay chị, và cả hai trở về trong tâm trạng ấm áp, bình thản chờ đợi.

Tôi có thể làm gì khác cho Hương? Đã biết trước đoạn kết cuộc đời nàng, tôi có thể làm gì hơn? Tôi có thể nào thay đổi số phận một con người đã sống và đã chết trước tôi nhiều thế kỷ? Bạn nói đi, nếu bạn biết tôi có thể làm gì hơn cho nàng...

Anh không thể làm gì cho Hương, tôi cố thuyết phục chàng. Cũng như theo Luật Thời gian, anh không có quyền làm bất cứ việc gì cho nàng. Nhưng chàng không thể nghe tôi, chàng không muốn nghe tôi. Chàng vẫn đều đặn ngày ba lần về với Hương, và tôi, đều đặn tiễn chàng đi, theo chàng về.

Chàng tìm ra vô số cách khôn ngoan và liều lĩnh khác để thật sự ở gần nàng - tôi muốn nói, ở bên nàng trong cùng không thời gian của nàng như một con người bằng vật chất như nàng, chứ không phải một dòng sinh điện, một luồng nguyên khí mà với nàng chẳng khác gì một hồn ma. Như một khách thập phương mặt mũi đầy bụi đỏ, chàng gặp nàng giữa chợ, hỏi đường và theo nàng về ni tự ở đó chàng ngủ ngon lành suốt buổi trưa oi nồng dưới bóng cây mít. Trong cơ thể một thiếu nữ theo bạn đi buôn chuyến lần đầu nên trước con mắt đám thuế vụ và tài xế hãy còn ngượng ngùng, chàng gặp Hương bên những vồng cải xanh non bên hàng rào phía Tây của chùa và khẽ khàng kể với nàng những mẩu tin rời rạc về gia đình Hương mà chàng nghe được qua người thứ ba, thứ tư nào đấy, những mẩu tin mà chàng mạnh miệng thốt ra vì biết nàng sẽ mỉm cười mệt mỏi toại nguyện, lệ rân rấn nhưng không khóc, dấu hiệu đầu tiên về tác động của những ngày ở chùa. Lần thứ bao nhiêu đấy, nương vào một lương y vừa hành hương từ núi Yên Tử trở về ghé qua chùa hái ít lá thuốc, chàng gặp nàng đang nhặt rau chuẩn bị bữa thọ trai cho các ni sư; chàng hỏi han nàng đôi ba chuyện rồi nhìn đăm đăm vào mắt nàng và đột nhiên nói trong khi nàng sững sờ nhưng nhẫn nại nghe về vẻ thanh xuân ngời ngợi của đứa con nàng sắp chào đời, về những ước mơ chưa thành của nàng, về những gì sẽ đến với mỗi người sau khi chết.

Thấy nàng băn khoăn, đăm chiêu, tự dưng bật cười, phẩy tay nói đùa với chàng rồi lập tức lại đắm vào một nỗi lo âu mơ hồ, chàng chẳng an tâm ra đi ; chàng trở lại hầu như ngay sau đó, lần này trong hình dạng chính chàng được vật chất hóa - điều cấm kỵ tuyệt đối của Luật Thời gian -; lần đầu tiên chàng xuất hiện trong đời nàng như một người thật ra chưa hề tồn tại vào thế kỷ hai mươi do đó không thể nào hiện diện trong đời Hương ; sau mọi hình hài khác, chàng về với nàng như chính chàng, người đàn ông xa lạ với nàng nhưng biết nàng từ lâu và tha thiết yêu nàng. Chàng trở về với nàng như một nhà thơ xa xứ về thăm quê đi vãn cảnh và sửng sốt trước cảnh thâm u cô tịch của ngôi chùa sát bên đường liên tỉnh; chàng tìm nàng ngoài mảnh vườn sau chùa mà trong lòng hiểu rằng với chàng - Nhà Thơ từ thế kỷ hai mươi ba - thế là hết. Chàng đã vi phạm Luật Thời gian; chàng mãi mãi không thể sống ở thời đại chàng ra đời nữa ; từ nay chàng thuộc về thế kỷ hai mươi này; chàng chuyển sự hiện hữu của mình - và trách nhiệm trước hiện hữu đó - về thế kỷ hai mươi này; chàng chỉ có một đường để chọn, và chàng chọn cái chết của Nhà Thơ, bạn thân yêu của tôi...

Vậy là, bằng hình dạng chính mình, chàng thâm nhập hẳn vào cuộc sống của Hương, chính xác hơn là mấy tháng sau cùng của đời nàng ; hiển nhiên chàng không có quyền làm gì để kéo dài cuộc sống của nàng, thay đổi điều đã xảy ra, nhưng trong mấy tháng cuối cùng đó, chàng đã làm hết khả năng mình để giúp nàng sống trọn vẹn, và mấy tháng đó thực sự nàng đã sống nhiều hơn tất cả những tháng năm trước đó của đời nàng. Chàng không gặp nàng nhiều lắm, nhưng nàng luôn bình tĩnh và khấp khởi chờ đợi chàng. Chàng lưu ý và chia sẻ với nàng ánh nhìn ươn ướt dịu dàng của con mèo con, những cành mai khẳng khiu sẽ nở hoa vào đầu năm, nụ cười rạng rỡ đầy mộng mơ và tình yêu của người thiếu nữ đúng một giây trước khi chết bất đắc kỳ tử vì một chiếc xe tải lạc tay lái, về điều giản đơn mà những vòm cây trong vườn chùa có thể nói khi chúng thật sự im lặng.

Chàng mở cho nàng bí mật về bóng những đám mây: nếu bạn ngồi trên máy bay từ rất cao, bạn sẽ thấy những cụm mây trắng chẳng khác nào mấy túm bông gòn nhỏ xíu người ta thường xé ra vấn đầu que tăm chấm thuốc đỏ, treo lơ lửng trên mặt đất chùng nửa centimét, một centimét không hơn, bằng những đinh ghim vô hình, và ánh mặt trời từ phía Đông làm chúng đổ lên mặt đất những cái bóng tối sẫm đến mức ta có cảm giác nếu lọt vào trong đó sẽ hoàn toàn không thấy gì, gần như con giun dưới lòng đất thôi, hẳn con người chúng ta không thể nào sống sót trong bóng tối đó, nhưng sự thực đâu phải vậy: nếu ta ở trên mặt đất thì đó chính là những bóng mây làm ta rợp mát trong chốc lát, thoát khỏi cái nắng gay gắt nhưng nào có cướp khỏi ta ánh sáng ban ngày; và khi ta nhìn từ trên cao, trong khoảnh khắc ta lẫn lộn kích thước của mình trên mặt đất với kích thước khi ta lên đến một tầm cao đủ để bao quát thế giới. Sau đó chàng gợi cho nàng nhìn cái chết cũng như sự sống không chỉ từ kích thước một kiếp người mà từ toàn bộ dòng sinh sinh hóa hóa không ngừng của vũ trụ; chàng khuyến khích nàng hãy cùng chàng biết lặn hụp trong đại dương nhân sinh như bất cứ ai khác và rất có thể sẽ chết chìm trong đó mà chưa một lần đủ sức ngoi lên thấy chân trời, đồng thời lại luôn luôn nhìn rõ trọn vẹn chính đại dương đó như một cái lạch vừa vặn sải tay mình, một vũng nước vừa gọn bước chân mình xoãi qua; nhưng thực sự không có ranh giới giữa hai kích thước đó của đại dương và chính ta. Hầu hết những gì chàng nói lẽ ra rất mới lạ và mông lung với nàng, nhưng chàng hiểu rõ điều đó và chú tâm dùng những lời giản dị, trực tiếp nhất, phù hợp với hiểu biết và tính cách của nàng. Ban đầu nàng suy nghĩ một cách nghiêm trang, thậm chí hơi quá trịnh trọng, đôi khi căng thẳng về những điều chàng nói, một phần chỉ vì quý mến chàng. Về sau nàng càng tự nhiên và linh hoạt hơn, nàng vừa ra vẻ trầm tư vừa chăm chú nhìn chàng với nụ cười đằm thắm, nhẫn nại, hơi tinh nghịch, như thể muốn nói: đợi đấy, em sẽ hiểu anh ngay cho mà xem; rồi một lúc nọ nàng bỗng reo lên hân hoan và hoàn toàn tự nhiên rằng bây giờ nàng hiểu vì sao có những người đón cái chết một cách nhẹ nhõm và an lạc làm vậy, trước kia nàng ngạc nhiên, không thể hiểu họ, không tin mình có thể như họ, nhưng có lẽ nàng sẽ không thế nữa. Chàng hồ hởi thấy nàng đã hiểu hơn về cuộc sống, về con người, chính mình, và điều đó làm nàng thêm vui, thêm chăm chú, mẫn cảm và dịu dàng.

Và như vậy, với nỗ lực bền bỉ, không hy vọng và chân thành của Nhà Thơ, nhưng hơn thế là sự chú tâm nhu mì, khiêm nhường và độ lượng của nàng, Hương đã dần dần ngộ về cuộc sống, và mặc dù tuyệt không có ý niệm về cái chết của chính mình không còn bao xa - làm sao có được khi nàng đang yêu đời đến nhường ấy - nhưng nàng đã có thể cùng chàng nói một cách điềm đạm hoặc im lặng thanh thản về cái chết. Nếu như trước kia, cứ hễ nhìn cảnh những đám tang nương nhờ cửa Phật, những tấm khăn sô, những khuôn mặt bơ phờ vì bàng hoàng, vì khóc và mất ngủ, mùi hương khói, bát cơm đầy tàn nhang cắm đôi đũa dựng đứng và những bài kinh siêu độ, bao giờ nàng cũng tự dưng ngậm ngùi, mắt lẫn mũi đều đỏ lên, môi run run, không ít lần chạy về phòng sụt sùi khóc mà chạnh nghĩ đến cha mẹ, thì nay nàng có thể nhìn tất cả cảnh đó với vẻ nghiêm trang không buồn không vui, đầy trìu mến và cảm thông; người ta có thể cảm thấy ở nàng một sức mạnh mới; Phật tử từ xa đến lễ độ chào nàng nơi lối đi và bỗng dưng hỏi nàng những câu thường chỉ dành đến lúc gặp các sư bà trụ trì.

Chàng gợi cho nàng về niềm vui trong mỗi lúc, mỗi ngày bình thường, mỗi vật và mỗi việc bình thường. Chàng cũng chú tâm giúp nàng chuẩn bị sống trọn vẹn mỗi ngày hôm sau, nhưng chẳng bao lâu chàng hiểu việc ấy không cần thiết nữa; chàng nhận thấy, thật ra từ lâu trước khi gặp chàng Hương đã thích nghe gà gáy mỗi sáng sớm, cảm thấy sung sướng và không hiểu sao lại xót xa khi ngắm con chim sẻ một mình bay qua cánh đồng; dường như cảm thấy trước rằng nơi nào đó, lúc nào đó, nó sẽ bị bắn. Chính nàng mới có thể là người đã trả lời không chút giận dữ, bối rối, trầm uất hay kiểu cách khi có kẻ thẳng thừng đề nghị nàng hãy đi kiếm tiền bằng vốn trời cho của nàng: “Bộ hết đường sống hay sao mà phải làm cái nghề ấy?”; nhưng khi có ả điếm hết thời bị một bọn vô lại hãm hiếp tàn tệ bò đến ngất bên cổng chùa thì nàng lặng lẽ dìu về phòng chăm sóc với tất cả tình yêu thương. Cảm động và sung sướng, chàng dõi theo từng việc nhỏ nàng làm, cho đến ngày kia chàng chợt nói với tôi có lẽ chàng không còn gì phải làm để giúp Hương nữa. Bây giờ nàng có thể luôn luôn nhìn cái chết một cách thân ái, bình tĩnh và thanh thản ; nàng không ghê sợ xác chết một con người mà cảm nhận nó như một thân cây chết, và nhìn cái chết của chính mình như sự vong thân của dòng sông khi ra đến biển lớn. Giờ đây chàng biết nàng sẽ thở hơi cuối cùng mà không tự dày vò, sân hận, tiếc nuối hay sợ hãi; nàng sẽ yên lòng trao lại đứa con - nàng đặt tên là Mai; nàng yêu loài hoa ấy, yêu cách nó sống, bày tỏ mình rồi lại quay về lặng im - vào tay các ni sư và tin rằng bất luận có căn tu hay không, nó sẽ thành người, sẽ biết sống cuộc đời mình - dù có thể ngắn ngủi - một cách trọn vẹn như mẹ nó... Thế giới đã mất nàng, buổi sáng không còn in hình dáng dịu dàng của nàng cúi xuống vẻ hờn dỗi xuýt xoa nắn mấy ngón chân đỏ tấy vì ba con kiến lửa ngoài vườn, bầy trẻ mồ côi sáng sáng không còn thấy nàng múc cháo cho chúng ăn, người qua đường không còn dịp nào ái ngại nhìn nàng ngồi trong quán lá, tóc tai ướt lướt thướt, vừa vuốt mặt vừa run, rồi cười, rồi lại run lập cập chờ dứt cơn mưa tháng Tám để xách đôi giỏ đi chợ về chùa nữa. Nhưng niềm vui mới lớn lao làm sao khi từ con người đó một con người khác đã ra đời, một hình dáng khác sẽ nối liền mặt đất với bầu trời, một niềm vui, nỗi đau và tình yêu khác sẽ lại góp phần vào nội dung thế giới. Tôi dõi theo điều đó với nỗi hân hoan, hồi hộp và xót xa như chàng; chúng tôi biết cuộc đời một lần nữa lại không chút dễ dàng với Mai; một ngày kia em sẽ dứt khỏi bốn bức rào ngôi chùa này, nàng sẽ gục ngã không ít lần nhưng đều đứng dậy hay gượng dậy và lại một mình thách thức cả thế giới tuy vậy trong sâu thẳm vẫn nuôi một tình yêu khắc khoải đối với thế giới. Chàng, một lần nữa, lại cảm thấy ý nghĩa sự tồn tại của chàng nằm trong việc chăm chút và yêu thương chỉ một con người đó; chàng không nghe tôi, không muốn hiểu rằng chàng cũng hoàn toàn có thể chăm chút và yêu thương một người khác, người đang ở sát bên chàng...

Bạn không thấy tôi sẽ mãi mãi ở bên nàng sao? Tôi sẽ ở lại đó, nơi nàng đã sống và chết, nơi con nàng đã chào đời và vĩnh viễn không biết mặt mẹ nhưng đến lượt nó phải hoàn tất cuộc đời mình như một con người. Tôi sẽ giúp con nàng đứng vững và đi trọn đường của nó, việc đó không đáng làm sao? Dành trọn phần đời còn lại của tôi cho sự viên thành một con người - dù con nàng hay ai khác - không phải một việc thiêng liêng sao ? Mỗi mảnh đất dưới chân bạn đều là Trái đất, nhà của bạn, đều thiêng liêng; cũng vậy mỗi con người đều thiêng liêng, đều là nhân loại, người thân của bạn, chính bạn. Bạn có thấy Hương chưa? Bạn có nhớ sức sống và sự thanh khiết trong từng cử động của nàng không? Bạn có nuối tiếc và mong mỏi nỗi dịu dàng và tình yêu sâu nặng trong từng hơi thở nàng không? Nếu có, bạn sẽ hiểu vì sao tôi nói với bạn về đứa con nàng như mẹ tôi, con gái tôi, người yêu tôi, vợ tôi, người bảo bọc tôi, chính tôi, tất cả nhân loại. Đừng nói nữa, bạn thân yêu, về những gì tôi lẽ ra còn phải làm cho nền thơ ca thế kỷ chúng ta. Hãy coi như tôi đã chết, không còn có tôi, chưa bao giờ có tôi trong kiếp này, hãy nhận lấy và mơ tiếp những giấc mơ của tôi, hãy tạo dựng sự sống theo cách của riêng bạn, đừng quan tâm đến tôi.

Các bạn có hiểu chàng tin điều chàng nói đến chừng nào không? Các bạn thấy chàng điên đến thế nào không?! Và tôi, đến lượt mình, không làm được bất cứ điều gì để giúp chàng thoát khỏi cơn điên này, ngoại trừ lời hứa nhận lấy và xây tiếp những thế giới chàng đã khởi sự, bằng tình yêu, nỗi cô đơn, niềm hy vọng, nước mắt âm thầm của tôi...

Thế là chàng lại ra đi, lần này đi hẳn, thực chất là đã chết. Vâng! Quả thật chàng đã chết với tôi, với các bạn, vì làm sao chàng có thể đổi kiếp làm người ba thế kỷ trước nếu không từ bỏ thân xác chàng, xác thân nặng nề mãi mãi bị giam cầm trong một chiều thời gian? Chàng đã ra đi như thế: bằng phần tinh khiết nhất của bản thể chàng vốn không biết tới thời gian vì với nó thời gian không có thật; đến ngưỡng cửa cuộc đời mới chàng lại khoác lấy xác thân lần nữa, bằng cách nào đó tôi thật sự không biết, nhưng là điều cuối cùng chàng phải làm để hoàn tất việc chuyển vị trong vũ trụ; với chàng việc đó khác gì bạn đang ở đây, trong căn phòng ấm cúng này, một phút sau bạn bước ra vườn và đón cơn mưa ở đó. Với chàng, đó là một bước chuyển cỏn con nhưng cần thiết và hạnh phúc, vì một con người đang cần chàng, dù không biết có chàng...

Và tôi phải thấy chàng chết dần mòn trước mắt tôi, từng ngày, từng giờ, như những người bị AIDS ngày xưa; ôi, trong tất cả mọi chuyện xảy ra với chàng, đó là điều duy nhất mà tôi khó lòng chịu đựng nổi. Giá như các bạn là tôi, tận mắt chứng kiến mà không cách nào ngăn chàng tiếp tục trở về quá khứ, ngày càng trọn vẹn hơn, quyết liệt hơn, cho đến ngày kia linh hồn chàng thoát ra mạnh mẽ hân hoan như nước ngầm vọt qua kẽ đá thì cùng lúc thân thể chàng teo quắt lại, nơi này cứng đờ, chỗ khác mềm oặt đi, tuy hãy còn âm ấm nhưng đã hoàn toàn vô dụng và cần phải tiêu biến đi như cái vỏ côn trùng lột xác bỏ lại vậy. Nhưng hơn hết, điều tôi nhớ mãi, đó là một phút trước đó, từ trong cơn mê sâu như lòng đất chàng tỉnh dậy, thoải mái, tỉnh táo như vừa ngủ rất yên lành và dịu dàng gọi tôi. Tôi ngồi bên chàng, cố giữ bình tĩnh, nhưng toàn thân tôi run lên, một phần vì sợ và vì kiệt sức. Thấy tôi khóc, chàng mỉm cười nắm tay tôi; chàng bảo tôi cúi sát xuống để chàng hôn trán tôi. Không, tôi không muốn nói gì nữa về chuyện chàng có công bằng với tôi không, hãy để tôi nhớ về nụ cười đó, cái hôn đó, giọt mồ hôi chàng trên má tôi, những tiếp xúc cuối cùng của tôi với thân thể chàng từng có khi là một với tôi.

Giờ đây mọi việc đã xong; từ thân thể xiết bao sinh động và nồng ấm đó chỉ còn mấy nhúm tro tôi đã rải lên cánh đồng quê hương chàng; ký ức kết tập trong suốt đời chàng đang an vị trong một phần não tôi, cách duy nhất để viên thành những ý đồ sáng tạo vừa chớm nở của chàng vừa theo chân tánh chàng vừa theo chân tánh tôi; vài tháng nữa cái thai duy nhất còn lại từ chàng sẽ phổng phao lên, ra khỏi lòng tôi, thế là chàng trở lại với tôi, dù không là chàng, cũng như vầng trăng tháng này không như tháng nọ nhưng vẫn là trăng vậy. Tôi sẽ sống trong niềm vui giúp nó lớn lên, và, cũng như chàng, làm mọi điều cần thiết để nó đi trọn con đường của riêng nó.

Nếu các bạn trở lại, tôi sẽ rất sung sướng; nguồn vui của tôi có nghĩa là mang nó đến cho các bạn. Hãy cùng tôi chúc mọi điều tốt lành cho chàng và con gái. Hãy đến với tôi, dù chỉ một lần, ba tháng nữa, ngày này, đón con tôi chào đời. Nhà tôi cũng là nhà các bạn. Cần việc gì, xin cứ gọi tôi. Tên tôi là Loan; Kiều Loan.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét