Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2012

Mừng người từ cõi sống trở về - Phần 2 (trích tiểu thuyết)

Nếu một người như tôi trước kia - kẻ như tôi từng là trước khi có những giấc mơ này - mà đã bất lực thì còn ai khác có thể giải đáp được câu hỏi đó. Tôi biết rõ tôi hơn ai hết, tôi biết rõ điều tôi nói. Những kẻ bình thường như tôi trước kia, họ không tin tôi, âu cũng là điều đương nhiên, bởi chuyện này không xảy ra với họ mà với tôi. Họ không tự mình sống điều này, nên tất cả những gì họ nói và nghĩ về nó đều là kết quả sự vận hành của một đầu óc không sống. Họ sống, nhưng họ suy nghĩ - hay đúng hơn là làm cái việc họ tưởng là suy nghĩ - bằng một bộ óc đã chết. Xin lỗi, cho tôi ngụm nước.

Vợ tôi là người đầu tiên nhận thấy những chuyển biến này ở tôi. Cũng dễ hiểu. Chỉ có cô ấy là người ở vào cái thế có thể bắt gặp tôi đứng trước gương tự ngắm nghía mình với cái vẻ bỡ ngỡ như đang nhìn một kẻ lạ và khi bất chợt nhận ra có người đang nhìn trộm mình thì tôi vụt khum hai tay che lấy ngực, một cách bất giác, vô thức, thực sự là thế, ở đây thì thực sự đúng với nghĩa của mấy từ đó: bất giác, vô thức. May cho tôi, vợ tôi là người đủ tinh tế để không hỏi tôi nhiều câu hỏi. Cô ấy biết, có những điều mà không nói ra là cách tốt nhất để nói ra. Một số giấc mơ mà tôi tiết lộ với cô ấy (bên cạnh những giấc mơ tôi buộc phải kìm mình không tiết lộ), một phần những bứt rứt, ngờ vực của tôi, một phần những nỗ lực của tôi để buộc mình suy luận một cách mạch lạc, tỉnh táo, hữu lý, tôi có thổ lộ bằng lời với cô ấy vào lúc này hay lúc khác, hình như thế là đủ để cô ấy biết cần phải giữ mình trong im lặng như thế nào để có thể cảm thấy được những lúc chuyển hóa đột ngột, chớp nhoáng như thế này ở con người bên trong của tôi.

Để cưỡng lại những lúc biến đổi đột ngột mà mình không kiểm soát được ấy, giống như là cố tăng cường một đối trọng, để lấy lại sự cân bằng, tôi chủ ý quan hệ tình dục nhiều hơn với vợ tôi. Tôi quan tâm tới những thứ thuốc tăng cường sinh lực nam giới mà bình thường tôi không cần đến và không nghĩ là sẽ có lúc cần đến, tôi theo dõi chăm chú hơn so với trước kia sự thèm muốn khiến dương cụ tôi cương cứng và to lên mỗi khi nhìn thấy và quan sát một người đàn bà trên vỉa hè, dừng ở ngả tư, nơi quán cà phê, trong thang máy, trên hành lang bệnh viện mắt đỏ hoe chờ nghe tin lành hoặc tin dữ. Thậm chí - tôi có thể nói điều này vì biết vợ tôi nếu biết thì sẽ hiểu và chấp nhận - tôi còn làm việc đó với một số phụ nữ khác, một cách quyết liệt, gần như là tuyệt vọng, có thể nói vậy, nhằm khẳng định với chính mình là tôi khác họ, tôi không phải là một với họ, giống như một tên giết người hàng loạt đã nói, hắn giết các nạn nhân để chứng tỏ với chính hắn rằng hắn khác họ, hắn vẫn sống vì hắn muốn thế, còn họ thì hắn không muốn.

Tôi đã đạt được, đã thu được gì từ những hành động đó? Tôi nhận thấy tôi có phũ phàng, hung hãn, thô bạo đến bao nhiêu với những người đàn bà (không phải vợ tôi) thì cũng không đủ - tôi đã từng biết tới những sự phũ phàng, hung hãn thô bạo lớn hơn thế quá nhiều lần đến nỗi dù có cố bao nhiêu đi nữa tôi cũng không tìm được một cách so sánh.

Có nhớ câu “Quyền lực nó hấp dẫn ta ở chỗ ta có nó còn kẻ khác thì không”? Nhớ, nhưng không nhớ cụ thể là ở đâu, trong sách gì, phim gì, kinh tạng gì, tổng luận gì? Cũng chẳng quan trọng. Điều đáng quan tâm là quả có thế thật: anh yêu quyền lực là vì, có nó, anh có thể làm với kẻ khác tất cả những gì kẻ khác không thể làm dù với anh hay với ai. Đó chẳng qua là một kiểu khác biệt, cũng như người ta khác biệt với đám đông khi người ta cao hơn, khỏe hơn, đẹp hơn, thông minh hơn, tài năng hơn, khôn ngoan hơn, quỷ quyệt hơn, tàn ác hơn. Một số người chỉ cảm thấy mình thực sự hiện hữu chừng nào họ còn nhận thức được là mình khác biệt.

Khi làm tình với những người đàn bà (không phải vợ tôi) một cách hối hả, hung hãn và tuyệt vọng như thế, chính là tôi đang quyết liệt thực thi một thứ quyền lực, điều này chỉ sau đó tôi mới hiểu ra, mới nhận định được về nó đủ để có thể nói thành lời như thế này, một thứ quyền lực nhằm để phủ nhận một thực tại này và cố sống cố chết khẳng định một thực tại khác. Những khi tôi đã xuất hết vào trong họ, tôi có cảm giác toàn thân tôi cũng tan chảy hết ra và phân hủy vào trong họ, chỉ còn mỗi họ là hiện hữu và do đó chỉ còn mỗi một thực tại duy nhất hiện hữu, thực tại của những người đàn bà mở ra, mãi mãi mở ra, mãi mãi bị buộc phải mở ra, mãi mãi bị xâm hấn và chiếm đoạt, mãi mãi không được phép là chính mình, mãi mãi là một cái lỗ có cảm giác, đầy cảm giác song không ai quan tâm liệu nó có linh hồn, và dù tôi có tống vào nó cật lực đến thế nào cái quyết tâm tự khẳng định tôi, ý chí quyền lực của tôi, cái sự thật ấy vẫn tồn tại đó, như một bức tường đá đập mạnh vào tủy tôi: tôi hiểu ra rằng không thể đương đầu với nó theo cách này được, không thể lấy một thứ quyền lực khác - ở đây là thứ quyền lực đực tính nhỏ nhoi của một cá nhân - để cưỡng lại nó.

Các giấc mơ vẫn tiếp tục xuất hiện, không nhiều hơn, không dày hơn, nhưng rõ ràng là ngày một tăng lên về chiều sâu, về mật độ, về sức mạnh… (Dĩ nhiên những từ này thật ra hàm nghĩa gì thì chỉ một mình tôi, người thực sự sống trong những giấc mơ ấy mới có thể hiểu được.) Làm thế nào mà tôi không bị hoang tưởng, bị loạn thần kinh trong hoàn cảnh đó, với tôi đấy là cả một bí ẩn lớn. Tôi chỉ có thể nhẹ lòng hơn một chút khi tự an ủi mình - tự khuyên nhủ mình - rằng mọi sự vật và hiện tượng trên thế giới này, tồn tại của mỗi sinh thể trong vũ trụ tự nó đã là một bí ẩn dù nhỏ hay lớn. Bằng cách này, viện tới những thứ minh triết chẳng có gì mới song đôi khi hữu hiệu ấy, tôi hóa giải dần dần từng ít một những cơn hoang mang nhiều khi choán hết tâm trí tôi và có vẻ sẽ chẳng bao giờ buông tha tôi. Tuy nhiên, những lúc nhẹ lòng như vậy không kéo dài lâu. Về mặt nào đó, nó không khác lắm với những quãng gián cách giữa hai cuộc tra tấn, giữa hai đợt phải trao thân cho vài chục tên lính. Ở đây hẳn có gì đó rất giống với tình cảnh của Prométhée, có điều không chỉ lá gan. Mà toàn thân ta bị xuyên thủng, cày nát, rã thành từng mảnh, sau đó ta cố sức lắp ráp lại bản thân mình, tâm trí mình, tất cả những mẩu bầm dập rách nát của bản thân mình còn sót lại, và rồi ngay sau đó cái vừa được chắp nối sơ sài chưa liền mép ấy lại bị xuyên thủng, cày nát, băm xả, bắt phải rã ra từng mảnh. Và cứ thế không dứt. Cứ thế, cho đến cái độ mà bất chợt có những lúc tôi thấy mình một cách vô thức cứ canh chừng mặt đất dưới chân mình xem có đúng là nó đang nghiêng đi không hay đúng hơn là bên trong tôi đang nghiêng đi, đang bị xô lệch cong vênh đi vì một cái gì đó quá nặng mà tâm thức tôi không mang nổi.

Dần dần thì cũng đến lúc thành trì tưởng như không thể lung lay của vợ tôi bắt đầu tỏ ra dấu hiệu lung lay trước sức ép của vấn nạn tôi đang mang, cái tình trạng gần như khủng hoảng ngày càng rõ là vô phương cứu chữa của tôi. Chẳng hạn như cái lần tôi cùng vợ đi ăn quán, có một người quen tình cờ cũng ở đó đứng dậy tiến lại bàn chúng tôi định bắt tay tôi, song có lẽ vì anh ta muốn gây bất ngờ nên cứ thế đến đứng lù lù ngay trước mặt tôi, không nói không rằng trong khi hai vợ chồng mải ăn không chú ý, và rồi, khi tôi ngẫu nhiên ngẩng đầu lên thì hoàn toàn bất ngờ thấy một người lạ - một người đàn ông lạ - hay ít nhất là chưa kịp nhận ra ở ngay cạnh mình, quá gần mình không biết từ lúc nào và bằng cách nào, tôi liền hét lên và túm lấy vật đầu tiên trong tầm tay ném thẳng vào anh ta. Tôi làm thế trước khi kịp nghĩ, trước khi bất cứ ai khác kịp có phản ứng khác. Khỏi cần nói, đó hoàn toàn không phải tôi. Sau đó, suốt quãng đường ngồi ô tô về nhà, sau khi đã tắm rửa, lo cho mấy đứa nhỏ lên giường, rồi bản thân mình cũng thay đồ ngủ và lên giường, vợ tôi không hé răng với tôi. Mãi đến khi tôi cũng lên giường và, chú ý lấy giọng tự nhiên nhất, gợi chuyện với cô ấy về một chủ đề vô thưởng vô phạt, thì sau một hồi im lặng dài, có lẽ không thực sự dài nhưng với tôi thì quá dài, cô nói, Em muốn anh thôi không chăm sóc cô kia nữa, ngay lập tức. Đẩy cô ta đi chỗ khác càng xa càng tốt, và đừng bao giờ bén mảng lại gần cô ta một lần nữa. Cô ấy nói ôn tồn như từ trước đến nay, nhưng tôi cảm nhận được cô phải dùng tới bao nhiêu sức lực mới có thể nói hết mấy câu đó.

Hẳn không khó hình dung rằng tôi đã tiên liệu từ trước cái tình thế này, dự trù trước mình nên hay không nên nói gì và cần phải làm gì. Do vậy tôi bèn làm những gì tôi biết trước rằng sẽ phải làm. Tuy nhiên, dẫu tôi biết là vợ tôi đã biết tôi đang sắp sẵn những gì trong đầu rồi, tôi vẫn thấy tim mình như bị bóp nghẹt lại khi tôi làm thế, tuồng như tôi đang làm một việc giấu kín, lén lút, không thể ngờ tới đối với cô ấy. Hiển nhiên là tôi vẫn làm, bởi nếu nhìn từ khía cạnh nào đó thì ngay từ đầu tôi đã phạm một điều không phải đối với cô ấy: bản thân việc tôi - tôi chứ không phải ai khác - mang trong mình một bí mật lớn và tối tăm như thế đã là một cái tội rồi. Ai khác có thể nói tôi nghĩ thế là quá đáng, tôi không có phần trách nhiệm trong chuyện đó, tôi đã không hề tự lựa chọn để có những giấc mơ ấy. Tôi hiểu thế, hiểu lắm. Nhưng tôi không thể nghĩ khác.

Để tìm ra sự thật, hay dù chỉ là tìm được đúng hướng để tiến về phía sự thật, và cũng để cứu bản thân tôi, cứu vợ tôi thoát khỏi tình trạng không lối thoát của tôi, tôi làm tất cả những gì làm được, như bất cứ ai ở vào hoàn cảnh tôi sẽ làm. Tôi cố gắng tìm cách nối kết những gì tôi sống trong các giấc mơ với những gì mình biết hoặc có thể biết, về lịch sử đất nước mình, những thời kỳ lịch sử khác, những đất nước khác, những thế giới khác, những môi trường khác nơi có những con người cũng như tôi sinh ra, lớn lên, hưởng thụ hoặc chịu đựng cuộc sống rồi chết. Và rồi tôi dần dần tìm ra những sự tương đồng, vài chỗ trùng khớp hoặc giống nhau nào đó, đôi nét gần gũi hay là một môtíp ít nhiều đồng dạng, nếu có thể nói vậy. Lý do khiến tôi dùng toàn những cách diễn đạt không chắc chắn như vậy là vì tôi không thực sự tin là mình biết ngay cả những gì có vẻ như đã biết… Tôi ra sức tìm những gì mình có thể tin, song những gì ít ỏi tôi chật vật thu thập được càng lúc càng có vẻ là thuộc về một cái gì đó lớn hơn nhiều mà cái này thì càng ngày càng rời xa tôi hơn và càng lớn mãi lên. Tôi biết càng nói ra thì càng mờ mịt càng khó hiểu, song bản chất của chuyện này là thế, như tôi đã hiểu ra: ta càng đến gần nó thì ngôn ngữ của ta càng thất bại trong ý đồ bao trọn nó.

Một trong số những người đó - tức cũng là tôi ở những giấc mơ đồng thời là thực tại đó - là một cô gái Trung Hoa bị trói chặt hai tay hai chân vào một cái giường, trần truồng, để cho bất cứ chú lính Thiên hoàng nào chủ ý đến đó hoặc tình cờ đi qua hoặc được rủ rê chèo kéo mà vào thì đều có thể cưỡi lên không phải mất tiền, cứ thế cho đến khi rốt cuộc cái chết cũng tới giải thoát cho cô ta mặc dù trước đó cô ta đã phải đợi quá lâu, lâu đến độ quãng thời gian cô ta phải chịu đựng và phải chịu đựng ấy hóa ra là dằng dặc, vô hạn, vĩnh hằng hơn nhiều so với sự chết.

Trong khi tôi nói những lời vừa rồi, tôi cũng nhận ra rằng mình nói như thể đang bị ai hoặc cái gì đó ám. Cũng dễ hiểu vì rằng, dĩ nhiên, khi tôi đang nói đây thì tôi là tôi, phần chính là tôi, không phải là người kia. Mặc dù tôi có tự bảo mình đến bao nhiêu rằng tôi chính là người đó và người đó chính là tôi, dẫu cho tôi muốn tin đến nhường nào rằng quả thật không có ranh giới rạch ròi phân cách giữa tôi với người đó, song sự thực là có cái ranh giới ấy, có nó đấy, nó khiến cho những khi tôi - đúng là tôi - nói thì lời tôi nói ra đối với chính tôi lại nghe cứ như không phải lời tôi, không thể là lời tôi, dẫu rằng ở đâu đó sâu bên trong tôi vẫn biết đó là lời tôi.

Bất cứ khi nào tôi nói những chuyện như thế này, tôi luôn luôn có vẻ thật kỳ quái, đáng ngại, đúng không? Ai đó hoàn toàn có quyền nói rằng mỗi lần nghe tôi nói là thêm một lần họ phải chịu đựng tôi. Vợ tôi thì không nói thế, nhưng tôi tìm đâu ra được người thứ hai như vậy trên đời này? Và mặc dù cô ấy không nói, cũng như bình thường cô ấy không nói nhiều hơn là nói, nhưng qua nét mặt như hóa đá của cô ấy khi tôi kể cô ấy nghe chuyện về người đàn bà Trung Hoa kia, qua những giọt nước mắt tự nhiên trào lên trong mắt cô ấy mà tôi không thể biết là dành trước hết cho ai, người đàn bà đó, tôi, chính cô ấy hay ai khác hay tất cả, tôi hiểu rằng mình không thể buộc cô ấy chịu đựng thêm nữa. Tôi trở nên không nói nhiều hơn là nói đối với cô ấy.

Sự thực là tôi đâm ra không nói nhiều hơn nói không chỉ đối với cô ấy. Mà với hầu hết mọi người. Với tất cả. Dĩ nhiên, khi đang làm việc thì tôi nói, nhưng đó là một thứ nói khác, nói một cách thuần túy chức năng, nói như là một việc chẳng đặng đừng, do bên ngoài quy định, không phải là tôi, ở ngoài tôi. Tôi không coi đó là nói theo nghĩa như tôi đang nói. Một kẻ chỉ có khả năng nói như chức năng của mình đòi hỏi, kẻ đó không có giọng nói riêng, không có cá nhân tính, không có bản thể, và do vậy theo nghĩa nào đó là không hiện hữu. À phải… theo nghĩa đó thì tôi có bản thể của mình, có hiện hữu, có giọng nói riêng, dẫu rằng trong khi tôi nói những điều như thế này, tôi không ngừng cảm thấy buộc phải băn khoăn tự hỏi đó là bản thể nào, giọng nói nào của tôi.

Phải, vấn đề là ở đó: giọng của ai. Và tôi, thông qua những trải nghiệm máu thịt, gan ruột theo nghĩa đen, trải nghiệm bằng chỗ kín cùng thẳm nhất của mình theo nghĩa đen, thông qua sự phơi trần tuyệt đối cái chỗ từng là kín cùng này, cũng như sự lộn ra ngoài những cơ quan ẩn giấu bên trong vốn quyết định sự sống còn, tôi nghĩ… chắc là tôi đã hiểu rằng đó là giọng của những chủ thể vốn không có giọng nói, những chủ thể không được kẻ khác cho phép có giọng nói.

Hệ quả của điều tôi mới hiểu ra này là, từ đó trở đi, sự mẫn cảm của tôi như thể tự nó tiến lên một cấp độ khác, cao hơn hẳn, và tôi ý thức được điều đó, bằng một năng lực nhận thức mạnh và có lẽ cao hơn hẳn. Tỉ như, từ đó trở đi, mỗi khi nghe được những chuyện như là loài sư tử châu Phi đang đi đến chỗ tuyệt diệt do những con mồi mà chúng mất bao công sức mới săn được thường xuyên bị con người cướp mất, tôi liền cảm thấy một cái đau có lẽ so sánh được với khi bị dao đâm thủng ruột, và tôi cảm thấy bắt đầu cồn lên trong mình một giọng nói khác, giọng của con sư tử cái nhìn lũ con mình và bản thân mình chết dần bởi không còn sức để tiếp tục săn và tiếp tục chịu đựng cơn đói.
Tôi chuyển cô gái đến một nơi khác mà vợ tôi không biết, tôi tin là vậy, nếu không thì ít nhất cũng là nơi cô ấy vờ như không biết. Cô gái thì vẫn vậy, tiếp tục bằn bặt trong giấc ngủ hoặc cơn mê không ai hiểu nổi, tuy nhiên càng ngày tôi càng cảm thấy rõ hơn một cái gì đó khác thường từ cô ta toát ra, và đó không phải là một thứ gì chèn ép con người như bầu khí quyển bên trong một hầm mộ vừa bị xâm nhập sau hàng ngàn năm đóng chặt. Không có bất cứ lý lẽ nào làm chỗ dựa cho ý nghĩ của mình, song dẫu có vậy đi nữa tôi vẫn không thể không đinh ninh rằng cái không thể gọi tên này, cái thứ mạnh mẽ khó mà lường được này, nó phù trợ sự sống nhiều hơn là gây hại tới sự sống. Có những lúc đứng ngắm cô gái, làn da trắng, đôi má hồng, sống mũi thẳng, mái tóc đen dày của cô, khuôn ngực phập phồng thở đều của cô, như của người đang trong giấc ngủ bình thường, an lành nhất, tự dưng tôi có ý nghĩ cô đang đồng thời tồn tại ở một chỗ khác, không phải trong dạng thức này, bằng một phương thức khác hẳn, mà chắc chắn tôi chưa có khả năng hiểu được. Và ở đó cô đang chú tâm, dốc sức làm một việc gì đó rất quan trọng, vì nhiều người trong đó có tôi, với lòng yêu thương như thể cô là mẹ tôi. Một lần nữa, không có bất kỳ thứ lý lẽ hay cơ sở hay bằng chứng nào trợ giúp cho ý nghĩ ấy.

Cần nói ngay rằng ý nghĩ ấy, rằng có một người khuất mặt nào đấy giống như cô gái này, vốn chính là cô gái này, đang chăm lo cho tôi, phù trợ tôi từ một nơi nào đó, nó không làm tôi thấy ấm áp, an toàn, hạnh phúc. Nghĩa là… có, nhưng cảm giác ấm áp an toàn hạnh phúc đó so ra thì nhỏ nhoi và bị lấn át bởi cái gì đó bứt rứt, bứt rứt và… tôi thực không muốn dùng chữ hãi hùng, nó có vẻ cường điệu quá, nhưng có lẽ cũng không xa như thế lắm… khi tôi nghĩ tới chuyện người khuất mặt đó đang hiện diện ở cõi nào hay những cõi nào, đang gặp gỡ những thứ… những dạng tồn tại nào, đang phải giải quyết những vấn đề, những mâu thuẫn nào, những ân oán gì vì sự bình an của những người như tôi, vì tôi.

Có lẽ tôi không nên kể ra lần lượt từng chi tiết, tiểu tiết của quá trình lần mò, lục lạo, tìm kiếm mà cuối cùng đã đưa tôi đến với… hoặc về với những số phận khác… của tôi, những quãng đời, những kiếp sống mà, do một sự sắp xếp ở cấp độ nào đó cao hơn sức hiểu của tôi, đã được nhắc lại cho tôi nhớ. Cũng có thể, rất có thể là, qua chuyện này rồi sẽ đến lúc tôi phải hiểu ra rằng còn có việc gì đó nữa mình phải làm trong đời. Việc đó là gì; nếu như tôi khởi sự suy niệm bằng toàn bộ tâm trí mình, bằng toàn bộ cái… có lẽ là năng lực bi phẫn của mình, và trong khi làm vậy tôi buông bỏ cái tôi đi, thì có thể rồi sẽ đến lúc tôi biết. Còn tại sao chính là tôi chứ không phải người nào khác, chắc hẳn rồi tôi cũng sẽ biết, tuy rằng có lẽ là dẫu tôi biết hay không tôi vẫn cứ phải làm việc cần làm, nhất là nếu việc đó trở thành lựa chọn có ý thức của tôi chứ không chỉ là cái gì đó được tiền định.
Như tôi vừa nói, và như không ít người đã nói, có những giọng nói, những số phận, những cái chết được người ta chấp nhận là thuộc về lịch sử, là một phần của lịch sử, được coi là có diễn ra trong hiện hữu của nhân loại. Một số giọng nói, số phận và cái chết khác thì không. Hàng trăm phụ nữ, ở nước Hồi giáo đông dân nhất thế giới, bị làm nhục và giết chết thê thảm trong những cuộc bạo loạn mà ai thực sự là kẻ đứng đằng sau, mãi tới bây giờ vẫn không ai biết. Từng ấy cái chết có khơi dậy được nơi loài người dù chỉ một phần cơn xúc động mà cái chết của Diana hay MJ gây ra hay không? Cơn xúc động mạnh như thế và ký ức dài lâu như thế? Có phải vì ở hai trường hợp sau, họ là những kẻ mà trong mọi tình huống luôn luôn ở tâm điểm của nhân loại và những gì xảy ra với một ngón út của họ cũng có tầm quan trọng với cả nhân loại? Còn những phụ nữ ở những cái xó ngoài lề xa xôi kia, sự sống chết của họ hình như đâu có gây nên thay đổi gì ở nhân loại, cho nên không cần phải coi trọng chuyện số phận của họ được kể hay không được kể là một vấn đề nhân loại?

Hay những phụ nữ bị những gã ngư-dân-kiêm-cướp-biển của một nước láng giềng hãm hiếp sau đó đập chết và buộc dây kéo theo sau thuyền. Ký ức về những người này nằm đâu rồi? Đâu rồi những lời về họ mà thế giới này sẵn lòng lắng nghe như nó đã sẵn lòng lắng nghe - không quan trọng lần thứ bao nhiêu - về cái chết của Marilyn, của JFK, của Bruce Lee? Bao giờ cũng vậy, giống người chúng ta mù và điếc đối với những sự thật sâu nhất.

Tất cả những điều trên tôi chưa bao giờ nói ra ở đâu, với bất cứ ai. Ai là kẻ nghe tôi xong thì sẽ bảo rằng đó là những lời cần được nói, những ý nghĩ cần được nghĩ, những vận động cần có của một tâm trí? Ai là người, sau khi tôi nói xong, sẽ tiến lại đặt tay lên vai tôi sao cho tôi hiểu rằng những gì có trong đầu tôi đã không khiến tôi trở nên xa lạ với nhân loại?

Dĩ nhiên, như những trang chữ này cho thấy, không phải vì vậy mà tôi không nói, mãi mãi không nói. Tôi nói như chỉ với một người duy nhất sẵn sàng nghe với trọn vẹn tâm trí và linh hồn mình, đó là chính tôi. Và, qua đó, ít nhất tôi cũng cố duy trì, giữ lấy niềm hy vọng dù mong manh rằng tôi đang ấp ủ hạt nhân của một nhân loại mới, tốt hơn nhân loại đang có dù chỉ một chút, dù chỉ hơn ở mỗi một khả năng xả kỷ và cảm thông, dẫu cho nhân loại này chỉ là một dúm nhỏ nhanh chóng lọt thỏm vào trong nhân loại kia và chẳng chóng thì chầy sẽ bị hủy diệt, bị đào thải và hủy diệt.

Tôi chơi với đứa con gái đầu lòng và duy nhất cho tới giờ của vợ chồng tôi, cháu nó ba tuổi, và khi một trái banh nỉ tình cờ lăn đúng vào chỗ con bướm của cháu giữa cặp đùi đang giạng rộng còn cháu thì dõi theo đường đi của banh với vẻ vừa ngỡ ngàng vừa thích thú, tôi quan sát cháu cùng trái banh và chợt nghĩ ra rằng sự sống và cái chết của một cá thể hay của một nhóm đông có nhiều khả năng sẽ qua đi vĩnh viễn và cũng bằng như chưa từng diễn ra nếu như ngay từ đầu - từ trước khi nó diễn ra - nó đã đặt vào vị trí ở bên rìa. Có một cỗ máy cái đang định đoạt tất cả về việc, đối với nhân loại này, cái gì quan trọng cái gì không quan trọng, ấn định việc người ta nghĩ gì và không nghĩ những gì, tỉ như một gã da đen đang xếp hàng đợi lãnh suất cứu đói ở trại tị nạn nào đó ở châu Phi thì chỉ có thể có những gì và không thể có những gì trong đầu hắn - chẳng hạn không thể có chuyện hắn đang đứng chờ như vậy và đồng thời mơ trở thành nhà văn viết về những chuyến du hành vũ trụ -, và một công dân nào đó, ở một xứ sở nằm dưới chế độ chuyên chế dù thế quyền hay thần quyền, thì chỉ có thể nghĩ và viết cái gì và không có khả năng mở rộng mình ra để nghĩ và viết cái gì.

Hãy nghĩ những gì con muốn nghĩ và có khả năng nghĩ, và đừng để cho ai khác định nghĩa con là ai bởi không một ai ngoài con có thể làm việc đó. Tôi những muốn nói vậy với con tôi dù cháu nó còn quá bé chưa thể hiểu được. Những ý nghĩ này chạy qua tâm trí tôi đồng thời với việc tôi nhận ra rằng, từ giờ trở đi, tôi không còn hoài nghi chuyện tất cả những gì xảy ra với tôi trong thời gian gần đây đều gắn liền với cô gái này. Một cái gì đó, lớn hơn cả hai chúng tôi, đã thông qua cô ấy mà vươn đến tôi và chiếm lĩnh tôi.

Nói cách khác, một cái gì đó đang sở hữu hai chúng tôi, chứ không phải chúng tôi cùng sở hữu một cái gì đó. Nhưng liệu khi nói thế tôi có gần với sự thực hơn chút nào không? Có thể, rất có thể là không có một chủ thể nào sở hữu hai chúng tôi hết nếu xét cho cùng. Tôi thực tình không tin, không nghĩ, hoặc không muốn tin không muốn nghĩ rằng có một thế lực, một ý chí, một âm mưu nào đó, hoàn toàn ngoài sức hiểu của tôi, đang sử dụng và thao túng tôi giống như con tốt vô tri trên bàn cờ, điều người ta từng nói tới và tưởng tượng ra không biết bao nhiêu lần dưới nhiều dạng nhiều hình thức, chuyện kể, phim, tiểu thuyết… đến nỗi dường như chẳng còn gì mới và không còn khả năng làm cho một câu chuyện đủ gây hứng thú cho anh trừ phi, phải, trừ phi nó xảy ra với chính anh và anh đang trải nghiệm nó từ trong tiềm thức anh, từ trong tủy anh, nếu có thể nói vậy.

Đứa con gái ba tuổi của tôi - tôi phải quay lại nó bởi vì, ở đây, một cách bất ngờ, tuy không phải quá bất ngờ đối với tôi, nó đâm ra có một vai trò quan trọng để tôi tiếp tục suy tư nữa, kịch liệt hơn, tỉnh táo hơn, về vấn đề của mình, và cuối cùng đi tới quyết định.

Những cuộc viếng thăm của tôi đến chỗ bí mật (ít nhất là với vợ tôi) nơi tôi để hay là giấu cô gái càng ngày càng trở nên giống những lần lén lút đi gặp một ả nhân tình, một mối tình nửa vụng trộm được giữ cho tạm thời an toàn nhờ quyết tâm không đả động gì tới từ phía vợ tôi, song dẫu vậy vẫn là một cuộc tình mà tôi muốn đập vỡ ra bằng cách nào đó, có thể là để phục dựng lại sau đó hoặc không. Chỉ có điều, trong trường hợp tôi, tôi không làm sao biết được nếu như tôi đập vỡ thì sau đó tôi sẽ phục dựng cái gì. Ban nãy tôi có nói đến ý xây dựng mầm mống của một nhân loại mới, tốt hơn, bớt tập trung vào bản thân mình hơn hay gì đó. Đó có lẽ vĩnh viễn chỉ là một ý nghĩ. Nếu một điều tương tự đã từng được thể hiện ra bởi những con người lớn hơn tôi nhiều, qua lời nói, việc làm và cả cuộc đời họ, Mẹ Teresa, ví dụ vậy, mà nhân loại vẫn cứ như nhân loại bây giờ đây, không khác hơn, không tốt hơn, dù chỉ tốt theo một cách độc nhất tôi muốn nói, thì cá nhân tôi, với phần thời gian và khả năng mà tôi biết là hạn hẹp của mình, tôi nên làm gì? Tôi cần sự thay đổi nào để có thể biết chắc mình đang làm đúng việc cần làm hơn hôm qua? Dĩ nhiên là ai đó, sau khi nghe trọn những gì tôi vừa nói, sẽ nghĩ rằng họ có thể khuyên bảo, gợi ý, bình luận với tôi rằng tôi có thể làm gì, nên làm gì. Và chắc ai cũng sẽ nói rằng tôi nên lắng nghe họ, nên lưu tâm tới thiện ý của họ, chút chân lý và hiền minh nào đó, một chút cũng đáng kể trong những lời họ nói. Tỉ như, dĩ nhiên, ai đó sẽ nói, anh không cần phải thay đổi gì hết. Giống như trong câu chuyện Phật giáo nào đó, hoặc trong một cuốn sách của Nikos Kazantkakis, tít là gì tôi không nhớ, cũng thế, người ta dạy rằng tôi không cần phải đi đâu khác, không phải làm gì khác, tôi hãy cứ ở ngay nhà mình, làm tròn mọi nghĩa vụ của tôi với người xung quanh, cha mẹ tôi, vợ con tôi, các bệnh nhân của tôi, bằng hữu của tôi, con chó con mà chúng tôi nuôi, những cây con tôi trồng trong sân nhà. Song nếu như tôi có thể làm thế, tôi chỉ cần làm đúng như thế, thì tại sao những chuyện này ập xuống tôi? Tại làm sao tôi không thể nào tự thuyết phục mình rằng đó chỉ thuần là ngẫu nhiên? Chỉ là ngẫu nhiên mà gã thanh niên kia chọn chính tôi chứ không phải ai khác để đưa cô bạn của gã tới, ngẫu nhiên mà tôi chứ không phải ai khác, một trong các trợ lý của tôi, ví dụ vậy, là kẻ có hệ thần kinh đủ nhạy, có sẵn khả năng tiếp thụ để cho tình trạng của cô ta trở thành tình trạng của mình? Tại sao tin đó là ngẫu nhiên lại là việc khó đến vậy? Ai là kẻ có thể hiểu được tôi mong muốn đến độ nào rằng tất cả toàn là ngẫu nhiên? Chỉ cần có một chứng cứ cho thấy đó là ngẫu nhiên thì dù chứng cứ ấy có mong manh như cọng lông tơ tôi cũng sẽ làm mọi cách để bíu chặt lấy, may ra sức mạnh của nỗi mong muốn ở trong tôi sẽ làm cho nó lớn và rắn chắc lên như một thân cây chăng. Tôi cần điều đó, cần vô chừng. Bởi chỉ bằng cách đó, dựa vào sự ngẫu nhiên, may ra tôi mới nhẹ lòng được chút ít khi thấy cơ sự này xảy ra cho vợ tôi, phải, bất cứ điều gì xảy ra với tôi là xảy ra với cô ấy.

Tôi không biết liệu bạn có thể hiểu được chuyện này khiến cho tình trạng của vợ tôi ngày càng tồi tệ như thế nào không? Ừ, dĩ nhiên, hiểu thì bạn có thể hiểu, đấy là trường hợp tốt nhất. Nhưng tôi mới là kẻ đang trải nghiệm, đang sống cái cơ sự này, cái tình cảnh này. Từ một thời điểm nào đó trở đi, mỗi lần tình cờ phát hiện thấy tôi có những phản ứng bất chợt, vô thức, bản năng vốn chỉ có thể là của một người đàn bà, một người đàn bà luôn luôn bên bờ vực hoảng loạn - ví như có lần tôi ném đĩa ăn vào một người quen trong một nhà hàng bất thình lình xuất hiện, như tôi đã kể -, vợ tôi bắt đầu có những phản ứng khiến tôi bất an, có lẽ gần như là phản ứng của một cô gái khi đột nhiên khám phá ra rằng người yêu của cô về thực chất là một tên tính dục biến thái. Những phản ứng đó của cô ấy lúc ban đầu hãy còn chỉ là thoảng qua, khó nhận thấy, được kiềm chế, song càng ngày càng lộ rõ, càng khó kiềm chế, cho đến khi tôi nhận ra rằng vợ tôi không còn cố sức kiềm chế chúng nữa - bởi cô ấy đã nhận ra rằng có lẽ không kiềm chế gì hết là cách tốt nhất hoặc duy nhất để cô ấy có thể tiếp tục tồn tại - thì tôi hiểu rằng đã đến lúc nên chấm dứt.

Cho tôi xin ngụm nước.

Bạn thấy bức ảnh kia chứ? Vợ tôi đó. Cô ấy là người đàn bà nhân hậu nhất tôi từng biết. Ngay cả với những chuyện tôi không thể tha thứ cho chính mình, cô ấy tha thứ cho tôi. Mặc dù, như người ta đã chỉ ra, nếu một kẻ được tha thứ quá nhiều thì có thể sẽ đến lúc anh ta lại phạm lỗi, tự để mình phạm lỗi vì đó là cách duy nhất để chứng tỏ rằng thật ra anh ta không xứng đáng được tha thứ. Cũng có thể như thế, và nếu đó là trường hợp của tôi, riêng tôi thì theo nghĩa nào đó tôi có thể yên lòng được, có thể chung sống với điều đó được. Tuy nhiên có lẽ tôi khó mà nói được như vậy nếu như… nếu, đúng như tôi nghĩ, đó không chỉ là vấn đề của một cá nhân mà là của toàn bộ giống người: để có thể chung sống với đồng loại của mình và duy trì tình yêu đối với họ, chúng ta cần phải có khả năng và tha thứ và lòng khoan dung càng ngày càng lớn hơn. Có phải đó mới là thử thách thực sự đối với loài người không - với loài người, có nghĩa là với cá nhân mỗi người? Mà không phải chỉ có thế. Cái thử thách đích thực, thử thách… gọi là gì nhỉ, tối hậu ấy còn là ở chỗ, sau bao lâu nữa và trong những hoàn cảnh nào thì ta, nghĩa là cá nhân ta và nghĩa là toàn bộ giống người, ta sẽ mắc lỗi, sẽ phạm tội thêm một lần nữa rồi thì sau đó phải vận dụng nhiều năng lượng hơn thì mới có thể khoan thứ cho chính ta và tiếp tục sống với chính ta? Phải chăng cái mớ lẫn lộn rối bời giữa yêu thương và căm ghét này mới là cái duy nhất đúng, chứ không phải sự căm ghét tuyệt đối hay tình yêu vô điều kiện đối với loài người?

Và một khi tôi đã nghĩ như thế rồi thì ngay cả lúc ngắm đứa con gái nhỏ của tôi đang ngủ yên lành, hồn nhiên đến thế, ngây thơ vô tội là thế, gần với sự khởi nguyên đến thế, khi lòng tôi thắt lại, nhói đau vì tình yêu thương vô điều kiện, chắc chắn vậy, thì đâu đó bên trong tôi cũng có một cái gì đó dằng dặc, thao láo, không lơi nghỉ, như một cặp mắt đã hoàn toàn mất khả năng khép lại, ấy là một câu hỏi không thể trả lời, một nỗi băn khoăn không thể hóa giải: liệu có phải cái tình yêu thương vô điều kiện kia đối với con tôi, “thiên thần nhỏ” của tôi, chỉ thực sự trọn vẹn và hợp lẽ nếu bên trong nó có cả một yếu tố nào đó thuộc về sự căm ghét, hay ít nhất, hay nói cách khác, luôn có một chỗ dành sẵn cho ít nhiều căm ghét, bởi vì anh không thể yêu vô điều kiện một đối tượng nếu anh không đồng thời ghét đối tượng đó, vì thế này hoặc thế khác hoặc vì thế nào anh không biết, nhiều hoặc ít? Và ngược lại cũng vậy, xét cho cùng?

Thử hỏi tôi có thể làm gì, có thể quyết định gì trong tâm trạng rối bời hoang mang như thế? Tôi có thể làm được gì chừng nào tâm trí tôi còn ngổn ngang quá nhiều điều khôn giải như thế, đến độ có những lúc đột nhiên tôi nhận ra đầu mình hoàn toàn rỗng không, như cái bồn tắm vừa mới xả sạch nước và kỳ cọ kỹ, không còn lấy một mảy gàu một cọng lông. Phải, đó là phản ứng tự nhiên, bản năng của trí óc để tự vệ, tránh cho bản thân nó khỏi bị sụp đổ: xóa trắng tất cả, sao cho ta có cảm giác như chưa hề, không hề có gì xảy ra, cho dù đó chỉ là một ảo giác, như ta sẽ nhận ra sau đó, có thể là ngay sau đó, ảo giác tồn tại trong một khoảng quá ngắn đến độ hầu như đúng hơn là ta vẫn luôn luôn biết không lúc nào ngừng rằng đó là một ảo giác, rằng cái sự rối bời bấn loạn kia là thực tại duy nhất ta có và cảm nhận của ta về nó là cảm nhận duy nhất đúng thực.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét