Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2016

“Văn chương cần sự khác biệt”.

Trả lời phỏng vấn của Duyên dáng Việt Nam, số ngày 15/06/2016, xung quanh tiểu thuyết “Life Navigator 25: người tình của cả thế gian”. 
(Bản đầy đủ, chưa qua biên tập. Tít bài do ban biên tập chọn.)

Lý do gì khiến anh chuyển hướng từ dịch văn chương sang viết văn chương? Có khi nào anh nghĩ rằng nếu tiếp tục dịch thuật thì anh có thể đóng góp cho đời nhiều hơn là nếu anh viết không?

Tôi viết văn từ lâu trước khi bắt đầu dịch văn chương, cho nên đúng hơn cần phải nói rằng tôi đã từ dịch văn chương quay trở lại viết văn. Viết văn mới thực sự là việc mà tôi cần làm. Nếu tôi không dịch “Biên niên ký Chim vặn dây cót”, chắc chắn sẽ có một người khác dịch nó không kém gì tôi, thậm chí tốt hơn tôi. Một cuốn tiểu thuyết như “Life Navigator 25: người tình của cả thế gian” thì chỉ một mình tôi viết ra được. Nó hay hơn hay kém hơn cuốn này hay cuốn khác, điều đó hãy để người khác nói. Nhưng ít nhất là, nó khác biệt.

Một số người nói cuốn sách của anh khó đọc. Tại sao anh không viết dễ hiểu hơn? 

Viết “dễ” hay “khó”, dành cho đại chúng hay dành cho số ít, đó không phải là lựa chọn tùy thích của người viết dựa trên những tính toán lạnh lùng. Cũng như người này hát opera và người kia hát bolero, người này chơi vị trí trung phong còn người kia trấn giữ khung thành: đó không phải do tự họ muốn chọn là chọn đâu.

Thông điệp mà anh muốn gởi đến người đọc là gì? 

Tôi không có thông điệp nào gởi tới người đọc, nếu bạn hình dung rằng đó là một thông điệp có thể tóm gọn trong vài chữ. Nếu có gì đó mà tôi muốn gởi tới người đọc thì đó là những câu hỏi mà tôi muốn chia sẻ với mọi người. Những câu hỏi lớn về bản chất sự tồn tại của loài người, về ý nghĩa của việc làm người, chẳng hạn. Và không chỉ có vậy.

Mặt khác, tôi cho rằng nếu bạn cứ khăng khăng đòi tìm cho ra một “thông điệp” từ bất cứ cuốn sách nào, bạn đang có nguy cơ đánh mất điều cốt yếu nhất của văn chương. Thay vì tìm một thông điệp, một “triết lý”, một “tư tưởng”, những “lấp lánh trí tuệ” trong một cuốn sách, hãy tiếp nhận nó như một toàn thể. Một cái toàn thể đập vào mọi khía cạnh của bạn - trí tuệ, cảm xúc, tưởng tượng… - cùng một lúc. Cuốn sách nào làm được điều ấy, bạn sẽ nhận ra nó. Đọc cuốn tiểu thuyết của anh, có cảm giác hơi khó nắm bắt cốt truyện.

Anh quan niệm như thế nào về cốt truyện và vai trò của nó trong tác phẩm văn chương? 

Cuốn sách của tôi có cốt truyện của nó, tuy rằng có thể khá khó nắm bắt. Nếu bạn bước vào nó với một tâm trạng thoải mái, một tâm trí rộng mở, dẹp bỏ mọi thứ khung sẵn có, sẵn sàng buông mình theo dòng chảy ngôn từ của nó như theo một dòng sông, để cho nó ùa vào bạn, làm đầy bạn, có thể bạn sẽ thấy mình “vào” cuốn sách một cách thật dễ dàng, không mảy may gắng sức. Nó là một cõi riêng, chỉ dần dần để lộ mình cho những ai biết đường mà thôi.

Chất “Tây phương”, hay chất “ngoại lai” trong văn của anh rất đậm đặc. Người đọc Việt Nam dễ cảm thấy không phải nó được viết ra cho họ. Anh hình dung độc giả của mình là người như thế nào? 

Tôi không có hình dung sẵn về “độc giả lý tưởng” của mình. Độc giả lý tưởng của tôi không có sẵn: họ sẽ tự tạo ra họ. Người đọc nào bắt đầu đọc cuốn tiểu thuyết với một quan niệm đúng và một tâm thế đúng, người đó sẽ tự tạo ra độc giả lý tưởng ấy, từ chính mình. Độc giả lý tưởng của nhà văn là một ứng viên tiềm năng để cùng tác giả tham gia vào một đời sống trí tuệ-tâm hồn khác biệt và, trong chừng mực nhất định, cao hơn và đẹp hơn đời sống hằng ngày của người đó. Mặt khác, Murakami có nói, đại ý: ông viết không phải về người Nhật hay về người phương Tây, ông viết về con người. Nhân vật của ông chỉ tình cờ là người Nhật bởi vì ông là người Nhật nên ông hiểu họ hơn cả. Ea Sola thì nói, đại ý: những vở múa của chị không dành riêng cho người Việt và không dành riêng cho người phương Tây, nó dành cho con người. Tôi cũng muốn nói điều tương tự về những gì tôi viết.

Từ một giấc mơ mà để triển khai ra cuốn sách dày hơn 400 trang là một điều khó, nếu chỉ từ một giấc mơ. Điều gì dẫn dắt sau giấc mơ ấy giúp anh hoàn thành quyển sách? 

Giấc mơ chỉ là “tia lửa” châm vào khối năng lượng tích tụ từ lâu trong tiềm thức người viết mà thôi. Không có khối năng lượng ấy thì bản thân giấc mơ không thể nảy sinh được. Nó là một quá trình tạo sinh mà phần lớn nằm ngoài ý thức của người viết. Nếu bạn là người viết văn đích thực, thì những khối năng lượng như vậy sẽ thường trực tồn tại ở trong bạn, và lúc nào cũng có thể có những khối mới hình thành mà bạn không chờ đợi. Nó như những “hạt mầm” tự chúng nảy sinh từ mảnh đất tâm hồn và trí tuệ của bạn, nếu mảnh đất ấy đủ giàu có, đủ mạnh.

Tranh của Michael Parkes.
Ý tưởng thường đến với anh như thế nào? Có phải chỉ qua các giấc mơ? 

Một số truyện của tôi bắt đầu từ những giấc mơ, chẳng hạn một truyện ngắn mà một số người thích là “Đầu của hoa hậu Ấn”. Tuy nhiên, một số truyện khác thì ý tưởng nảy sinh khi tôi đang đi bộ buổi tối, hoặc khi tôi đang ngẫm nghĩ về một truyện tôi đã đọc. Chẳng hạn, “Chuyện Gaucho Bi Bự Khoái Mắm Tôm” (sẽ có trong tập “Những gặp gỡ không thể có” dự kiến ra mắt vào cuối năm nay) là một truyện nảy sinh trực tiếp từ cảm hứng khi nhớ lại một chi tiết trong tiểu thuyết “2666” của Roberto Bolaño.

Anh bắt đầu viết văn như thế nào? Anh thường quan tâm đến điều gì với tư cách nhà văn? 

Từ nhỏ tôi đã “viết văn”. Khoảng bốn, năm tuổi, tôi tự sáng tác những truyện tranh, truyện cao bồi Viễn Tây hay truyện du hành vũ trụ, hai loại truyện mà tôi mê tít thời đó. Đến tuổi thiếu niên, tôi bắt đầu viết “văn xuôi” đúng nghĩa, là những “tiểu thuyết” phiêu lưu mạo hiểm, bắt chước theo một số cuốn tôi đọc và ưa thích hồi đó, như “Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer”. Trong những năm đại học, tôi miệt mài viết một cuốn tiểu thuyết khoa học giả tưởng mà tôi đặt tên là “Vũ trụ loài người”. Dự án đó đã bị bỏ dở, nhưng tôi đã sử dụng một vài yếu tố của nó trong các tiểu thuyết của tôi sau này.

Tôi quan tâm nhiều nhất đến những sự kỳ diệu của thế giới và cách con người đối xử với những sự kỳ diệu của thế giới, trong đó có những sự kỳ diệu ở đồng loại họ và bản thân họ. Với tôi, đó là nguồn đề tài và cảm hứng vô tận.

Anh thường đọc những ai? Những nhà văn nào ảnh hưởng tới anh nhiều nhất? 

Tôi cần phải kể tên những người sau đây, mà tôi biết mình chịu ảnh hưởng nhiều nhất (bằng cách này hay cách khác) và phải hàm ơn: Kawabata Yasunari, Akutagawa Ryunosuke, Federico Garcia Lorca, Rabindranath Tagore, Nikos Kazantzakis, Franz Kafka, Fyodor Dostoyevsky, Italo Calvino, Roberto Bolaño, Krasznahorkai Laszlo.

Dự định sáng tác trong tương lai của anh là gì? 

Hiện tôi đang giai đoạn hoàn tất cuốn tiểu thuyết thứ hai (thật ra là cuốn tôi bắt đầu viết đầu tiên) với nhan đề “Cospolist Nổi Loạn”. Nó cũng là một cuốn dày như cuốn thứ nhất, nhưng là một thế giới khác, một cấu trúc khác, một giọng điệu khác… Có thể nó sẽ dễ tiếp cận đối với nhiều người hơn. Ngoài ra, tôi đang bắt đầu viết một số truyện khác - có thể là truyện vừa, có thể là tiểu thuyết, tôi chưa thể biết được - mà ở đó tôi đang muốn tự thử thách mình. Vậy, với tiểu thuyết sắp tới, anh có định sẽ làm sao cho bạn đọc dễ tiếp cận hơn không? Hoặc chọn đề tài gần gũi hơn không? Có thể. Chất của tôi vẫn không thay đổi, nhưng lúc này hay lúc khác tôi sẽ “điều chế” sao cho tác phẩm đến được với nhiều người hơn.

Cao Kh. thực hiện

Thứ Năm, 21 tháng 7, 2016

Về đi và ở, hay Về thể xác và quê nhà

(Nhân cuộc nói chuyện với một người bạn cách đây mấy hôm)

Nếu có một phụ nữ, sau khi chồng của cô bị tai nạn trở thành người tàn phế và mất khả năng truyền giống, liền ly dị chồng và lấy một đàn ông khác, tốt vừa đủ và khỏe mạnh, tôi sẽ đồng cảm với cô và không phán xét cô. Đơn giản là cô đang hành động theo chỉ thị của bản năng giống loài: tìm một người phối ngẫu có khả năng cho cô những hậu duệ tốt và một cuộc sống tốt.

Bên cạnh đó, tôi sẽ kính trọng cô nếu cô ở lại bên người chồng tuyệt tự đó, kể cả nếu ngay đến khả năng tình dục anh ta cũng không còn. Cô hành động vì tình yêu thuần túy, một thứ năng lực không phải do bản năng giống loài mà do tự tu dưỡng.

Cũng vậy, tôi đồng cảm với những người rời đất nước này để đi đến những nơi tốt hơn (theo ý họ), và không phán xét họ.

Mặt khác, tôi kính trọng những người nhất tâm gắn bó với đất nước này - bất luận họ vốn dĩ có khả năng ra đi hay không -, sống trọn đời ở đất nước đang ngày càng suy bại này, và, nhẫn nại, từng chút một, làm những gì trong khả năng mình sao cho đất nước này trở nên dễ sống, đáng sống hơn hôm qua, dù chỉ một chút.



Bạn sinh ra ở Việt Nam và không có khả năng rời khỏi đó đặng sang nước khác tốt hơn thì cũng giống như bạn sinh ra trong một thể xác bị khuyết tật và không có khả năng thực tế nào để rời khỏi thể xác đó đặng chuyển sang thể xác khác tốt hơn. Đã vậy, điều bạn nên làm là chấp nhận cái thể xác khuyết tật đó, chốn quê nhà đang suy bại đó, chấp nhận phần số của mình, chấp nhận thực tại, và sống từng ngày từng giờ của mình trong thực tại đó một cách có ý nghĩa. Đơn giản có vậy.

Thứ Hai, 18 tháng 7, 2016

Hỏi đáp về “Life Navigator 25: người tình của cả thế gian”

Trong note này, tôi ghi lại (có thể không đầy đủ hoặc không giống nguyên văn song đại ý là một) những điều chính tôi đã nói - để trả lời câu hỏi của cử tọa - tại hai buổi tọa đàm tại bar-café Người Sài Gòn vào ngày 07/06/2016 và tại gian hàng Nhã Nam, Hà Nội Creative City vào ngày 10/06/2016.
Thông tin này dành cho tất cả những ai quan tâm. Các bạn có thể dẫn lại, song nếu vậy thì yêu cầu các bạn ghi rõ nguồn.

Do đâu mà có nhân vật Life Navigator?

Cái tứ của cuốn tiểu thuyết đến với tôi từ một giấc mơ. Tôi từng đưa giấc mơ của mình vào một số tác phẩm, một số truyện ngắn. Với giấc mơ này khi thức dậy, tôi chỉ nhớ được một hình ảnh, là hình ảnh Life navigator như trong trang đầu tiểu thuyết, một thanh niên dong dỏng, thanh tú, đứng dựa vào thân tàu trắng, và cùng với đó là cái tên “Life navigator 25”. Khi thức dậy, tôi biết rõ anh ta là con người như thế nào, có năng lực gì. Tiềm thức đã chuẩn bị sẵn cho tôi nhân vật này. Ban đầu tôi định viết một truyện vừa, về anh chàng Life navigator đến gặp một người phụ nữ của đời thường chúng ta, và tình yêu xảy ra. Nhưng sau đó, tôi biết câu chuyện không chỉ có thế. Tôi không hình dung sẵn về cấu trúc câu chuyện, mà nghĩ tới đâu viết tới đó. Tôi viết trong ba năm, bản thảo thô nếu in thì có lẽ lên tới 800 trang. Nhưng sau đó tôi chỉnh sửa, cắt bỏ, bổ sung, và ra cuốn sách ngày hôm nay.

Tại sao anh không cho người đọc biết nhiều hơn về Life Navigator, chẳng hạn như loài người chúng ta đã chuyển hóa thành Life Navigator như thế nào?

Chúng ta chỉ cần biết rằng Life Navigator là kết quả của một quá trình tiến hóa có thể dài đến hàng ngàn năm kể từ thời chúng ta. Tôi không tự đặt cho mình nhiệm vụ đặc tả quá trình đó trong cuốn sách này - vả chăng, ở giai đoạn này, việc đó ngoài khả năng của tôi. Có thể tôi sẽ làm việc ấy qua một dự án trong tương lai, nếu tôi có đủ hứng thú và quan trọng hơn là đủ năng lượng. Còn ở cuốn tiểu thuyết này chúng ta bằng lòng với việc nhìn thấy Life Navigator như là kết quả của một quá trình mà chúng ta không biết.

Mặt khác, như tôi đã nói ở một chỗ khác, trong cuốn tiểu thuyết này, nhân vật tôi quan tâm không phải là Life Navigator 25 mà là cô gái, hoặc cũng có thể nói nhân vật chính là loài người.

Tại sao anh chọn lối viết không có cốt truyện?

Có cốt truyện đó chứ. Nếu bạn không đọc những chương giấc mơ (chương chứa những hình ảnh siêu thực một chút, bạn có thể phân biệt rất dễ), mà chỉ đọc những chương “thực tại”, bạn sẽ thấy câu chuyện, dù nó mờ. Đó là câu chuyện về sự chuyển hóa của cô gái, một câu chuyện diễn ra theo lối tuyến tính “cổ điển”, với những sự kiện trước sau theo trình tự nhân quả. Có cốt truyện, chỉ là bạn không nhìn ra nó. Có thể do bạn đọc chưa kỹ, chưa đủ kiên nhẫn. Có thể do cuốn sách không đủ thú vị với bạn nên bạn không thể kiên nhẫn, nhưng đó là chuyện khác, không liên quan đến việc nó có cốt truyện hay không.

Mặt khác, thực tế là sách của tôi không dành cho số đông. Nếu bạn đến với nó mà chờ đợi một chuyện tình yêu kiểu Marc Levy thì bạn sẽ không tìm thấy. Văn chương hay ở chỗ có cuốn dễ có cuốn khó. Đọc loại tiểu thuyết này, bạn cần kiên nhẫn, đọc chậm rãi, không vội vàng, không chủ ý tìm một cái gì có sẵn trong đầu, mà hãy để cho dòng chảy của cuốn sách đưa bạn đi.

Tại sao anh không chọn viết sao cho dễ đọc, hấp dẫn?

Tôi nghĩ, người này viết văn dễ đọc còn người kia viết văn khó đọc không phải là do lựa chọn của họ, mà do họ sinh ra như thế. Một người hát opera còn một người hát nhạc rock: tạm gác qua một bên yếu tố gia đình, việc đó xuất phát từ tư chất thiên bẩm của họ chứ không phải từ một lựa chọn thuần túy lý tính. Văn chương cũng không khác.

Bên cạnh đó, quả đúng là có phần nào đó tôi muốn viết ra một cuốn sách “khó”. Một cuốn sách khó đòi hỏi một lớp độc giả élite. Tôi muốn góp phần mình vào việc đó: tạo ra một nền văn chương élite, một không gian văn hóa élite ở đất nước này, với cộng đồng Việt này.

Tiểu thuyết có rất nhiều chi tiết. Anh làm thế nào để giữ mạch truyện, không làm cho chính mình bị rối khi viết?

Trong quá trình viết, tôi viết cùng một lúc vài chương khác nhau. Khi đã xong, tôi sắp xếp lại với dụng ý đan xen chương thực, chương mơ. Là tác giả, tôi luôn mong muốn tìm được bạn đọc lý tưởng của mình. Đó là người, trước khi đọc, có tìm hiểu về cuốn sách, nắm luật chơi của nó, rồi đi cùng nó. Mong muốn lớn nhất của tôi là khi bạn đã kiên nhẫn đọc cuốn sách, thì sau khi đọc xong, bạn thấy thời gian mình đã bỏ ra với nó là không vô ích. Nếu người đọc “vào” được cuốn sách, đó là hạnh phúc khôn sánh đối với người viết văn.

Tại sao anh đặt tên sách là “Người tình của cả thế gian”?

Bản thân tôi không chắc lắm tại sao tôi chọn cái tên đó. Nó đến với tôi một cách tự nhiên. Nhưng nếu phải lý giải nó, thì có lẽ mối tình của nhân vật Life navigator, cũng như mối tình của các nhân vật chính trong tác phẩm này, đều là một tình yêu lớn. Họ không chỉ yêu một con người, mà yêu cả thế giới. Khi yêu một người, bạn không thể chỉ vì yêu một “anh” hoặc “em” mà chán ghét thế giới. Bạn yêu thế giới như yêu người tình của mình, và yêu người tình của mình như yêu thế giới.

Anh có nghĩ rằng những yếu tố thuần túy địa phương - cụ thể là Huế - đưa vào cuốn tiểu thuyết sẽ làm tính phổ quát của nó bị mờ đi?

Đó là chủ ý của tôi: thường xuyên nhắc người đọc nhớ rằng có một cội rễ và mọi thứ khác xoay quanh cội rễ đó, từ đó mà đi và từ nơi khác quay về đó. Mỗi chúng ta đều có cội rễ của mình và chúng ta không thể cắt rời hay phủ nhận nó được. Dĩ nhiên, có một số nhà văn lưu vong xuất chúng và họ, giống như một trong số họ đã nói rất hay, “cội rễ của chúng tôi nằm ở tình trạng không cội rễ”, nhưng chúng ta thì có. Nếu không có cội rễ ấy thì không thể có những chuyến bay ấy.

Đọc một chương ("Người đẹp và thú nhỏ") trong "Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian".
Gian hàng Nhã Nam, tòa nhà Hà Nội Creative City, Hà Nội, ngày 10/06/2016.
Tiểu thuyết viết về sự biến đổi của cô gái. Dường như anh tin vào thuyết tiến hóa? Khi viết, anh có quan tâm đến một điều rằng, nếu dùng theo nghĩa khoa học nghiêm ngặt, thì “tiến hóa” là khái niệm chỉ có thể áp dụng cho một loài chứ không phải cho một cá thể?

Khi viết, thực sự là tôi không nghĩ đến cách dùng hẹp của từ “tiến hóa” như bạn nói. Tuy nhiên, trong ngữ cảnh cuốn sách, tôi nghĩ chúng ta có thể và cần nói tới sự tiến hóa của một cá nhân. Tôi hình dung có hai cách tiến hóa. Thứ nhất, theo thời gian, rất xa trong tương lai, loài người chúng ta sẽ tiến hóa lên một cấp độ cao hơn, có thể theo cách loài người chúng ta diệt vong để có loài khác ra đời. Tuy nhiên, đó là một tương lai quá xa đến nỗi chúng ta ngồi đây không thể nghĩ bàn. Cách thứ hai là: mỗi cá nhân, trong thời gian hữu hạn mình có, tự thay đổi, vượt qua bản thân mình ngày hôm qua, khai triển được những tiềm năng ẩn giấu của mình, và nhận thức được những điều mà hầu hết đồng loại không nhận thức được. Đó là một sự tiến hóa đáng được nói tới hơn bởi nó nằm trong khả năng của chúng ta. Vấn đề là nhận ra tiềm năng của mình và tiến hóa, giống như cô gái trong tác phẩm này.

Tôi không nghĩ rằng để tránh dùng từ “tiến hóa” tôi có thể dùng một từ khác tốt hơn. Không có tử nào tốt hơn “tiến hóa”. Một trong những quyền năng của văn chương là tạo nghĩa mới cho những khái niệm có sẵn.

Tác phẩm cho thấy một nỗi bất an lớn lao trước thực trạng của thế giới hiện đại. Nếu được chọn làm một loài khác, anh có chọn không?

Loài người đang phát triển quá nhanh về vật chất, nhưng lại phát triển quá chậm về tâm trí. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, đặt câu hỏi chọn làm loài khác là không thực tế. Với tôi, tiến hóa là mình vượt lên chính mình. Chúng ta hãy phát huy chính bản thân mình, từng ngày, để tiến hóa.

Theo anh, nếu cuốn tiểu thuyết này được dịch ra tiếng Anh thì nó có khác đi không?

Có. Nó sẽ chắc hơn, gọn hơn, [do một số đặc thù của tiếng Anh. Hẳn tương tự như Murakami trong tiếng Nhật hơi "rườm rà, dông dài" hơn một chút so với Murakami trong tiếng Anh vậy].

(một người khác) Các đại từ "chàng" và "nàng" sẽ được chuyển thành "he" và "she", [giọng điệu] sẽ trung tính hơn.

Sự thật là, trong quá trình chỉnh sửa bản thảo, đã có lúc tôi thử đổi toàn bộ "chàng" và "nàng" thành "anh" và "cô", nhưng thấy không ổn. Vì lý do nào đó, cuốn này "phải" là "chàng" và "nàng". Có thể ở tác phẩm sau của tôi thì sẽ khác.

(Viết thêm, sau khi đã suy nghĩ: Có lẽ riêng với cuốn này thì "chàng” và "nàng" là thích hợp bởi chúng góp phần tạo nên bầu khí quyển "cổ điển", "lãng mạn", đượm chất "hoài niệm", kể cả hơi "sến" một chút, gọi vậy cũng được, là thứ mà tôi cảm thấy đúng với nó nhất. Cố nhiên, khi dịch sang tiếng Anh chẳng hạn, điều này sẽ mất. Không nên qua đó mà nói rằng bản tiếng Anh sẽ "tốt/hay" hơn bản tiếng Việt. Chỉ là nó khác).

Thứ Tư, 13 tháng 7, 2016

Tôi viết là để tự tiến hóa, để tự định nghĩa mình.

Trả lời phỏng vấn của Esquire, số ra ngày 28/06/2016. 

(bản đầy đủ, chưa qua biên tập. Nhan đề tự đặt. Bản đã đăng: http://esquirevietnam.com.vn/nhan-vat/mahb/ive-learned-nha-van-tran-tien-cao-dang/)

Ước mơ đầu tiên khi anh còn nhỏ là gì, có khác nhiều với hiện tại không? 

Từ nhỏ tôi đã “viết văn”. Khoảng bốn, năm tuổi, tôi tự sáng tác những truyện tranh, truyện cao bồi Viễn Tây hay truyện du hành vũ trụ, hai loại truyện mà tôi mê tít thời đó. Đến tuổi thiếu niên, tôi bắt đầu viết “văn xuôi” đúng nghĩa, là những “tiểu thuyết” phiêu lưu mạo hiểm, bắt chước theo một số cuốn tôi đọc và ưa thích hồi đó, như “Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer”. Trong những năm đại học, tôi miệt mài viết một cuốn tiểu thuyết khoa học giả tưởng (nay bỏ dở) mà tôi đặt tên là “Vũ trụ loài người”. Nay, hơn nửa đời người, tôi vẫn viết văn. Tôi là người sinh ra để viết và tôi đang viết. Tôi yên tâm vì điều đó.

Tính cách của anh ảnh hưởng từ ai? Một thần tượng truyền cho anh nhiều cảm hứng chẳng hạn?

Mẹ tôi, người miền Trung, là giáo viên dạy Văn và hồi trẻ làm nhiều thơ. Bà đọc nhiều, và truyền lại cho tôi niềm đam mê văn chương cùng một tủ sách không lớn lắm nhưng có khá nhiều tác phẩm của nhiều bậc thầy văn chương đông tây kim cổ. Mẹ tôi là người nhu hòa, không thích và không có khả năng đua tranh với người. Tôi thừa hưởng những cái đó từ mẹ.

Cái ác đang nảy nở và lan nhanh ở mọi nơi trong đó Việt Nam, ác cả về hành vi lẫn tinh thần. Theo anh, chuyện gì đang xảy ra với nhân loại vậy?

Trong con người có cả thiện căn lẫn ác căn. Cái ác bẩm sinh ở con người, hay ít nhất là ở một số người nhất định, là điều bận tâm của nhiều nhà tư tưởng và nghệ sĩ lớn. Hãy đọc “A clockwork orange” của Anthony Burgess và bộ phim cùng tên của Stanley Kubrick. Hay “Natural born killers” của Oliver Stone. Hay “Funny games” của Michael Haneke. Hay “Dogville” của Lars von Trier. Lý giải như thế nào về động cơ làm việc ác của các nhân vật trong những bộ phim đó, trừ một cách lý giải duy nhất: làm việc ác, đối với những người đó, là một điều tự nhiên? Con người, hơn mọi loài khác, được trang bị năng lực to lớn để làm điều thiện tột đỉnh cũng như làm điều ác tột đỉnh. Vấn đề là bạn sử dụng năng lực đó như một đứa trẻ, chỉ để thỏa mãn chính mình, bất chấp tất cả, hay như một người lớn có nhận thức về bản thân và ý thức trách nhiệm.

Theo anh điều gì đang hủy diệt nhân loại? Đưa họ đến diệt vong? Phải chăng có mối tương quan giữa kẻ hủy diệt môi sinh thì cũng nhận lấy những hủy hoại tương ứng? Nhân-quả? 

“Việc của hắn [con người] là cố hết sức mình để tiến hóa, dù hắn gần như cầm chắc là sẽ chết trước khi tiến hóa đủ xa như hắn muốn hoặc như tiềm năng của hắn.” Tôi đã viết như vậy trong cuốn tiểu thuyết “Life Navigator 25: người tình của cả thế gian”. Mặt khác, trong cuốn tiểu thuyết “Nỗi buồn kháng cự” của nhà văn người Hungari kiệt xuất Laszlo Krasznahorkai mà tôi ngưỡng mộ, một nhân vật của ông có nói, đại ý, rằng con người là một thử nghiệm thất bại của Tạo hóa. Con người, để tạo ra được một tương lai có định hình, có trật tự, đúng theo mô hình mà họ mong muốn, một tòa lâu đài bằng pha lê, đang tạo ra, cùng với cái tương lai ấy, quá nhiều hỗn độn, quá nhiều entropy, và cái tòa lâu đài pha lê đó càng đồ sộ, càng nguy nga, càng lấp lánh, thì cái giá phải trả càng lớn. Và, xét toàn cục thế giới hiện đại, tôi không tin rằng con người sẽ có thể tự cứu mình. Hiển nhiên, có những con người đang thực sự chiến đấu để cứu loài người, nhưng đáng tiếc, họ quá ít. Lực kháng cự của họ, kể cả khi họ hợp lại với nhau, là quá nhỏ bé.

Nhân tính đã và đang rời khỏi những giá trị mỹ cảm và thậm chí trở thành từ tiêu cực trong nghệ thuật, anh có nghĩ vậy?

Tiêu chí cao nhất để phân định nghệ thuật đích thực và nghệ thuật thương mại chính là hàm lượng nhân tính bên trong nó. Ít nhất là, một tác phẩm nghệ thuật đích thực thì sẽ khiến con người không thể không suy nghĩ, tự chất vấn những niềm tin của mình từ trước tới nay, và không nhiều thì ít “trở thành một con người khác”, với một sự đổi mới trong tư duy theo hướng tích cực. Đó là điểm cơ bản của nhân tính, cái nhân tính mà theo quy ước chúng ta hiểu là “thứ khiến con người cao hơn mọi loài”.



Anh muốn những đứa con của mình lớn lên như thế nào? Anh dạy các con mình điều gì trong bối cảnh xã hội hiện nay? 

Tôi không có con, nhưng nếu có, tôi sẽ dạy chúng lớn lên không phải thành những người hiểu rõ vị trí của bản thân mình và giống loài mình trong vũ trụ, những người biết nhìn mọi cá thể thuộc mọi loài khác giống như nhìn một cá thể đồng loại mình. Những người không coi rẻ sinh mạng của bất cứ loài nào khác vì lý do đơn giản rằng nó không thuộc loài người. Với tôi, đó là chỗ cao nhất mà con người tương lai phải đạt tới. Đức khiêm nhường ngày càng là một phẩm chất hiếm khi được những người làm cha mẹ truyền lại cho thế hệ trẻ. Bằng sự chiều chuộng quá đáng, khiến đứa trẻ tự cho mình là trung tâm vũ trụ, và bằng sự đòi hỏi quá đáng, khiến đứa trẻ tin rằng nó chỉ có thể được thừa nhận nếu nó leo lên được vị trí trung tâm vũ trụ, các ông bố bà mẹ của chúng ta đang và đã giết chết hạt mầm của sự khiêm nhường ở con người tương lai kia. Họ không biết rằng, so với vũ trụ, mọi sự tự đại của con người bất quá chỉ như của con ếch ráng ễnh bụng ra cho to bằng con bò mà thôi.

Những điểm tựa tinh thần của người Việt đang dần đổ vỡ hoặc chỉ đơn thuần là hình thức u mê, theo anh, người trí thức có thể làm gì để cứu vãn? 

Người trí thức, hay nói chung người có năng lực tự nhận thức, chỉ có thể cứu vãn một phần nhỏ những gì anh ta muốn cứu mà thôi. Không phải vì vậy mà anh ta không cứu những gì cứu được. Không phải vì bạn không thể cứu tất cả mèo con bị vứt bỏ trên khắp thế giới mà bạn không cứu một con mèo con bị vứt bỏ đang ở trước mắt bạn. Không phải vì bạn biết người thân của bạn bị ung thư chỉ còn sống hai tháng nữa mà bạn ngưng cho người đó ăn uống ngay từ bây giờ. Cứu từng cá thể, cứu từng khoảnh khắc thoát khỏi sự tiêu vong và sự hư vô, làm cho từng cá thể, từng khoảnh khắc đều có nghĩa, đó là việc anh ta có thể làm.

Ngoài viết, anh còn thú vui nào khác? 

Tôi mê âm nhạc, điện ảnh. Tôi yêu thiên nhiên. Tôi thích xem võ thuật dù bản thân tôi không biết võ thuật. Nói chung, tôi tìm và thưởng thức cái đẹp trong mọi dạng thức của nó. Chẳng hạn, gần đây, tôi xem waacking và bone breaking và biết được rằng đó là những cái đẹp.

Tại sao anh lại ám ảnh về những vũ nữ flamenco? 

Tôi không bị ám ảnh về những vũ nữ flamenco, mà tôi say mê flamenco. Flamenco, cái chất duende đẹp một cách riết róng và quỷ dị của nó, là một thứ mà tôi cảm thấy có ở bên trong mình. Tôi dám nói rằng hình như kiếp trước tôi là người Tây Ban Nha miền nam, rất có thể là một ca sĩ (cantaor) hay một vũ công (bailaor) hát hay múa flamenco trong những tablao (quán bar flamenco) vùng Andalusia. Flamenco: nghệ sĩ hát/đàn/múa như thể họ chết đi để rồi phục sinh sau mỗi lần hát/đàn/múa. Đó là một trong phẩm chất làm nên những tác phẩm lớn: mỗi lần anh viết là một lần anh tự hủy, chết rồi phục sinh.

Phụ nữ thế nào là lý tưởng với anh?

Nàng đẹp, thông minh, tinh tế, mạnh mẽ, “đầy nhục cảm”, dịu dàng, vị tha. Thế là quá nhiều, nhưng ta đang nói đến một người “lý tưởng” mà. Không phải nàng không có trên đời. Nàng có, dẫu hiếm. Xác suất rất cao là cả đời bạn không gặp nàng. Nhưng điều quan trọng là bạn tin, hoặc biết, rằng nàng có thật. Một điều kỳ diệu, có thể nói vậy. Nhưng một trong những lý do khiến dù sao đi nữa tôi vẫn tin ở loài người là bởi lâu lâu họ cũng có khả năng tạo ra điều kỳ diệu. Tin/biết điều kỳ diệu, ta sống bình tâm hơn. Và bởi vậy ta biết ơn nàng, người phụ nữ lý tưởng ấy bởi nàng có mặt trên đời, và cầu chúc nàng hạnh phúc và bình an. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn thế là ta cầu chúc hạnh phúc và bình an cho cả những người phụ nữ chỉ gần với chỗ lý tưởng hoặc xa với chỗ lý tưởng, những người chiếm số đông nữ giới. Và yêu họ chẳng khác gì họ là những phụ nữ lý tưởng, bởi vì chính họ, những phụ nữ “bất toàn” đó, mới là phần cơ bản của thực tại. Con người cần như vậy: luôn mong nhớ cái toàn hảo, và luôn biết hòa hợp với cái bất toàn.

Nàng thơ của anh là ai?

Anastasya Vertinskaya, Hara Setsuko, Thanh Nga.

Theo anh, bản lĩnh lớn nhất của đàn ông là gì? 

Tôi không biết điều tôi nói sau đây có phải là bản lĩnh lớn nhất của đàn ông hay không, nhưng tôi đánh giá cao người đàn ông có thể đi, một cách tự nhiên, bình tâm, lâu dài, không hy vọng, bên một phụ nữ mà anh yêu say đắm nhưng cô ấy coi anh là bạn. Nếu anh sẵn sàng làm tất cả những gì có thể làm khi cô ấy cần, không mong được đền đáp. Đó là một trong những phương diện của khả năng vượt bản tính người, bởi hành động vị lợi là một bản tính tự nhiên của con người.
 
Anh có tin vào những thứ như tâm linh, số phận, tôn giáo... hay những điều huyền bí vượt quá tầm nhận biết của anh? Anh có tin con người thay đổi được số phận không? 

Những gì có thật nhất là những gì ta không thấy được - ít nhất là không thể thấy bằng mắt thường. Vũ trụ sinh ra ta có vô số thứ ngoài khả năng nhận biết của ta. Đừng biến lý tính và tư duy khoa học thành thứ cầm tù anh. Mở rộng tâm trí -không phủ nhận những gì ta chưa biết, coi chúng là không hiện hữu -, đó là cách duy nhất để ta có thể dùng lý tính và tư duy khoa học làm chìa khóa dẫn ta, từng tí một, dấn vào những cõi chưa biết, mà người ta gọi là “siêu hình”. Anh cần phải lớn hơn công cụ của anh.

Nếu ngày mai anh chết, hôm nay anh sẽ làm gì? 

Nếu tôi còn một tác phẩm sắp hoàn thành, tôi sẽ cố hoàn thành nó. Còn nếu biết dù cố đến mấy vẫn sẽ không xong được những tác phẩm dở dang, tôi sẽ dành ngày cuối của mình bên người thân yêu, con chó thân yêu, những cái cây thân yêu. Nghe những bản nhạc mà tôi từng gọi là “những bản nhạc để nghe lần cuối trước khi chết”. Nghe tiếng mưa, nếu có mưa. Phát hiện và ngắm những bông hoa mới nhú. Thật dễ chịu, có lẽ thật hạnh phúc nếu ta có thể biết ngày mai ta chết song hôm nay ta vẫn còn đủ sức để ít nhất có thể làm những việc đó. Ngày cuối ấy hẳn là một ngày mà ta sống từng giây một với sự thanh thản.

- Tôi viết là để tự tiến hóa. Tôi viết để tự định nghĩa mình. Tôi viết là để có tiếng nói của riêng tôi về cái đẹp và nỗi đau - của những thực thể, hữu sinh hay vô sinh, không tự nói hoặc không có cơ hội nói về cái đẹp và nỗi đau của mình.

Nguyễn Hậu thực hiện