Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Nhà Huế, trong Thành Nội (trích tiểu thuyết "Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian")

Từ sân bay Phú Bài vào thành phố, tôi khấp khởi trong lòng, biết sẽ gặp nàng. Tôi mừng vì có thể mình đã đến đúng lúc. Tôi biết nàng đang ở Huế với ai. Tôi biết những gì họ định làm, sắp làm, chắc chắn sẽ làm nếu không có tôi. Nếu tôi không xuất hiện kịp thời. Liệu sự xuất hiện của tôi có làm thay đổi gì không, tôi không chắc. Thậm chí dù sự xuất hiện của tôi chẳng làm thay đổi một cái gì thì tôi cũng không thể không xuất hiện. Tôi cần chứng kiến, vậy là đủ...
Nàng ở bên một tay nhiếp ảnh người Nhật. Người này, theo tôi biết, điên không thua nàng. Và trong số ít những thứ có thể làm anh ta bớt điên có nhạc Trịnh Công Sơn. Và nhạc Chopin. Và Leos Janácek. Zoltan Kodaly. Arvo Pärt. Krzysztof Penderecki. Toru Takemitsu, dĩ nhiên. Theo nàng nói, tuy có khi nàng phát âm không chuẩn những tên đó. Và một hai tên khác nữa nàng không nhớ chính xác và tôi không thể luận ra dựa theo cách nàng mô tả tác phẩm của họ. Rất có thể tôi không biết họ. Nhưng khi nào điên thì anh ta điên. Điên vô độ, nàng nói. Và tôi hiểu, điên không vô độ là một khiếm khuyết như thế nào đối với họ.
Tôi tự nhủ hãy để cho niềm vui sắp được gặp nàng chiếm lĩnh tâm hồn mình. Tôi kiểm soát mình sao cho điều đó diễn ra. Và càng vào đến trung tâm Huế tôi càng thấy mình bình tâm hơn. Ít nhất là tôi tưởng tượng như vậy. Tôi cố tự thuyết phục rằng không phải chỉ là tôi đang tưởng tượng như vậy. Bầu trời và những vòm cây của Huế vào một ngày nhiều nắng cuối hè đầu thu khiến cho việc ôm giữ những ý nghĩ và tâm trạng u ám ở trong mình trở nên khó hơn. Vừa mới dứt mưa. Một vẻ tươi mới toát ra ngay cả từ mỗi viên gạch lát vỉa hè, giống như một chiếc xe mới toanh vừa được rửa bởi người thợ rửa xe tận tâm và lành nghề nhất thế giới. Như thể mọi vật quanh tôi vừa mới được làm ra hoặc được chế tạo lại một cách sao cho các đường viền đều sắc nét như trong tranh khắc axít. Ít nhất thì đó là cảm giác của tôi. Tôi nôn nả muốn xe đi nhanh hơn, nhanh nữa, cho chóng đến lúc được thấy nàng, song mặt khác phần nào đó trong tôi lại mong cho phút đó chậm đến. Chỉ khi xe đã đi qua khỏi Phu Văn Lâu, tôi mới nghĩ ra là đáng lẽ nên gọi điện trước cho nàng. Nhưng việc đó không dễ. Đã từ lâu nàng không dùng di động, không vào mạng. Còn, gọi cho khách sạn ư? Gọi thông qua người khác ư? Lại phải chịu thêm sự bấp bênh đó ư? Sự bấp bênh khi có một kẻ khác ở bên nàng còn chưa đủ sao?
Cái giày vò tôi không phải là chuyện nàng có thể có quan hệ luyến ái hay quan hệ xác thịt với Ryutaro hay không. Nếu có chuyện đó, tôi sẽ bứt rứt không ít. Đương nhiên. Đau đớn, phải. Đương nhiên. Nó đúng là đau đớn. Nhưng đó không phải là thứ giày vò tâm trí tôi nhiều nhất, gặm nhấm bên trong tôi một cách tàn độc nhất. Tôi biết điều đó. Nàng biết điều đó. Bởi vậy mà lần này, ít nhất là riêng lần này nàng để tôi gặp Ryutaro. Tôi hiểu tình thế của mình. Tôi hiểu. Tôi không thể không hiểu. Tôi không thể hình dung mình sẽ sống tiếp ra sao nếu mình không đủ khả năng hiểu ngay cả một điều như thế. Chuyện tôi sẽ tiếp tục tồn tại như thế nào, sống tiếp ra sao tùy thuộc vào chuyện tôi sẽ vượt qua như thế nào ít phút sắp tới, khi trước mặt tôi là cả hai người đó, nàng và Ryutaro. Nàng và Ryutaro, đó là như một sự tổ hợp có khả năng đập nát tôi như đập nát quả trứng và việc tôi phải làm là đập vỡ bản thân điều đó, cái ý nghĩ đó, khả năng đó, nỗi ám ảnh đó - như đập vỡ quả trứng.


Một căn nhà cũ, hẳn không dưới năm hoặc sáu mươi năm tuổi, nằm trong khu vườn râm mát có bể cá ở một khu im vắng trong Thành Nội. Một hàng rào dâm bụt thấp ngăn cách vườn với con đường nhỏ rải lớp nhựa lâu năm lở lói, hầu như không có xe cộ lại qua trừ một đôi trai gái cưỡi xe máy - ít nhất là tại thời điểm chiếc taxi chở tôi từ khách sạn trên mạn Kim Long tới đây và thả tôi xuống. Ở nơi đây, như người ta thường nói, thời gian không chuyển động, hoặc hồ như không chuyển động, hoặc chuyển động theo cách đặc biệt nào đó khiến con người không thể tri giác được, khiến cho với con người nó hầu như đứng sững, một vũng thời gian tù đọng bất động bên cạnh những dòng thời gian lưu chuyển ở những nơi khác. Chẳng phải vô cớ mà nơi này được họ chọn làm vị trí triển khai dự đồ của họ, nàng và Ryutaro. Họ cần một vũng lặng như thế, chìm xuống tận đáy nó, sao cho lực nén đè lên những gì đang muốn bùng ra từ bên trong họ tăng bội đến cực điểm. Điều đó tôi biết. Ít nhất là dựa trên những gì tôi cho là mình hiểu về nàng. Nàng cần cái cảm giác phong kín, bị vùi sâu trong đất. Tôi hít sâu vào ngực bầu không khí đượm mùi cây cỏ, đậm mùi đất, mùi tường vôi cũ. Có mùi rêu, và cái có thể gọi là mùi của sự tịch lặng. Ngàn năm nữa sẽ trôi qua trước khi có một hòn sỏi bị dịch chuyển hay tự mình dịch chuyển ở đây, cảm giác tịch lặng đến như vậy. Có những người cảm thấy ngần ngại không muốn bước đi ở nơi như thế này, ngại bước chân mình sẽ làm kinh động một chút cái tịch lặng đó. Tôi là kẻ như thế. Nhưng tôi vẫn bước, nghe tiếng những mảng nhựa đường bong tróc cọ rào rạo dưới gót giày mình.
Tôi đứng bên hàng dậu dâm bụt cao ngang ngực, nhìn ao nước có hòn non bộ giữa khoảnh sân trước nhỏ, thoáng thấy cái lưng có màu giống như quả hồng của một con cá vàng, chợt nghe cái cảm giác lạ lẫm rằng con cá này thật ra là ảnh chiếu của một con cá khác mà tôi đã nằm mơ thấy một lúc nào đó hay thậm chí trong một giấc mơ tôi hãy còn chưa mơ. Nước trong ao đó, nước mà cá kia đang bơi, đó là một khối nước có từ nhiều trăm năm trước và thậm chí ở một thế giới khác và lúc này, ở đây, nó chỉ là chút tàn dư câm lặng thâm u của bản thân nó đã từng. Đó là một ảo giác, tôi biết, nhưng ngay lúc này nó mạnh hơn thực tại hoặc cái mà ý thức tôi bảo là thực tại. Tôi đứng đó hồi lâu (năm phút? mười phút? hơn thế?), lần khân, cảm thấy rằng cái quyết định giơ tay bấm chuông cửa nhà này, nó cũng xa tôi giống như một vệ tinh của sao Thiên vương xa các đầu ngón tay tôi.
Nhưng rốt cuộc ảo giác chấm dứt; tôi buộc nó chấm dứt. Tôi bước tới chỗ cánh cổng thấp (thấp đến độ đáng ngờ, chỉ ngang bụng tôi mà tôi thì không cao lắm), nhấn chuông.
Một lát sau cửa mở, một dáng người xuất hiện trong khung cửa, cách tôi chừng ba mét.
Ryutaro.
Là y, dĩ nhiên. Y không như tôi chờ đợi. Không như tôi hình dung. Không thực sự ưa nhìn. Không ưa nhìn. Không có nét hay vẻ gì nổi bật, đặc biệt. Có vẻ không toát lên thứ thần thái gì đặc biệt. Ít nhất đó là ấn tượng trong ba bốn giây đầu tiên tôi im lặng quan sát y, hết sức tập trung. Khoảng ba mươi lăm đến bốn mươi. Cũng có thể trẻ hơn hoặc già hơn. Không quá cao, không quá thấp. Không mập, không ốm, không lực lưỡng vâm váp, không dặt dẹo ẻo lả. Tóc không dài, không ngắn, không xoăn, không bù xù tổ quạ, không bóng nhẫy, không hói trụi, không húi cua. Vai không rộng quá, không xuôi quá. Mặt hơi dài, nhưng cằm vuông. Trán rộng, dô, mũi lớn, hàm chắc, miệng rộng vừa phải. Cằm lún phún râu, không ria. Mắt to, sâu, đen. Tôi quyết định nhìn lâu vào đó. Nếu có thể phát hiện ra gì đó ở sâu trong y thì không có cách nào hơn thông qua cặp mắt này.
Mặc sơ mi ngắn tay bằng lụa màu xanh cô ban cũ sờn, quần lửng màu vàng đất có vài vết ố đen, một bên túi quần phồng tướng, cứng ngắc, như con ếch muốn phưỡn bụng ra cho to bằng con bò, có trời biết đựng cái gì, chân mang dép lê (loại dép lê mà các chú Nhật hay Hàn hay Tàu ba lô đặc biệt thích mang), y đứng nơi cửa, nhìn tôi, không chào, không cười, không thân thiện, không ác cảm, không dè dặt, không tò mò, không châm chọc, không khinh khỉnh. Chỉ tỏ lộ vừa đủ, không thừa không thiếu, cái thực tế rằng y biết tôi là ai tuy chưa từng gặp tôi và biết tôi sẽ đến, rằng ở chừng mực nào đó hoặc theo nghĩa nào đó y đang đợi tôi đến.
Rốt cuộc, vẫn không rời chỗ của mình nơi cửa, y gật đầu với tôi. Và rồi, như một nhân vật trong tranh nhô ra khỏi bức tranh,  y bắt đầu chuyển động, đặt từng bước khoan thai xuống từng bậc của ba bậc tam cấp ngắn, bước xuống lối đi hẹp lát đá (kỳ thực là ngắn ngủn) nối cửa vào nhà và cổng, tiến về phía tôi. Tôi theo dõi những bước chân y, tư thế, trạng thái của toàn bộ thân thể y trong khi y bước. Tôi không định làm thế. Tự nó thu hút tôi. Sự nhẹ tênh của y, nó thu hút tôi. Y là một nhân vật mà hễ chân bước đến đâu là khoảnh đất hay vỉa hè hay sàn nhà hay nhựa đường dưới chân y đều biến thành thể khí, vừa đúng trong khoảnh khắc chân y tiếp xúc với nó, chỉ với riêng y, nó biến thành thể khí hầu có thể đồng nhất với thực tánh của thứ chất liệu làm nên thể xác y, rồi thì, liền sau đó, khi chân y đã rời đi, nó liền lập tức trở lại thể rắn như cũ, và đến lượt khoảnh đất hay vỉa hè hay sàn hay nhựa đường kế tiếp chuyển thành thể khí vào khoảnh khắc tiếp xúc với chân y, cứ vậy không ngừng.
Y mở cổng cho tôi.
Vào đi, amico.
Y nói bằng tiếng Việt, trừ chữ amico. Y mở rộng cổng, đoạn tránh sang bên nhường lối cho tôi. Khi tôi bước vào (cố tình không vội vàng), y không nhìn tôi mà hướng cái nhìn vào một phía khác. Nhưng không phải là y tránh mắt tôi hoặc cảm thấy khó chịu nếu nhìn tôi lâu hơn. Y không còn chú tâm đến tôi nữa, chỉ có vậy. Trong nháy mắt tôi đã trở nên quá nhỏ bé đến độ bằng như không còn hiện hữu bên cạnh cái gì đó mà tâm trí y vừa lại quay về; tôi giống như một mẩu gỗ mục mà sóng đánh dạt vào gần dưới chân y, chỉ đáng cho y nhìn trong vài giây; biển trước mặt vẫn là cái mà y cảm thấy bằng toàn bộ bản thể y rằng y phải hướng về.
Bước qua cổng, đến lượt mình tôi tránh sang bên, chờ y khóa cổng. Y làm việc đó một cách cẩn trọng vừa phải, không rề rà, không vội vàng. Một lần nữa, dù không chủ định, hoặc có thể có, một chút, tôi quan sát thật chăm chú từng cử động nhỏ nhặt của y. Và bỗng tôi nhận ra, với một cái gì gần như là cú choáng thoáng qua: y là chủ của nơi này. Không, nói thế không đúng. Chỗ này và y là một: y là nó, nó là y, nói vậy đúng hơn, dẫu không phải đúng nhất.
Tôi để y đi trước dẫn đường. Tại sao tôi làm vậy mặc dù rõ ràng trong thâm tâm tôi chỉ muốn một mình phăm phăm tiến tới, không bận tâm tới y? Y mở cửa nhà, vào trước, tránh sang một bên khung cửa, một lần nữa đợi tôi. Nó vừa giống cử chỉ của một chủ nhà chu đáo ân cần, để tâm đến khách của mình trong từng chi tiết nhỏ nhặt, vừa giống như phong thái của một tay chủ nhà khó chịu và cáu bẳn sẽ làm khi điều quan trọng nhất với y không phải là khách cảm thấy thế nào khi lần đầu tiên bước vào nhà y mà là làm sao cho cửa kia, sau khi được mở, phải đóng trở lại càng sớm càng tốt, và đồng thời cũng dường như có khả năng hàm chứa cả một sự trân trọng cao độ nào đó, tuồng như việc duy nhất mà y có mặt ở đây để làm là mở cửa cho tôi; bước qua cửa này, về thực chất, là đặc quyền thuộc về một mình tôi.
Sau khi y đã đóng cửa, tôi khẽ xoay người để đối diện y, nhìn thẳng vào mắt y. Đứng gần nhau thế này, tôi nhận thấy chúng tôi cao gần ngang nhau. Từ y bốc ra mùi hăng hắc tự nhiên của cơ thể, không phải mùi cáu ghét lưu cữu, không phải mùi quần áo lâu ngày không giặt, không lẫn mùi thuốc lá, mùi những cái răng sâu. Không mùi nước hoa hay lăn khử mùi. Mùi gây liên tưởng đến mùi một con gấu, một con hoẵng trong rừng, hoặc có thể một con gấu mang hồn hoẵng, một con hoẵng mang hồn gấu.
Tôi nhìn thẳng vào mắt y.
Y nhìn sâu vào mắt tôi, và bỗng tôi nhận ra rằng cái nhìn của y hướng vào tôi có thể được mô tả bằng từ này: dịu dàng.
Y nói, giọng ôn tồn:
Chúng tôi chờ anh, amico.
Một lần nữa, từ ấy giống như một miếng cao dán thẳng vào tim tôi, dính, bí, dễ chịu (phải, dễ chịu, điều tôi không chờ đợi): amico.
Một câu trả lời bật lên vòm miệng tôi, như con chim bay lên đập mình vào chấn song lồng đòi thoát ra ngoài, mặc dù tôi hãy còn chưa có ý niệm gì về hình hài cụ thể của nó. Trên thực tế tôi im lặng, hoặc về thực chất tôi im lặng. Gã cũng im, lắng nghe câu trả lời và/hoặc sự im lặng của tôi. Chúng tôi đứng vậy, nhìn nhau, im lặng, lắng nghe nhau, trong cảnh tranh tối tranh sáng của căn nhà. Cửa lớn đã đóng và hình như mọi cửa sổ đều đóng trừ một cánh ở đâu đó không đóng song đang kéo kín rèm. Mất khoảng mươi giây – ý tôi là mươi giây sau khi rốt cuộc tôi cũng rời mắt khỏi y - tôi mới bắt đầu phân biệt được hình dáng các vật thể và các khoảng không gian trống ở quanh mình. Một phòng khách bình thường của một căn nhà ở bình thường. Một bộ xa lông cũ - xét theo kiểu dáng chứ không phải theo tình trạng hao mòn của chất liệu, bởi hiện thời trong mắt tôi toàn bộ bề mặt nó là một màu có lẽ từa tựa như tro pha loãng, sẫm, đục, nhờ nhợ, như trong một bức bưu ảnh cũ bị lấm bụi xi măng. Một tủ thờ, lớn, không quá lớn. Một tivi, không quá nhỏ, không quá lớn, đặt trên một cái gì thâm thấp, hẳn là loại kệ thấp chia thành nhiều ngăn nơi người ta có thể đặt đầu video, bộ loa và một số đĩa nhạc bên cạnh nhiều thứ khác, song tôi không thấy gì khác ngoài hình thù và đường nét chung của cái kệ và chiếc tivi. Một lọ hoa kê trên cái đôn nhỏ đặt bên cửa sổ - tôi thấy được hình dáng mờ mờ của mấy nhành hoa song không thể đoán được hoa gì, không thể biết hoa đang nở hay sắp tàn, dù thế nào thì cũng không nghe thấy mùi hoa. Trên cái bàn nhỏ kê sát vào một góc, một cái gì giống như máy quay đĩa kiểu xưa, có lẽ đúng vậy, cùng một khối dài dài, có góc cạnh, đen đen, có lẽ là một dãy đĩa hát xưa, 45 vòng, 33 vòng rưỡi dựng đứng dọc tường. Trên hai trong bốn bức tường có hình thù của những kệ sách, lòng các kệ sách đó giống như những hố trũng có cạnh vuông vức, sâu, dài, tối thẫm, tôi cố căng mắt nhìn song không thể phân định được các kệ này có chất kín sách không, đó đại để là những loại sách gì, có lẫn với báo, tạp chí, các loại hồ sơ ấn phẩm khác không. Có mùi âm ẩm lưu cữu của một căn nhà Huế trong những tháng mưa dầm, gợi nhớ mùi những thanh ván gỗ cầu tàu dầm nước lâu năm.
Tôi muốn nói gì đó với Ryutaro, miệng tôi hé mở, nhưng tôi liền nhận thấy câu hỏi chưa sẵn sàng để thành hình. Tuy nhiên y đọc được nó. Y nhún vai, khoát rộng tay, một cử chỉ gần như bao trọn căn phòng, và mơ hồ, như bộc lộ ý muốn bao trọn mọi ý nghĩa mà căn phòng có thể ẩn giấu và đồng thời thừa nhận rằng việc đó không thể.
Cuối cùng tôi cũng hỏi được rành rọt:
Cô ấy đâu?
Mắt không rời tôi, y khẽ đưa tay, rất khẽ, về phía một trong hai cái ghế đơn của bộ xa lông:
Ngồi đi, amico.
Một câu nói dồn lên miệng tôi nhưng tôi ghìm nó lại, nuốt xuống. Tôi có thể cảm thấy nọc độc của nó loang ra trong người tôi như chất dịch đen sì của một con mực. Tôi ngồi xuống cái ghế y chỉ, thoáng có cảm giác mình đang rơi trong tư thế ngồi xuống một cái giếng.
Từ dưới đáy cái giếng ấy tôi ngẩng lên nhìn y, nhẫn nhục và ngoan ngoãn “như con bê nhìn lên kẻ sắp chọc tiết mình”.
Y im lặng nhìn tôi khoảng vài giây.
Anh sẽ phải đợi cô ấy một chút, y nói.
Tôi đợi cô ấy hàng mấy tháng rồi, tôi nói.
Cô ấy đã đợi anh hàng trăm năm, y nói.
Sau khi y nói xong câu đó, có một khoảng lặng ngắn trong đó tôi có cảm giác như cái kẻ vừa nghe câu đó không phải là tôi mà là một người khác còn tôi đang ở đâu đấy xa chỗ này, không có can hệ gì tới chỗ này. Cảm giác đó qua nhanh và tôi mở miệng ra, nhưng chưa kịp nói gì – chưa kịp nghĩ ra mình muốn nói gì – thì y đã giơ tay lên ra hiệu bảo tôi im lặng, và trong động tác đó của y, thật quái quỷ, có cái gì đó khiến tôi thực sự phải im lặng.
Tôi ngồi, nhìn y, đợi y nói, rồi chợt nhận ra rằng y bảo tôi im lặng không phải là để y nói. Y đăm đăm nhìn tôi một hồi lâu, như để chờ cho sự im lặng của y ngấm sang tôi đủ độ, rồi thong thả đưa mắt về một chỗ ở đầu bên kia phòng. Hẳn là có cánh cửa ở đó. Tôi không thực sự thấy nó, phía đó chỉ là một khối màu tro gần như là chất lỏng đối với tôi. Tôi nhìn sang Ryutaro. Y đang nhìn cái vũng đen nhờ ấy với vẻ giống như thể nó đang nói với y bằng một giọng chỉ mình y nghe được và một ngôn ngữ mình y hiểu. Hoặc có thể chỉ khi nào y đã nhìn vào chỗ đó đủ lâu hoặc đã dồn vào đó một cường độ tập trung đủ lớn, chỉ khi đó, ở nơi vốn dĩ là bức tường, một cánh cửa sẽ chầm chậm hiện hình.
Rốt cuộc y nói, không nhìn tôi:
Đừng chờ đợi nữa, amico.
(Còn tiếp)


Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2013

Người trở về (hay Màu của cõi khác)

(một truyện cũ)

Đã hai tháng liền chàng xuất hiện đều đặn vào nửa đêm ngay ở nhà Thủy tạ trong Lăng Tự Đức. Còn đêm nay, được chàng báo trước, nàng ra Bờ Hồ, quãng đối diện Bưu điện Thành phố để gặp chàng. 
Ngày trước, khi chàng còn sống, nàng thường vờ không hiểu chàng nói gì. Nàng rất thích thấy chàng giận dỗi như một đứa trẻ, dù biết rõ là chàng cũng vờ đấy thôi. Nàng chỉ thoáng rùng mình - nhưng tự trấn an rằng chàng lại đùa - khi chàng nói một cách tự nhiên và nghiêm chỉnh rằng trong chuyến công tác cuối cùng này chàng sẽ chết. 
Dường như có một quầng sáng lạ lùng trên Hồ; không hẳn do một cái gì phát quang, mà bởi chính sự trong vắt đến tận cùng của mỗi phân tử không khí, và do đó toàn thể bầu không khí phía trên Hồ trông như một khối pha lê, mặt cắt sắc lẹm khổng lồ của một núi băng, một tảng nước khổng lồ vô hình trên không trung mà ta chỉ có thể cảm thấy hơn là nhìn thấy bởi những tầng mây từ phía Tây đùn tới bỗng như nhân đôi và trở nên sắc nét dến rợn mình như trong ánh chớp giữa cơn giông. 
- Đó là chàng đang đến, - nàng nghĩ, và gan ruột nàng như thể rúm lại. 

Tranh của René Magritte
Bất giác nàng nhìn lên mái tòa Bưu điện thành phố. Có một thứ ánh sáng kỳ dị bắt đầu nảy ra trên những diềm mái, gần như ánh sáng những hòn than cháy trong lò sưởi làm hồng những viên ngói, chẳng mấy chốc chuyển sang xanh tím như lửa cồn, rồi nửa như ngập ngừng, nửa như rình rập khoảnh khắc bất ngờ nhất liền chuyển sang màu tím ngát, tím ngăn ngắt, như rừng sim, và - càng đột ngột hơn - thoắt biến thành đỏ tía, xanh chàm, huyết dụ, đỏ như trái hồng, rượu boócđô, màu đất son, màu phù sa sông Hồng, màu cánh gián, màu xanh rau khúc, màu vàng rơm, màu gỉ đồng, màu vàng chanh, màu vàng nghệ, màu đỏ bầm tiết canh, ánh sáng bắt đầu say, tự cuốn mình vào cơn lốc những màu sắc vụt tắt vụt hiện, hổn hển, trối chết, cật lực, cuồng liệt, dữ dội. Đó là chàng trở về, đó là chàng trở về - đó là chàng trở về!!! Nàng như sắp điên lên, nàng không biết mình đang là gì, đang có hay không, đang ở đâu hay không ở đâu - nàng thấy mình là màu sắc; nàng đỏ, nàng xanh, nàng chàm, nàng xanh lơ, nàng tím, nàng biêng biếc, nàng trắng sữa, nàng xám ngóet, nàng màu da bò, màu đồng thau, nàng phớt hồng, nàng là con sóng thông minh, tinh quái, tỉnh bơ, vĩ đại, vô tận, luồn qua và xâu chuỗi những màu đó, nâng những màu lên, hạ những màu xuống, làm chúng đê mê, khoái tỉ, làm chúng khiếp hãi, làm chúng phân thân, đổi xác cho nhau, làm chúng bùng lên và vỡ ra thêm vô số những màu, làm chúng chao đảo, làm chúng say khướt, làm chúng mệt lử. Và khi nàng cũng mệt, ánh sáng vụt biến.

Bóng tối ụp xuống nàng, kín bưng, không lối thoát, khủng khiếp. 
- Anh ơi, đừng làm em sợ, - nàng nói. 

Bỗng tim nàng nhói đau: vậy nàng không muốn kẻ từ thế giới khác trở về xuất hiện dưới bất cứ dạng thức nào, với bất cứ màu nào tùy thích? Nàng muốn thấy người trở về xuất hiện với màu đen của bóng tối và màu trắng muôn thuở của hồn ma, nghĩa là muốn cả tinh thần của hắn cũng chết?

Thứ Năm, 5 tháng 12, 2013

Giấc mơ thang

(một truyện cũ)

(Có lần) tôi (mơ) thấy một phụ nữ lớn tuổi đi lên cầu thang; mái tóc bạc trắng. Chợt tôi có cảm giác đó chính là mẹ tôi; mặc dù khi bà ngoảnh lại nhìn và cười với tôi, đấy không phải là khuôn mặt mẹ tôi. Nụ cười ấy khiến dâng lên trong tôi một nỗi trìu mến da diết. Nó lôi cuốn tôi, không phải như sợi dây của tình mẫu tử đơn thuần, mà, như tiếng chim hót lẻ loi trên cánh đồng u tĩnh, khơi dậy trong tôi cái gì đó mà tôi đã quên mất. 

Tôi nhìn theo Mẹ tôi. 

Khi bà ngoảnh lại lần thứ hai, đó là gương mặt của một phụ nữ xấp xỉ năm mươi, đóng khung trong mái tóc đen chớm bạc. Một cái gì xưa quen và mới mẻ đã làm biến mất những vết chân chim nơi đuôi mắt bà, và gờ má trơn láng của bà bắt ánh hồng như rạng đông. 

Và bỗng một nỗi sung sướng lạ lùng tràn ngập tâm hồn tôi; bởi đôi má láng mịn như cánh hồng kia, dường như tôi đã thấy một lúc nào đó trong dòng thời gian trước khoảnh khắc này, ở nơi nào đó trên thế giới này mà ký ức tôi chưa nhớ ra được; cũng đôi gò má trơn láng ấy, đóng khung trong mái tóc đen chớm bạc, đó là người phụ nữ tôi yêu, đó là người phụ nữ đã hay sẽ là mẹ tôi. Và như vậy tôi không còn ngạc nhiên khi một khoảnh khắc sau, người phụ nữ lên tới đầu thang và ngoái lại nhìn tôi lần nữa, cái tôi nhìn thấy là gương mặt thiếu nữ mười tám tuổi với cái mũi như bằng sứ và bím tóc đuôi sam đen như mực tàu buông trước ngực; tôi biết đó là người con gái chưa biết - chưa đến lúc biết - sẽ có ngày sinh ra tôi, người chưa biết mình sẽ đi cùng tôi suốt phần đời còn lại và sẽ sinh ra những đứa con tôi.  

Và tôi không ngạc nhiên nữa, không chờ đợi những cảm xúc dâng lên từ đáy lòng nữa khi người con gái đột nhiên biến mất, hình như đúng lúc nàng rời chân khỏi bậc thang trên cùng. Nàng không còn ở đó, nàng như đã bốc hơi, như người ta nói, hoặc nàng đã trở lại thời gian trước khi nàng sinh ra. Nhưng tôi biết nàng không ở đâu khác ngoài nơi đó, nơi nàng đang ở và hiện hữu, trên kia, hướng nhìn lên của tôi, và tôi cũng ở đó, vốn dĩ ở đó. Và như thế, không chần chừ, tôi vọt lên cầu thang, xoạc cẳng hết cỡ, thấy mình bay như gió, những bậc thang lướt bên dưới tôi mà không bén gót tôi. Tôi biết mình đi đâu và về đâu; tôi chưa bao giờ bình tâm và hoan hỉ như vậy. 

Thứ Năm, 14 tháng 11, 2013

Bài hát

(một truyện cũ)

Ngưỡng mộ Ea Sola


Chắc chắn anh sẽ trở về Việt Nam. Ai biết điều đó hơn anh? Ai biết rõ hơn rằng giờ đây không sức mạnh nào sẽ ngăn được anh? 

Nàng chỉ im lặng, đợi anh nói. 

Vậy, anh sẽ trở về quê hương. Khi đã quyết định như vậy thì tim anh không đau nữa, nhưng ruột anh lại cồn cào vì nỗi khao khát ra đi, càng sớm càng tốt, ngay bây giờ. Anh muốn thấy ngay lập tức quê hương anh, mà từ cha sinh mẹ đẻ anh chưa hề đặt chân lên, chưa hề đón nắng, hít thở bầu không khí, muốn gặp những bài hát ru đó, những điệu hò đó trên chính mảnh đất đã hoài thai chúng, hoài thai tâm hồn anh.  

“Amrita biết không, những bài hát đó làm máu tôi cộng thông với những mạch ngầm mạnh mẽ và trinh nguyên nhất của Tổ quốc mình. Chúng tạo hình hài cho những nỗi nhớ nhung của tôi...

Anh là họa sĩ, nhà thiết kế tàu vũ trụ lừng danh, mà tham vọng không bao giờ thỏa là thâu tóm toàn thể Nhân loại làm cảm hứng vô biên cho anh. Chưa có nghệ sĩ Việt Nam nào dọc ngang cả Trái đất lẫn những biên khu ngoài Trái Đất và từng hòa hội chính mình với nhiều nền văn minh khác nhau nhất đến thế; chưa có nhà thiết kế nào tạo dáng - và sự sống - cho tàu vũ trụ một cách đầy nghệ sĩ, đầy tính người đến thế! Như họa sĩ vẽ đi vẽ lại hàng ngàn chân dung vừa giống nhau vừa không bao giờ lặp lại của người vợ yêu, nỗi đam mê duy nhất của anh là dùng ngôn ngữ những con tàu để tái hiện một phần nhỏ nhoi muôn nghìn triệu bội thức của văn hóa nhân loại, tức là văn hóa của anh, tình yêu nồng nàn đối với toàn thể Vũ trụ, nỗi khâm phục bất tận trước vẻ đẹp và sự giản dị của nó. Và ta được thấy trong loạt tác phẩm gần đây nhất của anh những cuộc phiêu lưu táo bạo và nên thơ, những con tàu không còn là thế giới khép kín, trong đó con người giam mình, mà bung ra thành những hệ mở có cá tính, có khả năng sáng tạo và sinh thành, những con tàu chỉ một phần trăm hữu hình hữu thể và có thể tạm gọi là bất biến còn chín mươi chín phần trăm cấu tạo bằng siêu vật chất vốn vô hình vô thể nhưng sẵn sàng hóa thân thành bất cứ biểu hiện nào của Vũ trụ theo mệnh lệnh từ tiềm thức con người truyền qua bộ xử lý trung ương. Không hề có những môđen tàu vũ trụ khác nhau cùng ký tên anh, mà chỉ có một kiểu tàu duy nhất với sáu mươi nghìn dạng hóa thân mang những tên khác nhau, tạo những không khí khác nhau và bằng những cách khác nhau đập vào tâm hồn và ký ức bạn. Này là "Matsya-Cá Mập" với muôn ngàn con cá giao nhau vừa tích nhập vào nhau vừa bứt phá khỏi nhau, những con cá mập chỉ có đường viền bằng hằng hà sa số sắc màu và cấp độ ánh sáng, cái vũ điệu kỳ ảo, buồn buồn và uy nghi trong bóng tối vũ trụ ở đó không có chủ thể nào múa ngoài bản thân Sự Sống không ngừng tiến hóa, tự hoại và tự sinh. Còn đây "Đôi mắt - Garcia Lorca": vô số làn sóng cuộn tràn trề với những dãy bờm bọt trắng không ngừng thăng hoa thành những từng mây và cơ man nào những bức tường mưa xiên theo đủ mọi chiều lấp lánh, thành sao chổi kéo tua và biến hóa khôn lường màu tím, thành lá và hoa luôn lay động và đầy nhục cảm như lúc nào cũng sẵn sàng nở ra thành tiếng chuông, tiếng huýt sáo, lục lạc rung và những cánh chim, "Âm nhạc" với trăm lẻ một bậc lũy thừa của chín nghìn chín trăm chín mươi chín tổ hợp hình họa nơi mà thư pháp ả rập tích hợp và tương sinh một cách táo bạo và nồng nàn với thư pháp Trung Hoa, với Devanagari và chữ hình góc Lưỡng Hà, với tất cả sự cứng rắn, nỗi mềm mại, sự đường bệ, nét thanh thoát, cái giản dị cùng cực, hay nỗi rối rắm và bộn bề hoa lá mà chúng có hoặc lẽ ra phải có và có thể còn sẽ có, "Euclide" - kim tự tháp khổng lồ mang trong lòng nó và/hoặc chung quanh nó 10150 mặt phẳng và 5100 mặt cong giao nhau, cắt nhau, lồng nhau, đồng tâm và ngược dấu nhau, mỗi mặt phẳng và cong đó đều ngời lên một bức tranh lạ lùng gợi nhớ Salvador Dali, Marc Chagall, M.C. Escher, Joan Miro, gợi nhớ tranh hang động Chauvet người thái cổ, phù thế họa Nhật Bản sặc sỡ và u huyền, thánh tượng Nga sừng sững, tiểu họa ấn duyên dáng, tranh lụa Tống thanh tĩnh, tranh Ba-rốc ngồn ngộn và kỳ khu, những bức tranh con người từng nằm mơ thấy mà chưa vẽ được bao giờ... 

Anh những tưởng tất cả thế gian đã nằm trong sáng tạo của anh; anh những tưởng tiếng hát của lòng anh đã bao hàm trọn bản đại tấu khúc vô cùng của Vũ trụ, cũng như mỗi giọt sương đều mang Mặt trời bên trong nó. Vốn luôn luôn ý thức mãnh liệt mình là đứa con của toàn thể thế giới, anh không mấy bận tâm về cội rễ của mình, vì đó là những gì đã qua. Anh biết có một đất nước xa xôi tên là Việt Nam, quê hương của tổ tiên anh, do đó cũng là Tổ quốc anh. Anh chăm chú tìm hiểu tất cả những gì liên quan đến xứ sở và dân tộc đó: lịch sử, địa lý, phong tục, tập quán, truyền thống nhân bản và nền tảng tâm linh, song với niềm hào hứng không gì đặc biệt so với nỗi háo hức tìm hiểu những đất nước gần gũi và xa xôi khác mà ít nhất một lần anh gọi là quê hương anh không phân biệt vị thứ; và khi nói về Việt Nam thì giọng anh cất cao một nửa cung, vừa đủ thông báo và xác nhận sự hiện hữu của cái tên đó trong dòng máu anh, chứ không hẳn ở đầu nguồn cảm hứng của anh. 

Một cái gì đó chỉ xảy ra từ khi mẹ anh khuất núi. Chính nàng phát hiện điều đó. Nàng nhận thấy, như hoàng hôn màu máu đổ xuống đồi cát một phút trước còn sáng lóa như Mặt trời giữa trưa hè, một nỗi ưu tư nhức nhối, sống sít và âm thầm vùi lấp và hầu như dập tắt ánh sáng trong giọng nói tiếng cười của anh. Anh chăm chú lắng nghe gì đó sâu trong lòng, xa xăm và mãnh liệt như dư âm tiếng rì rầm trong ruột Trái đất, bí ẩn và da diết như mùi đất liền mà ta cảm thấy giữa lòng đại dương. Sự lắng nghe đó có gì máu thịt và sâu thẳm khiến nàng xúc động; như người mất trí nỗ lực một cách xé ruột hầu nhớ lại tên mình, nhớ lại tuổi thơ, hay người mù nhìn đau đáu vô vọng vào con tàu mang người thân yêu đã khuất ngoài khơi xa. Thế rồi ngày kia, nàng thấy lại nụ cười của anh, le lói và ngập ngừng như mặt trời vừa hé sau cơn mưa, nhưng không gì cưỡng nổi và báo hiệu một ngày mới. Nhưng, cũng như sương, trong mắt anh ngưng đọng những giọt nước mắt lớn. Anh mở lại cuốn băng những bài ru con đất Quảng mà mẹ hát trong đêm sinh nhật cuối cùng. Hôm đó anh bỏ hết công việc. Anh ngồi ngoài hiên, và từ ánh vàng ban mai, trưa dát bạc trắng lóa, màu đồng thau xế chiều đến sắt nung của hoàng hôn lần lượt gội lên anh, thấm vào da thịt anh, nối liền anh với Trời Đất. Khi bóng tối dâng đến ngọn cây phong và hương nhài đặc quánh dần giữa những vòm lá tối thẫm, nàng khẽ lại gần, đặt tay lên vai anh. 



The Exploding Head of Don Quichotte - 1957 - Salvador Dal

Từ đó, với nỗi thiết tha của đứa bé tìm hơi ấm mẹ, anh miệt mài tìm nghe những bài hát ru Việt Nam, rồi những câu hò, rồi những điệu Lý, những bài Quan họ, rồi những khúc ả đào, những bản đàn tài tử, những điệu chèo, những điệu Cải lương, những khúc Chầu văn, tất cả những gì anh chưa biết, tất cả những gì anh biết mà kỳ thực không hề biết. Và trong sự đắm mình của anh có gì đó khiến người ta kính trọng và lặng im. Không phải anh nghe âm nhạc đó; anh trở thành âm nhạc đó. Đúng hơn, anh tìm thấy lại âm nhạc đó - và cả một Vũ trụ - ở ngay trong mình. 

- Anh trở về Tổ quốc đi, - nàng nói, và lập tức nghe tim nhói lên.

 Anh trở về đi... Một khi anh nhận ra Người và Người đã gọi anh... Tôi sẽ chờ anh. 

 
*

 - Ừ, tôi sẽ trở về.

Anh ôn tồn và trầm ngâm như nói với chính mình, thật giống những khi anh hỏi nàng muốn nhìn lâu hơn một chút mẫu tượng mũi tàu mới nhất của anh không, kẻo anh lại hủy đi mất. 

- Này Hương Amrita, tôi sống như thế này từ bao lâu rồi? 

Ngập ngừng, nàng đăm chiêu nhìn anh. 

- Không quá lâu đâu, anh. 

Nàng hiểu anh sẽ nói về cái gì. Là nghệ sĩ múa tuyệt vời, giáo sư lịch sử nghệ thuật, đứa con đẹp đẽ và thuần khiết nhất của sông Hồng mang theo dòng chảy những con sông huyền thoại của tiểu lục địa ấn, nàng là mẹ đỡ đầu tuyệt vời mọi sáng tạo của anh, bao dung như người chị, đằm thắm như em gái và nồng nàn như bất cứ người đàn bà nào khác đang yêu. 

- Thật ra, anh có bao giờ chỉ sống cho nơi này và cho lúc này đâu, thằng-bé-xếp-tàu-giấy- to đầu cứng cổ của tôi! - nàng chợt nói vội vã, cố giấu một nụ cười tich nghịch đầy âu yếm. Đó là nụ cười xiết bao quen thuộc với anh, nụ cười gợn sóng một cách vô hình dọc suốt mọi phần thân thể nàng mamg theo ánh sáng, lửa, nỗi rạo rực và lời mời gọi mê hồn vào điệu múa. Âm nhạc không ngừng thánh thót, tiết tấu luôn luôn tung tẩy phập phồng từng đường gân thớ thịt của nàng. 

"Anh chưa bao giờ tự biết mình luôn luôn ở gần quê hương đến thế nào đâu, bạn thân yêu của tôi!", - nàng chợt quyết định nói. Giọng nàng âm vang và du dương, dường như xuất phát từ nơi nào quá thẳm sâu như lòng đại dương, xa xăm như đỉnh trời. Bất cứ lúc nào giọng nàng cũng đẹp một cách sâu xa và vô định như thế, cũng như điệu múa của nàng, như từng cái phẩy tay, từng động tác xoay cổ chân hay hất tóc ra sau, tất cả đều tròn đầy cái vẻ thanh tĩnh nhịp nhàng và nỗi sôi động vô biên bị kiềm tỏa của nhu động lớp mácma trong ruột Trái đất. 

“Không, chưa bao giờ anh hiểu hết chính mình đâu”.

Nàng chợt vươn cao lên trời hai cánh tay dài tròn trĩnh, đầy đặn như vòi của ả voi tơ mà uyển chuyển như những làn rong biển; nàng bỗng bừng lên đầy xúc động, đầy hứng khởi, giọng nàng cuộn lên thành sóng biển dồn dập đổ vào lòng anh. "Nhìn đây! Nhìn đôi tay tôi! Có phải chúng chỉ thuộc về tôi không? Có phải chúng chỉ biết nói bằng ngôn ngữ của riêng tôi không? " - những làn sóng ngầm không rõ từ bao nhiêu thế kỷ, biết mấy thiên niên kỷ bắt đầu gợn dưới làn da trắng ngần trơn láng như củ huệ của nàng, và như thể hoàn toàn ngoài ý chí của nàng đôi tay bắt đầu chuyển động theo những nửa đường tròn, đường hyperbôn và đường sin lúc phất phơ mềm mại đến mê hồn khi cuồn cuộn bạo cuồng hoặc quá phấn khích hoặc vì phẫn uất. Thế rồi, như từng bè trong một dàn nhạc giao hưởng tuyệt đẹp và thầm lặng theo nhau đáp lại đoạn lĩnh xướng, từ đôi vai tròn lẳn của nàng, đến eo lưng, đến đôi hông nở chắc, rồi đôi chân tròn trặn của nàng bắt đầu thở nhẹ, rồi thầm thì, khẽ hòa giọng theo, reo lên dịu dàng khi bắt được nhịp, rập rờn lùa theo, rồi thình lình bùng ra và vút lên trong một hòa âm duy nhất đầy hứng khởi, huy hoàng và đắm say, nó lôi nàng theo hay chính nàng cuốn theo một làn gió non trẻ nó lớn lên theo nàng, từ phất phơ ngọn cỏ, lắt lay tàu chuối, bập bồng ngàn lau trắng dợn bãi sông, thoắt đã quăng quật những nhành dâm bụt, đập toang toang cửa sổ, thốc cát vào mồm người, quật sóng vào vách đá, rồi rú rít và chuyển thành gầm thét như ngàn xoáy nước và bão táp giữa đại dương, thốt nhiên chùng xuống, sững lại và tạc vào núi thành Hòn Vọng Phu rồi đột ngột tắt lịm và tịch lặng mà thu hút một cách đáng sợ như bầu trời chói chang trên cánh đồng giữa trưa hè, bầu trời thuần khiết thủy chung mà thực ra luôn ngự trị trên tất cả những cái đó. Dường như thấy được những cánh hoa nhài vô hình lấp lánh lân tinh rơi lả tả quanh nàng. Nước sóng sánh trong bình nơi bệ cửa sổ, và ván lát sàn còn rúng động bởi dư ba đôi gót trần khỏe mạnh của nàng, như tiếng sạp tre khua rộn rã, hay âm vang thiết hài êm lướt, giòn lịm và xa xăm. 

Anh chưa bao giờ phát hiện được đất nước chính mình, phải không? - giọng khẽ run, nhưng ôn tồn và rắn rỏi, như một người mẹ, nàng đặt tay lên vai anh, nồng nàn vuốt tóc anh. - Hãy tìm đi, hãy phát hiện đi. Nhưng đừng quên rằng trong đôi tay anh, cũng như đôi tay tôi, Người vẫn ở đó. Trước khi đi tìm người ở bên ngoài anh, hãy tìm cách phát lộ Người, hòa hội bản thân với Người, tìm và tạo dựng thể hóa thân mới mẻ cho Người. Như tôi đây; trở về Việt Nam lần đầu tiên năm mười tám tuổi, lần đầu tiên muốn cất lên một bài hát Việt Nam... là Se chỉ luồn kim, cái bài hát không hiểu từ đâu và tự lúc nào đã lên men và nghẹn dâng trong tôi, tôi chỉ thốt được dăm câu chẳng ra xoang điệu gì, thế rồi thay vì hát tôi bật lên khóc... Chừng đó các mẹ vuốt tóc tôi và mỉm cười với tôi: Can đảm lên, con sẽ hát được mà; con sẽ hát được mà! Bài hát dành cho chính con, chúng ta giữ nó đến giờ là để cho con... Thế là tôi đã hát; vâng, tôi hát, hay bài hát đã vút lên qua cuống họng tôi, qua giấc mơ hoài hương đã viên thành của tôi, qua toàn bộ con người tôi. Thế là tôi lại trở thành một phần đất nước này, như những đóa hoa mộc trước sân kia, như cái se lạnh trên đôi má khi gió bấc vừa chớm thổi. Xương thịt tôi, mạch máu và hơi thở tôi thế là trở thành hóa thân những bài hát đó, một ngôn ngữ khác của linh hồn chúng, một trong vô vàn hiện thể nhỏ nhoi của Người. Và khi tôi hát, và khi tôi múa, nói lên một cách sâu thẳm nhất đất nước này với trái tim thế giới, tôi tìm thấy chính mình, sống trọn vẹn cùng vũ trụ. 

Cố lên, chàng trai của tôi! Tôi biết những hình hài da diết nhất của quê hương hãy còn vùi sâu trong tiềm thức anh như những hạt giống kỳ vĩ. Hãy tái tạo quê hương bằng bàn tay và tình yêu của anh. Cầu chúc cho Tổ quốc luôn tươi mới và nở hoa trong mắt anh, luôn rộn ràng và kết trái sum suê trong ý nghĩ và hứng khởi của anh! Trở về Tổ quốc đi anh! Nhưng trước hết đừng quên tình yêu Tổ quốc chính là Tổ quốc đang trụ trong lòng anh... 

Phải, tôi sẽ trở về Việt Nam, - như ngọn gió bừng lên theo nỗi phấn khích của nàng, anh bật dậy đi tới đi lui trong phòng với những bước tưởng chừng cắm sâu đến đầu bên kia Trái đất. Nàng tự hào và cảm động dõi theo anh, ngắm anh vung tay lên, quay phắt lại mỉm cười với nàng sáng như mặt trời, dừng lại cửa sổ hình móng ngựa, như cuồn cuộn dâng tràn ra khỏi chính mình và sắp sửa phóng trọn tâm hồn lẫn thể xác vào dải Ngân hà ngoài kia, hòa làm một với Vô cùng. Và trong khoảnh khắc nàng nhận ra Việt Nam chưa bao giờ ở gần cả hai người đến thế; nhưng kỳ thực bao giờ nó lại chẳng ở trong nàng với anh, lại chẳng thị hiện trong máu thịt họ, hành chức thông qua chí ý và tâm hồn họ! Và thực ra, có bất cứ nơi nào trong Vũ trụ rộng lớn và mầu nhiệm này lại không là quê hương họ, một phần của quê hương họ? Những cầu vồng rực rỡ và phù du thoắt hiện thoắt biến theo nhau không dứt khi họ lái xe vòng quanh không dứt quảng trường Merdeka, đó chẳng phải những vầng mặt trời mà không ngày nào và không nơi nào trên Tổ quốc họ và trong tâm hồn họ lại không tỏa ấm và rọi chiếu ư? Tiếng bập bẹ rộng khắp và điệu reo vui âm thầm của triệu triệu hạt mầm đang chuẩn bị vươn lên trên những cánh đồng vô biên của cả Trái đất, chẳng phải chúng đang rung động cùng một nhịp với triệu tỷ nguyên tử làm nên xác thân và linh hồn họ ư? Giờ đây họ đắm hồn vào những bài hát của quê hương, nhưng bài ca đẹp nhất về quê hương đang kết tinh trong lòng họ và đang chờ ngày khoác lấy hình hài bằng những hòa âm bất tử. Phải, anh sẽ trở về Việt Nam. Nhưng ngay từ phút này tinh thần sâu thẳm nhất của Việt Nam đã bắt đầu thấm sâu vào nền móng tâm linh những con tàu anh tạo tác. Từ nay trở đi mỗi con tàu anh tạo tác sẽ đồng thời là hậu duệ tinh thần của đất nước anh. Bằng những con tàu đó, người ta sẽ thấu hiểu, thể nhập vào cái đẹp cao quý, mềm mại và sâu thẳm của âm nhạc và tâm hồn dân tộc anh. Những con tàu đó, mà cấu trúc dựa trên cảm hứng từ thang âm điệu thức của bài hát Việt Nam, cấu trúc đơn nhất của ngôn ngữ và cái thần Việt Nam, là hiện thân cho phương cách vô song mà đồng bào anh cất lên qua chính mình tiếng nói của toàn Vũ trụ, một giọng không vượt trội lên mà không nhầm lẫn được, không gì thay được trong muôn nghìn giọng của nhân loại rộng lớn và muôn mặt này, với cả ánh sáng và bóng tối, sự thuần phác và tinh tế, sự uyển chuyển và độ ngân, cái cao nhã và đơn sơ, sức mạnh thầm kín và nỗi u mặc của nó, sự thanh khiết nhói lòng và cái lãng mạn da diết, khát vọng mãnh liệt mà nhu mì, niềm hoan lạc trần thế bình dị và rất đỗi khiêm nhường của nó, những vết thương không thể lành, những giấc mơ không ai biết của nó, sự giao thoa và tương tục tương sinh giữa tất cả những điều đó, cái điều giản dị và lớn lao rằng tất cả là Một. Anh biết rằng đã tìm thấy tọa độ của dân tộc mình, trường hoạt động của tâm hồn Việt Nam trong Vũ trụ những sáng tạo không ngừng luân chuyển, biến hóa và đầy bất trắc nhưng không gì mê ly hơn và thường hằng hơn của anh. Giờ đây những con tàu đó đang nằm trong anh và đang lớn trong anh; anh biết rõ như vậy, và anh không cồn cào lo lắng nữa. Phải, anh sẽ về Việt Nam, nhưng tâm hồn anh chưa bao giờ ấm áp, an bình hơn thế! Bởi vì, cũng như Hương Amrita năm nàng mười tám tuổi, anh đang về lại căn nhà thời thơ ấu, thăm cái nôi anh từng nằm mà dẫu không còn đủ sức chứa anh nữa, anh vẫn nhớ về với nỗi trìu mến và yêu thương.