Nheo mắt nhìn ánh sáng nóng dịu tỏa ra từ đống than âm ỉ cháy có màu gần
giống mặt trời mới mọc, Faínâhind nói:
“Bài hát của dân Shwevakenara, có câu gì về đá girin ấy, nó như thế nào,
Ăltâhind?”
Ăltâhind nói:
“Là thế này, thưa cô.”
Và cô bắt đầu hát bằng giọng kim lanh lảnh, có một cạnh sắc rõ rệt hơn
và một mặt êm, mềm, ẩn kín hơn:
Khi tôi cất cao tiếng hát tràn ngập
niềm vui
Tự bên kia bờ chàng nhìn tôi say
đắm
Ngực chàng tựa đá girin xanh thẫm.
Chàng không biết tôi, song chàng
biết rõ như tôi
Rằng chàng với tôi, ai đã là kẻ mạnh.
Ở đây Ăltâhind dừng lại, như thể luôn luôn biết rõ Faínâhind muốn cô hát
đến đâu là vừa, im lặng đến đâu là đủ. Và rồi, giữa chừng quãng lặng nối theo
sau câu hát cuối cùng của Ăltâhind, khi dư âm vô thanh của nó đang tiếp tục làm
rung động những gờ vách mỏng mảnh của tâm hồn người, Arrobauth cất giọng, bình
thản và khô khốc, nói.
“Bài hát của ngươi nghe khá hay đó, bằng tiếng Bongora. Song ngươi có
cho rằng nó sẽ hơi rúm ró lại nếu nó phải chuyển sang tiếng Siră Kăntânări của
bọn ta, theo lệnh của bọn ta, hay không? Ta e rằng bất cứ bài hát Bongora nào,
khi bị chuyển sang tiếng Siră Kăntânări, đều sẽ lộ nguyên hình là quá thừa chất
lỏng chất nhầy, thừa mỡ, nhưng lại rất thiếu xương, thiếu cơ bắp rắn, thiếu
gân, thiếu máu. Ngươi có nghĩ thế không, tên dân xứ Bongora?”
Ngồi trong một góc xa hơn, tối hơn của tấm thảm dài, Mattai thong thả ngẩng
đầu lên, không để một cái gì từ bên trong mình lộ ra trên mặt chàng, khuôn mặt
đang làm nền cho trò hoán vị và biến đổi không ngừng của vô số sắc độ khác nhau
giữa ánh sáng và bóng tối.
“Arrobauth bạn ta đây là con người quá thừa kiêu hãnh,” Faínâhind nói.
“Giữa đêm khuya, nếu lắng tai, ngươi có thể nghe thấy các vì sao thì thầm trong
khi kính cẩn đợi lúc chàng ta quyết định lên giường ngủ. Máu trong huyết quản
chàng ta chảy chậm gấp đôi máu trong huyết quản ngươi, không phải một cách lờ đờ
uể oải, mà một cách đường bệ và cao nhã. Này Mattai, hãy coi chừng chàng ta.”
“Phải, máu người Bongora chảy nhanh hơn và dễ đổ ra ngoài hơn so với máu
Siră Kăntânărî,” chậm rãi, sau một hồi lặng im “như quả xoài chín rụng trong vườn”,
Mattai nói. “Máu chúng tôi chảy càng nhanh và đổ ra ngoài càng nhiều thì chúng
tôi học được càng sâu sắc hơn về niềm tôn kính đối với sự sống. Ngài nói đúng,
thưa Arrobauth Rất Mực Tôn Quý. Cơ thể Bongora luôn luôn thiếu máu; máu nó nằm ở
bên ngoài nó cũng nhiều ngang với ở bên trong nó. Người Bongora chúng tôi, từ
trong bản chất, lớn hơn nhiều so với người Siră Kăntânărî. Chúng tôi có cả vũ
trụ này là cơ thể lớn của mình; chúng tôi rướn ra ngoài vũ trụ nhiều hơn, bởi
chúng tôi cảm thấy thiếu cái cơ thể lớn hơn kia một cách mạnh mẽ hơn so với các
ngài. Với người Siră Kăntânărî, bản thân các ngài là đủ lớn để các ngài mãn
nguyện và ngưỡng phục. Người Bongora chúng tôi nhường điều đó cho các ngài. Nó
không dành cho chúng tôi.”
“Người Bongora các ngươi không hổ danh là những kẻ hơi quá lớn so với
thân phận mình,” Arrobauth nói, cười nhạt. “Ta không lạ rằng các ngươi nằm
trong số những giống dân bịa chuyện giỏi nhất trên thế gian. Thêu dệt nên từ
trí tưởng tượng giống như loài ngựa hoang của các ngươi những câu chuyện không
có thật, hòng mua vui cho đám phàm nhân chẳng biết làm gì hơn để sống qua những
giờ những ngày những tháng những năm rảnh rỗi của đời mình và lấp đầy khoảng trống
không gì lấp nổi bên trong mình, đó là việc tốt nhất nòi giống các ngươi đủ khả
năng làm, niềm tự hào duy nhất của các ngươi, di sản tinh thần độc nhất - độc
nhất và hèn mọn - của các ngươi. Các ngươi biết rõ rằng các bậc đế vương và những
người quyền thế, những người thuộc dòng dõi tôn quý, họ thích thú câu chuyện của
các ngươi chứ không thích thú bản thân các ngươi. Nàng công chúa mê mẩn là mê mẩn
tiếng hót con họa mi chứ không mê mẩn đống phân của nó. Ta ưa là ưa trái tim
con chim trĩ, ta không cần phải ưa những thứ hạt tầm thường mà con chim trĩ ăn.
Bản thân ta, người Siră Kăntânărî, thì khác. Ta có cần phải nói về điều đó
không?”
Sau khi Arrobauth dừng lời, có một thoáng im lặng, rồi Faínâhind nói.
“Này Mattai! Ta biết rõ và đánh giá cao khả năng ứng đáp của ngươi. Tuy
nhiên ngươi có cho rằng, vào lúc này, thay vì lại nói, ngươi hát một bài thì tốt
hơn không? ‘Một đêm nghe anh hát hơn mười năm cùng anh trò chuyện’, người
Bongora có câu như thế, theo ta nhớ.”
Nàng ngừng nói, và, sau khi thấy Mattai lặng một thoáng, đồng thời nhận
ra một cái gì đó đang tự kìm nén, phập phồng trong im lặng này, nàng quay sang
Arrobauth với vẻ điềm nhiên và đường hoàng nhất nàng có, rồi nàng hướng về phía
những người còn lại, cao giọng nói.
“Mattai đây là người biết rõ hơn ai hết khi nào thì một bài hát về tình
yêu không được đền đáp là đáng được nghe hơn khúc tráng ca của một chiến binh.
Những lời đanh thép nhất của chàng ta luôn tự biết khi nào chúng phải nhường chỗ
trong khí trời và trong trái tim con người cho tiếng của con chim đầu tiên hót
lúc rạng ngày. Ta có nói quá không, Mattai?”
Sau khi một quãng lặng dài hơn vài nhịp tim trôi qua, Mattai ôn tồn và
đĩnh đạc nói.
“Những bài hát hay nhất và những lời đẹp nhất trên thế gian đáng được cất
lên và đáng được sinh ra dù chỉ vì lý do duy nhất là có cô nương Faínâhind hiện
hữu. Nếu ngày tháng của tôi cho phép, tôi chẳng tiếc gì mà không cho bao nhiêu
bài hát cùng bao nhiêu lời ấy tuôn hết cả qua tôi mà về với cô nương như trăm
sông đổ về biển, chúng không làm biển đầy hơn và biển không làm chúng vơi đi,
chẳng qua sông thì đi về biển, âu đó là cơ đồ của vạn vật. Trong cái cơ đồ ấy,
tôi là lòng sông đầy bùn, cũng như tôi là bầu không khí qua đó biển ban sức sống
và cảm hứng cho sông trong hình dạng những cơn mưa. Kẻ hát những bài hát này và
nói những lời này là những cái bóng vô hình không tên, không tồn tại tự thân. Kẻ
như tôi tuyệt không có lý do gì để được người đời biết và nhớ tới, đúng như
Arrobauth đại nhân nói. Chúng tôi chẳng có lý do gì để đòi tồn tại song song với
tinh túy của tâm hồn chứa đựng trong chúng tôi và lưu chuyển qua chúng tôi.
Chúng tôi là mạch máu, lý do tồn tại duy nhất của chúng tôi là để máu không đổ
tràn trên cỏ.”
Và, ngừng một nhịp, chàng hát.
Ksbyámbâdŏrj-swénlig ăsshúpduven
iryín,
Dolgöspāthnay féllâsargăn
êrîvgálay íchten.
(...)
Và hãy ném cho tôi miếng bánh
Khi máu nóng đổ tràn trên cỏ
Gió qua kẽ núi
Mưa tưới đồng bằng
Ối a!
Kìa hãy ném cho tôi miếng bánh.
Trong im lặng sau đó, Faínâhind bình thản nhìn Arrobauth.
Nghiêm trang vỗ tay ba lần, hai nhặt một khoan, không quá nhẹ và không
quá mạnh, Arrobauth lạnh nhạt nói.
“Ta từng nghe bài này. Ta cũng thích nó một chút đó. Ồ, nhưng có thể ta
nhớ lầm. Có thể ta vừa định nói tới một bài khác, được coi là khác, dẫu cho nó
có gì đấy giống hệt. Giống ở cái gì, để ta nghĩ một chút. Máu. Dĩ nhiên. Giống ở
chỗ máu. Những chữ và những cung bậc khiến người ta cảm thấy máu của chính mình
đang chảy ra ngoài, như nước bẩn rút ra khỏi lỗ thoát trong bồn tắm. Đó là thứ
tinh túy của tâm hồn mà ngươi ám chỉ, phải không Mattai. Cái thứ tinh túy có thể
hiện hữu dưới muôn ức triệu dạng thức và điệu thể khác nhau song kỳ cùng ra thì
vẫn là nó và chỉ dành cho những con mắt cái tai nào biết nhận ra nó. Các ngươi,
dẫu biết muôn triệu bài hát tưởng như khác biệt, các ngươi có khi nào chuyển tải
được cái gì khác thế đâu, đúng không, hở tên Bongora. Chẳng lấy gì làm nhiều nhặn
cái gọi là tinh túy của tâm hồn mà ngươi nhắc tới với vẻ trang trọng tức cười
và ngây thơ kia. Và toàn bộ tài khéo của các ngươi, tất thảy tinh túy của tim
óc các ngươi nằm ở chỗ trưng ra cái dúm chả lấy gì làm nhiều nhặn kia dưới nhiều,
thật nhiều dạng thức khác nhau, tạo ra bức màn hư ảo trá ngụy về một cõi thế
gian phồn phức, muôn mặt. Các ngươi ăn nhờ vào sự thích thú của đám đông - mà vốn
dĩ tầm vóc tâm trí chẳng lớn hơn con ngan con vịt - trước cái vẻ ngoài phồn phức
đa tạp kia, các ngươi kể một điều và làm mọi cách để làm điều đó có vẻ như mới
mẻ, đồng thời giấu đi, bít đi, ỉm đi cái sự thực rằng điều đó từng được nói rồi,
cho dù bằng lời lẽ khác hay không. Các ngươi sợ đến phát ốm với ý nghĩ rằng một
ai đó, khi nghe những gì từ miệng các ngươi, sẽ cảm thấy những thứ này mình đã
nghe đâu đó rồi, đã biết rồi, quen thuộc lắm rồi, tuy rằng từ lúc nào, bằng
cách nào thì chưa thể nhớ ra được.”
“Arrobauth đại nhân của chúng ta là người khó tính và đầy lý tưởng,”
Faínâhind nói. “Nghe một khúc nhạc, xem một vở kịch, nhìn một bức tranh, chàng
ta dùng đầu nhiều hơn là tai, mắt, ruột và tim. Chàng ta nhận định và phán xét
trước khi cười và khóc, thay cho cười và khóc. Cái đó đôi khi ta ngưỡng mộ, có
khi ta cũng thích. Còn ngươi, Mattai, hẳn ngươi biết hơn ta ngươi làm gì là tốt
nhất lúc này. Ngươi biết cách tạo nên một bầu khí khác, một cõi khác trong giây
lát, vậy sao ngươi không làm vậy đi? Nếu không phải là máu tràn trên cỏ và
trong làn gió ta nghe nơi vách mũi thì đó sẽ là gì đây?”
Và Mattai, thoáng cười, bắt đầu hát.
Có cô gái kia ra chỗ dòng sông
Mẹ hỡi, xin cho con đôi mắt
Cho con đôi cánh chim ưng
Để con bay đi tìm chàng trai của
lòng con
Thế là dòng sông cho cô đôi cánh
chim ưng
Cho cô đôi mắt chim ưng
Thế là cô bay đi
Tìm chàng trai yêu dấu của lòng
cô.
Lặng một hồi, cho đến khi âm hưởng cuối cùng của bài hát lắng đi như muối
tan vào trong máu, Mattai nói.
“Để Arrobauth đại nhân không phải băn khoăn, tôi xin nói rằng bài hát
này chắc hẳn đại nhân từng nghe, dẫu là qua quá nhiều con đường và dạng thức
trung gian đến nỗi giờ đây đại nhân dẫu có muốn cũng không thể nào nhớ ra nguồn
cội nguyên thủy của nó. Đó là bài “Malka Moma” của một nữ nhân tên Neli người xứ
Bulgaria ở Terra, cái thế giới mà nghe nói không một ai trong chúng ta từng đặt
chân tới và sẽ đặt chân tới song dẫu vậy vẫn hiện diện cùng chúng ta trong từng
khoảnh khắc, từng hơi thở, cái bóng của chúng ta đổ vào trong lòng chính mình.
Những bài hát của Neli, cũng như bản thân hiện hữu của nàng, chẳng khác gì tia
nắng đầu tiên, ngọn gió đầu tiên, làn bụi nước đầu tiên của thế giới vào ngày đầu
tiên sau khi thế giới sinh thành; không cách nào và không bao giờ chúng tôi có
thể như nàng và hát giống nàng được. Dẫu vậy, không phải vì điều đó mà chúng
tôi không hát nàng thông qua chúng tôi, không sống nàng bằng sự sống của chúng
tôi. Và cho dẫu khi tôi hát
Khi người ta mang quả táo về
Trên cành con ong treo cổ
Và tôi đứng dựa tường này
Khóc
thì cứ để ai đó nghe ra trong đấy âm vang một cái gì họ từng nghe, có thể
trong một cuộc đời khác hoặc trong một giấc mơ hay một giấc mơ trong một giấc
mơ; cái mà với ai đó là tiếng vọng hoặc dư âm hoặc im lặng nối liền theo một dư
âm thì với chúng tôi là âm thanh nguyên tuyền; tiếng nói nguyên tuyền của một
phần nào đó của vũ trụ, một kết hợp khác ngẫu nhiên và không thể khác trong cơ
đồ của Tạo hóa, cái cơ đồ mà theo đó tiếng nói nguyên tuyền của một ai đấy rất
có thể chỉ là tiếng vọng của một cái gì thân quen đối với chúng tôi, tuy nhiên
còn có gì giản dị hơn thế: mỗi chúng ta vừa là máu thịt và tiếng nói nguyên tuyền
vừa là hình bóng và tiếng vang của chính mình và của nhau, đối với chính mình
và đối với nhau. Việc của chúng tôi không gì hơn là cất lên thành lời, tạo hình
hài cho sự xoắn xuýt không rời hòa quyện bất phân này giữa bóng và thân, giữa
thanh âm nguyên thủy và tiếng vọng. Chúng tôi tự hào rằng mình hiện hữu, độ lớn
của chúng tôi được đo bằng độ dài mối liên thông bất tận ấy giữa mọi vật và mọi
sinh thể.”
Trong quãng lặng dài sau đó, chỉ còn nghe tiếng lách tách phát ra từ một
cái gì đang chuyển hóa bên trong ngọn lửa mà đám gia nhân chăm chút không để
tàn, và một cái gì đó cất lên tiếng nói không thanh âm, không đòi được lắng
nghe, song, hoàn toàn tự nhiên, tâm trí con người nghe thấy nó.
Arrobauth nói.
“Kărâdángy, một trong các sư phụ ta ở Börâkhon, chắc chắn sẽ nhận ngươi
làm môn sinh mà không cần phải sát hạch ngươi như đã sát hạch ta.” Chàng cười
nhạt. “Bằng cái lưỡi sẵn có của ngươi, được mài bén và luyện dẻo đến mức tột
cùng nhờ những năm dài siêng năng tập tành dưới sự trông nom của Thầy, ngươi sẽ
chỉ cần dùng đôi lời để biến vị anh hùng thành kẻ đớn hèn, người tận trung
thành tên phản phúc, đứa con hiếu thảo thành phường phá gia chi tử. Và dĩ
nhiên, ngược lại cũng vậy. Ngươi đang khiến ta bắt đầu cảm thấy mình kém cỏi và
bé mọn bởi ta không có khả năng nhìn thấy Hình của ngươi ở trong ta và Hình của
ta ở trong ngươi. Cái khả năng mà hình như ngươi có, hử. Ta đang tự hỏi liệu ta
có cần phải tự hỏi điều đó không. Cái cảm giác tự thấy mình lớn ở mi, nó có
đáng để ta phải dành một góc tâm trí ta cho nó trong chốc lát trà dư tửu hậu
hay không, hở tên Bongora?”
Tiếng vỗ tay chậm rãi, gồm nhiều nhịp cách đều nhau của Faínâhind như xé
rách dần bầu không khí thẳng căng và đáng lẽ đã im lặng.
Faínâhind nói.
“Arrobauth của ta luôn khắc nghiệt với thế giới cho dù chàng ta yêu thế
giới, hay là, chà, điều này ta mới nghĩ ra thôi: hay chính vì chàng ta yêu thế
giới. Này Mattai tội nghiệp! Nếu ngươi tin chắc hay đinh ninh hay cảm thấy rằng
Arrobauth đây không yêu những bài hát đi qua mồm ngươi, không yêu những linh hồn
trú ngụ trong các bài hát đó và lưu chuyển thông qua chúng thì ngươi lầm.
Arrobauth biết vũ trụ này đủ lớn để chàng ta phải luôn mở rộng mình hứng lấy và
ôm chứa nó. Nếu ngươi có cảm thấy chàng ta rẻ rúng ngươi và nghệ thuật của
ngươi, hãy coi đó là một biểu hiện của tình yêu. Ngươi chưa bao giờ biết tới gã
đàn ông nào rẻ rúng ả đàn bà hắn yêu hơn hết sao? Bản chất của sự luyến ái giữa
đàn bà và đàn ông không thể khó lường đến mức ấy ru? Ta không tin rằng những
bài hát của ngươi không ôm chứa cả điều đó.”
 |
| "Secrets of the Earth", tranh của Ania Tomicka |
Im lặng một chút, Mattai nói.
“Tôi chưa bao giờ nói rằng những gì tôi cảm thấy trong lòng mình đối với
Arrobauth đại nhân không phải là một biểu hiện của tình yêu. Cũng bằng cách đó
tôi yêu vẻ đẹp và sức mạnh của một tia sét khi nó tỏa những cành nhánh ảo diệu
và chết chóc của nó trên bầu trời. Có một điều khắc sâu trong tâm trí những người
kể chuyện chúng tôi, hay đúng hơn tâm trí chúng tôi được tạo hình dựa trên tinh
túy của điều này: mọi hành vi sáng tạo đều là một hành vi của tình yêu. Dù cho
tình yêu ấy trộn chung với cái gì đi nữa, và do đó có vẻ ngoài khác với tình
yêu đến thế nào đi nữa, song, nếu ta đón nhận nó bằng cái tâm rộng mở, không
phân biệt, cách đón nhận mà tự thân nó cũng là một hành vi của tình yêu, thì ta
sẽ nhận ra nó.
“Mỗi lần chúng tôi hát một bài hát, và có một người đón nhận nó vào
trong tâm khảm mình, là thêm một hành vi của tình yêu được thực hiện và viên
thành. Mỗi lần một hành vi của tình yêu đó hiện hữu, chúng ta cảm thấy nó trong
xương tủy mình, và ngay khi đó ta ngộ ra rằng bí mật của hiện hữu thật ra là rất
giản dị: ngay khi đó cái chết có thể tới, không còn gì ngăn trở giữa nó với sự
sống của chúng ta nữa. Cái chúng ta vừa cho ra đời là đủ để chúng ta không cần
sống nữa.”
“Phải, toàn bộ sự sống của mi vừa vặn ngang giá với khoảnh khắc mi khiến
kẻ khác phải nhỏ lệ, mơ màng hoặc cười ré lên,” Arrobauth nói, với một nụ cười
mà chàng muốn người ta phải hiểu là độ lượng. Nói đoạn, chàng nhìn chằm chằm
vào đôi mắt bình thản của Mattai, bình thản và sâu như đáy một vịnh kín. “Thôi
được,” sau một chốc ngắn chàng nói. “Ta sẽ nói rõ hơn, để mi không hiểu lầm ý
ta, với cái đầu nhỏ nhặt và chật hẹp của mi.
“Mi có biết chuyện Oglosméten và ngón đàn thần diệu hoặc quái dị của hắn
ta chứ? Rằng từ tiếng đàn của hắn hồn ma các dũng sĩ và chiến binh tử trận lại
hiện về sát vai cùng các chiến hữu còn sống đặng tiếp tục cuộc giao tranh kéo
dài mãi mãi không dứt với những kẻ thù xứ Kinka hùng mạnh như chính Chúa Trời?
Phải nói ngay với mi rằng ta không tin cái khía cạnh huyền hoặc ma mị của câu
chuyện đó. Ta, một kẻ đầy lý trí và xây dựng phẩm giá của mình dựa trên lý trí,
ta chỉ chấp nhận những sự thật nào không bị che đậy hoặc tự che đậy trước mắt
ta. Ta nói thêm như thế để cho mi, kẻ có thể sâu sắc hơn nhưng nhất định là u
mê hơn ta, chớ có bị cái bầu khí tối tăm u huyễn của câu chuyện đó lay động hoặc
lôi cuốn mi, mà hãy tập trung vào một và chỉ một điểm cốt yếu: phải chăng làm sống
lại những kiếp sống đã chấm dứt bằng cách đó, dựng người chết dậy và tiếp tục sử
dụng họ, cho đến khi không cần tới họ nữa thì để họ nằm xuống lại và tiếp tục
chết, phải chăng đó là điều tốt nhất cái nòi những kẻ như ngươi có thể làm? Linh
hồn một ả đàn bà sống cách đây ngàn năm, hay một đứa con gái ở Terra, cái thế
giới không-thể-nào-tới-được như mi nói, nó sống dậy, động đậy, làm rung động,
làm đắm đuối, làm nức nở. Đúng. Trong một khoảnh khắc. Một khoảnh khắc tương
giao với vô tận, như mi nói. Đúng, có thể. Song, khi khoảnh khắc đó đi qua rồi,
cái còn lại là tất cả các khoảnh khắc khác, và cuộc đời thực của chúng ta hợp
thành từ các khoảnh khắc ấy, dù có cái một-khoảnh-khắc kia hay không. Chẳng phải
thế ru? Mi có thể nói gì thì nói, và nói một cách đầy sức mạnh, cao nhã, minh
triết, ừ, quả có thế thật. Thế nhưng, một sự thực khác mà mi không nói, ta đây
nói, và không một cái gì từ mi mà ra có thể làm thay đổi hay động tới nó đâu: Với
thế giới này, cái thế giới có ta, của ta, bởi ta, cho ta, mi và những
kẻ như mi không là gì khác ngoài một hạng người chuyên mua vui bằng cách dựng
cái chết thành cái sống và buộc người ta nhận đó là cái sống. Làm ra sự sống
đích thực là việc quá khó khăn và quá lớn lao so với bọn mi. Ta coi là bạn ta
và bằng vai phải lứa với ta những người làm việc để đắp nên từng dặm đường lát
đá của Đế quốc, làm ra từng cái cúc áo đẹp mà ta mân mê trong ngón tay ta, đưa
tới cho ta những quả nho mà ta chậm rãi, trang trọng cho vào mồm từng quả một,
dâng lên ta từng mũi tên mà ta âu yếm cho thoát khỏi cánh cung, lấp loáng dưới
nắng rồi tìm đến đúng chỗ thịt mềm của một con chim và hân hoan hối hả ngập sâu
vào đó.
“Dĩ nhiên,” chàng giơ một tay lên như để ngăn lại một lời đáp lại trước
khi nó được thốt ra, trước khi ai đó kịp nghĩ rằng mình sẽ thốt ra. “Dĩ nhiên
ta biết, mi hay ai đó như mi sẽ nói, như ai đó ta không nhớ tên và không cần nhớ
tên, từng nói, rằng những bài hát của bọn mi, tiếng cười, giọt nước mắt, giấc
mơ ngày, nỗi xáo động, cơn thắt ruột mà bọn mi khơi nên ở những kẻ lắng nghe bọn
mi, tất cả đều là những hình thái khác nhau của một vương quốc bị lãng quên,
cái vương quốc đã từ lâu không tìm được chỗ cho mình trong cái thế giới của những
lo toan tủn mủn thường nhật và lạc thú chóng tàn. Ô hô, ta hiểu mi lắm. Ta hiểu
mi hơn mi tưởng nhiều, phải không. A ha, ta rất hiểu mi, mặc dù ta khác mi,
chính bởi vì ta khác mi, chính vì vậy mà ta mới khác mi. Ha, chính vậy đó: ta
khinh mi, dù biết hay không biết rằng theo nghĩa nào đó mi cũng có thể giàu có
và sâu xa hơn ta. Trong cái thế giới chúng ta đang tồn tại đây, chẳng có điều
gì tự nhiên và hợp lẽ hơn thế. Khinh miệt mi và những kẻ cùng nòi giống với mi
là một trong những cái làm nên phẩm tính của ta, chẳng khác nào chạy nhanh là
phẩm tính của con ngựa và tàn độc là phẩm tính của loài rắn bé tí xinh xẻo mà
mi thấy đang cuộn mình ngoan ngoãn và u sầu trong bình rượu này của ta. Ừ đấy,
mi nói nữa đi, nói cho đến hơi thở sau bét của mi nếu mi muốn, về những vũ trụ
mà dường như mi và bọn như mi có khả năng tạo ra còn ta thì không, vũ trụ của
những thứ thực sự sống hoặc vờ sống hoặc chết mà như sống hoặc sống nhưng khó
nhận ra đến nỗi chả khác gì không sống, đó là việc của mi. Còn ta, cái vũ trụ
thực sự có và thực sự đang sống này, ta đang có nó trong tay ta, trên ta, dưới
ta, xung quanh ta, bên trong ta, nó là của
ta, nó là ta, và ở trong đó, mi,
một thứ ở bên dưới ta, mi không có khả năng gì tác động tới ta được. Cơ đồ của
vũ trụ đã được an bài theo cách đó. Mi cựa quậy, vùng vẫy, khua khoắng nhặng xị
lên trong cái xó của mi, cái xó khiêm nhường nhất giữa những xó khiêm nhường nhất,
cố công làm đẹp làm giàu thêm cái thế gian này theo cách của mi, theo cách hiểu
của đầu óc mi về chuyện thế nào là cái đẹp và sự giàu có. Cứ làm thế đi, không
ai cấm mi. Song khi nào ta, Arrobauth, công dân đế quốc Siră Kăntânări, ta cất
lời với mi về chuyện thực ra mi và cái mi làm ra đang nằm ở đâu trong thế giới
này thì mi phải lắng nghe ta và hiểu
đúng cái điều ta muốn mi hiểu. Có một
khoảng cách thường tồn, không thể vượt qua giữa ta với mi. Dù mi có ở đâu, làm
gì, hát gì, nói gì, nghĩ gì, đừng bao giờ quên mất cái khoảng hẹp đó, nơi duy
nhất mi được phép đứng.”
Có một quãng lặng ngắn trong đó dường như vạn sự trong vũ trụ đã khép lại
thay vì mở ra. Thế rồi, điềm tĩnh, dường như vừa thân mật vừa châm biếm, giọng
Faínâhind cất lên.
“Nào Mattai. Miệng lưỡi và thần trí của ngươi đâu rồi?”
“Miệng lưỡi và thần trí không phải lúc nào cũng đi đôi với nhau, thưa tiểu
thư,” Mattai chậm rãi nói, không vơi chút nào vẻ bình thản. “Ai là kẻ trong
chúng ta có thể khẳng định, như một chân lý tối hậu, rằng một tảng đá tồn tại
trong trời đất từ thuở hồng hoang lại không có thần trí riêng của nó? Chuyện
tôi nói gì không có thực chất bằng chuyện tôi nghĩ gì, điều đó hẳn Faínâhind cô
nương và Arrobauth đại nhân hiểu. Những gì tôi nghĩ luôn luôn lớn hơn, sâu hơn,
nặng hơn gấp bội những gì tôi nói, chẳng phải như vậy ru? Những gì tôi mang
trong đầu và trong tim tôi nặng gấp muôn lần những gì tôi mang trong bụng tôi,
cho dẫu điều đó chỉ những người như tôi mới thấu hiểu được. Tôi chỉ có một cõi
thế duy nhất mà trong đó tôi sống, nhưng tôi mang trong đầu và trong tim mình
hàng trăm hàng ngàn cõi thế khác, chúng sống trong tôi và bên trong chúng hàng
muôn vạn những người những thú những chim những cá những trùng những cỏ cây
khác sống, đối với muôn loài đó thì những cõi thế ở bên trong tôi kia là những
cõi thế vô tận. Vậy là thân thể tôi, trí óc tôi, tâm hồn tôi là ngõ thông giữa
cái hữu hạn và cái vô hạn. Bên kia là vô hạn thì ở đây hữu hạn, ở đây hữu hạn
thì bên kia vô hạn. Và khi tôi chết, muôn vàn thế giới ở bên trong tôi không chết,
chỉ là cái lối đi từ thế giới này đến các thế giới ấy thông qua tôi đã đóng lại
vĩnh viễn. Những thế giới đó, chúng vẫn có đấy, đang hiện hữu đấy. Hãy tìm một
lối thông khác, rồi thì chúng sẽ lại mở ra cho ta, nguyên vẹn. Đó là lý do vì
sao chúng tôi hát, chúng tôi kể chuyện, chúng tôi trao lại những bài hát và câu
chuyện ở trong mình cho những ai sẵn lòng nghe chúng và mong muốn đến lượt họ
mang chúng ở trong mình, để cho chúng tuôn bên trong mình giống như máu và sinh
khí của mình và thông qua mình mà tuôn trở về cõi vô hạn ở phía bên kia chúng
tôi. Nghề của chúng tôi khiến cho, chừng nào chúng tôi còn sống, chừng nào
chúng tôi còn một giọt sự sống cuối ở trong mình, chúng tôi còn hát còn kể về
những gì lớn hơn chúng tôi, tốt hơn chúng tôi, đẹp hơn chúng tôi, và còn mãi
mãi im lặng về bản thân chúng tôi. Vâng, đó là đạo lý nghề nghiệp của chúng
tôi: mãi mãi cất tiếng và đồng thời mãi mãi im lặng.
“Vả chăng, chúng tôi im lặng, có những lúc cần im lặng, về bản thân mình
thì im lặng bởi vì, rất có thể, trong khi chúng ta đang kể chuyện về các nhân vật
của mình, có một ai đó đang kể chuyện về chúng ta. Người kể chuyện này cũng là
một con người, có một cuộc đời đầy bất trắc khôn lường giống như chúng ta. Cho
nên rất có thể một lúc nào đó có một sự biến xảy ra khiến người này không thể kể
tiếp câu chuyện về chúng ta nữa, chừng đó thì chúng ta vừa tồn tại vừa không tồn
tại. Chừng đó chúng ta tồn tại đối với bản thân chúng ta và không tồn tại,
không còn tồn tại nữa đối với những ai cho đến giờ vẫn đang nghe câu chuyện về
chúng ta. Và do vậy đến lượt mình chúng ta tiếp tục kể chuyện về các nhân vật của
mình là để cho họ tiếp tục tồn tại đối với chúng ta, giữ cho cái cõi thực ấy
không biến mất đối với chúng ta. Khi một người trong chúng ta chết giữa khi
đang kể, liền có một người khác nắm lấy câu chuyện mà kể tiếp, không để nó đứt,
đấy là chúng ta đang làm tròn nghĩa vụ của mình đối với các thế giới kia, giữ
cho chúng tiếp tục hiện hữu đối với chúng ta, và thế là chúng ta có thể chết
trong tự hào rằng mình đã không sống vô ích.”
Chàng ngừng nói. Và rồi, từ sâu dưới đáy sự im lặng mà chỉ đây đó bị nẻ
ra vài vết li ti bởi tiếng nổ lách tách của củi cháy đượm trong ngọn lửa, trồi
lên giọng Faínâhind, mảnh, mong manh, run run, chẳng giống tí nào với giọng thường
ngày của Faínâhind, như giọng một sinh thể vừa sống lại bằng xương thịt song vẫn
chưa thể tin vào điều đó, sợ phải biết sự thật rằng mình vẫn đang là một linh hồn.
“Cái cõi xa xăm vô cùng mà chưa một ai trong loài người chúng ta từng đến
được ấy, ngươi bảo tên nó là gì, Mattai?”
“Thưa cô nương Faínâhind kiều diễm, điều đó bản thân tôi không biết chắc.
Chỉ biết rằng nó có nhiều tên khác nhau trong những ngôn ngữ khác nhau của các
tộc người sinh sống ở đó, và một trong số đó là Terra. Đó là một trong những
cái tên được nói ra nhiều hơn hết từ môi các cư dân thế giới đó mỗi khi họ muốn
nhắc đến nó, với tình yêu, với niềm hoài nhớ, với nỗi đau đớn, trong cơn phẫn hận
hoặc bằng trí óc lạnh lùng. Terra, hay một trong nhiều biến thể của cái tên đó
trong nhiều thứ tiếng khác nhau. Terre. Tierra, Tèra... Một tên khác của nó, mà
ta có thể nghe đến còn thường xuyên hơn, là Earth. Thế giới ấy cũng rộng lớn
như thế giới của chúng ta, cũng nhiều sông, nhiều núi, nhiều rừng, nhiều đồng bằng,
nhiều vực sâu, nhiều hoang mạc, nhiều biển lớn, nhiều vùng băng giá như thế giới
của chúng ta vậy. Ở đó cũng có nhiều đất nước rất khác nhau giống như thế giới
của chúng ta, với rất nhiều tộc người có hình dáng khác nhau, nói những ngôn ngữ
khác nhau và theo những tập quán khác nhau, giống như thế giới của chúng ta. Và
những người này, cho dẫu có vẻ khác chúng ta đến như vậy, kỳ thực rất giống
chúng ta, rất gần chúng ta. Nếu một người như vậy, từ Terra, bằng cách nào đó
mà rơi sang thế giới của chúng ta và lọt vào giữa chúng ta, hoàn toàn có thể một
ai đó trong chúng ta sẽ đem lòng yêu người ấy và chung thủy với mối tình đó đến
chết. Ngược lại cũng vậy. Biết bao câu chuyện và bài hát tuyệt đẹp có thể sinh
ra từ đó. Nghiệt nỗi, chuyện đó không bao giờ xảy ra được. Terra là bóng của
chúng ta và chúng ta là bóng của Terra. Chúng ta không thể trở thành bóng của
chính mình đặng yêu một cái bóng khác.”
“Vậy thì,” Arrobauth chợt lên tiếng, kìm một tiếng cười khẩy khó mà đoán
được ẩn nghĩa, “mi nói nhiều về Terra như vậy để làm gì? Cứ để cho thân của ta
là thân của ta và bóng của ta là bóng của ta, mỗi đằng có chỗ của mình và yên
phận, thế chẳng hay hơn sao? Hãy say mê ngắm nhìn thế giới bóng đó nếu mi muốn,
đắm mình vào thế giới bóng đó nếu mi thích giống như đắm mình vào một giấc mơ
không đành quên, song vẫn luôn luôn khắc cốt ghi tâm rằng đó là thế giới bóng,
những cái bóng mà trong thực chất không hơn gì những hồn ma, những hơi gió, những
làn khói, và sống hết mình sống đến cùng kiệt máu của mi trong thế giới thực,
cái thế giới thực duy nhất hiện hữu, thế giới của những thể xác đầy cáu ghét đầy
cứt song cũng có thể đầy hương thơm. Thế giới của cô nương Faínâhind, của ta, của
mi. Mi có đủ khả năng làm vậy không? Nghe mi nói, ta có cảm tưởng là mi không
thể.”
“Kẻ không thấy được có thể nghe xa hơn những người thấy được,” Mattai nhỏ
nhẹ nói. “Kẻ không thể đứng trên hai chân mình có thể chỉ nói một lời mà khiến
một người gục ngã đứng dậy. Người kể chuyện chúng tôi có thể không đứng chắc
chân được trên mặt đất giống như người thợ xây đường cho đế quốc hay kẻ tiều
phu ngày ngày đốn cây cổ thụ, thể xác chúng tôi không được sinh ra để làm việc
đó. Song bằng một đôi tai ở sâu trong chúng tôi và đồng thời ở cách chúng tôi
vô số dặm song là của chúng tôi, chúng tôi nghe được một người nào đó ở Terra
đang kể câu chuyện về chúng ta, về chính chúng ta, và qua đó làm cho chúng ta
ngày càng hiện hữu đối với người ở thế giới ấy. Khi chúng ta im lặng đủ sâu,
chúng ta có thể nghe được sự im lặng của chính mình ở đó, ở Terra. Khi chúng ta
thét lên đủ lớn với toàn bộ tâm hồn mình vì sung sướng hay phẫn nộ, chúng ta có
thể nghe tiếng thét đó của chính mình ở đấy, Terra, không phải tiếng vọng mà là
anh em song sinh của tiếng thét ấy. Chừng đó, và chỉ chừng đó, chúng ta mới thấu
hiểu rằng chúng ta sống từng khoảnh khắc của chúng ta ở đây cũng là để sống cho
từng khoảnh khắc của chúng ta ở đó. Thể xác chúng ta không thể đi sang được đó
song tinh thần chúng ta có thể. Chúng tôi kể chuyện Terra là để không ngừng nhắc
nhở mọi người chúng ta nhớ điều đó, cũng như những người Terra kể chuyện chúng
ta vậy. Chúng ta và họ cùng hiện hữu, cùng sống sánh đôi bên nhau qua những câu
chuyện. Thể xác chúng tôi, cuộc đời chúng tôi, người kể chuyện, chẳng là gì hơn
cái đầu mút của những sợi dây vô hình nối liền đôi bên, thưa Arrobauth đại
nhân. Chúng tôi không được phép gắn quá chắc vào cõi hữu hình đến nỗi làm lơi
đi mối nối giữa mình với cõi vô hình.”
Mattai ngừng nói, và một lần nữa âm thanh duy nhất chiếm hữu không gian
và đôi tai cùng trái tim người là tiếng củi nổ lách tách trong ngọn lửa. Vài cặp
mắt hướng về phía Arrobauth, chờ đợi, giữa khi chàng ngồi đó chìm trong trầm
tư. Faínâhind nhìn chàng với vẻ dịu dàng. Nếu chàng nhìn lại Faínâhind, chàng sẽ
thấy rằng chưa khi nào nàng nhìn chàng với sự dịu dàng đến như vậy. Tuy nhiên
chàng không nhìn Faínâhind. Chàng như đang thấy, xuyên qua bầu máu và thịt nóng
của một sinh thể nào đó thuộc về đất mà chàng yêu thương, hình bóng mơ hồ khó nắm
của một giấc mơ nào đó chàng từng có trong quá khứ mà lúc này bỗng trở lại
trong tâm trí chàng, thoảng nhẹ và ám ảnh, như làn gió nổi ẩm lạnh duy nhất ở
trong lòng bừng cháy của mùa hè khô kiệt nhất. Một vẻ buồn khác lạ thấm đượm
chàng, “giống như ánh mờ của một ngôi sao đen”. Nếu có ai nhìn Mattai lúc này,
người đó sẽ biết chàng đang nhìn Arrobauth với một vẻ trìu mến và dịu dàng ra
sao. Như thể chàng đang nhìn một người anh em ruột thịt cho dẫu chàng biết người
anh em đó có thể giết chàng bất cứ lúc nào bởi chàng biết rằng người anh em đó
không biết việc mình làm. Và cái im lặng tỏa ra từ hai người này, từ Arrobauth
kẻ đang chiêm quan cái gì đó chỉ một mình chàng thấy, và từ Mattai kẻ đang
chiêm quan cái gì đó bên trong Arrobauth mà có lẽ chỉ một mình Mattai thấy, là
một im lặng mà mọi người khác đều cảm thấy mình không nên phá vỡ cho dù bản chất
của nó họ không thật hiểu.
@Trần Tiễn Cao Đăng