Chủ Nhật, 14 tháng 5, 2017

“Tôi không tin loài người có khả năng tự cứu mình…”

Bài đã đăng trên Thanh Niên online ngày 13/05/2017. Bản đầy đủ trước khi biên tập.

Nguyễn Hoàng Anh Thư (NHAT): Anh là người dịch một số tác phẩm rất quen thuộc với bạn đọc, vậy khi viết anh có chịu ảnh hưởng của văn phong một tác phẩm dịch nào đó không? Anh từng nói: ‘Tiểu thuyết của tôi không thuộc về số đông’, nhưng cái nhan đề anh đặt cho tiểu thuyết “Người tình của cả thế gian” lại có vẻ rất "câu khách", anh thử lý giải cho người đọc về điều này được không?

Trần Tiễn Cao Đăng (TTCĐ): Tôi dịch khá nhiều tác phẩm văn chương nước ngoài, và đọc văn chương nước ngoài nhiều hơn văn chương trong nước, cho nên văn tôi viết nghe có vẻ “Tây” âu là điều dễ hiểu. Điều này diễn ra tự nhiên - không phải tôi chủ ý viết như vậy. Trong cách tư duy, trong tâm trí, tôi luôn cảm thấy mình phần lớn không bị ràng buộc trong khuôn khổ dân tộc Việt, không “thuộc về” người Việt. Đồng thời với ý thức mình là người Việt, tôi luôn có cảm giác rõ rệt mình thuộc về một nơi khác. Ngôn ngữ của tôi phản ánh điều đó. Nhan đề “Người tình của cả thế gian”, cũng như bản thân câu truyện, đến với tôi một cách tự nhiên. Sự thật là, trong khi viết cuốn sách và trong khi nghĩ đến nhan đề ấy, tôi không nghĩ đến chuyện người đọc là ai. Cuốn sách được viết ra do nhu cầu tự thân nó. Một khi nó đã tượng hình đầy đủ và có đó giữa thế gian rồi, người đọc “lý tưởng” của nó sẽ xuất hiện.

NHAT: Tiểu thuyết này anh viết chủ yếu dựa vào hư cấu, ít trải nghiệm thật, nhưng thế giới trong đó tràn đầy cảm xúc thật, mỗi nhân vật, mỗi tình huống đều được anh hình dung và thể hiện bằng ngôn ngữ rất chi tiết. Tuy nhiên đôi khi người đọc không khỏi băn khoăn vì đó là một thế giới quá xa lạ với đa số người Việt hiện tại. Anh lý giải ra sao về điều này?

TTCĐ: Tại sao bạn thích đọc văn chương nước ngoài? Phải chăng một nhà văn Việt thì nhất thiết phải viết thứ văn gần gũi với người Việt? Văn chương đích thực là một cõi vô biên giới, như tôi đã nói ở một chỗ khác. Tôi thích phản ứng của một số người đọc trẻ. Họ hoàn toàn không thấy những sự “khác lạ” trong tiểu thuyết “Life Navigator…” là điều gì đặc biệt. Họ tiếp nhận những thế giới trong tương lai, những Đảo Vũ trụ, v.v. kia như là chuyện bình thường, đương nhiên. Họ mang tính "quốc tế" cao hơn hầu hết người đọc lớn tuổi. Theo nghĩa nào đó, cuốn tiểu thuyết của tôi dành trước hết cho những người đọc trẻ.

NHAT: Nếu chắp nối những giấc mơ của cô gái, người đọc sẽ nhận ra tình yêu của cô lớn dần lên, đang biến đổi theo chiều không gian lẫn thời gian, có cả những điều không tưởng vẫn có thể xảy ra trong những giấc mơ đó. Những hình ảnh đẹp và buồn, những “chữ nghĩa quý phái”... Theo anh, để viết được như vậy thì đòi hỏi nhà văn phải có tư chất lãng mạn, thông minh và chất tài tử, điều này có chịu ảnh hưởng từ nền tảng văn hóa của gia đình không?

TTCĐ: Chắc hẳn có. Cả cha lẫn mẹ tôi hồi còn trẻ đều là những nhà thơ không chuyên. Đặc biệt, tôi chịu ảnh hưởng có tính quyết định từ mẹ tôi. Bà là người dịu dàng, tinh tế, hơi lạc lõng giữa đời thường. Tôi thừa hưởng từ bà tình yêu tự nhiên đối với văn chương và nghệ thuật nói chung.

NHAT: Có vẻ như anh là một nhà văn có tính cách lập dị qua những quan niệm thơ văn mà anh bày tỏ trên Facebook. Ví dụ: “Trong thời văn hóa nghệ thuật đạo đức xuống cấp như Việt Nam hiện tại, khi mà mọi thứ xấu xí tràn lan và giành quyền thống trị, thì nghệ sĩ, hơn bao giờ hết, cần phải kiên trì, bướng bỉnh, lì lợm tiếp tục làm ra cái đẹp. Trong hoàn cảnh đó, làm ra cái đẹp là hành động chính trị của nghệ sĩ. Vũ khí của cô/anh ấy là cái đẹp, với quyền năng và sự bất diệt của nó.” Tôi muốn hỏi thêm, người phụ nữ đẹp theo anh là người như thế nào?

TTCĐ: "Lập dị", bản thân điều đó không có gì xấu. Vấn đề là anh khác đám đông ở vấn đề nào, và khác như thế nào.

Còn về phụ nữ đẹp, tôi có trả lời phỏng vấn như sau cho tạp chí Esquire:

"Nàng đẹp, thông minh, tinh tế, mạnh mẽ, “đầy nhục cảm”, dịu dàng, vị tha. Thế là quá nhiều, nhưng ta đang nói đến một người “lý tưởng” mà. Không phải nàng không có trên đời. Nàng có, dẫu hiếm. Xác suất rất cao là cả đời bạn không gặp nàng. Nhưng điều quan trọng là bạn tin, hoặc biết, rằng nàng có thật. Một điều kỳ diệu, có thể nói vậy. Và bởi vậy ta biết ơn nàng, người phụ nữ lý tưởng ấy bởi nàng có mặt trên đời, và cầu chúc nàng hạnh phúc và bình an. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn thế là ta cầu chúc hạnh phúc và bình an cho cả những người phụ nữ chỉ gần với chỗ lý tưởng hoặc xa với chỗ lý tưởng, những người chiếm số đông nữ giới. Và yêu họ chẳng khác gì họ là những phụ nữ lý tưởng, bởi vì chính họ, những phụ nữ “bất toàn” đó, mới là phần cơ bản của thực tại. Con người cần như vậy: luôn mong nhớ cái toàn hảo, và luôn biết hòa hợp với cái bất toàn."

NHAT: Đến thời điểm này, cuốn tiểu thuyết đã xuất bản được gần tròn một năm. Anh cảm nhận được điều gì về phía độc giả? Có sự ghi nhận nào thật khác biệt, anh có thể chia sẻ được không?

TTCĐ: Không có nhiều người đã đọc và đọc hết được cuốn tiểu thuyết, đó là điều có thể đoán trước được. Tuy nhiên, trong số ít những người đã đọc trọn cuốn tiểu thuyết, có những người hiểu và thấu cảm với nó một cách sâu sắc. Và đó không phải là một nhà phê bình, một nhà văn “đàn anh”, một nhân vật “có thẩm quyền” nào trong giới văn chương, mà là một người đọc bình thường, trẻ tuổi, “vô danh” (cho dù thật ra không hoàn toàn vô danh). Những người đọc “vô danh” này có cái mà nhiều người khác không có được: họ có khả năng thấu cảm, sự khiêm nhường và tâm trí cởi mở, không bị trói buộc bởi định kiến, những phẩm chất cần có của một người đọc “cừ khôi”. Một nền văn chương mạnh thì cần có không chỉ những người viết cừ khôi mà cả những người đọc cừ khôi.Tôi tin ở những người đọc như thế.



NHAT: Anh rất tự tin về bản thân, nhưng có lúc nào anh hoài nghi về nhân vật của mình khi viết? Bởi lẽ, anh thường mổ xẻ, truy vấn thế giới tâm lý của nhân vật một cách rất phức tạp?

TTCĐ: Khi bản thân bạn bất ngờ trước một câu nói, một hành động, một quyết định… của nhân vật mình tạo ra, đó là khi bạn biết rằng ít nhất mình đã thành công trong việc khắc họa nhân vật đó. Khi ấy, nhân vật có sự sống riêng, tồn tại riêng của họ và dường như nhà văn chỉ là “phát hiện” ra họ thông qua trực giác của mình mà thôi. Khi ấy, nếu có lúc nào đó bạn cảm thấy hoài nghi về nhân vật của mình, thì bạn nên trước hết nhìn lại bản thân mình. Nếu có gì đó sai trong trường hợp đó, thì ấy là chính ta đang nhầm lẫn với tư cách người quan sát, chứ không phải ở đối tượng.

Cho nên tôi không quá tự tin vào bản thân như chị hình dung đâu. Hoặc có thể nói thế này. Đúng là tôi rất tự tin giữa khi đang toàn tâm toàn ý tập trung vào một ý tưởng, một vấn đề cụ thể mà tôi phải xử lý trong quá trình viết. Tuy nhiên, nói vậy không có nghĩa là tôi quá tự tin đến mức không dừng lại tự quan sát mình ngay khi trực giác cảnh báo cho tôi rằng hình như tôi đang lầm lạc ở đâu đó.

NHAT: Anh viết về thế giới loài vật bởi anh nói ‘đã quá chán thế giới của con người’. Thế giới loài vật chạm tới cảm xúc sâu sắc nhất của anh. Anh có thể chia sẻ những cảm nhận ấy của anh không, đặc biệt là tình cảm yêu thương của thế giới đại đồng mà anh bắt gặp được ở đó?

TTCĐ: Tôi tin chắc rằng nấc tiến hóa cao hơn mà loài người, hay ít nhất là một bộ phận loài người cần phải vươn tới là thấu hiểu được, thực sự đối thoại được với mọi loài sinh vật khác và đối xử với mọi loài khác giống như cư xử với đồng loại của mình. Loài người cho đến bây giờ về cơ bản vẫn là một chủng loài ích kỷ, chỉ quan tâm đến bản thân mình và chỉ tôn trọng bản thân mình mà thôi (Khi nói điều này, chúng ta tạm thời bỏ qua những khác biệt và xung đột trầm kha giữa những bộ phận khác nhau của bản thân loài người, vốn tự nó là một vấn nạn lớn, mà chỉ nói về loài người như một tổng thể).

Loài người cần học được cách làm sao có thể tiếp tục tồn tại và phát triển nền văn minh của mình mà không phải trả cái giá đắt là sự hủy diệt Trái đất Mẹ đã sinh ra mình cùng với các loài sinh vật khác vốn là anh em của mình.

Hiểu, tôn trọng và yêu thương các loài khác, những sinh vật hiển nhiên yếu hơn con người, đó là một phẩm chất mà hầu hết chúng ta không có hoặc có rất ít, và cần phải có nếu chúng ta thực sự tin rằng loài của mình là loài ưu việt nhất. Loài ưu việt nhất không phải là loài thẳng tay hủy diệt các loài khác một cách không cần thiết và không suy nghĩ, mà là loài thực sự hành động để giữ gìn các loài khác trong khi vẫn tiến tới trên con đường tiến hóa của mình, một loài thực sự trưởng thành và có ý thức trách nhiệm.

NHAT: Cá nhân anh có tin vào sự tồn tại của những thực thể giống như Life Navigator không? 

TTCĐ: Tôi hoàn toàn tin rằng có những dạng tồn tại mà khoa học chưa biết tới. Nếu khoa học chưa biết tới chúng, thì nghĩa vụ của nhà khoa học không phải là phủ nhận chúng, mà là nhẫn nại và khiêm nhường theo dõi chúng, quan sát chúng, cố tìm hiểu chúng được chừng nào hay chừng đó.

NHAT: Những chương “Phụ lục…” với các nhân vật di dân cho thấy một viễn cảnh đầy bi quan về tương lai của loài người: Trái đất bị hủy hoại đến mức không còn có thể ở được, loài người phải di cư lên các Đảo Vũ trụ quay quanh Trái đất, mà cũng chỉ là một bộ phận rất nhỏ của loài người mới có được may mắn đó mà thôi. Anh không tin rằng có thể có triển vọng tốt hơn cho loài người sao? 

TTCĐ: Cũng như nhiều người khác, tôi chân thành mong muốn có triển vọng tốt cho tương lai của loài người. Mặt khác, khi nhìn vấn đề bằng lý tính, tôi biết không có nhiều cơ sở thực tế để tin rằng tương lai con người sẽ tốt đẹp. Nói gọn, tôi không tin vào chuyện loài người như một tổng thể có khả năng tự cứu mình, tự vượt qua bản tính vị kỷ và sự ngu dốt của mình. Nhưng tôi tin rằng một số ít cá nhân thì có khả năng ấy. Và số ít cá nhân này có cứu được toàn bộ giống loài mình hay không, điều ấy không quan trọng. Họ cứu được bản thân mình, nâng được bản thân mình lên cao hơn giống loài, vậy là đủ.

NHAT: Có những cú nhảy đầu đời rất khó khăn cho người cầm bút. Theo anh, người cầm bút phải có phẩm chất gì trước tiên?

TTCĐ: Tôi nghĩ, phẩm chất đầu tiên mà nhà văn phải có là nhu cầu nhìn và nghĩ về mọi thứ theo một cách khác, và bên cạnh đó là nhu cầu nói với mọi người về điều này theo cách của mình: bằng cách kể chuyện. Nhà văn bẩm sinh có thể ngại nói trước đám đông nhưng không ngại viết ra những gì sâu thẳm nhất bên trong mình. Một ca sĩ bẩm sinh có thể hát hết mình nơi bãi biển vắng tanh, như thể có hàng ngàn người đang lắng nghe họ và thấu cảm với họ. Một nhà văn bẩm sinh cũng vậy, viết hết mình trong đơn độc hoàn toàn, như thể có hàng ngàn người đang đọc họ, sẽ đọc họ và thấu cảm với họ.

NHAT: Cám ơn anh về cuộc chuyện trò rất thú vị. Chúc anh sức khỏe, dịch thuật và sáng tác nhiều!

Thứ Ba, 28 tháng 3, 2017

Asrimkhan-Mattai-Izélay

(Trích từ "Chuyện Gurun", Phụ lục của tiểu thuyết sắp hoàn thành "Cospolist Nổi Loạn". Dành cho những ai quan tâm)

Ngày thứ tám của Tadhuntassa Haddunsili khởi đầu với một trận mưa nặng hạt. Đấu trường nhoe nhoét bùn nhão, dăm ba vạt cỏ hiếm hoi còn sót lại đều sũng nước. Nơi này, đầu hẹp của thung lũng Ithmongkul kẹp giữa hai rặng núi Dvén và Virníngar với những đỉnh gần như dựng đứng, vốn thường ngày là góc khuất nẻo yên tĩnh nhất của sơn trại, nơi mà chỉ số ít tướng lãnh và chiến binh có võ công cao cường nhất mới có quyền đến để tập luyện và đàm đạo về võ thuật cùng binh pháp. Đây nào phải nơi tôi hay đến; tám ngày có mặt ở đây, ngày nào cũng như ngày nào, tôi chẳng mấy khi đủ can đảm nhìn thẳng lên hai rặng núi trên đầu mình, bụng tôi vẫn còn thắt lại mỗi lần khí lạnh từ trên khe núi, bất kể đang trưa, tìm được đường luồn thấu thịt tôi; thi thoảng tôi tưởng như nghe tiếng tuyết lở rất gần. Từng có đôi lần tuyết lở nơi này, và chẳng phải không có người tử nạn.
Dấu hiệu duy nhất cho thấy sự hiện diện của con người ở đây là một cụm những tảng đá to xếp sát nhau tạo thành một cái bàn, cùng một số ghế, là những tảng đá nhỏ hơn, vây quanh thành hình bán nguyệt. Tuy nhiên, suốt tám ngày qua, trong khi diễn ra các cuộc thư hùng, không một ai ngồi trên những ghế đá cập kênh kia. Nằm trơ đó, chúng như đang chờ đợi vong linh những kẻ từng ngồi trên chúng mà nay vắng mặt.
Mọi người đứng quanh võ đài, từ sáng sớm đến xế chiều, trong những ngày diễn ra Tadhuntassa Haddunsili. Mỏi, tê chân, họ đi tới đi lui, làm vài động tác cho giãn gân giãn cốt, lại mỏi hay tê đến không còn chịu nổi thì họ ngồi bệt hoặc nằm dài giữa cỏ. Thân thể sạch sẽ, áo quần tinh tươm là điều xa xỉ ở đây. Lấm lem bụi đất, toàn thân bùn sình bê bết, lá cỏ nát nhàu vướng trên tóc, gấu quần rách toạc, đầu gối xây xát rớm máu vì cạnh đá cứa trong bóng tối nhá nhem, đó là một trong những cách để người xem dự phần vào vị thế của những người đang giao chiến. Võ đài, một mô đất rộng, tròn, cao ngang vai người, bằng đất nện, cũng nhớp nháp bởi mưa, khiến cho vài khoảnh khắc quần thảo trên đó là đủ để từ đầu đến chân hai đối thủ chỉ còn nổi rõ một màu bùn. Tôi đứng cách khoảng hai mươi bước, đủ gần để thấy rõ từng người trong số các chiến binh yêu dấu của mình, đủ xa để bùn nhão từ trên võ đài bắn ra không làm bẩn thêm bộ đồ nổi nhất của tôi. Chẳng phải vì tôi nâng niu bộ cánh của mình đâu, tôi nào có ảo tưởng sẽ có thể giữ cho mình sạch sẽ hơn so với người khác trong tiết trời đáng nguyền rủa này. Sự thực là tôi chỉ muốn đứng gần đủ để có thể len nhanh lên sát võ đài nếu một trong hai đấu thủ bị đau quá sức chịu đựng, để may ra tôi có thể làm gì đó cho anh ta, đồng thời tôi cũng muốn đứng đủ xa để vài đấu sĩ nào đó không phải vì dễ nhìn thấy tôi giữa đám đông mà bị phân tâm. Mặc dù, thật ra, nếu có khi nào một đấu thủ có lúc nhìn về phía tôi lâu hơn một chút so với chỉ do tình cờ, tôi không chắc được đấy là họ nhìn tôi hay nhìn ai đó bên cạnh, đằng trước hoặc sau tôi, và tôi cảm thấy cách hay nhất là đứng yên, không bồn chồn, không căng thẳng, giữ cho mặt mình tươi mát tự nhiên như hoa nở ban sớm, không quan tâm đến chuyện có ai nhìn mình không. Thế nhưng mà, sự thực là hầu như suốt trong khi theo dõi những gì xảy ra trên võ đài, tim tôi không bao giờ yên mà cứ lúc đập thình thình, lúc như xoắn vặn, lúc thì như cơ hồ tắc lại… Và mỗi khi một trong các chàng trai đó bật khóc vì đau đớn hay nhục nhã hoặc cả hai, điều này chẳng hiếm xảy ra, tôi lại nôn nao muốn làm gì đó cho họ, một việc mà chỉ một người đàn bà mới có thể làm, tôi ao ước mình có hai bầu vú to lúc nào cũng tràn trề căng ứ của Faínâhind, giá như tôi có thể đút lần lượt từng bầu một vào miệng họ, truyền cho họ sữa ngọt chắt ra từ máu thịt tôi, thứ sữa mang trong nó tình yêu mà một người đàn bà khác hẳn sẽ trao cho họ nếu lúc này người ấy có mặt.
Tôi yêu họ như thế đó, tất cả các đấu thủ tham dự những cuộc tỉ thí Tadhuntassa Haddunsili, một tình yêu không phân biệt. Bởi vì tôi biết rằng thật ra chẳng ai trong bọn họ nhìn tôi, con bé Ăltâhind gầy như que củi này, trước sau phẳng như tấm ván, lúc nào cũng nhợt nhạt như vừa ốm dậy, cái đứa nghĩ tới họ ngay cả giữa khi đang làm sạch bụng mình ở ven cánh đồng. Tôi biết những người tôi nhớ nhất là ai. Họ là những người đầu tiên đến trong tâm trí tôi những lúc tôi ngồi xổm ven cánh đồng như thế và ở lại với tôi lâu nhất. Họ là những người có vẻ nhìn xuống tôi thường xuyên hơn cả từ trên võ đài, là số ít những người mà, khi họ khuất phục được đối phương hoặc bị đối phương khuất phục, tôi đều cảm thấy từ trong cật ruột mình rằng họ sắp quay đầu về phía tôi để gọi to tên tôi, thông báo ngay tức khắc với tôi, bằng một câu ngắn, ngắn và không rõ thành lời nghe như tiếng kêu của một con chim, cho tôi chứ không ai khác biết về sự ngỡ ngàng của họ, ngỡ ngàng không thể tin mình vừa trở thành kẻ thắng trận hoặc người thua trận. Những lúc ấy, khi tôi có cảm tưởng như bất cứ ai trong số những đàn ông trẻ tuổi mạnh mẽ và đầy khát vọng kia cũng đều sắp lên tiếng với tôi như đứa bé lên tiếng với mẹ mình về cái cảm xúc sâu xa đang tràn ngập lòng nó, tôi nhận ra một điều rằng tất cả những cuộc đua tranh này thật vô nghĩa. Nhưng tôi đâu thể làm gì khác ngoài nhìn họ, theo dõi họ, mừng với họ và nâng niu an ủi họ, dù chỉ thầm trong miệng và sâu trong tim.
Máu... tôi không muốn nhìn thấy máu. Thế mà, mặc cho mọi lời cầu khấn của tôi dâng lên các thần linh, máu vẫn đổ trên kia, trên nền đất nện, trên những chỗ đất mềm bị cày lên lõng bõng bùn, trên lá cỏ bị xéo nát, dưới mắt tôi. Không ai chết vì những vết thương đẫm máu đó - Tadhuntassa Haddunsili không cho phép một ai làm chết đối phương, kẻ nào làm vậy phải chuộc tội bằng chính mạng mình - song không phải vì vậy mà tôi có thể giữ cho tim mình đừng quặn lại mỗi khi thấy máu. Tôi căm ghét Iktezahota biết chừng nào! Cái nghi thức đầy máu đó, nó khiến cho máu đổ ngay cả khi suốt trận so tài cả hai đấu thủ đã vô cùng cẩn trọng không để đối phương phải đổ dù chỉ một giọt máu...
Bởi vậy, dù không muốn chút nào, tôi thấy mình ghét những người thắng trận nhiều hơn người khác. Ai càng thắng trận nhiều, tôi càng ghét tợn. Thật trớ trêu! Trong khi người ta nhiệt liệt tung hê và không tiếc lời nào không tiếc cử chỉ nào để tỏ lòng ngưỡng mộ những chiến sĩ siêu quần đó, những kẻ chiến đấu hình như chỉ để chất cao lên không ngừng, cao hơn, cao nữa những chiến thắng trăm lần như một của mình, thì tôi, có lúc tôi chợt giật mình nhận ra tôi đang thầm mong có một cái gì đó, một rủi ro bất ngờ, một cơn bạo bệnh đến từ chốn địa ngục đen tối hung hiểm nhất sẽ khiến cho kẻ đó chết mà chẳng cần ai giết trước khi hắn kịp thắng thêm trận nữa và làm cho thêm một người nữa phải đổ máu với Iktezahota...
Hăldúk Êstimbăn là một trong những kẻ đó. Và Mattai dường như biết lòng căm ghét của tôi đối với hắn. Làm cách nào anh biết? Với tôi đó là một bí ẩn. Mặt khác tôi biết mình không thể lầm... Nhìn cái lối anh quay lại nhìn tôi mỗi lần Hăldúk lại hạ được đối phương và thiên hạ lại hoan hô hắn là tôi biết. Sức mạnh trong cái nhìn của anh buộc tôi phải hiểu rằng anh biết chắc trước sau gì tôi cũng sẽ lại nhìn anh cho dù tôi cố kìm mình đến đâu đi nữa. Và khi không còn có thể dối anh cũng như tự dối mình rằng lần nào cũng như lần nào tôi đều sẽ đáp lại cái nhìn của anh, tôi lại tự buộc mình nghĩ rằng, coi đó, tôi đâu có thực sự thấy ở cái nhìn của anh cái mà thâm tâm tôi muốn thấy; kỳ thực tôi nào có thấy ở mắt anh một mối gắn bó mơ hồ song bền chặt nào đó với tôi, tôi nào có thấy ở cái nhìn của anh dấu hiệu của sự thông đồng, một lời trấn an lặng lẽ rằng tôi có thể tin vào sự đồng cảm và ủng hộ của anh. Thôi thì tôi sẽ không mong đợi điều sẽ không bao giờ đến nữa, mà chỉ tập trung vào cái điều lớn lao hơn đang thực sự gắn bó tôi với Mattai, Mattai của tôi...
Lý do gì khiến Mattai căm ghét Hăldúk Êstimbăn cũng như tôi, căm ghét đến mức có thể nhận ra ngay từ cách một quãng xa một nỗi căm ghét tương đương vậy ở tôi, như một con sói cô độc và vỡ mộng nhận ra giữa khu rừng của mình cái mùi của một sói cô độc và vỡ mộng giống như nó? Người ta có thể suy đoán rằng đó là do Mattai ganh tị với hắn như thói thường của con người, tuy nhiên tôi nghĩ câu trả lời dễ dàng nhất là câu trả lời xa sự thật nhất. Lý do thực sự của lòng căm ghét ấy ở Mattai nhất định phải cao hơn thế. Tôi biết điều mà người xưa vẫn nói rằng nhân vô thập toàn nhưng dù vậy tôi vẫn muốn sao cho mọi thứ ở Mattai đều cao đẹp, ít nhất là đủ cao đẹp cho lòng ngưỡng mộ của tôi dành cho anh. Do vậy mà tôi không muốn, hoàn toàn không muốn nghĩ rằng Mattai có thể không chỉ là bằng hữu thân thiết của Asrimkhan mà còn là người tình điển trai của thủ lĩnh... Dẫu sự thật có thế đi chăng nữa, tôi không muốn thế, tôi không muốn Mattai của tôi có cái gì chung với đám dân Bongora đồi bại kia cho dù bản thân anh từ đó mà ra, tôi muốn rằng chẳng thà anh có quan hệ xác thịt với ba mươi phụ nữ cũng còn hơn là với một người đàn ông, kể cả dù ở nước anh người ta coi việc đó là bình thường như thế nào. Tôi không muốn rằng sự thông đồng giữa anh với tôi, nếu có một cái gì như thế, lại dựa trên một điều chỉ quan trọng với riêng anh và không xứng đáng với tôi.
Dù thế nào thì, suốt mấy ngày đầu diễn ra Tadhuntassa Haddunsili, không một lần nào Mattai chủ động lại gần tôi và nói với tôi. Tuồng như anh nghĩ rằng cái nhìn giữa hai chúng tôi là đủ, và nếu đến lúc nào đó nó không đủ thì chẳng phải anh mà tôi mới là người cảm thấy và không chịu nổi điều đó... Mỗi khi nhìn Hăldúk Êstimbăn và nghĩ bụng ước gì ánh mắt mình có thể làm cháy nám tấm lưng dài nghêu của hắn, tôi lại nôn nao trong dạ, và để hết nôn nao tôi không có cách nào khác ngoài ngoảnh về phía quen thuộc tìm mắt Mattai. Không như tôi, anh hầu như luôn luôn đứng cùng một chỗ, ở vị trí đặc biệt dành cho các phó tướng thân cận nhất và bằng hữu chí thiết của Asrimkhan, luôn luôn ở khu vực đó, và gần như luôn luôn tại cùng một điểm. Anh như biết rõ mình là một cái trục, một trung tâm, cần phải bất chuyển và thường trụ, có thế thì tôi, kẻ thường xuyên chuyển dịch vòng quanh và không cố định chỗ dừng, tôi mới có thể tìm thấy anh và trở về với anh. Dù có đi đâu tôi cũng không bao giờ thoát khỏi anh; đối với anh tôi tự do như vậy đó.
Vả chăng, thậm chí dù không có mối thông đồng bí mật này giữa Mattai với tôi thì tôi cũng chẳng thể tránh nhìn anh. Anh khác biệt với những người ở gần anh đến nhường nào! Ignérul, thường xuyên đứng bên trái anh, gã khổng lồ cổ bò mộng và nước da hạt dẻ, bất cứ khi nào mắt y thấy máu bật giữa đấu trường là lại hít hà như một kẻ đói khát ngửi thấy mùi bữa ăn ngon. Tason Singébel, gầy như xác ve, cổ rụt, vai so, hào hứng như đứa trẻ nít luôn tay luôn chân lặp lại những đòn thế ngoạn mục nhất hoặc hung hãn nhất mà các đấu sĩ tung ra trên võ đài, khiến mọi người phải tự biết mà chừa cho y một khoảng trống lớn hơn nhiều so với y đáng được hưởng nếu xét theo hình vóc của y. Ha Mung Phol, cao nghệu, đầu quá to so với thân, theo dõi mọi trận đấu với nụ cười nửa miệng, tuồng như luôn luôn chán ngán bất cứ cái gì mắt anh ta thấy. Uryangthai, lão già loắt choắt râu tóc dài trắng như lông gấu tuyết, mắt xếch lim dim, tuồng như với lão không có việc gì đáng làm hơn là tạo cho mình được càng nhiều càng tốt những mảnh rời của giấc ngủ vĩnh hằng mà cái chết chẳng bao lâu nữa rồi cũng sẽ đem đến trọn vẹn cho thể xác và linh hồn lão. Trong khi đó, Mattai của tôi, anh nhìn những trận chiến diễn ra trước mắt mình bằng một vẻ kỳ lạ mà phải lâu sau tôi mới nghĩ ra là có thể sánh với cái gì. Những trận thư hùng này, anh nhìn chúng như thể đang nhìn thấy lại những chuyện đã xảy ra trong đời của chính anh, mặc dù tôi biết Mattai không biết võ nghệ và chưa bao giờ là một chiến binh. Những đường kiếm chết chóc và những cú lia dao hủy diệt đó, anh như thể nhìn chúng mà thấy lại trong đầu mình những hình ảnh từng hiện diện vào lúc nào đó trong quá khứ của anh, trong trí tưởng tượng của anh, những hình ảnh chẳng liên quan gì tới chiến trận. Chẳng hạn như đường kiếm Ulsakiritai giống như con chim cắt từ trên cao bổ xuống theo chiều gần như thẳng đứng nhanh hơn mắt kịp nhìn kia, một trong những tuyệt chiêu không ai địch nổi của Tengan Duwat người xứ Ainathon - mỗi lần nó được tung ra, tôi nhìn ngay vào mắt Mattai và có cảm tưởng như anh vừa thấy bầy chim sẻ vụt bay lên tán loạn từ một tàn cây khi có động: nếu không phải vậy thì giải thích sao đây về nụ cười trìu mến và mơ màng nở trên môi anh ngay lúc đó…Gã Tengan Duwat này hình như đã là cái cớ để Mattai lại bắt đầu nói chuyện với tôi. Tôi không thể nói chắc đã bao lâu rồi tôi không tìm được cơ hội nói với anh dù chỉ một lời. Sự cố tình xa lánh của anh là nguyên nhân cho nhiều đêm thiếu ngủ của tôi dù tôi vẫn biết chẳng có mấy lý do để anh bận tâm đến tôi. Suốt thời gian qua chỉ còn lại một thứ duy nhất gắn kết tôi với anh, là chất keo của những cái nhìn: hình như chính anh hiểu rằng đã đến lúc im lặng nứt ra thành lời nói.


“Hắn sẽ chết,” anh nói, không nhìn tôi, khi chúng tôi gặp nhau bên bể nước nơi tôi đến để giặt quần áo bẩn. Tôi hơi ngạc nhiên rằng tôi không cảm thấy cần phải hỏi rõ anh đang nói đến ai. Tuy nhiên, tình thực là lúc ấy tôi không dành nhiều tâm trí cho chuyện đó. Tôi đang còn mải chú tâm đến chuyện xê dịch người sao cho cổ áo tôi đừng trễ xuống quá sâu trước mắt anh, sao cho anh đừng thấy hoặc thấy càng ít càng tốt, càng mơ hồ càng tốt hai bầu ngực nhỏ nhoi tội nghiệp của tôi. Vú như vú chó, bà tôi có lần nói. Trong giây phút đó, nỗi xấu hổ làm tôi nghẹn thở. Bực bội với sự yếu đuối và kém cỏi của mình, tôi thầm nghĩ cứ mặc anh ta hiểu sự im lặng của tôi như thế nào tùy anh ta. Tôi vẫn tiếp tục đập đập hòn đá cầm trong tay lên chiếc váy đang trải rộng trên mặt cái bệ kiên cố bằng đá vây quanh bể nước, cố giữ sao cho nhịp đập đá này vẫn đều đều, không khoan hơn, không nhặt hơn, không dằn mạnh hơn, không lơi nhẹ đi, không tỏ dấu hiệu gì cho thấy đã xảy ra một điều có thể làm thay đổi nó. Trong không biết bao lâu, giữa im lặng của trời đất, của Mattai, của tôi, không có âm thanh nào khác ngoài những tiếng đập đều đều, đùng đục, sụng nước gây ra bởi cánh tay tôi, cánh tay mà đến một lúc dường như trở thành của ai chứ chẳng phải tôi, cùng với tiếng hò la của đám thanh niên đang chơi bóng từ mãi xa vẳng tới. Và thốt nhiên tôi nhận ra rằng từ lúc nào không rõ một câu hỏi mới đã bắt đầu choán tâm trí tôi: Tại sao chết? Ừ thì hắn, nhưng sao lại chết?
“Không thể khác”, tôi lại nghe anh nói, bằng giọng gần như thì thầm, làm như anh đang nói với chính anh về một điều mà bản thân anh chưa chắc lắm. Sự bất quyết mơ hồ trong giọng anh khiến tôi gạt bỏ ngay cảm giác rằng câu nói này là do tôi tưởng tượng ra. Đây không giống với Mattai quen thuộc của tôi. Mattai mà tôi hằng biết và thường nghĩ tới sẽ không nói ra một điều gì mà anh không cảm thấy mình tuyệt đối làm chủ nó, theo cùng một cách như Thượng đế là chủ nhân tuyệt đối của số phận mỗi con người.
Tôi chợt nhận ra rằng từ nãy tới giờ, trong khi Mattai đứng đó, cao lừng lững phía trên tôi, thì tôi quỳ, khom người trên đống đồ đang giặt dở, và đầu tôi cúi gằm khiến cho chắc hẳn anh không thể thấy mặt tôi. Ngoài khuôn mặt ra tôi còn có gì đáng để anh nhìn! Anh lại im lặng. Qua im lặng của anh tôi mường tượng anh đang lắng nghe tiếng đập đá, tiếng vò, tiếng giũ của tôi, và tiếng nước chảy óc ách trong những ống tre to dẫn nước từ trên núi xuống. Bao lâu nữa sẽ đến lúc tôi không còn có thể tiếp tục giấu mặt mình khỏi anh và không nói với anh? Tôi không thể cứ thế này mãi. Những tiếng đập đá này đã tiếp diễn quá lâu để che đi sự hiện diện của bản thân tôi. Từ lúc nào đó tiếng đập của tim tôi và một âm thanh ong ong trong đầu tôi đã bắt đầu trở nên mạnh hơn những chuyển động ngoài cơ thể. Đầu tôi cúi, mắt tôi nhìn mớ quần áo rối nùi nhằng nhịt dưới tay tôi, song cái tôi thấy là đống nhằng nhịt rối bời trong tâm trí mình. Và đôi bàn chân mang dép da mòn cũ của Mattai: hai bàn chân dài, thanh tú, trắng, móng chân cắt ngắn và rất sạch, giống như hai bàn chân của một cô gái mà tôi chưa bao giờ đủ tự tin hoặc ngông cuồng để ao ước mình sẽ trở thành.
“Nếu điều đó làm lòng anh yên ổn,” tôi nói, lắng nghe lời mình, tuồng như đó là lời của ai khác.
Anh cười gằn, khiến tôi gần như rùng mình. Tôi chưa hề nghe và không bao giờ chờ đợi một thứ âm thanh độc địa đến thế từ anh.
“Én Hồi Quy. Em thích ngón đòn đó lắm phải không, Ăltâhind?”
Tuy không nhìn lên anh, tôi có thể cảm thấy anh đang nhìn tôi bằng ánh mắt mà đôi khi làm tôi thấy khiếp sợ anh, ánh mắt chất chứa một sự khinh bỉ vô hạn mà tôi hình dung có thể khiến cho ai đó cảm thấy ô nhục đủ để tự tìm đến cái chết. Tôi ngước lên nhìn anh. Đúng là ánh mắt đó, song điều làm tôi xốn xang hơn hết là, sự khinh bỉ đó, tôi cảm thấy không phải nó hướng vào tôi. Một kẻ nhỏ nhoi, tầm thường, vô hại và vô tích sự như tôi thì không đáng là đối tượng của một nỗi khinh bỉ lớn đến như thế. Cũng như không phải là đối tượng của bất cứ cái gì vượt sự thường, lòng căm ghét quá độ, tình yêu quá độ. Sau một thoáng tôi chợt nghĩ rằng tôi giống như tấm gương để cho sự khinh bỉ này hắt ngược lại chính anh. Ý nghĩ đó làm tôi choáng váng.
“Em thích,” miệng tôi nói, như một sinh vật tự làm theo ý nó, không đếm xỉa đến tâm trạng hay ý muốn của tôi. Và ngay sau đó tôi cảm thấy như có cái gì vừa vụt qua trước mắt mình, cái mà mãi về sau tôi vẫn tin chắc không có từ để gọi, bởi vì... có lẽ bởi vì nó là hiện thân cho sự nhanh chóng và ngắn ngủi đến tột cùng của một cái gì diễn ra ngoài khả năng lĩnh hội của con người, hình tướng của tính chất nhanh tuyệt ẩn trong đường kiếm Én Hồi Quy mà Mattai vừa nhắc với tôi, đường kiếm người ta nói là hiện thân của Thần Chết trong tay Tengan Duwat. Đồng thời, sự vụt qua đó trong mắt tôi cũng có thể là cái nhanh trong sự bay lên của bầy chim trong mắt Mattai, cái nhanh do nỗi hoảng hốt trong trái tim nhỏ bé của lũ chim, nỗi hoảng hốt đã ném thân thể chúng lên trời và linh hồn chúng lên cao hơn thế, nhiều lần cao hơn thế trong cùng khoảnh khắc ấy.
“Em sẽ còn được thấy nó nhiều, mừng lên đi,” Mattai nói. Đoạn, dường như không đừng được, anh nhếch miệng cười. “Sau đây thì còn ai khác có thể ngăn được đường tiến của Tengan Duwat?”
Có một điều chắc ai cũng thấy và hầu như không tranh cãi: kỳ phùng địch thủ của Hăldúk Êstimbăn không có ai khác ngoài Tengan Duwat. Tôi không kém cỏi đến mức không biết Mattai mong muốn gì từ kết quả cuộc đối đầu giữa hai kẻ này. Tôi nghĩ rằng mình biết những niềm khao khát của anh, ít nhất là một trong số đó. Tôi nghĩ rằng tôi biết những khi Mattai thức dậy khi nửa đêm thì người đầu tiên anh nghĩ tới là ai. Tôi biết rằng tôi biết về anh nhiều hơn gấp bội so với anh biết về tôi, bởi tôi bận tâm đến anh nhiều hơn gấp bội so với anh bận tâm đến tôi. Tôi biết mình không là gì hơn một cái gối con đặt ở đầu tấm đệm anh nằm, sao cho mỗi khi trở dậy thì anh có cái để chống tay - gối mềm mại êm ái thì vẫn hơn là gối cứng quèo, nhưng rồi mọi mềm mại êm ái của tôi chỉ cần cho anh đến thế.
“Em vui với những gì làm vui cặp mắt và trái tim Mattai,” tôi nói.
“Thật vậy hả, Ăltâhind.”
Nghe anh nói, tôi nhận ra ngay mình đã sai lầm. Tôi không nên nói thế. Tôi không cần nói thế. Lời nói, ngoại trừ trong vài trường hợp hiếm hoi, chỉ làm cho thành buồn cười cái vốn dĩ không buồn cười, không buồn cười chừng nào nó còn được nâng niu trong cõi không lời.
“Em sẽ có mặt hôm đó,” tôi nói, đoạn dùng mu bàn tay gạt một lọn tóc đang rủ xuống cọ lên má. Và lập tức tôi lại cụp mắt xuống: tôi vừa nói thêm một lời thừa nữa. Còn ai biết rõ hơn Mattai rằng tôi không bỏ sót một cuộc giao đấu nào từ ngày đầu Tadhuntassa Haddunsili cho tới giờ?
“Ta vui vì có em, Ăltâhind.”
Đây là một chuyện thường xảy ra trong đời tôi: trí tôi không thể tin, không đủ sức tin những gì tai tôi nghe thấy. Mattai có thật là đã nói câu đó chăng, điều ấy không quan trọng nữa. Đừng có mà đỏ dừ tận chân tóc mang tai, tôi nghĩ. Một giấc mơ vừa cất tiếng với tôi, tôi cần phải bình tĩnh, gượng nhẹ, sao cho nó đừng vỡ và tiêu tán đi quá sớm.
“Tengan Duwat xứng đáng được thắng,” tôi chợt nói. “Em mong thấy điều đó. Chúng ta làm tất cả mọi thứ nào có vì mục đích nào khác ngoài đáp ứng ý nguyện của Asrimkhan.”
Nói đến đấy thì tôi im, ngạc nhiên vì sự nồng nhiệt bất ngờ trong giọng nói và hơi thở của mình. Nhưng rồi, ngay sau đó tôi lại nói thêm, hoan hỉ, hồ hởi, nhận ra, ngay trong khoảnh khắc đó, như có một ánh chớp mới mẻ bừng lên ở trong tôi, rằng đây mới chính là mình:
“Anh sẽ có được tất cả những gì anh muốn. Anh sẽ mãi mãi là người không thể thay thế của Asrimkhan, vì em muốn như thế, em muốn tận đáy lòng như thế...”

“Ha ha ha ha ha,” anh phá lên cười; đó là thứ tiếng cười sắc lạnh tôi chưa hề nghe thấy ở anh, Mattai, như thể anh vừa trút một vốc tuyết đang tan vào tủy sống tôi, khiến tôi rùng mình vì một thứ gần như khoái cảm mà tôi chưa bao giờ biết tới. Và, trước khi kịp biết mình làm gì, tôi xắn cao tay áo, cắn ngập răng vào cánh tay mình bằng toàn bộ sức lực và niềm hân hoan vừa khám phá của tôi.

Thứ Tư, 15 tháng 3, 2017

Nghĩ về nghề.

Tác phẩm anh viết ra và cho in: đứa trẻ nảy mầm từ trong anh, đã tượng hình đầy đủ, được anh đưa ra thế giới.

Nếu đủ sức sống và hồn cốt, và có chút may mắn, nó sẽ hòa được vào thế giới ấy, làm nảy sinh những thế giới mới, những trường năng lượng mới, những sức mạnh mới. Còn, nếu sức sống và hồn cốt không đủ, và/hoặc thiếu may mắn, nó sẽ chết như chưa hề sinh ra. Thế nhưng, sự tồn tại của tất cả những tác phẩm chết yểu ấy cộng lại thì không vô nghĩa. Cũng giống như sự tồn tại của tất cả những con người "vô danh, không ai nhớ tới" cộng lại là không vô nghĩa: có cái đám đông vô danh ấy thì mới có số ít những tác phẩm, những con người còn lưu danh ấy.

Nếu bạn là kẻ cho ra đời những tác phẩm không ai nhớ tới, đừng lấy đó làm buồn: bằng lao động của mình, bạn đang góp phần làm lớn thêm, dày thêm cái đám đông vô danh kia, qua đó làm tăng thêm chút nào đấy khả năng ra đời những đỉnh cao hơn đôi chút mà, từ xa (theo nghĩa không gian và thời gian), người ta thấy rõ và gọi tên.

Cũng như chẳng có gì đáng buồn nếu bạn là một người bình thường, sống trọn vẹn cuộc đời mình, vô danh (ngoại trừ trong ký ức số ít người thân): vô số cuộc đời bình thường hợp lại tạo thành dòng chảy lớn của sự sống, tiến tới nơi nó cần phải tới.

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2017

Một bài review về "Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian"

Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian, tiêu đề tác phẩm như thế sẽ dễ khiến người đọc nghĩ Life Navigator 25 là nhân vật chính của câu chuyện, chàng sẽ xuất hiện với tần suất dày đặc và nội dung truyện chủ yếu xoay quanh chàng. Tuy nhiên, Life Navigator 25 không xuất hiện nhiều trong truyện dưới bản thể là chính chàng. Người xuất hiện nhiều nhất là người chàng yêu, kế đến có lẽ là người yêu người chàng yêu. Life Navigator 25 tồn tại thật lặng lẽ, khiêm nhường trong thế giới ấy. Nhưng, cũng chính điều đó đã biến chàng trở thành người tình đích thực của cả thế gian, người biết cúi xuống để nâng những điều đẹp đẽ lên, người quan sát tinh tường để không bỏ lỡ bất cứ sát na nào của vũ trụ, người dịu dàng lắng nghe tiếng nói bên trong của người mình yêu.

Slice of life được điểm xuyết bằng sci-fi

Trong Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian, có một sự kiện chính bao trùm toàn bộ tác phẩm, đó là: ngày Tận Thế. Các sự kiện diễn ra trong tiểu thuyết này có thể chia thành ba giai đoạn: trước, trong và sau Tận Thế. Life Navigator 25 ra đời sau Tận Thế nhưng ý thức của chàng là phi thời tuyến, chàng có thể vượt qua mọi thời gian, mọi không gian, đi sâu vào bất cứ linh hồn nào để thấu hiểu họ như những người bạn Life Navigator khác của chàng. Trong thế giới ấy, chỉ có ba mươi Life Navigator chính thức được công nhận và Life Navigator 25 của chúng ta vừa là một Life Navigator vừa là một Dream Navigator (người có thể đi vào hoặc tái tạo thế giới trong giấc mơ của ai đó). Có lẽ, trong lúc chu du vô định, Life Navigator 25 đã tình cờ gặp “nàng”, nhìn thấy sự đặc biệt trong linh hồn nàng, sức mạnh tinh thần nàng và rồi cảm mến nàng.  Nàng, con người Trái Đất bình thường ấy còn cách xa Tận Thế cả hàng thế kỉ, nàng vốn không có chút dự cảm nào về ngày ấy. Nhưng với tình yêu dành cho nàng và tình yêu dành cho cả nhân loại, chàng đã cố gắng thông báo đến nàng điều ấy bằng cách gieo vào nàng hạt giống dự cảm mơ hồ qua những giấc mơ kì lạ. Và như thế, Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian là chuỗi câu chuyện xen kẽ giữa đời thực và giấc mơ, giữa ý thức và tiềm thức, giữa vật chất và tinh thần… để rồi càng tiệm cận đến cái kết (mà dường như không phải kết), ranh giới giữa các khái niệm này càng mờ nhòa đi.

Với đoạn mở đầu giải thích những khái niệm mới đặt trong viễn cảnh tương lai, Life Navigator 25 (từ đây đến cuối bài viết, xin được gọi tắt tên tác phẩm như thế) có lẽ sẽ dễ mang đến cho độc giả dự tưởng về một câu chuyện thuộc thể loại sci-fi sắp diễn ra phía trước. Tuy nhiên, cuốn tiểu thuyết này không hẳn thuộc về thể loại sci-fi. Cụ thể hơn, sci-fi không phải là cái khung để câu chuyện bám sát vào, sci-fi chỉ là một trong những yếu tố để kể chuyện, là thứ góp phần vào việc tạo chi tiết, tình tiết và không khí cho truyện, nó như một hoa văn được chạm trổ thêm trên nền bức tranh đã được định hình sẵn cơ bản về đường nét và màu sắc. Vậy, nét vẽ chính trong tác phẩm này là gì? Hẳn nhiên, với sự khảo sát tỉ mỉ của tác giả Trần Tiễn Cao Đăng về giấc mơ, về tâm lí con người, về cái ác, về vẻ đẹp, ta hoàn toàn có thể xếp tác phẩm này vào thể loại tâm lí – xã hội mà không sợ sẽ có sự sai sót quá lớn diễn ra ở đây.

Chứa đựng trong mình cả một thế giới mới với nhiều điều bí ẩn nhưng Life Navigator 25 không sa đà vào việc dẫn dắt độc giả khám phá những điều bí ẩn ấy, cuốn tiểu thuyết này tập trung đào sâu vào điều cơ bản hơn và có lẽ cũng là quan trọng hơn: ý thức con người khi được biểu hiện lại dưới dạng hình ảnh tiềm thức trong giấc mơ mang ý nghĩa gì, hay ngược lại, liệu hình ảnh hiện ra trong giấc mơ chỉ còn được ghi nhớ bởi tiềm thức sẽ có tác động nào đáng kể lên ý thức không; cuối cùng, toàn bộ quá trình này để lại dấu ấn như thế nào trong tâm lí con người, trong những hành vi thiện – ác của họ giữa cuộc đời. Để trả lời những câu hỏi ấy, lẽ đương nhiên giấc mơ là thứ tối quan trọng và chiếm dung lượng đáng kể trong tiểu thuyết này. Nếu chia tỉ lệ nội dung giữa giấc mơ và đời thường, có lẽ con số sẽ là 50:50. Các chương về giấc mơ, các chương về đời thường đều đặn xen kẽ nhau tạo ra không khí slice of life thú vị, chúng ta như được theo dõi hàng ngày quá trình sinh hoạt của một người mơ và thức dậy nối tiếp nhau, các sinh hoạt khác đã bị lược bỏ đi hoặc không có tầm quan trọng chính yếu bằng hai cột mốc hành động ấy. Những câu chuyện trong giấc mơ và đời thường đôi khi bổ trợ cho nhau, đôi khi lại có rất ít sự liên quan đến nhau, điều này cũng giống như trong thực tế, chúng ta thường không lường được mình sẽ nằm mơ thấy những gì.

Bộ sưu tập những tiếng thét

Có thể gọi, loạt giấc mơ mà Life Navigator 25 mang đến cho nàng là bộ sưu tập về những tiếng thét. Trong giấc mơ ở chương Người đẹp và thú nhỏ, tác giả có đề cập đến bức tranh The Scream của Edvard Munch – điều này càng cho thấy rõ hơn dụng ý của anh khi giấc mơ nào cũng kết thúc hoặc có cao trào nằm trong tiếng thét của một ai đó, phần lớn là tiếng thét của nàng và đôi khi có tiếng thét của những người khác, rất nhiều người khác, một đám đông trong cơn vĩ cuồng. Giống như không gian bị bóp méo đến mức buồn bã bức bối trong The Scream, những giấc mơ của nàng hay của Life Navigator 25 cũng mang màu sắc tương tự như thế. Các giấc mơ đều khởi đầu bằng một điểm kì lạ nho nhỏ, không quá nổi bật song đủ gợi lên dự cảm về điều khốc liệt sắp diễn ra phía trước. Điểm kì lạ ấy như một thứ virus âm thầm mà hiệu quả, lan rộng nhanh chóng cả về phạm vi ảnh hưởng lẫn cấp độ nguy hiểm của nó. Cho đến khi mọi sinh thể trong không gian nàng có mặt đều bị tiêm nhiễm thứ virus ấy, cho đến khi mọi thứ khuếch trương đến đỉnh điểm, cho đến khi sức chịu đựng của nàng chạm ngưỡng giới hạn, một thứ gì đó dường như bị tiêu diệt đi, đồng thời một thứ gì đó vừa như được sinh ra, và nàng tỉnh giấc. Như bao người bình thường, nàng không thể nhớ rõ hết những hình ảnh, chi tiết trong các giấc mơ của mình, nàng chỉ nhớ được vài nét tiêu biểu của nó. Tuy nhiên, cảm giác kinh hãi mà những giấc mơ mang đến cho nàng vẫn luôn đọng lại rất rõ rệt sau khi thức giấc. Việc bị ám ảnh bởi một cảm giác nào đó nhưng lại không thể nhớ rõ nguồn cơn sinh ra nó khiến nàng đau khổ, nàng hỏi Life Navigator 25 hay là tự chất vấn chính bản thân mình rằng: “Tại sao em lại phải mơ những giấc mơ này? Nó có ý nghĩa gì? Tại sao lại cho em mơ nó để rồi khi tỉnh dậy em cũng sẽ quên nó hay phần lớn của nó?” Nàng không thể có được câu trả lời cho việc này nhưng thông qua quá trình cùng nàng khám phá những giấc mơ, chúng ta hiểu được một điều tuy không mới nhưng luôn quan trọng: ý thức có thể quên nhưng tiềm thức luôn ghi nhớ, và tiềm thức một lúc nào đó có thể trở ngược thành ý thức, từ ý thức lại chuyển hóa thành hành động. Xét trên khía cạnh đó, dù nghe có vẻ nghịch lí nhưng đôi khi, những thứ bản thân ngỡ như đã quên lại còn quan trọng hơn cả những thứ bản thân vẫn nhớ. Đơn giản là vì chúng ta có thể kiểm soát được ý thức nhưng không thể kiểm soát được tiềm thức. Một người bình thường không làm điều gì ác, bỗng dưng một ngày y khiến mọi người ngỡ ngàng vì hành động ác bất chợt của mình, mầm mống của cái ác được gieo vào đầu y từ những hình ảnh bạo lực trong tiềm thức sau bao ngày bị nén chặt dưới lòng đất, cuối cùng đã trỗi dậy. Một trong những cách gần như duy nhất để chúng ta ngõ hầu kiểm soát được tiềm thức của mình là cố gắng rải vào nó càng nhiều hình ảnh tốt đẹp, hoặc càng nhiều hình ảnh đau buồn về cái đẹp bị hủy diệt, càng nhiều chừng nào càng tốt chừng nấy. Việc này có thể thông qua các trải nghiệm nghe nhìn khi thưởng thức tác phẩm nghệ thuật hoặc thông qua kinh nghiệm đời sống. Và Life Navigator 25 – một người không có cơ thể, không bị giam giữ tù túng trong một khối vật chất, và vì thế vô định hình, hầu như không người phàm nào có thể nhìn thấy nhưng lại muốn giúp nàng tăng cường ý chí, sức mạnh tinh thần đã chọn cách tạo ra những sức mơ mang màu sắc hủy diệt và cho nàng không chỉ chứng kiến chúng mà còn thực sự sống trong chúng, có thể thay đổi chúng nếu ước muốn của nàng đủ mạnh.

Thông qua hành động liên tục mơ rồi liên tục thức dậy, liên tục nhớ và liên tục quên của nàng, chúng ta có thể nhận thấy ở đây vai trò hay ý nghĩa tương tự của việc đọc, rằng việc đọc một quyển sách đôi khi chẳng khác gì việc mơ một giấc mơ. Giống như những giấc mơ, đa phần chúng ta rồi cũng sẽ quên những cuốn sách mình đã đọc nếu như không bao giờ đọc lại nó lần thứ hai. Theo một thống kê, khoảng 80% những gì chúng ta đọc sẽ không trở lại trong tầm mắt ta lần nào nữa, đó là lí do ta thường hay quên những gì mình đã đọc. Vậy nên, đã bao giờ bạn từng có câu hỏi này chưa: nếu trước sau gì tôi cũng sẽ quên cuốn sách tôi sắp sửa đọc thế thì sau một thời gian, việc tôi đọc nó có khác gì với không đọc nó đâu? Nếu như bạn đã từng có câu hỏi như vậy, nghĩa là bạn đã rơi vào tâm trạng giống nàng khi nàng tự hỏi tại sao cứ phải mơ những giấc mơ mà bản thân sẽ quên; và như thế, rất có thể bạn sẽ đồng cảm với nàng. Câu hỏi ấy và hành trình tìm câu trả lời của nàng nhắc chúng ta nhớ rằng việc đọc cũng là để kiểm soát tiềm thức theo một cách có ý thức, sao cho bản thân tránh được việc gây ra sự tổn hại đến những sinh thể khác.

Sự giống nhau của những sinh thể

Trong tác phẩm Nếu một đêm đông có người lữ khách, Italo Calvino từng đề cập đến việc nếu làm phép thống kê cho thấy những cụm từ nào được sử dụng nhiều nhất trong một văn bản thì ta sẽ nắm được phần lớn tinh thần của tác phẩm đó mà không nhất thiết phải đọc hết văn bản, hoặc có thể xem đó như một cách giúp ta hiểu hơn về văn bản. Điều này cũng tương tự như khi ta vào thăm trang Wordpress hay website riêng của một người nào đó mà chưa đọc bất cứ bài viết nào nhưng nhìn vào những tag họ sử dụng nhiều nhất, ta có thể biết được các chủ đề họ quan tâm, phần nào đó là tính cách của họ, thậm chí nếu bằng trực giác tốt hơn, ta có thể biết họ có hợp với ta hay không. Vậy thì, trong Life Navigator 25 nhóm từ nào được lặp đi lặp lại thường xuyên nhất? Tôi không dùng bất cứ công cụ nào để thử tính toán nhưng bằng cảm giác chủ quan khi đọc, tôi nhận thấy những từ được lặp lại nhiều nhất trong tác phẩm này là: giấc mơ, tiếng hét, bản thể, sinh thể… Trong đó, tôi muốn nhấn mạnh đến chữ sinh thể. Ở rất nhiều trường hợp, thay vì dùng chữ con người, Cao Đăng dùng chữ sinh thể. Ở nhiều trường hợp khác, thay vì dùng chữ động vật, Cao Đăng cũng dùng chữ sinh thể. Và trong nhiều trường hợp rải rác khắp tác phẩm, thay vì dùng kết hợp hai chữ con người và động vật, hay người và thú, Cao Đăng vẫn lựa chọn dùng chữ sinh thể để chỉ chung cả hai. Chữ sinh thể xuất hiện với mật độ đáng chú ý như thế cho thấy nỗ lực của tác giả trong việc cố gắng tạo sự bình đẳng giữa người và vật (không chỉ động vật mà cả thực vật). Chẳng phải rằng dù là người hay vật, khi đang sống cũng đều là những sinh thể giống nhau hay sao? Chẳng có gì khác biệt ở đây cả. Chỉ cần không có cái chết cách biệt, mọi thứ đều giống nhau ở chỗ đang sống, đang tồn tại. Bản thân Life Navigator 25 đã có rất nhiều đoạn đề cao tình yêu bình đẳng giữa người và thú, lên án cách đối xử tàn bạo của con người với động vật, thế nhưng ngay từ một chi tiết nhỏ là cách gọi tên, cách dùng từ như thế lại càng cho người đọc thấy rõ hơn tình yêu, sự trân trọng của tác giả dành cho loài vật.



Mở rộng khả thể cho một bản thể

Trong Life Navigator 25, Cao Đăng sử dụng rất nhiều những câu văn dài. Nếu làm một phép ước lượng, tôi áng chừng câu văn dài chiếm khoảng 80% đến 90%; trong khi đó, những câu ngắn chỉ nằm ở mức 10% hay 20%. Điều này có thể khiến cho một số người đọc không quen sẽ cảm thấy mệt mỏi vì trong một đoạn văn dài thường không có sự thay đổi nhịp điệu linh hoạt. Tuy nhiên, nếu nói anh viết theo dòng ý thức đến mức không cho độc giả nghỉ ngơi thì không đúng. Chỉ là, anh ít dùng dấu chấm để kết thúc câu nhưng trong một câu dài thì lại sử dụng nhiều dấu phẩy để ngắt từng thành tố trong câu, hoặc dùng những từ như “hay”, “hoặc” để đưa ra nhiều giả định khác nhau cho cùng một vấn đề. Dưới đây là một câu ví dụ cho việc này:

“Và, như một con vật, cũng như tất cả mọi con người đều đồng thời hay trước hết hay về cơ bản hay về thực chất là con vật, hắn cảm thấy được trong máu hắn điều mà óc hắn không đủ năng lực hiểu.”

Câu này có thể chọn lựa một nhóm mệnh đề duy nhất cho câu ngắn hơn như sau:

“Và, như một con vật, cũng như tất cả mọi con người đều đồng thời là con vật, hắn cảm thấy được trong máu hắn điều mà óc hắn không đủ năng lực hiểu.”

Khoảng thời gian đầu khi đọc Life Navigator 25, tôi cảm thấy rất thích thú với nhóm câu như thế này, chúng tạo ra một âm điệu lạ trong đầu tôi. Tuy nhiên, khi đọc đến khoảng giữa quyển sách, khi việc kết nối các nhóm mệnh đề lại với nhau bắt đầu khiến tôi thấy mệt mỏi, đôi lúc tôi thường tự hỏi sao anh không chọn hẳn một nhóm mệnh đề thôi để bỏ bớt những “hay”, “hoặc” cho câu văn gọn đi, dễ đọc hơn, dễ nắm bắt hơn. Nhưng tiếp tục đọc, càng đọc tôi càng hiểu được vì sao anh sử dụng nhiều những “hay”, “hoặc”. Có vẻ như, thông qua việc sử dụng nhiều nhóm câu như thế này, anh muốn chỉ ra sự bất toàn của vạn vật trong cuộc sống. Không bao giờ, một vật nào đó nằm nghiêng hẳn về một tính chất nào đó, tất cả đều nằm ở giữa lưng chừng hoặc thế này, hoặc thế kia. Bên cạnh đó, nhóm câu này cũng cho thấy sự quan sát tỉ mỉ, không bỏ lỡ bất cứ khoảnh khắc nào, sắc thái nào, chuyển biến dù nhỏ nhặt nhất nào của Life Navigator 25 khi anh sống. Nó biểu hiện cho việc anh nhìn ra được nhiều khả thể khác nhau trong cùng một bản thể, và anh đã thu nhận tất cả vào tâm thức của mình mà không triệt tiêu bất cứ khả thể nào cho dù chúng có nhỏ bé đến đâu chỉ để khẳng định duy nhất khả thể chiếm thế thượng phong. Và như thế, cuộc sống mở rộng không ngừng với nhiều cái-có-thể-là khác nhau. Và như thế, anh thực sự là người tình của cả thế gian.

Bên cạnh việc sử dụng nhóm câu “hay”, “hoặc”, Cao Đăng cũng thường sử dụng nhóm câu bị ngắt quãng nhiều lần bởi dấu ngoặc đơn như một cách để mở tính chất của sự vật được đề cập, hoặc mang ý giải thích thêm. Dưới đây là một câu ví dụ:

“Rồi thì hắn nhận ra (vẫn trong cùng một khoảng thời gian cực ngắn đó) rằng nếu hắn hành động thật nhanh, chạy theo con chó, đuổi kịp nó, túm lấy nó, ôm chặt nó vào lòng (không để nó vùng thoát ra được) rồi cắm đầu chạy theo hướng thích hợp (mà bản năng mách bảo hắn) thì hắn vẫn có cơ may thoát khỏi cái chết dưới dạng cái thân cây khổng lồ đang đổ xuống hắn…”

Vậy nên, tôi tạm kết luận rằng để quen với văn phong của Trần Tiễn Cao Đăng, người đọc phải chấp nhận tình trạng ngắc ngứ liên tục và các đối tượng được đề cập trong câu không ngừng phình nở ra nhiều khả thể khác của nó.

Những phác thảo vẽ chồng lên nhau

Không chỉ là với văn phong, bản thân tác phẩm Life Navigator 25 cũng là hiện thân cho sự mở rộng khả thể đối với một bản thể. Điều này trước tiên biểu hiện qua việc những nhân vật trọng yếu trong tiểu thuyết này đều không có tên cụ thể: Life Navigator 25 chỉ là số hiệu của chàng Life Navigator chúng ta được biết, nàng thì có một cái tên nằm trong hai câu thơ Đường mà ta sẽ không bao giờ biết rõ từ nào trong đó thuộc về tên nàng, người nàng yêu hay người yêu nàng hay người Life Navigator 25 chọn để thỉnh thoảng nhập vào cũng chỉ được ta biết tên viết tắt là T. Chính sự mơ hồ ấy phần nào đó cũng giúp cho khả năng mở rộng bản thể của những đối tượng này được nhân lên nhiều lần.

Nếu như Life Navigator 25 chủ yếu chỉ xuất hiện trong giấc mơ và T. chủ yếu chỉ xuất hiện trong đời thực thì nàng lại xuất hiện xuyên suốt cả trong giấc mơ lẫn hiện thực. Vì vậy, có thể nói nàng là người xuất hiện nhiều nhất trong câu chuyện này. Tuy nhiên, điều đó không làm cho nàng trở thành nhân vật dễ hiểu, dễ nắm bắt mà có phần ngược lại: nàng càng xuất hiện nhiều, người đọc càng có thể thấy nhiều khả thể khác nhau của nàng thì nàng lại càng trở nên khó hiểu, khó nắm bắt hơn. Những gì chúng ta đã biết ở nàng liên tục được bổ sung, loại trừ, hòa nhập, tách biệt với những gì chúng ta sắp biết hoặc chưa biết ở nàng. Thế nhưng, có hẳn là Life Navigator 25 và T. dễ hiểu hơn, dễ nắm bắt hơn? Có hẳn là Life Navigator 25 chủ yếu xuất hiện trong giấc mơ và T. chủ yếu xuất hiện trong đời thực?

Thông qua việc đưa ra nhiều khả thể khác nhau, Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian dường như trở thành một bức phác thảo với nhiều chi tiết chằng chịt lẫn vào nhau, song không một chi tiết nào được tô đậm hơn chi tiết nào. Tất cả đều mờ nhạt, mơ hồ. Tựa như một họa sĩ vừa phác thảo xong một đối tượng đã nhìn thấy khả thể khác trong đối tượng ấy, bèn lấy khả thể vừa thấy được vẽ chồng lên phác thảo đầu tiên; trong quá trình này, người đó lại tiếp tục thấy những khả thể khác và cứ thế vẽ chồng lên mãi, lên mãi. Một nét vẽ chỉ được phết nhẹ một lần và không bao giờ quay trở lại để đồ đậm thêm. Cuối cùng, chúng ta có được bức tranh không hoàn chỉnh về những khả thể khác nhau. Hoặc có thể nói, ta có được bức phác thảo hoàn chỉnh và mãi mãi chỉ dừng lại ở phác thảo. Nhưng liệu cuộc sống có bao giờ trở nên thực sự hoàn chỉnh hay là phiên bản chính thức của một chủ thể nào đó chăng? Chính vì nó không hoàn chỉnh và liên tục mở rộng khả thể trong từng giây, một phần triệu triệu của giây mà chúng ta vừa tự do, vừa cô đơn như thế. Vừa thấy mình bất hạnh song cũng thật hạnh phúc.   

Kodaki

Link gốc: http://blog.komo.vn/diem-sach/life-navigator-25-nguoi-tinh-cua-ca-the-gian.html, đăng lại với sự cho phép của tác giả.